DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,462,628

Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh

Wednesday, November 30, 201112:00 AM(View: 10846)
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975: Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất Thủ - Vương Hồng Anh
Đại Tướng Cao Văn Viên kể lại chiến sự 1975:

Tình hình Quân Khu 2 sau khi Ban Mê Thuột Thất

Thủ


 

cao

   ĐT Cao Văn Viên
 



Vào ngày 10/3/1975, CSBV đã điều động 3 sư đoàn chính quy tấn công cường tập vào
Ban Mê Thuôt-tỉnh lỵ Daralac và các căn cứ, doanh trại quân sự quanh vòng đai thị xã. Sau hai
ngày kịch chiến với CQ, trước hỏa lực mạnh và áp lực về quân số của đối phương, một
số đơn vị đã rút ra khỏi vị trí phòng ngự để tái phối trí lựcng. Riêng Bộ Tư lệnh Mặt
trận Ban Mê Thuột đặt tại bản doanh Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh đã bị CQ huy
động một lực lượng tấn công cường tập. Một sự kiện "định mệnh" đã xảy ra với lực
lượng trú phòng: sáng ngày 11/3/1975, trong một phi tuần oanh kích CQ, oanh tạc cơ
của Không quân đã ném nhầm hai trái bom 500 cân Anh rơi trúng vào trung tâm hành
quân TOT. Trước tình thế đó, Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 bộ binh
kiêm Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột, và Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Darlac, đã cho lệnh lực lượng trú phòng mở đường máu quân vượt ra
khỏi phòng tuyến và di chuyển về hướng Tây ở khu suối Bà Hoàng, cách bộ Tư lệnh
Sư đoàn 250 thước. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 và Quân khu 2 đã mất liên lạc với Đại tá
Quang và Đại tá Luật từ lúc 11 giờ 50 phút ngày 11/3/1975.

Sau đây là tình hình Quân khu 2 sau khi Ban Mê Thuột thất thủ.

Phần này được biên soạn dựa theo các tài liệu sau đây: hồi ký của Đại tướng Cao Văn
Viên viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, dịch giả Duy Nguyên chuyển sang
Việt ngữ và đồng ý cho sử dụng để biên soạn các bài tổng hợp về cuộc chiến VN; nhật
ký của Thiếu tá Phạm Huấn, nguyên Sĩ quan Báo chí của Tư lệnh Quân đoàn 2 được
tác giả phổ biến trong cuốn "Cuộc triệt thoái Cao nguyên" 1975.

* Cuộc đổ quân của Sư đoàn 23 BB tiếp cứu Ban Mê Thuột


Ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú quyết định tổ chức cuộc đổ quân

tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng tăng viện chính là Trung đoàn 45 BB
và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 44 thuộc Sư đoàn 23 BB đang phòng ngự tại Pleiku. Về
phía Không quân VNCH, tham gia cuộc đổ quân ngoài các phi đoàn của Sư đoàn 6
Không quân mà Bộ Tư lệnh đặt tại Pleiku còn có các phi đoàn trực thăng của Sư đoàn
1 Không quân (Đà Nẵng) và Sư đoàn 4 Không quân (Cần Thơ), với hơn 100 trực thăng
đủ loại kể cả các loại Chinook.
 
Theo kế hoạch đổ quân, hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 BB và đại đội Trinh sát Sư
đoàn 23BB được trực thăng vận trước tiên. Cánh quân được trực thăng vận đầu tiên
này do Trung tá Quang, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 45 chỉ huỵ Một hình ảnh đặc
biệt đã tạo sư chú ý của các phóng viên chiến trường là trong đợt đổ quân này là có cả
người vợ của Trung tá Quang tham gia. Bà Quang, trong quân phục tác chiến, vai đeo
ba lô, nón sắt, mang súng lục và lựu đạn, đã trả lời các câu hỏi của các phóng viên báo
chí, phát thanh và truyền hình. Bà cho biết các con của bà và gia đình của quân nhân
Trung đoàn 45 đang bị kẹt trong thị xã Ban Mê Thuột. Bà muốn được theo chồng nhảy
xuống trận địa và để cùng với quân sĩ trung đoàn 45 bộ binh chiến đấu tái chiếm lại Ban Mê Thuột.

* Câu chuyện giữa Tư lệnh Quân đoàn 2 Phạm Văn Phú và quân nhân Trung đoàn 53

BB


1 giờ 10 trưa ngày 12 tháng 3/1975, Thiếu tướng Phú rời bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đến

Ban Mê Thuột trên một chiếc phi cơ nhỏ U 17 để trực tiếp điều quân. Tới Ban Mê Thuột
vào khoảng 2 giờ chiều, tướng Phú đã liên lạc với các đơn vị trưởng của các đơn vị đang chiến đấu ở
quanh Ban Mê Thuột như Trung đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21
Biệt Động Quân, các tiểu đoàn Địa phương quân Darlac. Cùng nhảy theo cánh quân
cứu viện còn có Đại tá Trịnh Tiếu, Trưởng phòng 2 của bộ Tư lệnh Quân đoàn 2, được
Thiếu tướng Phú chỉ định giữ chức vụ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Darlac thay thế
Đại tá Luật được ghi nhận là mất tích. Cùng đi theo Đại tá Tiếu, còn có Bộ Chỉ huy lưu
động của Tiểu khu Darlac vừa thành lập.
 
Khi bay ngang phi trường Phụng Dực, qua máy truyền tin liên lạc Không-Lục, Tướng
Phú nói với Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trung đoàn 53 BB: "Chú mày và anh em
ráng cố gắng đừng mất tinh thần. Quân tiếp viện đang được đổ xuống". Trung tá Ân trả lời: Xin Mặt Trời yên tâm.
Dù đã bị thiệt hại khá nhiều nhưng chúng tôi vẫn vững tinh thần chiến đấụ Tướng Phú
hỏi tiếp: Chú mày muốn gì đặc biệt không ? Đồ hộp ? Thuốc lá ? Trung tá Ân nói: Dạ
không, nhưng uổng quá, sao Mặt trời không bay trực thăng hôm naỷ Tướng Phú hỏi lại: Tại sao chú mày hỏi như vậy?
Trung tá Ân vui vẻ nói: Nếu mặt trời bay trực thăng, tôi mời Mặt trời đáp xuống thăm
khu triển lãm chiến lợi phẩm của trung đoàn ở Phòng khách Danh dự Phi cảng. Trong
số những vũ khí tịch thu được, có cả loại hỏa tiễn SA-7 mới tinh nữa...Tướng Phú cười:
Ý kiến hay đấy, lần sau tôi sẽ bay trực thăng để có thể xuống thăm anh em.
Sau đó, Tướng Phú yêu cầu Trung tá Ân chuyển máy để ông nói chuyện với một binh
nhì nhỏ tuổi nhất của trung đoàn. Trung tá Ân giới thiệu với Tướng Phú một binh nhì tên
là Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi, xạ thủ súng cối 81 lỵ Sau đây là đoạn đối thoại giữ tướng Phú và binh nhì
Bảy: Em thấy Việt Cộng chết nhiều không?-Nhiều, nhiều lắm... Thiếu tướng; Em muốn
xin thiếu tướng gì nào ?- Xin thuốc hút, và lựu đạn; Gì nữa ? Binh nhì Bảy ngập ngừng
rồi trả lời: Chừng đó đủ rồi, Thiếu tướng;
Thiếu tướng thăng cấp cho em lên binh nhất chịu không ? Binh nhì Bảy lại ngập ngừng
quay sang nói với Trung tá Ân: Ông Thầy ơi ! Ông Tướng tặng tôi cánh gà chiên bơ
(cấp hiệu binh nhất có hình chử V màu vàng; Ông Thầy là tiếng thân mật mà anh em binh sĩ thường dùng để
gọi cấp chỉ huy).

* Kế hoạch đổ quân và tái phối trí lực lượng của Sư đoàn 23BB

Trở lại với cuộc đổ quân, trưa ngày 12/3/1975, các phản lực cơ và khu trục cơ của
Không quân VNCH tiếp tục bay tới đánh bom để yểm trợ cho các đơn vị tham chiến ở
dướị Dân chúng trong thị
xã nghe tin quân tăng viện đã đến Phước An đã tìm cách băng rừng chạy về phía quận
này và Khánh Dương.
Sau khi hoàn tất việc điều động đợt đổ quân đầu tiên, Tướng Phú giao trách nhiệm chỉ
huy trực tiếp các cánh quân tái chiếm Ban Mê Thuột cho Chuẩn tướng Lê Trung
Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB, và ông đã trở lại Pleikụ Ông được tin là Tổng thống
Thiệu đã gọi lên Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lúc 2 giờ chiều khi ông đang bay chỉ huy trên
không phận Ban Mê Thuột. Tướng Phú đã báo cáo tình hình cho Tổng thống Thiệu biết
và ông cũng đã bày tỏ sự lo ngại về sự có mặt của sư đoàn 316 Cộng quân tại chiến
trường Cao nguyên. Tại Phước An, Chuẩn tướng Trường ra lệnh cho Trung đoàn 53
BB và thành phần hậu cứ trung đoàn 44 Bộ binh (khoảng hơn 100 người) tại khu vực phi trường Phụng Dực bỏ
tuyến phòng thủ, di chuyển về hướng Phước An để cùng với Trung đoàn 44 và 45 BB
tập trung lực lượng chiến đấu với các đơn vị Cộng quân.
Chiều ngày 12 tháng 3/1998, cùng lúc gia tăng áp lực tại chiến trường Ban Mê Thuột,
thì tại Pleiku, từ những đỉnh cao phía Tây Bắc của thị xã này, Cộng quân đã pháo kích
bằng hỏa tiển vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ Tư lệnh Quân đoàn 2. Một binh sĩ tài xế đang ở gần
cột cờ bộ Tư lệnh đã trúng đạn pháo kích và bị tử thương.
* Những quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện
Khiêm và Đại tướng Cao Văn Viên về tình hình Ban Mê Thuột
Ngay sau khi Cộng quân khởi sự tấn công Ban Mê Thuột, liên tiếp trong 3 ngày 10, 11
và 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã nhận nhiều lệnh của Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu, Thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên. Người đầu tiên
điện thoại hỏi tình hình là Đại tướng Viên (7 giờ sáng ngày 10/3/1975), tiếp đến Thủ
tướng Khiêm từ Đà Lạt gọi lức 8 giờ 40, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi lúc 10 giờ
10 và 19 giờ tối; trong ngày 11 tháng 3/1195, lúc 15 giờ 30, Đại tướng Cao Văn Viên
gọi điện thoại ra lệnh cho Thiếu tướng Phú "bốc" ngay Chuẩn tướng Lê Trung Tường,
Tư lệnh Sư đoàn 23BB, đang chỉ huy mặt trận Nam Pleiku "thả" xuống Ban Mê Thuột
để chỉ huy các cánh quân.
Sau đó, vào lúc 5 giờ chiều, Tổng thống Thiệu gọi lên Pleiku để nghe Thiếu tướng Phú
báo cáo tình hình. Trong lần gọi vào 11 giờ đêm, Tổng thống Thiệu ra lệnh cho Tướng
Phú với nội dung như sau: Linh động trong mọi trường hợp. Không nên dồn hết quân
cho Mặt trận Ban Mê Thuột; Tư lệnh Quân đoàn được toàn quyền quyết định, có thể bỏ
Ban-Mê Thuột. Cần phải tránh sa lầy vì có thể địch sẽ mở hai, ba mặt trận lớn nữa tại
Quân khu 2; Tường trình chính xác về các sư đoàn CSBV hiện đang tham chiến
tại Ban Mê Thuột; Tỉnh trưởng Darlac đại tá Nguyễn Trọng Luật xem như mất tích.
Chấp thuận đề nghị của Tư lệnh Quân đoàn cho "thả" một tỉnh trưởng (đại tá Trịnh Tiếu
- trưởng phòng 2 Quân Đoàn 2) khác xuống khu vực có dân và có quân tập trung để chỉ huy: Lập tòa Hành chánh và Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac lưu động.
 
 
VHA 
 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, February 25, 20215:05 PM(View: 50)
Nói đến thơ Nguyễn Lương Vỵ trước tiên tôi hình dung khối lượng thơ khổng lồ của anh. Làm thơ từ thuở bé và xem thơ như thứ nghiệp dĩ cuộc đời thử hỏi đến tuổi gần bảy mươi, sự nghiệp thơ của Nguyễn Lương Vỵ không thể đề cập đến kiểu bài thơ này hoặc tập thơ kia mà phải nói tầm vóc một đời thơ, một gia sản thi ca ấy như thế nào? Và có nói như thế cũng chỉ là gượng ép bởi muốn nói như thế, ít ra bạn phải mất nhiều thời gian để đọc hết các tập thơ của anh. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ từ thuở còn là một sinh viên văn khoa năm thứ nhất. Lúc bấy giờ thơ anh đăng trên tạp chí Khởi Hành hoặc Văn. Tôi thích thơ anh ngoài bản thân yêu thơ, tôi còn là người luôn cổ xúy tinh thần văn nghệ của thế hệ trẻ miền Trung (đầu thập niên 1970) mà lúc bấy giờ dường như trăm hoa đua nở. Đến khi tham dự quân sự học đường khóa đầu tiên, tôi gặp anh qua một người bạn học miền Trung. Cũng khá đặc biệt là tôi cùng người bạn đến thăm anh tại bệnh viện Sùng Chính. Nguyễn Lương Vỵ bị thương do xô xát với quân cả
Wednesday, February 24, 202110:52 AM(View: 55)
Từ đầu đến cuối, già 400 trang sách, tiểu thuyết “Đất mồ côi”[1] mô tả đầy rẫy những cái chết. Chết đơn chết chùm. Chết cá nhân chết nhóm. Chết trong các phong trào chính trị – xã hội, chết trong chiến tranh. Chết xưa chết nay. Chết Nam chết Bắc… Đây là một tiểu thuyết dành để nói về cái chết. Thật thế. Đến nỗi một nhà thơ, bạn tôi (mà không chỉ bạn tôi) quả quyết rằng cái tên tiểu thuyết “Đất mồ côi” lẽ ra phải là “Đất chết” thì mới thâu tóm chính xác được tinh thần của tác phẩm này. Cái chết chính là kết quả, đồng thời là hiện thân của BẠO LỰC. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về bạo lực, thứ bạo lực tác oai tác quái, hoành hành công khai, trắng trợn trong suốt lịch sử người Việt. Có thể hình dung mấy loại cái chết. Loại đầu tiên là cái chết do định kiến xã hội. Những lớp người mang bệnh hủi đi qua ngôi làng bị dân làng chôn sống. Mở đầu tiểu thuyết, tác giả dựng lên khung cảnh những người hủi bị giết chết, và cả người đàn ông kỳ dị chăm sóc đoàn người hủi mang dán
Sunday, February 21, 20218:37 AM(View: 97)
Chưa bao giờ câu ca dao ấy lại đúng hơn thế và cho ta lời khuyên đúng đắn, thiết thực nhất trong mùa đại dịch này. Cho dù tháng Giêng có “là tháng ăn chơi”, như một câu ca dao khác, thì cũng chỉ nên “ăn” và “chơi” ở trong nhà hoặc “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ” hơn là du Xuân đến những chốn lao xao hội hè, đình đám. Một trong những “chốn vắng” ấy là dạo chơi trên cánh đồng thơ mùa xuân để hái về những bông hoa tươi thắm là những bài thơ, câu thơ tháng Giêng khoe sắc trong nắng xuân. Thơ hay, một đôi câu cũng hay. Những câu thơ trích dẫn trong bài này chỉ là tiện tay gặp đâu ghi xuống đó, không phân biệt, phân loại thơ cũ thơ mới, thơ già thơ trẻ, thơ ngoài Bắc thơ trong Nam, thơ ngoài nước thơ trong nước. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ. Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần (“Vội vàng”, Xuân Diệu) Câu thơ cũ nhưng vẫn cứ mới như mùa xuân chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ già. “Tháng Giêng ngon”, không mới sao? Chẳng biết chơi Xuân, ăn Tết ngon, dở thế nào nhưng cứ
Sunday, February 14, 20218:56 AM(View: 204)
Thằng Nhớ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng bà ngoại đang la cái gì đó ở ngoài sân. Ánh nắng xuyên qua khe hở của cửa sổ phết thành một vệt dài trên nền nhà. Nhớ đưa tay giụi mắt, vươn vai mấy cái. Nó bước xuống giường, vén mùng lên, xếp mền gối thật lẹ rồi bươn bả bước ra nhà sau xem có chuyện gì. Đứng gần bờ ao, bà ngoại đang nói thao thao, một tay chống nạnh, một tay chỉ trỏ, coi bộ giận dữ lắm. Thấy Nhớ ra, bà lại càng cao giọng như để phân bua: – Thiệt là quá sức chịu đựng rồi! Ai đời quần áo buổi tối còn phơi đầy một dây mà sáng ra mất ráo trọi. Thằng ăn trộm nào mà cả gan chọc tới nhà này vậy không biết! Nhớ hoảng hồn: – Mất quần áo hả ngoại? Còn bộ quần áo mới để mặc Tết của con ngoại giặt cho ra hồ đâu? Cũng mất luôn chớ gì? Bà ngoại thở ra: – May là ngoại giặt hôm bữa, thâu vô rồi. Lần này là lần thứ ba đó. Mất ba con gà tuần trước, rồi hôm kia mất thêm cái nồi đồng nữa. Điệu này chắc nhà mình hết ăn Tết quá! Ông ngoại đang ngồi đan rổ ở hàng hiên sau, cất giọng
Friday, February 12, 20219:47 AM(View: 232)
Ông Địa là người mang lại cái Tết cho mọi người. Giữa tiếng trống tiếng chiêng nhộn nhịp, ông nhảy múa với khuôn mặt không bao giờ tắt nụ cười. Tôi chưa bao giờ thấy ông Địa không cười. Nụ cười của ông không chỉ là nụ cười cứng ngắc trên mặt nạ mà còn hiển hiện trong bộ quần áo xanh đỏ lộn xộn, cái bụng phệ cố hữu và, nhất là điệu nhảy tung tăng với chiếc quạt bên những chú lân và những tràng pháo đang nhoáng lửa nổ vang lừng. Trong đoàn lân ngày tết, “nhân vật” nổi bật nhất dĩ nhiên là lân. Ngày xưa chỉ có một cặp lân, con đực là kỳ, con cái là lân. Ngày nay lân cũng như người, bị nạn nhân mãn nên có cả bày lân. Con xanh con đỏ, con trắng con vàng, hoa cả mắt. Bên cạnh lân là ông Địa. Ông này thờ chủ nghĩa độc thân nên xưa hay nay cũng vậy, cứ mình ên múa lung tung. Trẻ em thường khoái ông Địa. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có bài hát “Bé Thương Ông Địa” nói lên sự yêu mến này: Ơi ông Địa có cái bụng ngộ ghê, Cầm cái quạt ông nhảy múa say mê. Ơi ông Địa có gương mặt thật duyên. Ông mãi cười