DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,346,400

Hòa Đa - Tình Muộn

Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 1765)
Hòa Đa - Tình Muộn
Tình Muộn

Image result for tình muộn
1

Thầy Hoa lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời quang mây và nắng chan hòa ngoài kia. Hai con sóc đuổi nhau trên cành cây nghiêng qua khung cửa sổ. Trong lòng, thầy có cả chút ngọt ngào lẫn cay đắng. 

Có tiếng lịch kịch trong bếp, giờ này bà Hiên, vợ thầy đang lo bữa trưa. Vẳng tiếng phim bộ léo nhéo. Bà Hiên vẫn vậy, thích vừa xem phim, vừa làm gì đó. Đó cũng là niềm vui riêng của bà sau những giờ trồng cây, nhổ cỏ chăm bón ngoài vườn. Thầy Hoa ít khi tham dự vào những sinh hoạt của vợ. Thảng hoặc, thầy cũng ngồi xem phim với bà, nhưng thường bỏ cuộc nửa chừng vì không xem liên tục, chẳng hiểu đầu đuôi. Với lại, khi không có phim mới, bà lôi phim cũ ra xem đi xem lại. Bộ phim bà ưa thích nhất là phim “Bản Tình Ca Mùa Đông.” 

Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy, ít ra từ ngày hai vợ chồng cùng bốn đứa con thành công trong cuộc vượt biên do người học trò cũ tổ chức. Giai đoạn đầu, nhờ khả năng Anh ngữ, thầy sớm gầy dựng một cuộc sống tương đối thoải mái cho gia đình. Vài năm sau, bà Hiên học nail, đi làm, mở tiệm... thừa thế đang có, bà học luôn nghề tóc, mở tiệm tóc... làm nhiều, khai ít, tiền mặt không bao giờ thiếu. Ngày hai ông bà về hưu, bà sang lại cả bốn tiệm vừa nail vừa tóc, thu về gần triệu bạc, gửi ngân hàng. Các con lần lượt hoàn tất đại học, đi làm, lập gia đình ra riêng, bỏ lại hai ông bà sống trong một căn nhà bốn phòng, hai tầng trị giá gần ba trăm ngàn đã trả đứt. 

Lòng kính nể của bà Hiên đối với thầy cũng giảm dần, cùng nhịp với sự thành công về tài chánh của bà. Tình yêu và lòng kính trọng chồng cứ mòn dần với thời gian. Bà cũng không nhận ra là từ lúc nào bà không thấy những lời nói của ông là cần phải nghe nữa. Có lần, bà nói thẳng giữa đám bạn bè trong một tiệc cưới:

- Nghe lời ổng, không chừng bây giờ tụi tôi phải sống nhờ vào tiền trợ cấp của nhà nước rồi. Không có tôi lo làm ăn, còn lâu, ổng mới được như bây giờ. Có bao nhiêu tiền, ổng đem đầu tư hết, muốn mua cái áo mới, chiếc nhẫn đẹp... lần nào ổng cũng nói “không có tiền.”
Thầy chỉ cười độ lượng tha thứ cho tính thiển cận của bà. Từ ngày hái ra tiền, bà đã quên nhiều thứ, kể cả tình vợ chồng và những lúc gian nan sau tháng Tư Bảy Lăm, cũng như khi vừa định cư.
Nắng vẫn chan hòa ngoài kia. Thầy bỗng nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn đọc được ngày xưa, khi còn là học sinh trung học: “Một người lái buôn Ả Rập trên đường đi buôn, hết cả nước khi băng ngang sa mạc nóng bỏng. Ông nhìn thấy một ốc đảo, chạy vội đến, nhưng thất vọng khi chỉ thấy vài bụi cây quanh một vũng khô cạn nước. Chợt nhìn thấy bên cạnh có túi da, ông nhặt lên với hy vọng tìm thấy nước, khi mở ra, chỉ thấy toàn kim cương. Ông ném túi xuống thở dài: Ôi chỉ là kim cương, cái ta cần bây giờ là nước...”

Hai người sống cạnh nhau, nhưng ai có việc riêng nấy và không ai chạm vào ai. Hai người cũng mất thói quen nói chuyện với nhau, có chăng là những khoảng thời gian con cháu về thăm, thường là vào cuối tuần, hay những dịp lễ lớn. Cũng đôi ba lần trong năm, hai người cùng đi chung với nhau trong những đám cưới. Còn thì cả hai sống trong thế giới riêng của mình. Bà đi mua sắm với bạn bè, thầy không đi theo, ở nhà xem CNBC theo dõi thị trường. Cuối tuần, thỉnh thoảng có cuộc họp mặt đồng hương, thầy đi một mình, bà ở nhà mê mải theo dõi những chuyện tình tay ba, tay tư, chuyện tình lòng vòng của phim bộ. Cảnh đồng sàng dị mộng này dễ chừng đã ba năm nay từ lúc ông nghỉ hưu, bà cũng về hưu non. Nói là đồng sàng cho có vẻ, chứ thật ra, thường thầy ngủ luôn trong phòng làm việc. Mà hai người cũng mặc nhiên chấp nhận việc ấy, thầy có thể tránh được cái âm thanh léo nhéo của phim bộ mà thầy cho là mất thì giờ; còn bà có thể tự do xem thỏa thích, cho đến khi nào mỏi mệt thì đi ngủ, có khi đến hai ba giờ sáng, khỏi sợ phiền, cũng tránh được tiếng ngáy khó chịu của chồng.

Nói cho cùng, bà cũng không để thầy thiếu thứ gì, bà vẫn lo liệu cho thầy từ quần áo, đến bữa ăn. Người ngoài nhìn vào, ai cũng nói vợ chồng thầy sống hạnh phúc, một cuộc sống mẫu mực được nhiều người ước ao. Nhưng riêng giữa hai người với nhau, cả hai đều thấy giữa họ chỉ còn nghĩa, chứ không còn tình. Cái nghĩa của cuộc hôn nhân gắn hai người với nhau gần bốn mươi năm, bốn mặt con, sĩ diện với con cái, thông gia, người thân và bạn bè... Thầy Hoa không tìm thấy sự ấm áp của tình vợ chồng già, không tìm thấy người bạn đường hồi nào luôn khâm phục, chia sẻ những ý tưởng, việc làm của thầy. Đôi lúc riêng tư, những cử chỉ thân mật ngày nào chỉ được đáp trả bằng những tiếng hứ lạnh lùng cụt lủn hay câu trả lời phũ phàng. Trong những lúc gia đình đông đủ, nhiều khi bà còn có cách nói làm mất mặt thầy trước con cái. Thầy không chấp vì nghĩ rằng bà muốn tìm cách chứng tỏ bà là người quan trọng trong gia đình. 

Khoảng thời gian sau này, thầy sống trong cô đơn. Còn nhớ ngày xưa, quê thầy ngoài Trung, mùa hạn làm cây cỏ khô héo, chỉ cần vài trận mưa rào, cây lại có sức sống, nụ xanh lại nhú. Bây giờ, thầy như một cây khô trong mùa hạn mong chờ mưa rào.

2

Thứ Bảy hôm đó, thầy đi dự buổi họp mặt cựu học sinh của trường ngày trước. Rủ vợ đi, nhưng bà Hiên than mệt từ chối, dù ngày xưa bà cũng là một cựu học sinh của trường. Thầy cũng biết, mệt chỉ là cái cớ, từ lâu rồi bà Hiên vẫn không thích đi chung với chồng đến những chỗ họp mặt tương tự. Lần trước Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh của trường tổ chức ở tiểu bang khác, thầy không tham dự. Lần này, tổ chức tại đây, ban tổ chức đã liên lạc gửi thiệp mời. Thầy cũng muốn nhân dịp này gặp lại những gương mặt thân thương ngày xưa, đồng nghiệp và học sinh cũ. Thầy không ngờ buổi họp mặt đó đã ghi một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn tưởng như khô héo của thầy.

Thầy đã ngỡ ngàng khi một cựu nữ sinh - không còn trẻ nữa - lên sân khấu, gõ nhẹ vào micro, lên tiếng:
- Trong không khí đầm ấm và đầy kỷ niệm của một thời cùng quây quần bên mái trường thân yêu ngày nào, tôi xin góp vui bằng một bản nhạc tiền chiến mà ai cũng biết, và cũng để riêng tặng thầy Hoa, người thầy ngày nào tôi hằng ngưỡng mộ...

Thầy giật mình nhìn lên, không nhận ra người hát là ai. Sau hơn mười năm trên bục giảng, thầy có cả ngàn học sinh cũ, làm sao nhớ hết... Nhưng lời ca của bài Tà Áo Xanh và giọng ca đó đã đưa thầy về những ngày tháng cũ. Chắc đúng rồi! có lẽ là Lan rồi. Thoáng chút bối rối nhìn quanh, nhưng thầy không làm gì khác được trong tình huống này.

*

Ngày đó, Thầy mới hai mươi ba, tốt nghiệp Đại Học sư phạm, dạy tại một tỉnh lỵ nhỏ bên bờ Cửu Long. Lan là học sinh Đệ Nhị A. Mười tám tuổi, con gái vùng sông sâu nước chảy có tiếng là đẹp. Lan học giỏi, là phó trưởng lớp học tập, con một thương gia giàu có, dư điều kiện cho bao chàng trai theo đuổi. Nhưng tâm hồn trong trắng ấy chỉ vương vấn một người, Thầy Hoa, giáo sư hướng dẫn lớp. Mối tình thầm lặng đơn phương ấy lâu ngày rồi cũng lộ. Bạn bè dần nhận ra tình cảm của Lan đối với ông thầy trẻ độc thân, tài hoa qua những lời nói vô tình, cử chỉ lãng mạn, ánh mắt mộng mơ say đắm nhìn thầy như chiêm ngưỡng một thần tượng. Thầy vẫn vô tình không biết hay làm như không nhận biết tình cảm đặc biệt ấy. Cho đến một ngày, thầy vào lớp, ngay giờ thứ nhất của buổi học, trên bảng đen là một đóa hoa lan vẽ bằng phấn. Cả lớp đứng lên chào thầy, nín lặng một cách cố ý, chờ xem phản ứng, trong khi Lan đang cúi mặt bẽn lẽn mân mê tà áo dài. Thầy Hoa ra dấu cho học sinh ngồi, thản nhiên bôi bảng, bắt đầu giảng bài. Tuần sau, cũng giờ học đó, trên bảng lại có hình đóa hoa, bên dưới còn thêm hai chữ in HOA LAN, tuồng như cố ý phụ đề cho hình vẽ. Thầy Hoa lại bôi bảng, nhưng lần này thầy nghiêm trang nói:
- Hôm nay, tổ nào trực lớp? Qui định của trường là bảng phải được lau sạch trước khi giáo sư vào lớp, các em biết chứ? Cuối giờ, tổ trưởng và phó trưởng lớp trật tự xuống phòng Tổng Giám Thị gặp tôi.
Sau đó, thầy thản nhiên giảng bài. Cả lớp im phăng phắc.

Chuyện cũng qua đi, lớp học không còn dám nói bóng gió gì về chuyện ấy nữa... cho đến một ngày, thầy bệnh, không đi dạy được. Giám thị vào lớp báo tin, mang theo bài kiểm thầy gửi vào để giữ lớp ngồi yên trong lúc các lớp khác đang có giờ học bên cạnh. Lan bứt rứt không yên, làm bài không được... Tối hôm đó, Lan tìm đến nhà trọ của thầy, mang theo một gào mên cháo cá giải cảm vì biết thầy Tùng ở trọ chung đã về Sài Gòn vào cuối tuần. Lan ép thầy ăn hết cháo bằng nước mắt của mình... Khoảng hơn tuần sau, trong lúc Thầy Hoa đang ngồi uống cà phê, Lan ghé vào nói nhanh “em gửi trả thầy cuốn tập” rồi hấp tấp bỏ đi ngay. Thầy sững người, nhưng cũng đủ tế nhị không nói gì giữa chốn đông người... Về nhà, thầy mở tập, một phong thư còn đượm mùi thơm nhè nhẹ rơi ra.

“Thầy yêu,
... Tối hôm qua, em đã soi gương rất lâu để biết mình không phải là một cô gái xấu, nhưng sao thầy cứ hờ hững? Em phải làm gì, em van thầy nói cho em biết, em phải làm gì để thầy thấu rõ tấm lòng của em.
... Em đã ôm gối khóc rất nhiều trong những đêm vắng cô đơn. 
Tại sao em không yêu ai khác mà yêu thầy? Yêu thầy của mình đâu phải là thứ tình yêu tội lỗi, vậy tại sao em phải dấu kín nỗi lòng?...
... Em chép lại đây những dòng thơ tình của cô học trò xứ Huế trót yêu thầy giáo của mình, để thầy hiểu rõ nổi lòng cô học trò bé bỏng này của thầy:

Chi lạ rứa? chiều ni tui muốn khóc
Ngó chi tui? đồ cỏ dại hoa hèn,
Nhìn chi tui? hình đom đóm trong đêm
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch.
Tui mơ ước, không bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin, răng mà nớ cứ làm ngơ.
Rồi ngó chi tui? chi lạ rứa hững hờ.
Ghét? yêu mến? vô duyên và trơ trẽn!
(...) 
Thầy ơi! em có phải thứ cỏ dại hoa hèn đó không thầy?...”

Thư Lan kín bốn trang giấy học trò, giải bày mối tình si mê cuồng đắm đơn phương của mình. Lan cũng không dấu giếm ý nghĩ của mình là sẽ chờ đợi... không phản lại lòng mình dù không được đáp trả...

Thầy nhắm mắt thở dài: đáp trả gì? chờ đợi gì? Với thầy, Lan chỉ là một học sinh như bao học sinh khác. Có chăng là tình cảm vô cùng trong sáng của thầy đối với trò. Thầy cũng đang có một mối tình say đắm với cô nữ sinh viên Văn Khoa, Hiên, cũng là học sinh của trường, trước khi thầy về dạy mấy năm. Họ quen nhau từ lúc thầy Hoa còn học sư phạm, và cũng vì yêu Hiên nên khi tốt nghiệp, thầy xin về đây dạy để biết rõ thêm về quê hương người yêu của mình. Thầy không thể san sẻ tình yêu nam nữ với ai khác ngoài Hiên. Cho nên với tình cảm của Lan, thầy chỉ ghi mà không nhận. Thầy cũng nghĩ rằng, tình yêu của Lan chỉ là tình lãng mạn của tuổi mới lớn, rồi thời gian sẽ làm cho Lan quên đi mối tình vô vọng đơn phương của mình.

Cuối năm học, những giây phút liên hoan văn nghệ lớp xôn xao trong buổi học cuối trước lúc chia tay nghỉ hè, Lan hát bài “Tà Áo Xanh,” mắt đắm đuối nhìn thầy Hoa, nàng đã cố ý đổi chủ từ trong lời ca, cả lớp biết Lan mượn lời ca để tỏ nỗi lòng không còn muốn che dấu “...em còn nhớ anh nói rằng: khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh... anh ơi có tình nào không phai như tình em với anh.” 

Cuối bài, Lan gục xuống bàn khóc.

Nắng quái buổi chiều còn đọng trên các cành phượng vĩ đỏ rực trong sân trường đang vắng dần bóng học sinh... Liên, bạn của Lan, đến gần thầy ngập ngừng:
- Lan còn ngồi khóc trong lớp, em nói mấy nó cũng không về. Em sợ nó làm bậy, có lẽ chỉ có thầy nói nó nghe.
Thầy Hoa thấy lạnh dài theo xương sống, nhưng cũng rảo bước về phía lớp học. Liên tế nhị tránh mặt.
... Lan ngẩng lên, nhìn thầy Hoa qua màn lệ rồi không kềm chế được lòng, Lan ngã vào lòng thầy nức nở. 
- Thầy ơi, em yêu thầy, em yêu thầy, em yêu thầy. Thầy có biết em yêu thầy đến mức nào không?...

Sau hè đó, hình như gia đình Lan biết chuyện, gửi nàng về Sài Gòn ở với người cô học tiếp. Thầy Hoa và Lan cũng không gặp lại nhau từ dạo ấy.



Sau tháng Tư Bảy Lăm, cơn lốc cuốn mọi người theo mọi hướng, thầy Hoa bị cho nghỉ việc và đi học tập cảo tạo vì là sĩ quan biệt phái. Sau khi ra trại ít lâu, gia đình thầy cùng người học trò tốt bụng vượt biên. Trong chuyến hải hành đó, Tuấn, bạn học cùng lớp với Lan ngày xưa, kể cho thầy Hoa nghe chuyện tình của Lan đối với thầy lúc đó mà cả lớp đều biết... chuyện Lan cạo đầu để phản đối cha mẹ khi bị ép đi Sài Gòn... Chuyện Lan tuyên bố không lấy chồng và dọa sẽ tự vẫn nếu gia đình làm quá... chuyện Lan vượt biên hai năm trước, nghe nói bị hải tặc Thái Lan cướp tàu và mất tin từ đó. Thầy Hoa ngồi yên nghe, trong lòng có chút ngậm ngùi, nhớ lại hình bóng mảnh dẻ của Lan và khuôn mặt thanh tú đẫm lệ của nàng khi ngã vào lòng thầy buổi chiều cuối năm học nào. Thầy đã đưa khăn cho Lan thấm nước mắt, an ủi, vỗ về nàng như an ủi một cô em gái dại dột. Thầy đã cố vận dụng mọi khéo léo và uy tín của mình để khuyên Lan về nhà...

3

Những bận bịu mưu sinh nơi xứ người làm thầy quên đi chuyện cũ cho đến khi nghe lại bài Tà Áo Xanh với lời ca bị đổi chủ từ một cách cố ý, với ánh mắt đắm đuối nhìn mình như thủa nào, thầy thấy tim mình như thắt lại, không dám tin người đang hát chính là Lan.

Bài hát dứt, tiếng vỗ tay râm ran lôi thầy trở lại thực tế. Người ca sĩ bước xuống bục, tiến về phía thầy Hoa.
- Thưa thầy! thầy còn nhớ em chứ, thầy cho em ngồi đây với thầy một chút được không? 
- Lan phải không? - Em ngồi đi
- Cám ơn thầy còn nhớ tới em.
- Bây giờ em đang làm gì? gia đình ra sao?
- Trước em làm cho Compaq bây giờ là Hewlett Packarg đó.
Câu chuyện có tính xã giao kéo dài không lâu. Lan xin địa chỉ email và số điện thoại của thầy Hoa.

Sau buổi họp mặt, Lan mời thầy đi uống cà phê, sau đó về khách sạn nàng đang ở. Lan đã kể vắn tắt chuyện đời mình một cách bình thản.

Lan xa thầy từ lúc đó, nhưng trong tim hình ảnh thầy không bôi xóa được. Lan vẫn âm thầm theo dõi bước chân thầy. Ngày thầy lập gia đình, Lan đã nuốt trọn lọ thuốc ngủ để quyên sinh, nhưng trời chưa bắt chết nên khiến Liên tình cờ đến chơi, khám phá đưa nhà thương cấp cứu. Nàng không thể còn yêu ai được nữa, cho đến khi vượt biên vào năm bảy tám. Sau ba ngày lênh đênh trên biển, tàu vượt biên bị hải tặc Thái Lan cướp ba lần, lần nào đàn bà trên tàu cũng bị làm nhục. Lần cuối, bọn chúng sau khi thỏa mãn thú tính, húc cho tàu chìm để phi tang. Nàng nghĩ đã đến lúc phủi sạch nợ đời... nhưng khi tỉnh dậy nàng thấy mình đang ở trên đất liền, sau mới biết là trại Palawan ở Phi Luật Tân. Từ đó, Lan coi như mình đã chết. Sau một thời gian định cư trên đất Mỹ, nàng chấp nhận lập gia đình với một người bản xứ. Chẳng may, chồng Lan là một kẻ nghiện rượu và chết trong một
tai nạn xe khi đang say. Ngày đó cách đây cũng hơn mười năm. Lan chán, sống một mình cho đến ngày nay với cái tên nửa Việt nửa Mỹ: Lan Mc. Lain. Hai năm trước đây, cũng trong một hội ngộ cựu học sinh của trường, Lan biết thầy sống ở thành phố này. Nên lần hội ngộ này, Lan nhất quyết tham dự, với lòng mong ước gặp lại người xưa, dù nàng không biết thầy có đến hay không.

Lan nói, mắt vẫn nhìn thầy với ánh mắt thiết tha của năm nào. Thầy Hoa ngồi nghe, trong lòng có chút bùi ngùi. Thầy đã thoáng thấy phần nào ân hận và có chút trách nhiệm cho cuộc đời đầy gian truân của Lan, dù thầy chẳng có lỗi gì...

Lan đã vòng ra sau lưng, choàng hai tay qua vai, tựa đầu lên mái tóc đã điểm bạc của thầy, thổn thức. Tiếng Lan tha thiết, van nài:
- Thầy hôn em một lần đi! Em ao ước được thầy ôm hôn em, dù chỉ một lần thôi, em cũng mãn nguyện rồi, em sẽ không làm gì tổn thương tới gia đình thầy đâu. Ngày mai, em về Cali đi làm lại, rồi chúng ta lại mỗi người một ngã... không lẽ chỉ một ao ước nhỏ nhoi trong bao năm rồi của em cũng không được thỏa nguyện?

Thầy Hoa thấy có chút gì rạo rực trong lòng. Bất giác, thầy quay lại, ôm Lan vào lòng...
Ngoài kia, trời bỗng đổ mưa.


Houston, TX
Hòa Đa
(từ: DĐTK)



Mời đọc:

Truyện dài của Trần Yên Hòa

Mẫu Hệ
Xin click vào:

https://e.issuu.com/anonymous-embed.html?u=dreamteam1005&d=m_u_h___opt__-_tr_n_y_n_ho_


---------------------------------------------------------------------------------------------------

Trang

Quảng Cáo


Acacia Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

 

Cindy Y. TranPharm. D

(con gái Trần Yên Hòa)

 

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (vùng Orange County, Los Angeles) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

 

scan_pic0035_0-content




Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, August 8, 202011:05 AM(View: 233)
Khoảng 2 giờ chiều, vị sĩ quan coi chúng tôi 2 tuần nay, đến phòng và nói lớn: - Các anh chuẩn bị, tất cả gọn gàng quân trang quân dụng, 30 phút sau các anh ra sân tập họp và di chuyển lên phi trường Đà Nẵng, để vào Sài Gòn, đến nhập trại Nguyễn Tri Phương. Các anh sẽ thụ huấn quân sự 9 tuần, giai đoạn tân binh. Các anh nhớ 30 phút nữa, tôi sẽ trở lại và đưa các anh đi. Tất cả bọn chúng tôi đều hô to, tuân lệnh, rồi ai cũng nhảy xuống giường, lo sắp xếp mền, mùng, quân trang quân dụng. Tôi bỏ tất cả tư trang cá nhân vào cái xách marin, rồi ngồi tại giường của mình, đợi viên sĩ quan tới đưa đi. Thời gian đi qua thật chậm, tôi bèn kệ nệ xách cái xách morin, tới ngồi bên giường của Trần Thanh Ng. Trong lúc Ng. cũng vừa thu xếp đồ đạc xong. Tôi nói: - Vào Quang Trung, tôi với bạn nằm gần giường nghe. Ng: - Không biết vào trong đó họ có sắp cho mình nằm gần không? Sợ họ phân chia theo vần A, B, C quá. Tôi nói: - Nếu mình không nằm gần, thì cùng trung đội, hay cùng phòng cũng được.
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 243)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 357)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 431)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 507)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy