DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,149,112

Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt

Tuesday, August 27, 20197:55 AM(View: 362)
Vũ Tuấn - Từ Ngữ Tiếng Việt
Từ Ngữ Tiếng Việt

blank


I/ Từ thời xa xưa, ngôn ngữ Việt Nam đã rất đa dạng, phong phú. Nhất là những từ ngữ cổ bởi chúng có thể diễn tả sâu sắc nội tâm của con người, diễn tả chi tiết về sự vật, hiện tượng…. Cho đến ngày nay, chúng vẫn tồn tại nhưng lại thường bị mất nghĩa hoặc bị hiểu sai. 
Dưới đây là một số từ cổ tưởng chừng vô nghĩa nhưng lại có ý nghĩa rất bất ngờ và thú vị.
Chúng ta vẫn thường nói, em yêu dấu, ‘yêu’ thì hiểu rồi, nhưng ‘dấu’ nghĩa là gì?

‘Dấu’ là một từ cổ, sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘dấu’ nghĩa là ‘yêu mến’. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) cũng giải thích ‘dấu’ là một từ cổ để chỉ sự thương yêu. Ông cho ví dụ: Thuốc dấu là ‘bùa để làm cho yêu’.

Tục ngữ Việt Nam nói ‘Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu’, còn Hồ Xuân Hương trong bài thơ Cái quạt giấy (bài hai) thì viết ‘Chúa dấu vua yêu một cái này’. Có thể thấy, ‘dấu’ và ‘yêu’ là hai từ có ý nghĩa tương đương, ngày xưa dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ ‘yêu’ vẫn còn được viết hay nói một mình, còn từ ‘dấu’ thì không ai dùng một mình nữa. Giờ đây, thay vì ‘anh yêu em’ mà nói ‘anh dấu em’ thì không khéo lại bị hỏi ‘anh giấu cái gì?’..
Trong từ ‘chợ búa’ thì ‘búa’ có nghĩa là gì?
‘Búa’ trong ‘chợ búa’ chắc chắn không liên quan đến cái búa để đốn cây rồi. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ý kiến được xem là vững chắc nhất thì cho rằng ‘búa’ là âm xưa của chữ [], âm Hán Việt hiện đại là của chữ này là ‘phố’, nghĩa là cửa hàng, là nơi buôn bán. Chợ búa nói chung là nơi người ta tụ tập mua bán.
 
‘Búa’ trong tiếng Việt hiện đại đã dần mất nghĩa và không dùng độc lập, nhưng nếu nói nó vô nghĩa thì không đúng. Tiếng Việt có rất nhiều từ cổ bị mất nghĩa khi đứng một mình, nhưng chúng không vô nghĩa. 

Người ta nói ‘gậy gộc’, ‘gậy’ thì hiểu rồi, còn ‘gộc’?
‘Gộc’ là từ mà hiện nay đã không còn nghĩa độc lập. Tiếng Hán, ‘gộc’ là chữ này []. Sách ‘Đại Nam quốc âm tự vị’ của Huỳnh Tịnh Của giảng: ‘Gộc’ là ‘cây củi có khúc đẩn(?) mà lớn’ và cho ví dụ ‘ông gộc’ là người già cả hơn hết hoặc làm lớn hơn hết trong một xứ. Cũng có tài liệu giảng ‘gộc’ là ‘đoạn gốc của cây tre, cây vầu’ hay có nghĩa là ‘to lớn’.

Theo đó, gậy gộc nghĩa là những cây gậy lớn, thường dùng để đánh nhau.
Mình hay nói ‘hỏi han’ nhau, ‘hỏi’ thì rõ nghĩa rồi, vậy ‘han’ có nghĩa không?
Tương tự như ‘gậy gộc’, ‘hỏi han’ không phải là từ láy mà là từ ghép đẳng lập, trong đó cả ‘hỏi’ và ‘han’ đều có nghĩa.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích: ‘han’ nghĩa là ‘hỏi tới’, ‘nói tới’. Theo đó, ‘hỏi han’ nghĩa là hỏi một việc gì đó, hỏi tới hay nói tới một việc nào đó.

Truyện Kiều của Nguyễn Du từng dùng ‘han’ như một từ độc lập, không dính đến từ ‘hỏi’, trong câu: ‘Trước xe lơi lả han chào / Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi’ (Phần Kiều rơi vào tay Tú Bà và Mã Giám Sinh). ‘Han chào’ chính là chào hỏi.

Khi mình nói về một chuyện gì đó ‘to tát’ thì ‘tát’ có nghĩa là gì?
‘To tát’ không phải là từ láy mà là từ ghép, cả ‘to’ và ‘tát’ đều có nghĩa. Tuy nhiên,  ‘tát’ ở đây là một minh chứng cho hiện tượng dùng sai nhiều thì thành đúng trong ngôn ngữ. ‘Tát’ đúng ra phải dùng là ‘tác’.
‘Tác’ nghĩa là lớn, ta thường gặp qua từ ‘tuổi tác’. Khi nói ‘tuổi tát’ thì đã mang nghĩa lớn tuổi, già rồi. Tuy nhiên, ngày nay mình hay nói ‘tuổi tác đã lớn’, cách nói này xét về nguồn gốc thì không đúng, bị lặp từ.
Do trong quá trình sử dụng đã có nhiều biến chuyển, nên ‘tuổi tác’ thường dùng để chỉ tuổi. Thậm chí tuổi còn nhỏ cũng dùng ‘tuổi tác’, ví dụ: ‘Tuổi tác còn nhỏ’, ‘tuổi tác mới có bây lớn’,… 
Riêng từ ‘to tát’ để chỉ cái gì đó lớn thì đã dùng thành ‘to tát’. Tuy nhiên, để viết đúng chính tả tiếng Việt hiện đại thì mình vẫn cứ dùng ‘to tát’.
Có câu, ‘cần cù bù thông minh’, ‘cần cù’ là từ láy hay từ ghép? ‘’ có nghĩa gì không?
‘Cần cù’ là từ ghép, cả ‘cần’ và ‘cù’ đều có nghĩa. Đây là từ gốc Hán, viết là 勤劬. ‘Cần’ là siêng năng chăm chỉ, ‘cù’ là khó nhọc, vất vả.
 
Chữ ‘cù’ này còn xuất hiện trong từ ‘cù lao’ () chỉ công ơn cha mẹ (thường nói chín chữ cù lao). 

Truyện Kiều có câu: ‘Duyên hội ngộ, đức cù lao/Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn’. Không nên nhầm lẫn từ ‘cù lao’ này với từ ‘cù lao’ chỉ cồn đất/cát nổi lên giữa sông do phù sa bồi lắng.

Bếp núc

– Bếp là nơi nấu ăn;
– Núc là ‘đồ đắp bằng đất thường làm ra ba hòn, có thể bắc nồi nấu ăn’, cho nên có thể hiểu núc chính là ông Táo. (theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quốc âm tự vị)
Thêu thùa’ là từ ghép tổ hợp (hay ghép đẳng lập), trong đó cả thêu và thùa đều có nghĩa.
– Thêu là dùng chỉ màu đính lên bề mặt vải làm ra hoa văn;
– Thùa là kết chỉ thêm, làm cho đẹp thêm. 
 
Về cơ bản thì thêu và thùa giống nhau, đều là hành động thêm hoa văn trang trí trên vải vóc cho đẹp. Nhưng thùa đôi khi còn có nghĩa là hành động mạng lại chỗ vải bị rách cho đẹp.

Vải vóc’ là một từ ghép với chữ ‘vóc’ cũng có nghĩa
– Vải là chỉ bông hoặc đồ dệt bằng chỉ bông;
– Vóc là một xấp hàng lụa vừa đủ một quần là sáu thước may.

Ngày nay thì vải không nhất thiết là dệt bằng chỉ bông mà có thể dệt bằng nhiều chất liệu khác. Còn vóc thì ít khi thấy dùng một mình nữa, người ta thường lầm tưởng ‘vải vóc’ là từ láy.
II/

THẮC MẮC: Từ ghép, trong đó:
– Thắc, chữ Nôm viết , nghĩa là lo lắng, bồn chồn.
- Mắc, chữ Nôm viết , nghĩa là điều khó hiểu, sự còn chưa thông.
‘Thắc mắc’ tựu trung lại có nghĩa là bồn chồn, không thoải mái về điều gì đó mình chưa rõ ràng và muốn tìm hiểu cho tường gốc ngọn.
NHIỄU NHƯƠNG: Từ ghép gốc Hán, chữ Hán viết 擾攘, giản thể viết 扰攘, đọc là /rǎorǎng/, trong đó:
– Nhiễu nghĩa là làm phiền, quấy rầy, làm loạn, chính vì vậy mà chúng ta thường hay nói ‘phiền nhiễu’;
– Nhương, chữ này có ba âm – nhương, nhưỡng và nhượng. Trong từ 擾攘 thì  đọc đúng phải là ‘nhưỡng’ (nhưng mọi người thường quen đọc là nhương), có nghĩa là rối loạn.
‘Nhiễu nhương’ là từ ghép nghĩa là hỗn loạn, xáo trộn, quấy rối. 
BÁN CHÁC: trong một từ điển giảng ‘bán chác’ là khẩu ngữ chỉ việc bán hàng hoá nói chung và có ngụ ý coi thường, xem nhẹ.. 
Cách giảng này cũng đúng với cách dùng của nhiều người. Tuy nhiên, thực chất ‘bán chác’ không chỉ có nghĩa là ‘bán’. Cụ thể:
– Bán là đổi vật mà lấy tiền (có thể lấy thứ khác tùy thỏa thuận);
– Chác là mua, chịu lấy, đa mang.
‘Bán chác’ thật ra là hoạt động mua bán nói chung. Và chữ ‘Chác’ cũng có nghĩa chứ không chỉ là tiếng đôi đi kèm với ‘bán’ để chỉ chuyện bán hàng hóa gì đó chung chung. Ngoài ‘bán chác’, ta còn thấy ‘chác’ đi với các từ khác như ‘đổi chác’, ‘kiếm chác’.
TẢO TẦN: từ ghép, chữ Hán viết là 藻蘋, giản thể viết 藻苹, phiên âm là /zǎopín/, trong đó:
– Tảo là một loại cỏ nước, cũng kêu là rong hay rau tảo;
– Tần cũng là một loại cỏ nước, còn kêu là rau tần.
Người xưa dùng rau tảo rau tần để hiến tế, để cúng gia tiên. Ngoài ‘tảo tần’ ta còn dùng là ‘tần tảo’. Từ này dần dần dùng để chỉ đức hy sinh của người phụ nữ, vì việc kiếm rau tảo rau tần thường do phụ nữ làm.
PHIỀN PHỨC: từ ghép, chữ Hán viết là 煩複 phiên âm là /fánfù/, trong đó:
– Phiền là rườm rà, lôi thôi, rắc rối;
– Phức là nhiều tầng, nhiều lớp, phàm sự việc, sự vật gì nhiều lần chồng chất thì gọi là phức, áo nhiều lớp (áo kép) cũng gọi là phức.
‘Phiền phức’ là việc gì rắc rối lôi thôi, nhiều tầng nhiều lớp, không đơn giản, không gọn gàng dứt khoát.
DẠT DÀO :từ ghép chữ Nôm. Đại Nam Quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng:
– Dạt là dan ra (dàn ra), để nới ra, không cho giụm lại (tức không cho chụm lại, túm tụm lại);
– Dào là đổ xuống như nước mưa. 
Theo Đại Nam Quốc âm tự vị thì ‘mưa dào’ nghĩa là mưa xuống nhiều. Huỳnh
Tịnh Của chú chữ ‘dạt’ chữ Nôm viết là 𢩮, cách viết này thống nhất với từ điển Hán Nôm.
Tuy nhiên, chữ ‘dào’ Huỳnh Tịnh Của chọn chữ 𩆍. Cái chữ 𩆍 này trong từ điển viện Hán Nôm ghi là ‘rào’. Còn chữ ‘dào’ trong ‘dạt dào’ thì từ điển này có mấy cách viết khác nữa. 
Có lẽ ‘dào’ và ‘rào’ là hai hình thức liên quan nhau, như cũng có người nói ‘dạt dào’ là ‘rạt rào’. Và chữ ‘dào’ này cũng là chữ ‘dào’ trong ‘dồi dào’..
VE VÃN : từ ghép, trong đó:
– Ve là trêu chọc;
– Vãn là lôi kéo.
Trêu chọc, ghẹo chọc, thường xuyên tới lui hòng lôi kéo sự chú ý khiến cho con gái người ta xiêu lòng thì gọi là ‘ve vãn’.
Người Việt hay dùng ‘lời ong tiếng ve’ (hoặc ‘điều ong tiếng ve’) khi muốn chê bai người hay thêu dệt bịa chuyện, hoặc để chỉ việc con trai buông lời tán tỉnh con gái.


Vũ Tuấn
 
(sưu tầm)
(từ: email)
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, November 16, 20198:08 PM(View: 60)
Vào năm 1961 tôi bắt đầu nghe những luồng dư luận bất mãn đối với Tổng thống Diệm trong nhiều thành phần dân chúng. Ít ai dám chỉ trích lớn tiếng, nhưng nhiều lúc tôi nhận thấy nhiều người khi phải nghe ca tụng suy tôn đã lấy làm ngượng ngập, khó chịu. Sự bất mãn đó đã có cơ hội xuất hiện trong biến cố 1-1-1961. Vụ đảo chánh hụt năm đó không phải chỉ lôi cuốn được một số sĩ quan bất mãn mà thôi, mà còn kéo theo nhiều nhà trí thức, và giả sử trong thời gian cô lập được dinh Độc Lập, sử dụng được đài phát thanh, họ chỉ cần biết dùng đài này để đưa ra một vài đường lối xã hội thật táo bạo, thì tình thế đã có thể thay đổi ngay lúc bấy giờ không cần chờ đến 1963. Nhóm đảo chánh cũng không chú trọng đến công việc xách động quần chúng. Xách động quần chúng là một việc làm dễ nếu biết và dám làm, nhưng rất khó nếu không hiểu tâm lý và những phản ứng quần chúng. Hơn nữa thời bấy giờ dân chúng đang sống yên ổn, thịnh vượng cho nên ít ai muốn xáo trộn. Sự bất mãn chỉ mới bắt đầu trong
Tuesday, November 12, 20199:14 PM(View: 227)
Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một
Sunday, November 10, 20197:19 AM(View: 216)
Ông Ngô Đình Diệm muốn Thiên Chúa Giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục làm Hồng Y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật Giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật Giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật Giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên Chúa ra mà nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật Giáo. Chương trình tú tài C thì đổi toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm một bằng ban D với cổ ngữ La Tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan huy bỏ ngày Phật Đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên Chúa Giáo cũng gấp đôi Phật Giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối
Saturday, November 9, 201912:58 PM(View: 302)
Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ cha già của dân tộc. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Vào ngày 1-11-1963, khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc Cách Mạng, thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa năm thứ nhất, chuẩn bị thi lên năm thứ hai của Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa, khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa
Friday, November 8, 20199:29 PM(View: 164)
Đây là một đoạn thơ Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên báo giới Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh — và từ đó — làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm. Tâm trạng kia và chứng từ nọ đã được ghi lại trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi xuất bản năm 1972 thời đó đã ít người được đọc trực tiếp nguyên tác; bây giờ dĩ nhiên là tuyệt bản. Năm nay nhiều cơ quan tổ chức kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt chiến tranh, tưởng cũng nên đọc lại chứng từ Nguyễn Bắc Sơn. Thì may thay, các bạn ở nước ngoài đã sưu tầm và tái bản tập thơ để tặng biếu bạn bè. Đây là một việc làm cao đẹp, đi từ tình bằng hữu thủy chung và nồng