DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,040,703

Đỗ Hoàng Diệu - Tướng không về hưu!

Thursday, July 4, 20195:18 AM(View: 208)
Đỗ Hoàng Diệu - Tướng không về hưu!

Tướng không về hưu!

Image result for nhà văn nguyỠn huy thiệp
nhà văn nguyễn huy thiệp

Năm ngoái, từ bên kia bán cầu, nơi mà quê hương chỉ hiện diện trong những chiếc bóng mờ, giữa không gian của đêm và không khí của ma, tôi đọc tin một con chó ngoạm xác hài nhi chạy nhong nhong trên đường làng ngoại ô Hà Đông. Ngay lập tức, ông tướng về hưu xuất hiện đuổi theo con chó. Hà Đông không xa Khương Trung, không xa làng Cò, quê Nguyễn Huy Thiệp. Không xa cái đơn vị hành chính ghi là phố nhưng lại sinh hoạt làng trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Ông tướng về hưu ba mươi hai năm trước đã chết lặng khi nhìn thấy mấy ngón tay hồng hồng nhỏ tí trong nồi thức ăn chó dưới nhà ngang. Giờ đây, bác sĩ Thuỷ không cần dặn ông Cơ cô Lài giấu diếm bố chồng, bởi không chỉ con chó ngây thơ vô tội cắp thai nhi chạy hoang, ngay cả con người cũng thản nhiên vứt bỏ, đánh đập, ăn thịt chính huyết thống của mình. Nhà máy rác Cần Thơ phát hiện hơn 300 xác thai nhi trong bảy năm, nghe đã rùng mình. Nghĩ tới bàn tay ai đó đã ném những hài nhi bé bỏng ấy vào túi rác, càng rùng mình hơn. Suy cho cùng, trên hành tinh này, không giống loài nào độc ác bằng loài người.

Ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp nếu sống đến giờ, sẽ không chỉ buồn không chỉ bất lực, thể nào cũng phẫn uất sinh nhồi máu cơ tim. Những năm tám mươi, ông còn có thể “bỏ chạy” khỏi xã hội nhiễu nhương, quay về chiến trường, chiến đấu với kẻ thù. Giờ thù đã thành bạn, bạn chót lưỡi đầu môi, bạn đâm bị thóc chọc bị gạo nhưng thỉnh thoảng nắm tay nhau dự tiệc nhân dân nên luôn luôn tốt. Ông tướng có muốn cũng khó tìm ra một chiến trường thực sự, chiến trường của sức mạnh, niềm tin, chiến trường vì nước vì dân. Cái chết của ông trên miền miên viễn, dưới đạn pháo kẻ thù, giải thoát ông khỏi hiện tại xa lạ, khỏi tương lai còn khủng khiếp hơn nhiều.


clip_image004



Ba mươi hai năm trước, người Việt lành hơn, xã hội ổn định hơn nay? Không! Chỉ là ba hai năm trước, chưa có Google, Facebook, Youtube, báo điện tử. Và rất ít nhà văn dám xông thẳng vào “mảnh đất lắm người nhiều ma”, dám “bước qua lời nguyền”, bước đi “bên kia bờ ảo vọng” mà rên lên “nỗi buồn chiến tranh”.

Năm 1987, sau đám tang mẹ, giữa “tình hình đất nước bấy giờ khá thê thảm”, trong những ngày trời nhàn nhạt, âm thầm ngồi thấm nỗi đau mất mát, Nguyễn Huy Thiệp viết “Tướng Về Hưu”. Nhà văn kể đám tang mẹ ông diễn ra giống hệt đám tang vợ ông tướng trong truyện. Không khí chậm nẫu, người chết nhắm mắt hưởng thụ bình an, người sống khóc lóc đấm ngực tự trách. Nguyễn Huy Thiệp cho rằng mình đã đưa được “đạo” vào truyện. Tôi thì nghĩ linh hồn người mẹ ông thương yêu đã cầm tay dẫn ông vào vùng bản ngã – ý thức – tài năng – bóng tối – ánh sáng chốt kín cửa trong con người ông mà bấy lâu ông lảng tránh, ông chối từ hoặc không biết đường đi.

Mở khóa cửa, ông “bước qua lời nguyền”, điềm tĩnh ngồi xuống, kể chuyện ông tướng từng anh dũng đi qua “đường ra trận mùa này đẹp lắm” nay lạc lõng giữa thời bình, bắt đầu nhen nhóm hoài nghi về cái đẹp con đường mình đã hành quân – xung phong – chiến đấu.

Chuyện cô con dâu bác sĩ phụ sản mang những bọc thai nhi về nhà nấu cho chó lợn ăn. Chuyện cha con người giúp việc ngây ngô, tình nghĩa… Và chuyện chính mình, nhân vật tôi hèn hèn, yếu yếu, thụ động, bất lực, trầm mình trong vũng lầy trí thức trốn biển hồ thực tế quẫy sóng ngày đêm. Tưởng chỉ là chuyện gia đình, chuyện thường nhật. Nhưng tác giả đã tạo nên một con sóng lớn, chồm qua kho tàng văn học minh họạ, đập vào bờ hiện thực không “phải đạo”, đập vào ghềnh lương tri, thức tỉnh sự thật. Cú “bước qua lời nguyền” của Nguyễn Huy Thiệp khiến cuộc đời ông sang trang, mang đến cả vinh quang lẫn cay đắng. Một truyện ngắn cũng có số phận như con người. Lá số tử vi của “Tướng Về Hưu” đầy hoa nở cùng lít nhít sâu độc.


Tôi đọc “Tướng Về Hưu” lần đầu năm 1991, khi còn là nữ sinh trung học. Trước đó đã đọc Những ngọn gió Hua Tát, bị ám ảnh suốt nhiều tháng. Nên “Tướng Về Hưu” không làm tôi ngạc nhiên. Vì người đã viết “Những ngọn gió Hua Tát”, sẽ không bao giờ kể chuyện nhạt, chuyện thoảng qua, chuyện đọc rồi quên. Không ngạc nhiên nhưng tôi sốc trước cách kể đanh, lạnh, giống hạt nhân gai cứng nằm gọn giữa bột mềm nhân ái. Ăn chiếc bánh, đứa trẻ mười lăm vừa cảm nhận vị ngọt vừa có cảm giác vỡ toác đầu bởi hơi cay xộc thẳng lên não. Não mở ra, tôi nhìn những gương mặt quanh mình bằng cái nhìn sâu hơn. Nhìn cô T. ngây ngô hay bắt chuồn chuồn trước cổng nhà dịu dàng hơn. Nhìn ông chú họ cựu chiến binh cổ lỗ sĩ trìu mến hơn, tự hỏi không biết ông ấy có còn nghĩ “đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Nhìn xuống chân mình, thấy con đường trưởng thành, con đường làm người phía trước thật lắm gian nan.

Thú thực “Tướng Về Hưu” không nằm trong số những truyện Nguyễn Huy Thiệp mà tôi thích nhất. Với tôi, “Con Gái Thủy Thần”, “Không Có Vua”, “Những Người Thợ Xẻ”, “Thương Nhớ Đồng Quê” mới là đỉnh cao của ông. “Tướng Về Hưu” hoàn toàn hiện thực, không có phép thuật văn chương ma mị, huyền hoặc. Nhưng có sao, bao nhiêu năm trôi qua, truyện ngắn “Đôi Mắt” của nhà văn hiện thực phê phán Nam Cao vẫn là tượng đài sừng sững. Dù Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện hiện thực theo cách cũ nhưng truyện ông luôn mới, ba mươi hai năm trước, bây giờ hay mai sau. Bởi giọng điệu riêng biệt, bởi thế võ bí truyền chỉ mình ông biết dụng. Ông hay nói về đạo trong văn. Đạo của ông không thờ Phật hay Chúa. Theo tôi hiểu, đạo Nguyễn Huy Thiệp là đạo đời, “con đường tự nhiên, con đường thoát hiểm, con đường sống sót, con đường hy vọng.” Ông tướng về hưu có đạo của mình, đạo hy sinh. Con dâu ông theo đạo tiền. Con trai lùng nhùng giữa đạo hèn trí thức. Cô Lài ngây ngô hát lời kinh thật thà. Họ vây quanh Nguyễn Huy Thiệp, giằng xé ông, đòi giác ngộ.

Giác ngộ? Tôi không biết bản thân Nguyễn Huy Thiệp giác ngộ đạo đời đến đâu, nhưng độc giả của ông, nhiều người đã thức tỉnh. “Tướng Về Hưu” mải miết đập vào ghềnh lương tri, suốt ba mươi hai năm, giờ vẫn đập đâu đó.

Mấy chục năm, ông tướng của Nguyễn Huy Thiệp hy sinh rồi, nhưng chưa nghỉ hưu. Ông luôn ở đó, song hành cùng hiện thực xã hội, bật mã số liên tưởng trong não bộ những người đồng đạo.


Đỗ Hoàng Diệu
(từ: damau.org)


clip_image006
ĐHD, Ohio, tháng 5-2019

Từ trái: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Cổ Ngư và Đỗ Hoàng Diệu


(*) tranh Marcelino Trương

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 12, 20197:18 PM(View: 135)
Nơi Trần Thị NgH. vận tốc làm cho người đọc giật mình: "Mặt mụ ta thấy ghét thật. Da căng bóng, hai con mắt nhỏ, tóc chải xước ra sau túm lại thành cái búi củ hành chừa cái trán trống trên đó một mụt ruồi bằng đầu đũa đậu lửng lơ giữa đôi chân mày đã bị cạo trọc lóc để thay vào hai đường xăm vụng về. Đầu đít một mét tư, mụ ngồi thun lại còn có mấy tấc sau lưng ông xe ba bánh, hai tay bấu hai bên yên. Tưởng tượng từ đàng xa lao xe 100 phân khối tới mục tiêu, tôi có thể cày nát mụ không kịp ngáp. Chắc chắn lúc đó mụ đang nhìn kẻ sát nhân trong cự li gần." (Lạc Đạn Và Mười Truyện Ngắn, Thời Mới, Toronto, 2000, t. 148). Đó là vận tốc của những ý tưởng độc ác chảy trong đầu một người. Từ quan niệm nhân bản truyền thống, phát xuất một số nhà văn chuyên trị những ý tưởng đẹp, hành động cao cả của con người. Ở Trần Thị NgH., ngược lại, thường là những ý tưởng quái đản, những tính toán hèn hạ được ghi lại rất rõ ràng rành mạch. Sự ngược đời đó tạo nên một tác phong văn học đặc biệt.
Tuesday, July 9, 20197:08 AM(View: 144)
Đã là học sinh trung học, dù là học sinh trường công hay trường tư, không ai là không biết tới hai tác phẩm văn học vô cùng giá trị của giáo sư Dương Quảng Hàm đó là Việt Nam Văn Học Sử Yếu xuất bản năm 1941 và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển xuất bản năm 1942. Cả hai tác phẩm này đều được được Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa chính thức công nhận làm sách giáo khoa cho chương trình trung học. Giáo Sư Dương Quảng Hàm, hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 tai làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông là nhà nghiên cứu văn hóa và đã đặt nền móng cho môn lịch sử văn học và văn học so sánh ở Việt Nam. Ông là người khởi xướng chương trình quốc học cho nền giáo dục hiện đại và cũng là người thầy xuất sắc đã đào tạo hàng ngàn môn đệ trong một phần tư thế kỷ. Thân phụ ông là nhà Nho yêu nước Dương Trọng Phổ và anh cả ông là nhà văn Dương Bá Trạc, một trong các nhà văn đi tiên phong ở đầu thế kỷ 20. Cả hai đều tham gia tích cực vào phong trào Đông Kinh Nghĩa
Saturday, June 29, 201910:16 AM(View: 295)
Anh từ miền Bắc vào thị xã tôi khoảng giữa năm bảy lăm, lúc Sài Gòn vừa mới mất chưa đầy bốn tuần lễ. Đúng ra phải gọi là anh về, bởi bác tôi tập kết, mang anh theo lúc anh chỉ độ một tuổi. Khi bác tôi trở về, anh trở về cùng. Và lẽ ra tôi phải dùng chữ hồi hương cho trường hợp của anh mới đúng. Nhưng trông anh chẳng có gì là về. Cũng không là trở lại. Cái vẻ ngơ ngác, lạ lẫm với tất cả mọi thứ, từ khung cảnh quê nội quê ngoại, đến bầu không khí anh chưa từng được nhìn thấy, chưa từng được trải qua trong đời, không xuất hiện nhiều lắm trên mặt anh, trong ánh mắt anh, nhưng trong những lời nói dè dặt, nhỏ nhẻ, trong những ngại ngần khoảng cách của anh khi tiếp xúc với chúng tôi lần đầu, khiến chúng tôi nhận ra, quê hương của anh chẳng phải là nơi này. Trời thị xã tôi tháng năm nóng cháy da. Anh vào. Mang dáng dấp bên ngoài, hoàn toàn chẳng có gì khác, so với những cán binh Bắc Việt, những người lính phía bên kia vĩ tuyến mới vừa tràn vào thành phố. Trên vai anh, cũng chỉ một
Tuesday, June 25, 20199:25 PM(View: 230)
Tuần qua, nhà nước cộng sản Việt Nam quyết định thành lập một hội đồng khoa học gồm người Việt và người Nga để kiểm tra, đánh giá trạng thái thi thể Hồ Chí Minh (HCM) đặt trong lăng mộ ở Hà Nội. (BBC News – Tiếng Việt, ngày 20-6-2019.) Nhân đây, xin trình bày lại diễn tiến việc ướp xác HCM. Hồ Chí Minh chết ngày 2-9-1969. Ngày 2-9 là quốc khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam trước 1975, nên Bộ chính trị đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) đã đổi ngày chết của HCM là 3-9-1969. Hồ Chí Minh để lại 3 di chúc khác nhau. Di chúc đầu tiên do HCM đánh máy và ký tên ngày 15-5-1965, có chữ ký "chứng kiến" của Lê Duẩn, trong đó HCM viết: "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là "hỏa táng". Tôi mong rằng cách "hỏa táng" dần dần sẽ được phổ biến...Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi...” (Hồ Chí Minh,
Sunday, June 23, 20197:56 AM(View: 266)
(h. NMC) Có không biết bao nhiêu người đã ngã gục trong cái gọi là "Trại Tập Trung Học Tập Cải Tạo" của Cộng sản. Chết vì đói, vì lao động khổ sai nặng nhọc trong lúc không được dinh dưỡng tối thiểu, vì tai nạn trong lúc lao động không có một chút phòng ngừa an toàn, vì bệnh tật thiếu thuốc men và không được cứu chữa đứng đắn, vì một thứ gì đó hơi quý giá hoặc hay lạ của người tù đã khơi động lòng ham muốn của một tên cán bộ coi tù, nên đã bị bắn chết để tước đoạt rồi gán cho tội trốn trại.. Rất nhiều, rất nhiều nguyên do đã đưa đến cái chết của người tù trong chế độ Cộng sản Việt Nam từ sau tháng 4-1975. Nhưng cũng có cái chết của một người đã từng được coi như là "lý thuyết gia" về Cộng sản. Anh đã chết chính là vì anh đã không biết hết những gì về bản chất của Cộng sản. Từ ngày còn đi học, khoảng đầu thập niên 60, tôi đã đọc cuốn "Đem tâm tình viết lịch sử" của tác giả Nguyễn Kiên Trung. Cuốn này được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Sau này tôi nghe