DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,512,368

Đặng Văn Sinh - NGỌ MÙI HƯƠNG HỘI

Friday, March 20, 20205:01 PM(View: 1931)
Đặng Văn Sinh - NGỌ MÙI HƯƠNG HỘI
NGỌ MÙI HƯƠNG HỘI



blank


Chúng tôi vừa tìm được cuốn ghi chép về khoa thi Hương vào năm Thành Thái thứ 6 (1894) và khoa thi Hội vào năm Thành Thái thứ 7 (1895) của triều đình nhà Nguyễn. Cuốn sách có tựa đề "Ngọ Mùi hương hội" chia làm hai phần. Phần đầu là "Hà Nam trường Hương thí văn tuyển" do tượng nhân Liễu Chàng khắc ván in. Phần sau là "Hội, Đình văn tuyển" do nhà sách Đồng Văn sao chép.

Phần "Hà Nam trường hương thí văn tuyển" gồm 3 mục. Mục 1 là danh sách Ban Giám khảo kỳ thi Hương năm Thành Thái thứ 6. Mục 2 là danh sách các cử nhân xếp theo thứ tự cao thấp, và mục 3 là tuyển chọn các bài văn sách của khảo sinh của 3 kỳ khảo thí, trong đó có bài của những thí sinh không đỗ nhưng xuất sắc cũng được đưa vào.

Phần "Hội, Đình văn tuyển" không có mục danh sách ban giám khảo mà chỉ có danh sách các tiến sĩ, đồng tiến sĩ và phó bảng. Mục "văn tuyển", ngoài văn sách của các thí sinh trúng cách, người tuyển chọn cũng đưa vào một số bài của các thí sinh lạc đệ nhưng cũng xuất sắc qua các đợt khảo thí của kỳ thi Hội.

Kỳ thi Hương này, lần đầu tiên hai trường Hà Nội và Nam Định hợp nhất là một gọi là trường Hà Nam, và thi tại Nam Định. Còn kỳ thi Hội và thi Đình năm kế tiếp thì được tổ chức tại kinh thành Huế.

Hai kỳ thi này triều đình Nhà Nguyễn đã tuyển chọn được một số nhân tài, trong số đó có cụ NGHIÊM XUÂN QUẢNG, quê Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội, đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân lúc mới 23 tuổi, cụ ĐẶNG NGUYÊN CẨN, thân sinh giáo sư Đặng Thai Mai, đỗ Phó bảng (xếp thứ tư) lúc 29 tuổi, cụ CAO XUÂN TIẾU (con trai Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Cao Xuân Dục, ông nội nhà Ngữ học Cao Xuân Hạo) xếp thứ hai hàng Phó bảng lúc 31 tuổi. Đáng chú ý hơn là ở khoa này cả hai anh em họ Từ ở Khê Động, Thượng Phúc, Hà Nội đều đỗ đại khoa. Anh là TỪ ĐẠM đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân, em là TỪ THIỆP đỗ Phó bảng. Từ Đạm sau này làm quan đến chức Tuần phủ Ninh Bình, Tổng đốc Bắc Giang, hàm Hiệp tá Đại học sĩ.

Cụ NGHIÊM XUÂN QUẢNG Lúc đầu làm Tri huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Hai năm sau, năm 1897 cáo quan về rồi lại ra Hậu bổ Hưng Hóa, lần lượt giữ các chức Đốc học Hưng Yên, Án sát Lạng Sơn. NGHIÊM XUÂN QUẢNG là một trong bốn người sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục.
Dưới đây, chúng tôi sẽ trích giới thiệu những thông tin cơ bản về hai khoa thi Hán học cách đây 126 năm để bạn đọc tham khảo, từ dó sự liên hệ đến chuyện thi cử của nền giáo dục Việt Nam hiện nay cũng như sự lạm phát hay là khủng hoảng thừa của học vị tiến sĩ đương đại qua công nghệ lò ấp mà gần đây các phương tiện thông tin đại chúng đã lên tiếng phê phán.

Bản dịch (trích):

KHOA THI HƯƠNG TRƯỜNG HÀ NAM NĂM GIÁP NGỌ (1894)

Ngày mồng 7 tháng 10 năm Thành Thái thứ 6
Các đình thần Văn ban dâng tấu phụng chiếu về việc hai trường Hà Nội, Nam Định hợp nhất kỳ thi Hương vào tháng 10 năm nay, chúng thần căn cứ vào lệ cũ, định các chức danh như sau:

- Chủ khảo: 1 người
- Phó chủ khảo: 1 người
- Giám khảo, Đề tuyển, Phân khảo: mỗi chức danh 2 người
- Giám sát trường vụ: 2 người
- Phúc khảo: 8 người
- Sơ khảo: 16 người

(Chúng thần) phụng mệnh (đã) sắp xếp mọi việc trong trường thi. Thời gian thi sắp đến. Trừ việc đề cử các vị giám sát trường thi, những việc khác, trong một thời gian ngắn do Nội các và hai vị Chánh, Phó Chủ khảo xử lý (...). Lại phụng chiếu kỳ thi này lấy đỗ 53 cử nhân, trong đó, Hà Nội 25 người, Nam Định 28 người. Tú tài 159 người, trong đó, Hà nội 75 người, Nam Định 84 người. Ngày nhập trường thi là 25 tháng 9. Nếu là tháng thiếu thì nhập trường vào ngày 24. Ngày 01 tháng 10, vào kỳ thứ nhất, ngày 14 vào kỳ thứ hai, ngày 23 vào kỳ thứ ba, ngày 27 và kỳ phúc hạch, ngày 01 tháng 11 xướng danh treo bảng.
(...)


blank

DANH SÁCH HỘI ĐỒNG THI


1- Chủ khảo: Ngài CAO XUÂN DỤC, tước An Xuân Nam, Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên
2- Phó chủ khảo: Ngài NGUYỄN GIA THOẠI, Thị độc học sĩ, Tham biện Nội các sự.

3- Giám khảo gồm 2 vị:

- Ngài LÊ BÁ ĐÔN, người Nghệ An, Cử nhân, Hồng lô tự khanh, Đốc học Thanh Hóa.
- Ngài ĐẶNG NHƯ VỌNG, người phủ Thừa Thiên, Đồng tiến sĩ, Viên ngoại lang, Phụ chính phủ.

4- Đề tuyển gồm 2 vị:

- Ngài Trần Hựu, người phủ Thừa Thiên, Lang trung Bộ Lễ
- Ngài Trần Hưng Khải, người phủ Thừa Thiên, Viên ngoại lang Bộ Hình

5- Giám sát gồm 2 vị:

- Ngài Lưu Đức Xứng, người Quảng Bình, Lễ khoa chưởng ấn, giám sát nội trường.
- Ngài Nguyễn Văn Quỳ, người Quảng Nam, Ngự sử đạo Bắc Kỳ, giám sát ngoại trường.

5- Phân khảo gồm 3 vị:

- Ngài Dương Thúc Hợp, người Nghệ An, Đồng tiến sĩ, Đốc học Nghệ An.
- Ngài Nguyễn Đình Văn, người Thanh Hóa, Phó bảng, Nội các thừa chỉ.
- Ngài Phạm Như Xương, người Quảng Nam, Tiến sĩ, Tư vụ viện Cơ mật.

6- Phúc khảo gồm 8 vị:

- Ngài Nguyễn Khắc Liêu, người Nghệ An, Cử nhân, Đồng phủ nguyên lãnh tri huyện An Lạc.
- Ngài Nguyễn Cát, người Nghệ An, Cử nhân, Giáo thụ phủ Thọ Xuân.
- Ngài Nguyễn Nhật Huyên, người Nghệ An, Cử nhân, Giáo thụ phủ Quảng Ninh.
- Ngài Nguyễn Khắc Yểu, người Nghệ An, Cử nhân, Giáo thụ lãnh Huấn đạo huyện Phú Vang.
- Ngài Hà Học Văn, người Hà Tĩnh, Cử nhân, Giáo thụ phủ Thiệu Hóa.
- Ngài Hoàng Cát, người Quảng Bình, Cử nhân, Giáo thụ lãnh Huấn đạo Vĩnh Linh.
- Ngài Nguyễn Thúc Úy, người Quảng Bình, Cử nhân, Hành tẩu, Biên tu tòng Binh Bộ.
- Ngài Nguyễn Như Xuân, người Quảng Bình, Cử nhân, Hành tẩu, Điển tịch tòng Lễ Bộ.

7- Sơ khảo gồm 16 vị:

- Ngài Hồ Bang Trực, người Nghệ An, Cử nhân, Huấn đạo huyện Cẩm Xuyên.
- Ngài Hồ Đắc Dự, người Nghệ An, Cử nhân, Huấn đạo huyện An Định.
- Ngài Nguyễn Bàng Huy, người Nghệ An, Cử nhân, Huấn đạo huyện Hương Sơn
- Ngài Nguyễn Văn Cẩn, người Nghệ An, Cử nhân, Hậu bổ, phủ Thừa Thiên.
- Ngài Trần Văn Vĩnh, người Nghệ An, Cử nhân, Hậu bổ, Thanh Hóa.
- Ngài Nguyễn Đặng Diên, người Thanh Hóa, Cử nhân, Huấn đạo huyện Hậu Lộc.
- Ngài Nguyễn Đình Nhu, người Quảng Bình, Cử nhân, Hậu bổ, tỉnh Quảng Bình.
- Ngài Nguyễn Thiều, người Nam Định, Cử nhân.
- Ngài Nguyễn Cửu Văn, người Nam Định, Cử nhân.
- Ngài Nguyễn Bàng Đảng, người Nam Định, Cử nhân.
- Ngài Trần Vinh, Người Hà Tĩnh, Cử nhân.
- Ngài Trần Hữu Tạo, người Hà Tĩnh, Cử nhân.
- Ngài Tào Văn Long, người Thanh Hóa, Cử nhân.
- Ngài Nguyễn Văn Viễn, người Thanh Hóa, Cử nhân.
- Ngài Đinh Hữu Thành, người Thanh Hóa, Cử nhân.
- Ngài Hồ Phác, người Thanh Hóa, Cử nhân.

KẾT QUẢ KỲ THI HƯƠNG

Trường Hà Nam lấy đỗ 60 cử nhân (tăng 7 người so với dự kiến ban đầu, và 180 tú tài (tăng 21 người so với dự kiến ban đầu).

Thủ khoa là NGUYỄN MỘNG BẠCH, tú tài, người xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc Hà Nội. Á khoa là NGHIÊM XUÂN QUẢNG, quê Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội. Có hai anh em ruột cùng đỗ cử nhân quê xã Khê Động huyện Thượng Phúc, Hà Nội (nay là Thường Tín, Hà Nội) là TỪ ĐẠM (xếp thứ 26) và TỪ THIỆP (xếp thứ 28).
Khoa này, tỉnh Nam Định có số người đỗ là 15, riêng làng Hành Thiện đã chiếm 8 người, một tỷ lệ rất cao so với 60 Cử nhân của hai trường gộp lại.
Danh sách như sau:

1 - Nguyễn Mộng Bạch (tú tài), Bát Tràng, Gia Lâm, Bắc Ninh (nay là Hà Nội)
2 - Nghiêm Xuân Quảng, Tây Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội
3 - Nguyễn Hân (tú tài), Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
4 - Nguyễn Đốc (tú tài), Duệ Đông, Tiên Du, Bắc Ninh
5 - Hoàng Đặng Quýnh, Minh Hương, Thọ Xương, Hà Nội
6 - Khuất Duy Nhất (tú tài), Tạp Trai, Thạch Thất, Sơn Tây
7 - Phạm Kỳ Ngạc, Nhương Đông, Vũ Tiên, Thái Bình
8 - Đặng Hữu Châu, Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
9 - Nguyễn Thụy Hoan (tên cũ Duy Hoan), Phù Liệt, Thanh Trì, Hà Nội
10 - Mai Xuân Dương, Kiên Lao, Giao Thủy, Nam Định
11 - Mai Công Hoán (đỗ 2 khoa tú tài), Lạc Nam, Hải Hậu, Nam Định
12 - Đoàn Thụy Giáp (đỗ 2 khoa tú tài), Hải Yến, Tiên Lữ, Hưng Yên
13 - Nguyễn Văn Khanh, Hào Kiệt, Vụ Bản, Nam Định
14 - Phan Văn Miễn, Đồng Tỉnh, Văn Giang, Bắc Ninh (nay là Hưng Yên)
15 - Hoàng Thế Khôi (tên cũ Khắc Nhượng), Vân Đồn, Thượng Nguyên, Nam Định
16 - Đoàn Văn Huy (tú tài), Mai Dịch, Từ Liêm, Hà Nội
17 - Nguyễn Tái Tích (tên cũ là Tán), Khê Hạ, Bất Bạt, Sơn Tây
18 - Trần Tán Bình, Do Lễ, Thượng Phúc, Hà Nội
19 - Nguyễn Danh Khoát, Phú Đa, Bạch Hạc, Sơn Tây
20 - Hoàng Tất Đạt, Hạ An....., Từ Liêm, Hà Nội ( đỗ 2 khoa tú tài, tặng hàm tòng cửu phẩm)
21 - Đặng Vũ Phong (tú tài), Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
22 - Nguyễn Văn Giáp (đỗ 2 khoa tú tài), tòng cửu phẩm, Cao Dương, Gia Lộc, Hải Dương
23 - Ngô Mỹ (đỗ 2 khoa tú tài), Nghĩa Lộ, Phúc Thọ, Sơn Tây
24 - Hoàng Thường, Dương Xá, Siêu Loại, Bắc Ninh
25 - Nguyễn Tán (tên cũ là Hành), Tử Dương, Thượng Phúc, Hà Nội
26 - Từ Đạm, Khê Động, Thượng Phúc, Hà Nội
27 - Nguyễn Ngọc Vĩ (3 lần tú tài), Phù Lưu, Đông Khai, Thái Bình
28 - Từ Thiệp, Khê Động, Thượng Phúc, Hà Nội
29 - Cung Đạo Đạt (3 khoa tú tài), Kim Lũ, Thanh Trì, Hà Nội
30 - Lê Quang Oánh (tú tài), Bộ La, Vũ Tiên, Thái Bình
31 - Ngô Bích Lan, Đông Mỹ, Thọ Xương, Hà Nội
32 - Nguyễn Văn (tú tài), Gia Thụy, Gia Lâm, Bắc Ninh
33 - Nguyễn Văn Vận, Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
34 - Phạm Nhữ Mai, Đông Phù Liệt, Thanh Trì, Hà Nội
35 - Lê Văn Úc, Văn Xá, Ý An (Yên), Nam Định
36 - Vũ Duy Điển (tên cũ là Thận, tú tài)), Mộ Trạch, Năng An, Hải Dương
37 - Đặng Vũ Oánh (tên cũ là Hoanh), Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
38 - Chu Bùi Đĩnh, Hương Ngải, Thạch Thất, Sơn Tây
39 - Phạm Công Bích, Tống Thỏ, Thanh Khai, Thái Binh
40 - Lê Khắc Truy (tú tài), Dịch Thế, Trực Ninh, Nam Định
41 - Vũ Luyện, Quần Phương Thượng, Hải Hậu, Nam Định
42 - Trần Văn Nghĩa (tên cũ là Nghi, hai khoa tú tài), Đồng Quỹ, Nam Trực, Nam Định
43 - Trần Như Lê (tên cũ là Bích), Vĩnh Mộ, Sơn Vi, Hưng Hóa
44 - Trần Văn Cận, Từ Ô, Thanh Miện, Hải Dương
45 - Phạm Danh Sắc, Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
46 - Phạm Ngọc Bình, Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
47 - Đỗ Bàng Đạt, Dục Tú, Đông Ngàn, Bắc Ninh
48 - Lương Ngọc Thụ, Nam Phố, Thọ Xương, Hà Nội
49 - Nguyễn Duy Kỳ (tòng cửu phẩm), An Xá, Bắc Ninh, Vũ Giang
50 - Phạm Ngọc Lý, Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định
51- Nguyễn Tuyên, Giáp Phù, Đông Ngàn, Bắc Ninh
52 - Trần Huy Tảo (tên cũ là Lực), Nam Điền, Giao Thủy, Nam Định
53 - Nguyễn Thiện Kế (tên cũ là Duy Thính), Tam Sơn, Đông Ngàn, Bắc Ninh
54 - Nguyễn Tư (4 khoa tú tài), Cổ Lễ, Nam Trực, Nam Định
55 - Bùi Duyệt (tên cũ là Khải), Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội
56 - Nguyễn Trọng Hanh (tên cũ là Trọng Nghi, tú tài), Thổ Khối, Gia Lâm, Bắc Ninh
57 - Nguyễn Dụng Quang (tú tài, tòng cửu phẩm), Nhân Mục, Thanh Trì, Hà Nội
58 - Bùi Quý Luận (tú tài), Hội Xuyên, Gia Lộc, Hải Dương
59 - Trần Thuyên (tú tài), Quần Phương Trung, Hải Hậu, Nam Định
60 - Đào Huy Tảo (tú tài), Đông Trì, Trực Định, Thái Bình

KHOA THỊ HỘI VÀ THI ĐÌNH NĂM ẤT MÙI (1895)

Danh sách các cử nhân thi đỗ kỳ thi Hội và thi Đình năm Ất Mùi (1895) cùng với một số bài ăn hay cũng được tuyển chọn khắc in, do nhà sách Đồng Văn sao chép.

Khoa này, triều đình Nhà Nguyễn không lấy Tiến sĩ cập đệ mà chỉ lấy Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân 1 người, Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 7 người và Phó bảng 12 người.

Những cử nhân trúng cách kỳ thi Hương năm 1894 của trường thi Hà Nam tham dự thi Hội và thi Đình năm 1895 được lấy đỗ Tiến sĩ là Nghiêm Xuân Quảng và Từ Đạm (Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân), được đỗ Phó bảng là Nguyễn Tái Tích và Trần Tán Bình. Danh sách như sau:
Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân:

1- Trần Dĩnh Sĩ, xã Kế Môn, huyện Phong Điền, phủ Thừa Thiên.

Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân 7 người:

1 - Nguyễn Đức Huy, 34 tuổi, xã Ngu Xá, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
2 - Nghiêm Xuân Quảng, 23 tuổi, xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Nội.
3 - Lê Phát, 35 tuổi, phường Xuân Thành, huyện Do Linh (Gio Linh) , tỉnh Quảng Trị
4 - Đỗ Quân, 27 tuổi, đỗ Hội nguyên, thôn Châu Sa, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi).
5 - Đàm Kiêm, 35 tuổi, giáo thụ, xã Hương Mặc, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh.
6 - Từ Đạm, 32 tuổi, xã Khê Động, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội.
7 - Phạm Duy Du, 37 tuổi, xã Cần Phán, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình.

Phó bảng gồm 12 người:

1 - Hoàng Mậu, thôn Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
2 - Cao Xuân Tiếu, 31 tuổi, thôn Mỹ Thịnh, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An.
3 - .........Trân, 34 tuổi, xã Bảo An Tây, huyện Diên Phúc, tỉnh Quảng Nam.
4 - Đặng Nguyên Cẩn, 29 tuổi, thôn Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
5 - Nguyễn Tái Tích, 32 tuổi, xã Khê Hạ, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
6 - Hoàng Hoàn, 27 tuổi, xã Bích La, huyện Thuận Xương, tỉnh Quảng Trị.
7 - Đào Phan Quân, 32 tuổi, thôn Biểu Chính, huyện Tuy Phúc, tỉnh Bình Định.
8 - Vương Đình Trân, 25 tuổi, xã Vân Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
9 - Từ Thiệp, 30 tuổi, xã Khê Động, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội.
10 - Nguyễn Văn Chấn, 36 tuổi, xã Xuân Hồ, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
11 - Trần Tán Bình, 27 tuổi, xã Do Lễ, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội.
12 - Hoàng Đình Huyên, 39 tuổi, xã Long Hồ, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên.


                                                                Đặng Văn Sinh
                                                                                                                                                            (từ: Fb)



                                                                 *

 

Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản - Truyện dài Trần Yên Hòa

Thông Báo về việc thành lập Nhà Xuất Bản Bạn Văn Nghệ 2020


    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

(con gái Trần Yên Hòa, gia đình H.O)

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-contenthoa_65-content
                                                                                          TYH và Cindy Trần

 



Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, June 19, 20218:13 AM(View: 41)
Khi về làm biên tập, tôi luôn nghe chị Lê Minh Khuê và vài người nữa nhắc đến cuốn tiểu thuyết có tên “Trư cuồng” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Chị Khuê khen hết lời, vài người nữa cũng rất khen, trong khi một bạn cùng thời khá thân của Nguyễn Xuân Khánh thì bảo cuốn sách ở mức đường được thôi. Tuy thế, sự tò mò về cuốn sách là có thật và nó cứ tăng dần lên trong tôi, khi Nguyễn Xuân Khánh trở lại văn đàn bằng mấy tiểu thuyết lịch sử dày cộp, gây tiếng vang trong dư luận. Thú thực, với tác giả này, cho đến khi đó, tôi mới chỉ đọc “Miền hoang tưởng” (cuốn tiểu thuyết tác giả dùng bút danh, bị cấm lưu hành và phải hơn hai mươi năm sau mới xuất hiện trở lại với cái tên chính thức “Hoang tưởng trắng” và tên tác giả là Nguyễn Xuân Khánh, do tôi biên tập). Nhưng cũng chỉ cần một cuốn ấy thôi, đủ để tôi xếp ông vào dạng nhà văn loại nào trong thang bảng của riêng mình. “Trư cuồng” được viết vào đầu những năm 1980, thời kỳ đất nước đói dài đói rợ. Nguyễn Xuân Khánh lấy chính những
Friday, June 11, 20217:41 AM(View: 265)
Chừng tuổi này, dự đám cưới bạn bè, người thân, con cháu, học trò cũ… thậm chí cả người lạ… cũng khá nhiều, nhớ không hết. Nhưng có một đám cưới tôi không bao giờ quên. Nó thuộc về một quá khứ xa, rất xa đã nửa thế kỷ, nhưng mỗi khi nhớ về họ, nó hiện lên trước mắt mới toanh như vừa mới hôm qua. Đó là đám cưới của anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến. Mối tình của hai người khá ly kỳ, mối tình văn chương pha đậm chất lãng mạn mà tôi là kẻ bên lề, chứng kiến trọn vẹn tới ngày hợp hôn của hai người. Với THT thì quen thân từ hồi ghé thăm anh tận nơi đóng quân ở cầu Bà Gi, Bình Định. Rồi mỗi dịp tôi nghỉ hè, anh lại đeo xe đò Phi Long, Tiến Lực vào Tuy Hòa với anh em văn nghệ ở đây. Tôi thích và mến anh ở chỗ trực tính, bất cần đời và không hiếm những câu văng tục trong lúc trò chuyện. Lại nữa, anh có thể viết bất kỳ ở đâu: đang cà phê với đám đông, trong buổi nhậu… nghĩa là những ý tưởng, câu chuyện xuất hiện trong đầu lúc nào thì người anh như chiếc lò xo tự động bật lên: xé tờ
Tuesday, June 8, 20216:50 PM(View: 171)
Cấp tiến (progressive) là từ phương Tây để chỉ khuynh hướng chính trị xã hội cởi mở hơn so với những quan điểm có trước đó. Sự cởi mở đó là cái nhìn thân thiện với những cộng đồng thiểu số, ủng hộ công bằng xã hội nhiều hơn, tự do tư tưởng nhiều hơn,… Đó là cách tôi hiểu từ này, và tôi cho rằng cũng có khá nhiều người Việt hiểu như vậy. Tuy nhiên, bên cạnh cách hiểu như thế, còn có cách nhìn các nhóm cấp tiến được phân chia theo sơ đồ Tả/Hữu, cũng của phương Tây về chính trị xã hội. Trong sơ đồ này, các nhóm cấp tiến được xếp về phía bên trái, tức là cánh tả, mà trong đó ý thức hệ cộng sản cũng được định vị. Vì thế nhiều người Việt tin là các nhóm cấp tiến, cánh tả, là gần với chủ nghĩa cộng sản, tệ hơn nữa là gần với kiểu cai trị toàn trị của các nhà nước cộng sản theo mô hình Soviet của Lenin, của Đệ tam quốc tế. Ví dụ rõ ràng nhất về niềm tin này của người Việt là khuynh hướng của họ trong cuộc bầu cử ở Mỹ năm 2020 vừa qua. Rất đông người Việt, trong lẫn ngoài nước, nhìn
Sunday, June 6, 202110:33 AM(View: 266)
Quê tôi có cái hát bộ là nổi tiếng. Cụ Tản Đà từng bảo: “Tuồng Bình Định, rạp Phú Phong.” Tuồng là tác phẩm viết ra, rạp là chỗ diễn tuồng. Viết tuồng hay, diễn tuồng cũng giỏi nữa; thế là xuất sắc mọi bề? Tôi nghe vậy, biết vậy. Rồi có lần gặp bài Lỗ Tấn về chuyện xem hát ở xứ ông. Chuyện thật ngộ. Xem qua nhớ hoài. Lỗ tiên sinh viết bài ấy năm 1922, tức năm ông vào khoảng tứ tuần. Bảo rằng trong vòng hai mươi năm qua ông chỉ xem hát Tàu ở Bắc Kinh có hai lần. Lần đầu vào năm 1912, tức năm ông 31 tuổi. Ông nghe bạn nói hát tuồng ở Bắc Kinh là nhất, thế nào cũng phải xem cho biết. Thì xem. Đêm ấy, ông hớn hở vào một rạp hát. Tuồng đang diễn, kèn trống inh ỏi, sắc màu rực rỡ, khách xem đông đảo... Ông len lách vào chỗ có mấy chiếc ghế trống, toan ngồi, thì nghe có tiếng la: “Ấy! Ghế đã có người giữ trước cả rồi đấy.” Loanh quanh tìm mãi không có chỗ ngồi, ông tháo lui, bỏ cuộc. Lần thứ hai — ông không nhớ năm nào — có đêm hát gây quĩ cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Hồ Bắc. Ông
Tuesday, June 1, 20213:04 PM(View: 175)
Giữa những lá cờ Hoa Kỳ bay phất phới trong buổi tập hợp của Tổng thống Trump tuần qua [sáng ngày 6 tháng Giêng], tiếp theo là trong cuộc tuần hành tới Điện Capitol của đoàn người ủng hộ ông, người ta thấy một sự khác thường: đó là có một lá cờ của một nước khác, một quốc gia chỉ còn tồn tại trong ký ức và tưởng tượng, đó là Việt Nam Cộng Hòa. Lá cờ đặc biệt này có mầu vàng rực rỡ với ba gạch ngang mầu đỏ. Những người Mỹ thuộc thế hệ chiến tranh hẳn còn nhớ lá cờ này. Không có gì ngạc nhiên khi thấy cờ Nam Việt Nam trong cuộc nổi dậy bất thành chống lại nền dân chủ Mỹ, song đó vẫn gợi một nỗi thất vọng. Những người Mỹ gốc Việt cấp tiến khi nhìn thấy lá cờ vàng tại cuộc tập hợp đã lên tiếng kết án điều mà họ cho là một xúc phạm đối với lá cờ này khi nó xuất hiện bên cạnh cờ Confederate [của quân ly khai trong thời Nội chiến Hoa Kỳ]. Làm thế nào mà lá cờ này lại có mặt ở đấy? Tại sao một lá cờ của một quốc gia khác lại được nhận cho vào đoàn diễn hành mà phần lớn là những người Da