DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,463,298

Phan Nhật Nam - Với những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt…

Thursday, September 12, 20198:46 AM(View: 2496)
Phan Nhật Nam - Với những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt…
Với những Người Lính
Nhảy Dù vắng mặt…

Image result for binh chủng nhảy dù
Image result for phan nhật nam

                                                                                     Nhà văn Phan Nhật Nam

Dẫn nhập:

Ngày 30 và 31 Tháng Tám, 2019 tại vùng Nam Cali có tổ chức Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam Hải Ngoại Lần Thứ 39, quy tụ hơn 800 cựu quân nhân nhảy dù, gia đình đến từ các Tiểu Bang Hoa Kỳ, các nước Âu Châu, Úc Châu, Gia Nã Đại, bao gồm một số chiến binh nhảy dù đến từ Việt Nam. Đặc biệt kỳ đại hội nầy có nhiều sĩ quan cao cấp thuộc binh chủng Dù, các Quân Y Sĩ phục vụ Quân Y Nhảy Dù từ lúc đơn vị còn là mang phiên hiệu liên đoàn (sau 1954); lữ đoàn trước 1965…

Đây là một đại hội tập họp số lượng người tham dự đông đảo nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên có một số lớn vắng mặt: Những người không thể tham dự đại hội – Những Người Đã Chết – Những Chiến Binh, Quân Y Sĩ Nhảy Dù hiến thân trên các chiến trường sau lần Hà Nội mở cuộc chiến xâm lược Miền Nam qua tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (19/12/1960) cho đến ngày tàn cuộc – Sáng 30 Tháng Tư, 1975 trên đường phố Sài Gòn, ngay tại Ngã Tư Bảy Hiền, trước cổng Trại Hoàng Hoa Thám, bản doanh của Sư Đoàn Nhảy Dù.

Một:

Trước tiên cần đề cập đến một chi tiết nhỏ… Người viết nguyên là Thiếu Úy trung đội trưởng Đại Đội 72/TĐ7ND (1963-1965); Đại Đội 72 có nguyên gốc từ Tiểu Đoàn 3/ND do Trung Úy Trần Quốc Lịch đưa từ Sài Gòn về Biên Hòa khi TĐ7ND tái thành lập, 1 Tháng Mười Hai, 1960. Sau những đơn vị cấp tiểu đoàn, năm 1968, người viết nhận nhiệm vụ Sĩ Quan Hành Quân-Tiếp Vận/Lữ Đoàn 2 ND (1968-1970), do Trung Tá Trần Quốc Lịch chỉ huy thay thế Trung Tá Đào Văn Hùng tại thời điểm Cộng Sản tổng tấn công Mậu Thân Đợt 2, Tháng Năm, 1968. Những chi tiết vừa nêu xét thấy cần thiết của bài viết sẽ trình bày về người và việc như sau...

Đầu năm 1970, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Trần Quốc Lịch được thăng cấp Đại Tá Nhiệm Chức, chỉ huy các tiểu đoàn cơ hữu (TĐ 5, 7, 11) và các đơn vị tăng phái, thống thuộc hành quân trong giai đoạn 1970-1972. Tháng Chín, 1972, do công trận, chiến tích các đơn vị thuộc Lữ Đoàn 2 thâu đoạt, Đại Tá Lịch được bổ nhiệm giữ chức tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh thay thế Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng; 1 Tháng Mười Một, 1972, Đại Tá Lịch tiếp thăng cấp chuẩn tướng nhiệm chức; Tháng Bảy, 1973, Chuẩn Tướng Lịch được lệnh bàn giao Sư Đoàn 5 lại cho Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, tiếp giữ chức vụ chánh thanh tra Quân Đoàn IV/Quân Khu 4. Cuối năm 1974, Chuẩn Tướng Lịch bị câu lưu do tội danh tham nhũng, tạm giam tại Đề Lao Chí Hòa, buộc phải giải ngũ, giáng xuống cấp đại úy! Phiên tòa quân sự chính thức xét xử Đại Úy Trần Quốc Lịch về tội danh tham nhũng chưa thực hiện thì xẩy ra biến cố 30 Tháng Tư, 1975. Vụ án Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch chìm khuất trong đại nạn nước mất nhà tan. Chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội nơi Miền Nam nhớ đến những vụ việc tai tiếng “tham nhũng còi hụ Long An”; vụ bán quân trang, vũ khí, gạo… chất sẵn trên quân xa chuyển giao cho Việt Cộng trên Quốc Lộ 13, trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại thời đoạn dưới quyền Tư Lệnh Trần Quốc Lịch… Coi như những giọt nước tràn chiếc ly đã vỡ của tình cảnh Quốc Hận toàn Miền Nam, cả Dân Tộc Việt Nam!

Đến đây chúng ta có thể kết luận: Vụ tham nhũng tại Sư Đoàn 5 Bộ Binh trong giai đoạn Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch (1973-1974) là một sự kiện có thật qua thực tế: Trần Quốc Lịch từ chuẩn tướng bị giáng xuống đại úy và bị giam giữ tại Chí Hòa cho tới ngày 30 Tháng Tư, 1975. Riêng những chi tiết: Tổ chức tham nhũng gồm những ai? Đầu mối chỉ đạo, điều hành từ đâu? Diến tiến, quá trình tham thực hiện như thê nào…? Quả tình không ai được rõ, vì phiên tòa quân sự chính thức chưa mở với hồ sơ an ninh quân đội, quân cảnh tư pháp Quân Khu III/Vùng III dẫu đã thiết lập với chứng cứ đầy đủ… Nước mất, quân đội bó tay, thất trận 1975 thì có đáng kể gì thêm những mưu mô tham nhũng, nằm vùng, trở cờ, phản bội. Và quân dân miền Nam nơi hải ngoại, ở trong nước bởi mối đau chung quá lớn của ngày 30 Tháng Tư nên chẳng mấy ai nhớ ra, muốn nhớ đến những tính danh gọi là… Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Thành Trung, kể cả Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát! Người Việt-Người Lính Miền Nam chỉ CẦN nhắc đến những phương danh kỳ vĩ: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ.. Những lữ đoàn trưởng Nhảy Dù, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong tình cảnh ấy, danh tính “Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch” đồng bị bỏ quên – Bao gồm bản thân của chính đương sự kể từ thời điểm 1991, khi người nầy ra đến hải ngoại. Điển hình tại các sinh hoạt của Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại cho đến kỳ thứ 39 trong ngày 30 và 31 Tháng Tám vừa qua. Cũng cụ thể với chính bản thân người viết, dẫu có những liên hệ trực tiếp chặt chẽ như phần trên đã trình bày, nên đã không nghe/không biết/không nói đến danh tính “Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch” – Hoàn toàn không là vấn đề yêu/ghét giữa hai cá nhân.

Hai:

Dạ tiệc Tiền Đại Hội Lần Thứ 39 được tổ chức tại nhà hàng Diamond Seafood Palace, và dạ tiệc, văn nghệ mừng đại hội kết thúc tại đại sảnh đường khách sạn Delta, Marriot Hotel, Thành phố Anaheim với sự tham dự của một số lượng lớn chiến hữu, thân hữu, và thân nhân Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại, “Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch” được mời dự với tư cách Niên Trưởng Danh Dự do cấp bậc cao nhất của buổi hội. Hơn thế nữa, buổi Hội Ngộ Quân Y Sĩ Nhảy Dù trong đêm 1 Tháng 9 tiếp theo tại nhà hàng Paradise Seafood, Westminster, “Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch” cũng được mời tham dự với tư thế trang trọng tương tự: Niên Trưởng Mũ Đỏ Cao Cấp Nhất. Bài viết nầy được hình thành bởi lý do sau đây.

Trong cuộc đảo chính 11 Tháng Mười Một, 1960, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và các sĩ quan thuộc Lữ Đoàn Nhảy Dù như Thiếu Tá Trần Văn Đô, Phan Trọng Chinh khi khởi sự hoặc sau khi thất bại luôn nêu bật đến Yếu Tố Chính Trị của cuộc đảo chính hoàn toàn khác biệt với Công Trận của Lữ Đoàn Nhảy Dù. Sự kiện khác biệt nầy tạo nên một KHOẢNG CÁCH RẤT LỚN giữa Chiến Tích Quân Sự với Hành Vi Chính Trị của những cá nhân tham gia đảo chánh, điễn hình với Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Liên Đoàn/Lữ Đoàn Nhảy Dù (1956-1960). Cũng thế, có một khoảng cách khác biệt bất khả bù trừ, không tác động, không hỗ tương… giữa công trận của Trung Úy ĐĐT/ĐĐ72/TĐ7ND-Thiếu Tá TĐT/TĐ3ND-Đại Tá LĐT/LĐ2ND Trần Quốc Lịch với Chuẩn Tướng Tư Lệnh SĐ5BB/Đại Úy Quân Phạm Trần Quốc Lịch. KHOẢNG CÁCH KHÁC BIỆT NẦY KHÔNG BAO GIỜ CÓ THỂ VƯỢT QUA. Bởi đấy là sự khác biệt có Tính Nguyên Lý: Thiện/Ác; Xấu/Tốt; Anh Hùng/Kẻ Phản Bội.. “Chuẩn Tướng Cựu Tư Lệnh SĐ5BB/Đại Úy Quân Phạm Trần Quốc Lịch” đã vượt qua ranh giới nầy từ, với Đại Hội 39 của Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại.

Bản thân cá nhân người tên là Trần Quốc Lịch không hề có khả năng vượt qua ranh giới khác biệt kể trên, nhưng đương sự đã vượt qua với sự đồng thuận, hỗ trợ thực hiện của Ban Tổ Chức Đại Hội 39 Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại, với sự quyết định cuối cùng của Ban Chấp Hành Gia Đình Mũ Đỏ Hải Ngoại. Sự xâm phạm Nguyên Lý Đạo Đức Chính Danh thêm được hiện thực qua đêm Hội Ngộ Cựu Quân Y Sĩ Nhảy Dù 1 Tháng Chín tại nhà hàng Paradise Seafood với “Niên Trưởng Mũ Đỏ Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch.” Chẳng lẽ trong ngàn quan khách tham dự đêm dạ tiệc Tiền Đại Hội, Đêm Dạ Tiệc Chính, Đêm Hội Ngộ Quân Y Sĩ… KHÔNG MỘT AI NHỚ ĐẾN LẦN GIÁNG CẤP CỦA ĐẠI ÚY QUÂN PHẠM TRẦN QUỐC LỊCH HAY SAO? Chẳng lẽ trí nhớ con người ngắn đến thế?!

Ba:

Quân sử Quân Lực VNCH nói chung, Binh Chủng Nhảy Dù nói riêng chắc không có đơn vị cấp đại đội nào gánh chịu số phần bi thảm khốc liệt như Đại Đội 72 thuộc Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù, KBC 4919 – Đơn vị mà năm 1960, Trung Úy Trần Quốc Lịch đã đưa từ Tiểu Đoàn 3 ND về Biên Hòa như trên đã trình bày. 11 Tháng Sáu, 1965, Đại Đội 72 chung nghiệt cảnh của Tiểu Đoàn 7, đã bị thiệt hại nặng chỉ còn khoảng 10 người! Bản thân là viên thiếu úy mang cấp bậc cao nhất còn lại với viên Chuẩn Úy Dương Văn Chánh (em của Phu Nhân Dương Thị Thanh, người nạn đời chiến đấu với Tướng Quân Trương Quang Ân, tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Nhị vị đồng hóa thân trong lửa vào ngày 8 Tháng Chín, 1968 trên chiến địa Đức Lập). Chuẩn Úy Chánh và Đại Đội 72 với quân số mới bổ sung dưới quyền của Trung Úy Phạm Ngọc Bích từ Tiểu Đoàn 3 chuyển về (Do Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3, Thiếu Tá Trần Quốc Lịch ưu tiên chỉ định đối với đại đội cơ hữu đầu đời của mình) tiếp nhận số mệnh bi thảm gấp bội.. Ngày 11 Tháng Mười Hai, 1965, toàn thể đại đội 81 người đồng tử nạn phi cơ trong chuyến bay từ Phú Bổn về Tuy Hòa. Năm 1974, 14 bao đựng xác được thu hồi, nhưng mãi đến năm 2012 tất cả mới được nhận dạng, xác định tính danh.

Năm 1968, trận chiến lớn xẩy ra tại một địa danh vang động thế giới: Chiến trận Khe Sanh khiến tất cả đại đội trưởng tác chiến của Tiểu Đoàn 3 đồng bị thương trận, bạn tôi, Đại Úy Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt tử thương góp nên phần công trận hiển hách cho Thiếu Tá Trần Quốc Lịch. Thiếu Tá Lịch vinh thăng trung tá, tiếp giữ chức lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 2 như trên đã trình bày trong khi có những trung tá thâm niên chức vụ, cấp bậc như Trung Tá Nguyễn Viết Cần, bào huynh của Cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh.

Cuối cùng, trận chiến 1972, Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo và hàng trăm chiến binh của TĐ11ND đã hy sinh trên cao điểm Charlie (12/4/1972) nâng cao trị giá chiến đấu của Lữ Đoàn 2, tạo nên sức đẩy để Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Trần Quốc Lịch tiếp vinh thăng chuẩn tướng,  Tháng Mười Một, 1972.

Nhắc lại những chi tiết kể trên để dẫn chứng một điều: Suốt thời gian dài từ 1960 đến 1972… Bao nhiều Người Lính Nhảy Dù thuộc các đơn vị Đại Đội 72; Tiểu Đoàn 3; Lữ Đoàn 2 Dù những đơn vị dưới quyền chỉ huy trực tiếp của người mang tên Trần Quốc Lịch đã hy sinh.. Tất cả đã tạo nên “vinh quang dưới bóng cờ” – Một thành ngữ hoa mỹ mà Trần Quốc Lịch thường dùng để mô tả công trận của mình.

Xương máu của chiến binh đơn vị nhảy dù hy sinh xây dựng nên công trận Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch trong dịp cuối Tháng Ba, 1975 được đậm thêm bởi lượng máu của Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân, nơi chiến địa Chơn Thành, Bình Dương, cửa ngõ Bắc Sài Gòn trong trận chiến tuyệt vọng không cân sức chống lại Công Trường 7 (Sư Đoàn 7 Bộ Binh Cộng Sản) và thành phần Cộng Sản địa phương Miền Đông Nam Bộ… Phía Cộng Sản ngoài ưu thế hỏa lực, quân số vượt trội còn được tăng cường thêm vũ khí, quân trang cụ, lương thực, xe quân vận của quân lực VNCH do lần tham nhũng từ nhân sự chỉ huy Sư Đoàn 5 BB chuyển lại! Thế nên, chiến hữu Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở hải ngoại trong các dịp Lễ Tưởng Niệm chỉ bắt đầu từ Tư Lệnh Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, kết thúc với Tư Lệnh Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ và không hề nhắc tới “Tư Lệnh Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch”! Chắc hẳn chiến hữu Sư Đoàn 5 Bộ Binh không có ý phân liệt Nhảy Dù/Bộ Binh vì Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ vốn xuất thân từ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù – Và cả hai cũng từ cấp thiếu úy, trung úy nên danh vị Chuẩn Tướng – Nhưng rất khác xa!

Riêng về phần quân Y Sĩ Nhảy Dù với Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn thuộc Tiểu Đoàn 6 đã cùng lần hy sinh (Tháng Tư, 1968) nơi chiến địa Khe Sanh với Đại Úy Nguyễn Đức Cần thuộc Tiểu Đoàn 3, dưới quyền Thiếu Tá Trần Quốc Lịch. Cái chết của Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn hiện thực sự chọn lựa lặng lẽ đầy dũng khí của tuổi trẻ dấn thân ý thức nơi Miền Nam: Y sĩ trưng tập chỉ với thể hình cao 1 thước 58, nặng 40 ký nhưng đã tình nguyện chọn Binh Chủng Nhảy Dù trong ngày mãn khóa y khoa bác sĩ! Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn chết với bông băng cứu thương cầm trong tay khi băng mình dưới đạn pháo để chạy đến giao thông hào, nơi có người lính bị nạn kêu cứu.. Bác sĩ!! Bác sĩ! Với tính chất cao quý xã thân nầy, tôi có suy nghĩ rằng: Nếu còn sống đến hôm nay, Y Sĩ Trung Úy Nghiêm Sĩ Tuấn hẳn sẽ vắng mặt trong buổi hội ngộ Quân Y Sĩ Nhảy Dù với sự có mặt của người khách danh dự Chuẩn Tướng/Đại Úy Trần Quốc Lịch.

Tôi cũng đã vắng mặt. Thiếu Úy Phan Nhật Nam, trung đội trưởng/Đại Đội 72 Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, KBC 4919.


                                                             Phan Nhật Nam
                                                                                                                                  (Từ: báo NV)


Comments:

Nhà văn Phan Nhật Nam đã nói lên một sự thật mà ai cũng e dè, sợ mất lòng trong xứ tị nạn này. Tôi rất tâm đắc với nhà văn, vì nếu những cái ung nhọt đó không làm cho vỡ mủ ra, chắc sẽ nguy hại đến cả tiền đồ. Thời trước 1975, chuyện tham nhũng, hối lộ, chạy chức quyền hà rầm trong một xã hội tan rả như thế. Ai cũng biết, nhưng chuyện bán vũ khí cho địch, chẳng mấy ai trong, ngoài quân đội nơi Miền Nam nhớ đến những vụ việc
tai tiếng “tham nhũng còi hụ Long An”; vụ bán quân trang, vũ khí, gạo… chất sẵn trên quân xa chuyển giao cho Việt Cộng trên Quốc Lộ 13, trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại thời đoạn dưới quyền Tư Lệnh Trần Quốc Lịch… (chữ nghiêng là của PNN)

ngonngu@gmail.com


Nhà văn PNN đã can đảm viết, nói lên sự thật. Một ông tướng như TQL, (và nhiều...nhiều... ông tướng khác nữa (như quế tướng công...), vừa tham nhũng, vừa bán vũ khí cho địch, bị giam tại Chí Hòa, mà qua bên này còn được anh em Nhảy Dù (BTC) cho làm Khách Danh Dự với tư cách "Niên Trưởng Danh Dự", thì không còn gì để nói, với các ông trong BTC.

Cũng vậy
, bên trường ĐH/CTCT/ĐL, có ông Chỉ Huy Trưởng là một ông tá, rồi là ông tướng HQ, đã từng là CHT, làm chết trên 40 tu sĩ tuyên úy, gần chục SVSQ chết và bị thương (69-70). Thế mà vẫn không ra Tòa Án Quân Sự, vẫn bình chân như vại, rồi tiếp tục lên tướng làm Tư Lệnh HQ nữa.

Qua Mỹ, còn được một tay đá cá lăn dưa NHC, gắn cho lon đô đốc lấy từ túi quần ra, thế mà vẫn hãnh diện. Mỗi lần Đại Hội CTCT, đều được lời giới thiệu trân trọng của BTC, thật là bọn thái thượng hoàng (BTC) đáng phỉ nhỗ.

cogang@yahoo.com



Reader's Comment
Tuesday, October 1, 20195:34 PM
Guest
Tôi là 1 người sinh sau để muộn, nhưng tốt nghiệp Polical Science (Khoa Học Chính Trị), chuyên ngành Đông Nam Á, và cũng do xuất thân gia đình nên xin được có ý Kiến: Thứ 1, theo tôi biết, những gì ông Nam viết, không có dữ kiện chắc chắn (solid evidence) để bảo đảm, nhưng có 1 điều chắc chắn sai là Ch. Tướng Lịch chưa bao giờ bị giáng lon Đại Úy. Ông Lịch chờ ra Tòa, và cho đên khi Tòa phán quyết ông Lịch có tội hay không, lúc đó, nếu ông Lịch có tội, thì sẽ nhận những hình phat, gồm cả giáng chức, và khi giáng chức, thường là bóc lon, thành binh nhì, chứ không có chuyện nửa chừng! Vì ông Nam nói chuyện không bằng chứng chắc chắn, tôi cũng xin nói lại những gì không chắc chắn: Về Ch Tướng Lịch, nghe rằng thời điểm đó, ông Thiệu và ông Khiêm đang "giành" nhau làm TT, vì ông Thiệu tính sửa hiến pháp, ra tranh cử lần thứ 3. Ch Tướng Lịch đã bị tai bay vạ gió vì ủng hộ ông Khiêm, nên lãnh đạn khi ông Thiệu chặt tay chân đối thủ. Về phần ông Nam tôi đã từng gặp ông ở nhà bà mẹ đỡ đầu của ông là bà CNL khi ông đến cùng 1 người đàn bà ông sống chung như vợ chồng, người Bắc 75, đi về VN như đi chợ. Ngày đó, có nhiều người thường hỏi nhau là từ dạo ông "kết duyên" với người đàn bà đó, thì ông viết nhiều bài chửi đồng đội, niên trưởng, thượng cấp hơi nhiều nên không biết có phải vì GẦN MỰC THÌ ĐEN, GẦN VC THÌ ĐỎ HAY KHÔNG? Trong Nhảy Dù lại cũng có những người nói răng ông từng ở dưới hệ thống chí huy của Tướng Lịch, từng bị phạt vì ba gai, nên giờ có cơ hội thì "trả oán". Tất nhiên, lời đồn và suy luận về ông dựa theo những gì thấy/đọc được thì cũng không chứng minh được, như Chuẩn Tướng Lịch đã không có cơ hội chứng minh!
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, February 25, 20215:05 PM(View: 61)
Nói đến thơ Nguyễn Lương Vỵ trước tiên tôi hình dung khối lượng thơ khổng lồ của anh. Làm thơ từ thuở bé và xem thơ như thứ nghiệp dĩ cuộc đời thử hỏi đến tuổi gần bảy mươi, sự nghiệp thơ của Nguyễn Lương Vỵ không thể đề cập đến kiểu bài thơ này hoặc tập thơ kia mà phải nói tầm vóc một đời thơ, một gia sản thi ca ấy như thế nào? Và có nói như thế cũng chỉ là gượng ép bởi muốn nói như thế, ít ra bạn phải mất nhiều thời gian để đọc hết các tập thơ của anh. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ từ thuở còn là một sinh viên văn khoa năm thứ nhất. Lúc bấy giờ thơ anh đăng trên tạp chí Khởi Hành hoặc Văn. Tôi thích thơ anh ngoài bản thân yêu thơ, tôi còn là người luôn cổ xúy tinh thần văn nghệ của thế hệ trẻ miền Trung (đầu thập niên 1970) mà lúc bấy giờ dường như trăm hoa đua nở. Đến khi tham dự quân sự học đường khóa đầu tiên, tôi gặp anh qua một người bạn học miền Trung. Cũng khá đặc biệt là tôi cùng người bạn đến thăm anh tại bệnh viện Sùng Chính. Nguyễn Lương Vỵ bị thương do xô xát với quân cả
Wednesday, February 24, 202110:52 AM(View: 67)
Từ đầu đến cuối, già 400 trang sách, tiểu thuyết “Đất mồ côi”[1] mô tả đầy rẫy những cái chết. Chết đơn chết chùm. Chết cá nhân chết nhóm. Chết trong các phong trào chính trị – xã hội, chết trong chiến tranh. Chết xưa chết nay. Chết Nam chết Bắc… Đây là một tiểu thuyết dành để nói về cái chết. Thật thế. Đến nỗi một nhà thơ, bạn tôi (mà không chỉ bạn tôi) quả quyết rằng cái tên tiểu thuyết “Đất mồ côi” lẽ ra phải là “Đất chết” thì mới thâu tóm chính xác được tinh thần của tác phẩm này. Cái chết chính là kết quả, đồng thời là hiện thân của BẠO LỰC. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về bạo lực, thứ bạo lực tác oai tác quái, hoành hành công khai, trắng trợn trong suốt lịch sử người Việt. Có thể hình dung mấy loại cái chết. Loại đầu tiên là cái chết do định kiến xã hội. Những lớp người mang bệnh hủi đi qua ngôi làng bị dân làng chôn sống. Mở đầu tiểu thuyết, tác giả dựng lên khung cảnh những người hủi bị giết chết, và cả người đàn ông kỳ dị chăm sóc đoàn người hủi mang dán
Sunday, February 21, 20218:37 AM(View: 112)
Chưa bao giờ câu ca dao ấy lại đúng hơn thế và cho ta lời khuyên đúng đắn, thiết thực nhất trong mùa đại dịch này. Cho dù tháng Giêng có “là tháng ăn chơi”, như một câu ca dao khác, thì cũng chỉ nên “ăn” và “chơi” ở trong nhà hoặc “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hơn là du Xuân đến những chốn lao xao hội hè, đình đám. Một trong những “chốn vắng” ấy là dạo chơi trên cánh đồng thơ mùa xuân để hái về những bông hoa tươi thắm là những bài thơ, câu thơ tháng Giêng khoe sắc trong nắng xuân. Thơ hay, một đôi câu cũng hay. Những câu thơ trích dẫn trong bài này chỉ là tiện tay gặp đâu ghi xuống đó, không phân biệt, phân loại thơ cũ thơ mới, thơ già thơ trẻ, thơ ngoài Bắc thơ trong Nam, thơ ngoài nước thơ trong nước. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần (“Vội vàng”, Xuân Diệu) Câu thơ cũ nhưng vẫn cứ mới như mùa xuân chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ già. “Tháng Giêng ngon”, không mới sao? Chẳng biết chơi Xuân, ăn Tết ngon, dở thế nào nhưng cứ
Sunday, February 14, 20218:56 AM(View: 216)
Thằng Nhớ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng bà ngoại đang la cái gì đó ở ngoài sân. Ánh nắng xuyên qua khe hở của cửa sổ phết thành một vệt dài trên nền nhà. Nhớ đưa tay giụi mắt, vươn vai mấy cái. Nó bước xuống giường, vén mùng lên, xếp mền gối thật lẹ rồi bươn bả bước ra nhà sau xem có chuyện gì. Đứng gần bờ ao, bà ngoại đang nói thao thao, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ, coi bộ giận dữ lắm. Thấy Nhớ ra, bà lại càng cao giọng như để phân bua: – Thiệt là quá sức chịu đựng rồi! Ai đời quần áo buổi tối còn phơi đầy một dây mà sáng ra mất ráo trọi. Thằng ăn trộm nào mà cả gan chọc tới nhà này vậy không biết! Nhớ hoảng hồn: – Mất quần áo hả ngoại? Còn bộ quần áo mới để mặc Tết của con ngoại giặt cho ra hồ đâu? Cũng mất luôn chớ gì? Bà ngoại thở ra: – May là ngoại giặt hôm bữa, thâu vô rồi. Lần này là lần thứ ba đó. Mất ba con gà tuần trước, rồi hôm kia mất thêm cái nồi đồng nữa. Điệu này chắc nhà mình hết ăn Tết quá! Ông ngoại đang ngồi đan rổ ở hàng hiên sau, cất giọng
Friday, February 12, 20219:47 AM(View: 243)
Ông Địa là người mang lại cái Tết cho mọi người. Giữa tiếng trống tiếng chiêng nhộn nhịp, ông nhảy múa với khuôn mặt không bao giờ tắt nụ cười. Tôi chưa bao giờ thấy ông Địa không cười. Nụ cười của ông không chỉ là nụ cười cứng ngắc trên mặt nạ mà còn hiển hiện trong bộ quần áo xanh đỏ lộn xộn, cái bụng phệ cố hữu và, nhất là điệu nhảy tung tăng với chiếc quạt bên những chú lân và những tràng pháo đang nhoáng lửa nổ vang lừng. Trong đoàn lân ngày tết, “nhân vật” nổi bật nhất dĩ nhiên là lân. Ngày xưa chỉ có một cặp lân, con đực là kỳ, con cái là lân. Ngày nay lân cũng như người, bị nạn nhân mãn nên có cả bày lân. Con xanh con đỏ, con trắng con vàng, hoa cả mắt. Bên cạnh lân là ông Địa. Ông này thờ chủ nghĩa độc thân nên xưa hay nay cũng vậy, cứ mình ên múa lung tung. Trẻ em thường khoái ông Địa. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có bài hát “Bé Thương Ông Địa” nói lên sự yêu mến này: Ơi ông Địa có cái bụng ngộ ghê, Cầm cái quạt ông nhảy múa say mê. Ơi ông Địa có gương mặt thật duyên. Ông mãi cười