DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,149,194

Đào Hiếu - Vòng Tay Người Khác (Chương 6)

Tuesday, July 16, 20195:46 PM(View: 460)
Đào Hiếu - Vòng Tay Người Khác (Chương 6)

Vòng Tay Người Khác


Image result for vòng tay người khác của đào hiếu



6.


Duy ngồi một mình trên bến sông. Mùa đông đã qua rồi nhưng buổi sáng ở đây vẫn ảm đạm. Sông mênh mông, trắng bạc như bầu trời, sương sớm bay la đà trên đám dừa nước bên kia bờ. Những con én chao nghiêng trên mặt sông như những cái lá đen rơi mà không chạm đất. Chúng tìm gì nơi đó mà chăm chỉ, kiên nhẫn, im lặng? Chàng không thấy gì trên sông ngoài cái màu xám hiu hắt
kia thế mà đàn chim thì dường như vẫn đang kiếm tìm cái gì đó, hay chúng chỉ chơi đùa như đàn trẻ nhỏ?


Thời gian đã đi qua tâm hồn chàng, đã như cơn gió thổi khô se tuổi thanh xuân của chàng, làm chai sạn da thịt, làm nguội lạnh dòng máu và có khi thổi buốt tim chàng, làm lạnh cóng, làm rét run trong những đêm mưa nằm một mình trong túp lều tranh nghe sóng vỗ lách tách trên bờ cỏ. Chàng thì già đi nhưng những con chim én, những cỏ cây hoa lá bên bờ thì suốt đời vẫn trẻ. Dòng sông đang chảy lững lờ dưới kia một ngàn năm trước và một ngàn năm sau vẫn vậy. Tại sao chàng không vĩnh cửu như dòng sông, như cỏ cây?


Duy ngồi hút thuốc lá trên một cái rễ cây lớn. Phía trước. Trước mặt chàng có một cái cây ốm yếu đứng trơ trụi sát mé nước. Mùa đông đi qua đã rũ sạch lá trên thân thể nó, bây giờ nó khẳng khiu trơ những cành khô đen sẫm như những nét vẽ mảnh khảnh, buồn tẻ trên nền trời xám xịt. Thế mà chàng lại thích cái cây ấy bởi nó không vĩnh cửu, bởi nó cũng chết như chàng. Nó đứng riêng lẻ một mình, vươn những cánh tay vô vọng giữa trời đất, giữa mây nước mà không một lời kêu than. Dường như nó cũng không biết có lũ chim én đang đậu trên mình. Cái cây đã chết thật rồi nhưng vẫn đứng đó, nó làm cho buổi sáng trên bến sông trở nên hiu quạnh, nó làm cho lòng chàng man mác buồn, nó làm cho những đám mây kia ngẩn ngơ.


Giá cái chết của chàng cũng có thể nói điều gì đó với đời, cũng có thể tham dự chút gì đó với sông nước, với mây núi như thân cây khẳng khiu ốm yếu kia.


Giá như chàng chết đi mà vẫn có thể hòa nhập.


Người bạn già của chàng trong xóm đi ra, vai vác cái lưới cá, đầu vấn khăn rằn, đi chân đất. Chàng nhìn ông. Ông là một cây đại thụ dù ông không cao lớn lắm nhưng ông đi những bước chậm rãi, chắc chắn trên cỏ ướt. Da ông nâu, ánh lên như màu đồng đỏ, đóm lửa sáng trong bình minh nhạt nhòa. Cả hai người đều im lặng. Duy rời chỗ ngồi. Họ xuống thuyền cũng im lặng. Và chèo đi. Những con chim én bay quanh chiếc thuyền câu. Cũng như chàng, chúng trôi đi trong khoảng không mênh mông.


Khi hai người đã giăng lưới xong, họ neo thuyền lại giữa dòng, ngồi bó gối uống trà, nhìn mây nước. Lão ngư phủ già thì trầm mặc. Lão đem Duy về đây gần một năm, hồi ấy Duy còn là một phu khuân vác ở bến sông, lão đi ngang thấy anh ngồi một mình, và dừng lại. Về sau này lão nói: Tôi mến cậu là mến đôi mắt. Nó chứa đựng cả một đời người tàn nhẫn trong đó. Cậu đã sống nổi trôi bao nhiêu năm rồi? Duy đáp: ba năm. Trước đây cháu là một họa sĩ nhưng thời thế đổi thay cháu buồn bỏ đi, ban đầu cháu đến một thành phố xa lạ với một cái giá vẽ và một cây bút chì than, cháu lang thang trên hè phố vẽ chân dung cho khách qua đường. Nhưng đó là một cái nghề rất bạc bẽo, cháu bỏ đi làm phu khuân vác. Lão già lại hỏi: Cháu muốn quên một cái gì đó phải không? Câu hỏi ấy làm Duy hiểu và cảm mến người ngư phủ già này. Chàng về sống với ông, như hai cha con, như hai anh em.


Ngày ngày họ đi đánh cá dọc theo sông, xế chiều ghé bến bán cá rồi đi vào thị trấn mua các thứ cần thiết. Cả hai người đều không thích la cà quán nhậu. Họ trở về căn lều cỏ của mình trên bờ sông, nhóm bếp lửa và tự nấu nước lấy.


Duy sống một năm nổi trôi với sông nước, da chàng sạm đen, bắp thịt chàng cũng săn chắc. Chàng thích cuộc sống mới này bởi nó an ủi chàng, nó gợi dậy bao hoài niệm. Chúng như lớp rong rêu, như lá khô, như sỏi đá và hoa cỏ. Chúng ẩn hiện, vùi lấp, như cát bụi như lửa cháy. Có những hoàng hôn chàng ngồi soi vào lòng mình, soi vào quá khứ. Và chàng sống lại cái quá khứ lạ lùng ấy. Nó cháy rực rồi nó tàn lụi. Nó ùa đến rồi nó lảng xa, mất hút. Nó khuấy động ồn ào rồi nó lắng dịu, ngủ yên. Rồi bóng tối đến, xua dần những hoài niệm. Khi chàng nhóm lên bếp lửa, chàng thấy lại thế giới của mình. Chàng nhìn vách lá, những cuộn thừng, cái lưới cá. Chàng nhìn ông già nằm ngủ và chàng lắng nghe dòng sông, nó chảy hoài ngàn năm, nó nói rầm rì mãi không dứt, không dứt, cũng như mối tình trong lòng chàng gọi hoài, gọi hoài không dứt. Bếp lửa an ủi chàng, sưởi ấm chàng và biến ảo khôn lường. Nó như đứa trẻ con làm xiếc, nó nhảy múa khi cao khi thấp, khi lung linh khi cuồng nhiệt. Lửa như khóm hoa mọc trong đêm, lửa như con vật nuôi trong nhà, lửa an ủi, ấp ủ và trìu mến.


Nếu không có bếp lửa mỗi đêm, mỗi bình minh, có lẽ chàng đã bỏ bến sông này mà đi, dù đi đến đâu chàng cũng không biết. Trong thâm tâm, chàng vẫn muốn đến một nơi nào đó có dấu vết của Huệ, có chút kỷ niệm nào dù nhỏ nhoi. Nhưng chàng vẫn sợ. Bởi vì nó sẽ dày vò chàng, thiêu đốt chàng thành tro bụi.


Buổi sáng tê lạnh chàng thường nhóm ngọn lửa bên bờ sông để sưởi chung với những người phu khuân vác. Chàng hát cho họ nghe những bài dân ca bằng cái giọng rè rè của chàng, nhưng họ thích vì những cuộc đời lam lũ ấy không hề có tiếng hát. Có khi chàng hát lỡ dở nửa chừng rồi dừng lại cười, quên mất lời ca. Những người già nhất trong đám kể lại những cuộc chiến tranh đã trải qua trên thị trấn này, trên bến sông này.


Buổi trưa chàng thường không ngủ được. Chàng đi lang thang một mình nơi bờ sông. Bến đò ít khách, thỉnh thoảng mới có một chiếc thuyền ba lá đưa mấy người khách sang sông. Chàng nhìn những người đi mà lòng nao nao, thèm một chuyến đi xa.


Đi đâu? Đi tới chỗ nào có Huệ, hay có một chút gì của Huệ. Nhưng Huệ ở đâu? Chàng sống ở vùng này gần một năm chàng đã lần mò đến các vườn cà phê lớn nhất trong vùng nhưng không tìm ra Huệ. Mỗi sáng mỗi chiều chàng ngồi trên bến sông nhìn cây dương khô khẳng khiu trụi lá. Những chiếc ghe nhỏ trôi ngang qua, thường thường trên ghe có một gia đình nhỏ, hai vợ chồng một đứa con, họ sống vô định nay đây mai đó, ban ngày đi đánh cá về đổi gạo mắm rượu thịt, ban đêm neo thuyền lại, ngủ ở một bến sông dưới tàn cây. Một ngọn đèn đêm leo lét âm thầm và hiu quạnh nhưng hạnh phúc đã sưởi họ bằng ngọn lửa ấm áp trong những đêm đông.


Duy đi dọc theo bến sông, lát sau chàng đã thấy cái chấm đen quen thuộc của chiếc thuyền câu trở về. Chiếc thuyền nhỏ hiện dần trong màn sương mỏng, thoảng trong gió chàng nghe tiếng mái chèo khua trên mạn thuyền.


Nhưng khi nó lại gần thì Duy mới biết rằng đó là một chiếc thuyền lạ. Bơi thuyền là một người đàn bà đầy đặn, mặc bà ba đen búi tóc, mang đôi dép Lào màu vàng sẫm. Duy nhớ rằng người đàn bà này đã có ghé nhà mình vài lần để chuyển thư từ hoặc những đồ lặt vặt mà lão ngư phủ nhờ mua.

- Bác đâu rồi? Duy hỏi.


Người đàn bà đáp:

- Bác bận công chuyện, ngày mai bác mới về. Tui có việc đi xuống ấp Hai, ghé báo cho anh biết.

- Sao chị đến trễ vậy?

- Kẹt lục bình quá trời. Tui gỡ cả tiếng đồng hồ mới ra được. Đi đường mưa lất phất lạnh muốn chết. Anh có cái gì ăn không?

- Có cháo cá. Chị ăn một chút, uống chén rượu rồi đi cho ấm bụng.


Người đàn bà nhảy lên bờ.


Duy bắc nồi cháo lên bếp lửa hâm lại cho nóng rồi anh cời than hồng ra nướng mấy con mực.


Rượu làm cho người đàn bà ấm lại, chị ngồi sát bếp lửa, hơ tay rồi áp lên má mình. Một lúc hai má chị đỏ lên, mắt sáng long lanh. Người đàn bà này chỉ được đôi mắt, những bộ phận khác có phần thô kệch, tuy nhiên sự có mặt của một người đàn bà trong buổi hoàng hôn lất phất mưa bên bến sông vắng vẻ cũng làm cho lòng Duy thấy ấm lại. Người đàn bà ngồi thu mình cằm tựa lên hai đầu gối, mái tóc dài xõa ngang vai chảy xuống lưng. Chị đăm đăm nhìn ngọn lửa một lúc rồi hỏi:

- Anh cứ sống một mình hoài sao?

- Tôi có sống đâu, Duy cười, tôi để cho dòng đời nó cuốn mình đi.

- Cuốn đi đâu?

- Đi đâu mặc xác nó.


Người đàn bà thở dài, thìa cháo cá cầm trên tay một cách hờ hững. Duy giục:

- Ăn đi cho ấm bụng.


Người đàn bà quay lại nhìn Duy cười, tỏ dấu cám ơn rồi múc cháo ăn. Một lúc chị lại nói:

- Em tới đây thấy anh sống thui thủi, em phục thiệt. Anh không nghĩ đến chuyện lập gia đình sao?

- Không.

- Anh yêu chị ghê vậy?

- Yêu hơn thế nữa.


Người đàn bà lại thở dài.

- Chị ấy thật là một người hạnh phúc.


Duy nói:

- Ai cũng tưởng như vậy. Nhưng không phải đâu. Đó là một người đàn bà bất hạnh. Đến bây giờ tôi vẫn còn yêu con người ấy một phần cũng vì nỗi bất hạnh ấy.


Người đàn bà quay lại bếp lửa và ngồi xuống chỗ lúc nãy. Chị ăn hết tô cháo rồi nhìn ra ngoài mặt sông lúc ấy bóng chiều đã phủ mênh mông trời nước, mưa vẫn còn lất phất bay. Nỗi buồn của người đàn bà lây sang chàng. Duy nói:

- Chị uống thêm một tí rượu nữa cho ấm.


Nhưng người đàn bà không nói gì, chị đứng lên tiến lại bên cửa.

- Gió mạnh hơn lúc nãy, chị nói, nhưng tôi phải đi thôi.


Duy lấy cái áo lính của mình đưa cho người đàn bà.

- Không sao, người đàn bà nói, cám ơn anh.


Rồi chị khoác áo tơi lên người, bước ra ngoài mưa. Duy tiễn người đàn bà ra tới xuồng và đỡ chị xuống. Chị cầm lấy mái chèo, ngẩng mặt lên nhìn Duy và nói:

- Tôi cũng là một người đàn bà bất hạnh.


Rồi chị dùng mái chèo xô thuyền ra. Chiếc thuyền nhỏ trôi đi, xa dần trong mưa bụi.


Gió thổi mạnh hơn nhưng Duy vẫn đứng lặng yên bên bến sông. Những con én đã biến mất nhưng cây dương khô ốm yếu thì vẫn đứng đó vươn những cành khẳng khiu giữa trời nước bàng bạc, lạnh lẽo và hiu quạnh. Chàng thấy kiếp người sao nhỏ nhoi, hâm hiu, tàn nhẫn. Và chàng không muốn vào nhà nữa, chàng đi dọc theo bờ cỏ, đến đứng ngay dưới gốc cây dương khô, chàng tựa lưng vào nó, ngước nhìn trời. Những sợi mưa nhỏ bị gió thổi quất vào mặt chàng đau rát và buốt lạnh nhưng chàng cứ để mặc. Cái nỗi cô đơn này, cái chiều mưa ảm đạm này sẽ không còn cô đơn nữa, không còn ảm đạm nữa nếu bỗng dưng có Huệ đứng bên cạnh. Tình yêu xóa tan dễ dàng những bất hạnh ngay cả khi đang đắm chìm trong bi kịch thì nó vẫn có khả năng bứt ra khỏi mọi xiềng xích. Nó là linh hồn của mặt đất này.


Duy gỡ một mảnh vỏ cây khô bóp vụn ra rồi ném xuống dòng sông. Chung quanh chàng tối mịt, đằng xa, trong xóm thôn thấp thoáng vài ánh đèn dầu vàng vọt, vài tiếng chó sủa bâng quơ bay lạc lõng trong tiếng gió rít.


Duy trở vào nhà. Bếp lửa đã tàn nhưng trong tro vẫn còn chút than hồng. Chàng ngồi xuống sưởi hai bàn tay và đốt thuốc lá hút. Bỗng nhiên một que củi nhỏ bốc cháy. Chàng ném ngọn lửa ra ngoài mưa và quay vào trong buồng.


Trong bóng tối đen kịt chàng lắng nghe tiếng mưa, tiếng gió xào xạc trong lá, tiếng côn trùng. Nỗi nhớ dày vò chàng, chàng nhớ day dứt, nhớ hoài không thôi, nhớ đến nỗi chàng nghĩ nếu mình được gặp Huệ một lần nữa rồi chết cũng vui lòng.


                                                                                      Đào Hiếu
                                                                                         (còn tiếp)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, November 18, 20197:27 PM(View: 43)
Chủ nhà hé mở cánh cổng sắt. Khách là một người đàn ông cao lớn, trầm lặng, khắc khổ. - Tôi đi học tập cải tạo mới về và đây là nhà của tôi. Ông có thể cho tôi vào được không? Khách bước vô, đứng trong sân.
Monday, November 11, 20199:49 AM(View: 79)
Chữ SÁT to dựng cao trên con lộ chính vô, ra của đất Dục Mỹ. Chỉ những người ngủ gật, lơ đễnh, hoặc mất hồn mới không nhìn thấy. Dấu tích còn lại của thời chiến.
Monday, November 4, 20198:24 PM(View: 107)
Không hiểu sao tôi lại gật đầu nhận lời đi cùng Trinh ra nơi chốn vắng vẻ này? Con người, thú vật, xe cộ, tiếng động ồn ào
Thursday, October 24, 20195:53 PM(View: 157)
Câu chuyện cậu kể về người đàn bà tôi nghe trên chuyến xe lửa xuyên Việt. Tôi cứ hình dung, vẽ ra khuôn mặt người đàn bà chưa lần gặp, nay đã xoá sạch, mất dấu. Xe lửa chạy trong đêm, chở tôi, đang nơi đâu?
Saturday, October 19, 201910:28 AM(View: 167)
Nghiệp chướng nằm trong mỗi cá nhân, gia đình, xã hội, đất nước. Dân tộc nào, hứng chịu nghiệp chướng dân tộc đó!