DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,347,073

Tưởng Năng Tiến - Chị Thanh

Sunday, June 7, 20209:28 AM(View: 359)
Tưởng Năng Tiến - Chị Thanh

                                                                Chị  Thanh

blank
L.T.Đ: Nếu chỉ được phép ghi danh một người viết văn và một người làm thơ ở đất cảng Hải Phòng (thôi) tôi sẽ chọn Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Thị Hoài Thanh. Cả hai đều qua đời ở tuổi bát tuần, và đều đã trải qua một kiếp nhân sinh với rất nhiều gian truân và cay đắng. Nhà văn BNT từ trần năm 2014. Hôm nay, chúng tôi vừa nhận được tin (muộn) thi sĩ N.T.H.T cũng đã từ giã cõi đời vào ngày 20 tháng 2 – 2020. Với chế độ hiện hành, có lẽ, bà là một nghệ sĩ có cuộc sống trầm lặng (và trầm luân) nhất. Bài viết ngắn sau xin được coi như một nén hương lòng gửi người đã khuất. 

Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi thương nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy.


“Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nước.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52*).


Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sinh ra trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.

Lúc còn thanh xuân, cô gặp (và yêu) một chàng trai trên dòng Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải loại “thường dân” nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa và sống an phận thủ thường (như những đám lục bình trôi) nơi ao hồ sông rạch.

Nghe qua con Bẩy bùi ngùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bẩy nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.

- Bao giờ chàng trở lại em xin chờ.
Chàng cười mà đáp:
- Cảm ơn.
- Lời em hứa là chắc. Hay là chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.
- Đâu phải vậy. Chỉ sợ tôi không giữ đúng lời hứa … Chí trai bốn biển là nhà…
Dứt lời chàng đứng dậy cất mái chèo. Con Bẩy xúc động rưng rưng nước mắt. Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần.
- Vậy thì xin chàng dậy cho em một hai câu hò để em nhớ đời.
- Cô hò đã hay mà lại có duyên. Tôi còn biết gì mà dậy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này…
Một tấm lòng! Con Bẩy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya. (Sơn Nam. sđd, tr. 57).


Con Bẩy chờ hoài, chờ hủy nhưng người xưa không quay về bến cũ. Thời gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến con Bẩy Đưa Đò trở thành một phụ nữ bán thịt tại chợ Vàm, ở ven sông. Thịt luộc của dì Bẩy nổi tiếng là “ngon hết biết” luôn.


Một hôm, có người năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt. Dì Bẩy thoáng ngậm ngùi:


- Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.
- Công phu là thế nào dì Bẩy?
- Ở đây, hồi đó có người nói là cần một tấm lòng. (Sơn Nam. sđd trang 59).


Chao ơi, một tấm lòng! Sống không có (ngó) cũng kỳ mà có thì phiền lắm và (đôi khi) phiền lớn. Cũng như dì Bẩy, chị Thanh lao đao lận đận – suốt cả cuộc đời – cũng chỉ vì một tấm lòng thủy chung, và đôn hậu của mình.


Tương tự như thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha (vào đầu thập niên 1940) nơi mà nhiều người dân Âu Châu đã tìm đến, với hy vọng có cơ may chạy thoát khỏi sự săn đuổi chủ nghĩa phát xít. Hải Phòng, hồi đầu thập niên 50, cũng thế. Cũng là ngưỡng cửa của sự tử sinh. 


Hàng triệu người Việt muốn lánh nạn cộng sản cũng đã tìm đến bến cảng này, với hy vọng tìm được một con tầu để đưa họ vào Nam. Chỉ riêng Nguyễn Thị Hoài Thanh quyết định ở lại thôi. Bà Nguyễn Thị Thêu kể lại: “Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, gia đình tôi ra Hải Phòng để chờ ngày di cư vào Nam. Hoài Thanh vốn là người Hải Phòng nên ba tháng hè chúng tôi thường xuyên gặp nhau. Tôi rủ Hoài Thanh di cư vào Sài Gòn nhiều lần, nhưng Hoài Thanh bảo: “Tao chờ anh Trúc ở ngoài kháng chiến về.”(Nguyễn Thị Hoài Thanh. “Luyến Tiếc”. Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).


Không ai trở lại, như chị Thanh (và dì Bẩy) đã mong ngóng cả. Người đời rồi cũng dần lãng quên cái giọng hát “khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh” của cô gái đưa đò (xuân sắc) năm xưa. Thời gian cứ để mặc cho dì Bẩy sống mãi trong lặng lẽ và cô đơn, cạnh một bến sông êm đềm, ở miền Nam.


Chị Thanh, buồn thay, đã không có được sự “may mắn” tương tự như dì Bẩy hồi mấy muơi năm trước. Cái giá mà chị phải trả cho tấm lòng trung hậu của mình mắc mỏ hơn nhiều. Ở miền Bắc, nơi mà (miếng thịt lợn chao ơi là vĩ đại, miếng thịt bò vĩ đại gấp hai) thịt thà được phân phối độc quyền bởi nhà cầm quyền nên chị Thanh đành phải bán than:


Em lội giữa đống than như con cá mắc cạn
Cố vẫy vùng cho vượt khỏi gian truân…


(Chu Tất Tiến. “Viết Về Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Hoài Thanh.” Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).


Sống “trong lòng cách mạng” mà muốn “vượt khỏi gian truân” thì e là điều bất khả. Lý lịch trích ngang của Nguyễn Thị Hoài Thanh được Bùi Ngọc Tấn tóm tắt, như sau: “Có việc gì mà không trải qua. Hãy kể những việc chính: Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc qui Công Ty Quốc Doanh Đánh Cá Hạ long…Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm … Đồng lương không đủ nuôi mình mà còn phải nuôi con.” (Bùi Ngọc Tấn. “Một Mơ Ước Về Kiếp Sau.” Viết Về Bè Bạn. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2005).


Chưa hết, còn có “huyền thoại” là chị Thanh có hai ông anh đã di cư: Nguyễn Xuân Vinh và Nguyễn Cao Kỳ. Cả hai đều (từng) là tư lệnh không quân của miền Nam. Huyền thoại này chỉ đúng năm chục phần trăm. Quả thực, chị là em của ông Nguyễn Xuân Vinh. Ở miền Bắc, có một ông anh cỡ đó cũng đủ chết (dở) rồi. Đâu cần đến cả hai.“Dường như biết rằng có những dư luận bất lợi cho mình và mọi người nhìn mình bằng con mắt nghi kỵ xa lánh nên chị không chủ động thân thiết gần gũi với một ai.” (Bùi N.T. sđd, trang 99).


Chị sống thui thủi một mình là phải:


Sau hồi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông.



blank



Đời sống cái gia đình nhỏ bé của riêng chị Thanh lại là một thảm kịch khác. “Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần ly dị. Vẻ đẹp của tuổi ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao nhiêu khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa… Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp rắc rối và vượt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn như vậy.” (Bùi N.T. sđd, trang 101 -104).


Thì quả đúng “như vậy” thật nhưng sao, đôi lúc, tôi vẫn nghe dường như có tiếng chị thở dài – dù (rất) khẽ:


Sông Cấm ơi! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi, với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển
Bóng tôi còn nguyên vẹn không sông?


Sông Cấm, đã có lúc, mang “nguyên vẹn” hình bóng của người thơ ra biển nhưng chị Thanh đã không giữ được nguyên vẹn hình hài của chính mình: “Tai nạn xẩy ra ngay ngã Sáu, gần nhà tôi. Chị nằm ngất trên đường mưa dầm ngày tết, mặt đường sền sệt một thứ nước bùn hoa. Cánh tay dập nát, xương gẫy… Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình.” (Bùi N.T. sđd, trang 111-112).


Sau đó, sau khi bị thương tật – ở tuổi sáu mươi – chị Thanh sẽ không bao giờ còn được “khổ như” nhiều người dân Việt (trung bình) khác nữa. Có lẽ, chỉ còn có cách ăn xin để sống còn – như chị đã từng nghĩ thế. Nhưng lòng tự trọng quá lớn đã không cho phép chị Thanh làm thế. Loay hoay một thời gian rồi chị cũng nghĩ ra một cách sinh nhai khác, lịch sự hơn: chị vào Nam đi … mót!


Với dân Việt thì gặt lúa, bẻ bắp, rỡ khoai, rỡ lạc là những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày. Mót lúa, mót bắp, mót khoai, mót lạc …cũng là những sinh hoạt quen thuộc khác – với những nông dân khốn khó hơn, như trường hợp của chị Thanh. Có chiều, ở Đồng Xoài, trong khi chờ người ta thu hoạch xong (để mót lạc) chị đang ngồi chơi vẩn vơ đùa nghịch với những cây hoa mắc cở thì ý thơ chợt đến:


Chiều lặng ngồi bên cây xấu hổ
Lá thẹn thò sau đám cỏ rối bời
Hãy ngoảnh mặt lại đây
Có gì đâu mà mắc cở
Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi.


Có gì đâu mà mắc cở? Vậy mà tôi cứ xấu hổ mãi, sau khi đọc xong tập thơ Hoa Phượng – nhất là những bài chị Thanh viết về Di Linh, Đức Trọng, Tùng Nghĩa… Đó là những địa danh mà tôi cũng đã từng sống qua, một cách rất vô tình, và đã đành đoạn bỏ đi – cũng vô tình không kém!


Chị Thanh thì khác. Từ Bắc vào Nam, không một người thân quyến, chị không đi để “nhận họ nhận hàng” với bất cứ ai. Chị bước qua tất cả những vùng đất xa lạ của quê hương, với tất cả sự hồn nhiên và bằng một tấm lòng phơi phới:


Khi ta đến Di Linh chiều rất trẻ
Tiếng nắng về dát bạc dưới lòng thung…


Chị Thanh đến mọi nơi với tất cả sự thiết tha, và khi chia tay cũng vô cùng tha thiết:


Tạm biệt nhé Di Linh thôi chào nhé
Ở chưa quen đã vội vã ra về …


Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/ Trung/ Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản! 



                                                                         Tưởng Năng Tiến
                                                                                                                                                     (từ: DĐTK)
(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.




Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D



Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, August 8, 202011:05 AM(View: 252)
Khoảng 2 giờ chiều, vị sĩ quan coi chúng tôi 2 tuần nay, đến phòng và nói lớn: - Các anh chuẩn bị, tất cả gọn gàng quân trang quân dụng, 30 phút sau các anh ra sân tập họp và di chuyển lên phi trường Đà Nẵng, để vào Sài Gòn, đến nhập trại Nguyễn Tri Phương. Các anh sẽ thụ huấn quân sự 9 tuần, giai đoạn tân binh. Các anh nhớ 30 phút nữa, tôi sẽ trở lại và đưa các anh đi. Tất cả bọn chúng tôi đều hô to, tuân lệnh, rồi ai cũng nhảy xuống giường, lo sắp xếp mền, mùng, quân trang quân dụng. Tôi bỏ tất cả tư trang cá nhân vào cái xách marin, rồi ngồi tại giường của mình, đợi viên sĩ quan tới đưa đi. Thời gian đi qua thật chậm, tôi bèn kệ nệ xách cái xách morin, tới ngồi bên giường của Trần Thanh Ng. Trong lúc Ng. cũng vừa thu xếp đồ đạc xong. Tôi nói: - Vào Quang Trung, tôi với bạn nằm gần giường nghe. Ng: - Không biết vào trong đó họ có sắp cho mình nằm gần không? Sợ họ phân chia theo vần A, B, C quá. Tôi nói: - Nếu mình không nằm gần, thì cùng trung đội, hay cùng phòng cũng được.
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 248)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 364)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 440)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 512)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy