DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,373,986

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 4)

Thursday, August 13, 20207:45 PM(View: 489)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 4)
                   Tháng ngày "lính lác"

Hoa                                        
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



4.
 
Trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương là nơi chứa những tân khóa sinh như tụi tôi, sẽ được sống, sinh hoạt ở đây, để đợi đến ngày nhập khóa. (tân binh).

Theo chỗ tôi biết, trong thời điểm này (1968), chỉ có các thanh niên gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, mới được chuyển thẳng vào trường, và được huấn luyện ngay (huấn nhục). Còn nếu thanh niên bị động viên vào các trường Đồng Đế, Thủ Đức, thì các người này phải thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện giai đoạn tân binh, 9 tuần, rồi mới được đưa đi Đồng Đế hay Thủ Đức. Còn Trường Đại Học Chiến Tranh Chính, khóa đàn anh, Khóa 1, thì được vào trường Thủ Đức học giai đoạn tân binh 9 tuần, rồi sau đó mới được di chuyển lên Đà Lạt.

Trại Nguyễn Tri Phương là những dãy nhà tôn dài. Mỗi nhà chứa được một đại đội, khoảng 200 tân khóa sinh. Trại kê những cái giường sắt đôi, trên một, dưới một (như ở TT1/TMNN). Về đây, chúng tôi có thêm những người bạn mới, từ Vùng 2 (Nha Trang, Bình Định và Cao Nguyên Trung Phần), Vùng 3 (Sài Gòn - Gia Định, Biên Hòa), Vùng 4 (Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Đồng Tháp, Rạch Giá) đến. Chúng tôi được lập thành một đại đội. Đại đội tụi tôi được một sĩ quan cấp trung úy chỉ huy. Chúng tôi được cung cấp thêm một bidong để đựng  nước uống, một gamen để đựng cơm, một xẽng cá nhân, một dây ba chạt cùng ba lô...Coi như mỗi người tân khóa sinh được trang bị đầy đủ như một người lính tác chiến (chỉ trừ đạn và súng, phải nhập khóa bên TT/HL Quang Trung, mới được phát).

Từ năm 1967, vì tình trạng chiến tranh leo thang, những thanh niên có tú tài 1 trở lên, những thanh niên này dù đang làm việc như công chức hay tư chức, hay các sinh viên không đậu chứng chỉ tiếp được, đều bị động viên đi Thủ Đức. Khóa 27 Thủ Đức là khóa Sĩ Quan cuối cùng của những thanh niên bị động viên trong tài nguyên 1967. Đến năm 1968, vì tình trạng lệnh gọi thanh niên vào Thủ Đức nhiều hơn, nên các cấp có thẩm quyền, đã cho thanh niên vào quân trường Thủ Đức lấy tên là Khóa 1/68. Tiếp tục là các khóa 2/68, 3/68...Các khóa này, bắt buột phải học ở Trung tâm Huấn Luyện Quang Trung 9 tuần. Xong 9 tuần mới chuyển qua quân trường Thủ Đức. Cùng lúc đó, cũng vì số thanh niên bị động viên đông quá, nên một số được đưa ra Nha Trang, thụ huấn khóa sĩ quan tại Quân Trường Đồng Đế, học giai đoạn sĩ quan.

Các khóa sinh CTCT đợt đầu đang theo khóa 8/68 ở đây. Nên tụi tôi phải chờ....chờ...và chờ... ngày nhập khóa theo khóa 9/68.

Tôi và Ng. vẫn ở cùng phòng nhau. Lần đầu tiên được lệnh phải thức dậy lúc 5:00 sáng, phải nhảy xuống giường để ra các giao thông hào "chà láng". Danh từ "chà láng" tôi nghe được đầu tiên, nhưng nhắc đến trại Nguyễn Tri Phương là nhớ đến "chà láng".

Xin nói là chung quanh khu doanh trại này có những giao thông hào, giao thông hào được "công lính" trước đây đã đào. Mỗi giao thông hào rộng khoảng 1 mét, sâu khoảng 1 mét rưỡi, còn dài thì theo chu vi doang trai. Mỗi người chúng tôi được phân công chà láng khoảng 5 mét giao thông hào, nghĩa là dùng nước, dùng gà mèn đựng cơm bằng Inox, làm sao chà cho các giao thông hào phía trên, phía trong, phía ngoài cho láng cóng. Đây là bước đầu mà theo vị sĩ quan cán bộ đã giải thích, là tập cho quen với đời lính, phải tuân theo lệnh, dù lệnh đó có vô lý đến đâu.

Chà láng xong, sĩ quan cán bộ ra xét, xem được, mới thôi.

Mỗi sáng, từ 5 giờ, khi tiếng còi reng réc thổi lên, là chúng tôi nhảy xuống khỏi giường, chạy ra giao thông hào "chà láng". Khoảng một giờ sau, chúng tôi mới được tha cho về phòng, lo đánh răng, súc miệng, vệ sinh cá nhân, rồi mới được lãnh cơm, hay bánh mì ăn sáng.

Nhớ trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương, chung quanh có trồng một dãy dài nhiều cây bả đậu. Những hàng bả đâu buổi trưa trái khô rớt xuống đất kêu răng rắc, nghe buồn vô cùng. Năm đó, khoảng tháng mười, mà trời Hóc Môn còn nắng đổ lửa. Buổi trưa, chúng tôi thường ra ngoài ngồi hóng gió.

Ngồi ngoài hiên hóng gió, tôi thường nhớ thương vu vơ, nhớ về cha mẹ, về em, những tháng ngày mật ngọt... nơi tình yêu bắt đầu. Tôi nhớ nhất câu thơ mà tôi đọc không biết bao nhiêu lần, không biết từ tập san Phổ Thông hay Thời Nay gì đó... Hai câu thơ tôi cũng không biết của tác giả nào, mà sao giống y hoàn cảnh của tôi lúc này quá:

Mai anh đi rồi người yêu bé nhỏ.
Dù xa nhau xin đừng nói giả từ.
 
Tôi mang trong lòng những suy nghĩ rất ít về chiến tranh, và không thích chiến tranh, vì đã làm cho chúng tôi xa nhau. Chiến tranh là chém giết, là chia ly, là chết chóc. Tâm hồn tôi vốn nhạy cảm, nên dễ ủy mị về những sự việc xảy ra.

Tôi nhớ Đà Nẵng với những ngày tôi ở đó, như những vần thơ của Yến Nguyên Thanh:
 
Và Đà Nẵng chiều nay trời trở gió
Con phố buồn hun hút ngã tư, năm
 
Trong những dịp cuối tuần ra phép đi chơi Sài Gòn, tôi thường đi chung với Ng. vì lúc này hai đứa đã kết nhau. Ng. dẫn tôi về Sài Gòn, đến khu nhà của người em vợ Ng. thuê ở để đi học, khu đường Nguyễn Cảnh Chân. Ăn uống vui chơi, cùng nhau đi ăn món đầu cá hấp ở Khu Bùi Viện. Khu này có bán món đầu cá hấp rất ngon, rất nổi tiếng. Ăn món cá hấp, uống bia Larue, vài ve, là thấy vui, thấy lòng lâng lâng, sãng khoái. Rồi buổi chiều chúng tôi trở về lại trại, cùng ghé vào khu Trung Tâm Tiếp Huyết ở Ngã Ba Chú Ía, để "xổ bầu tâm sự". Thế là xong một ngày phép.
 
Nếu chủ nhật không có phép, thì tôi ra Vườn Tao Ngộ chơi. Vườn Tao Ngộ là nơi thăm viếng tân binh với các thân nhân của họ. Thân nhân từ Sài Gòn hay các vùng lân cận, thường được phép đến thăm các tân binh ở đây. Họ chọn những bóng mát, trải poncho ra ngồi, ăn uống, vui đùa với nhau, trông thật êm ái, hạnh phúc. Có người còn đem con cái lên thăm nữa...Nên tôi thường ra chơi, nhìn "ké" hạnh phúc của người ta.
 
Vườn Tao Ngộ có một bản nhạc như sau:
 
Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh.
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi.
Ta nhìn nhau bâng khuâng,
Đâu biết rằng chuyện đôi ta sẽ vui hay buồn?
Ngày mai ra đơn vị đường trần hai lối mộng thôi từ đây biết ra sao?
 
Tụi tôi ở đây khoảng 2 tuần thì được tin, vì chưa có khóa, cũng 1 tháng nữa mới bắt đầu khóa 9/68. Nên chúng tôi được Ban Chỉ Huy trại cho đi phép nửa tháng, để về thăm gia đình, trước khi nhập khóa. Dù biết tốn kém vé máy bay, nhưng tôi và Ng. cũng mau mắn, về Sài Gòn, mua vé vù bay về Đà Nẵng. Tôi về Tam Kỳ còn Ng. về Quảng Ngãi.
 
Trở về lại quê, với tâm trạng không yên...nhưng cũng vui khi gặp lại cha, mẹ, chị hai tôi (anh G. đã đi Khóa 7.68 Thủ Đức) và em. Tôi vô cùng xúc động. Tôi vào Lý Tín, ghé vào trường thăm các bạn dạy học cũ, như Tú, Hào, Viên...Các bạn đang được thụ huấn 9 tuần giáo chức tại trung tâm huấn luyện Phú Bài. Tôi thấy buồn vô cùng, vì đã bỏ qua một dịp may, là được tiếp tục dạy học, đứng trên bục giảng bài cho các em.

Trong hoàn cảnh đó, nhìn các em học sinh tung tăng đi học trong sân trường Lý Tín, cùng các thầy, cô (bạn dạy cũ) của tôi. Tôi thấy lòng buồn bã. Các bạn tôi có người đã đi theo lệnh gọi chín tuần và có người trở về dạy lại, trong lúc tôi còn lêu bêu, là một tân binh, phải "chà láng" giao thông hào mỗi sáng, phải tuân lệnh những sĩ quan cán bộ bất cứ chuyện gì.
 
Tôi yêu nghề dạy học, yêu các em học trò quá. Nhưng mọi chuyện đã vuột ra khỏi tầm tay tôi rồi. Các em (không biết và không hiểu), nên đã chúc tôi một ngày sẽ trở lại với phấn trắng, bảng đen. Tôi buồn nhưng không biết thổ lộ cùng ai, bèn viết một bài thơ. Bài thơ này sau khi lên Đà Lạt, tôi gởi cho tuần báo Khởi Hành và được đăng:
 
Cho học trò lời giảng ngày về Tam Kỳ
(Gởi KY. và cho học trò Lý Tín 1966-68)
 
Thầy trở về một lần trong dáng nắng
sân trường xưa giờ đã đổi thay nhiều
bầy chim sẻ không còn trên mái ngói
trường xanh xao tiếng hát lời ca dao
 
Thôi các em cũng đừng mong thầy kể
chuyện nhọc nhằn của tuổi trẻ trên vai
em hãy học bài thuộc lòng năm ngoái
áo dài việt nam trong trắng hoa cài
 
Thôi các em cũng đừng câu chúc tụng
ngày trở về với phấn trắng bảng đen
bài chinh phụ ngâm một lần thầy đã giảng
thiên đường xưa vàng úa tự bao giờ
 
Thầy trở về làm lòai chim hút mật
đậu trong vườn cho tuổi mộng em cao
xin một phút đứng bên lề cuộc chiến
với niềm thương yêu một sớm mai nào
 
Đôi mắt đen như niềm êm dịu nhỏ
buổi lâm hành thầy chỉ có bấy nhiêu
sân trường cũ xin nhường cho em đó
đạn còn reo ngoài cửa sổ mỗi chiều
 
(tạp chí Khởi Hành)
 
 
                                                                          Trần Yên Hòa
                                                                                  (còn tiếp)

Cảm ơn Minh Lâm đã đính chính: Đúng là Inox. (đã sửa). Thks Minh Lâm! TYH
                                 * 


                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 
Reader's Comment
Sunday, August 16, 20208:51 PM
Guest
Gà mèn đựng cơm bằng Inox chứ không phải Hynos
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 149)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 395)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 367)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 287)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,
Tuesday, September 1, 20208:06 AM(View: 388)
Những ngày huấn nhục tôi và Ng. cũng có những kỷ niệm vui. Là sau khi bị quần thảo cả tuần, SVSQ nào cũng mồ hôi mồ kê đổ ra suốt ngày, mà nhà trường thì không có máy tắm nước nóng, nên chúng tôi cứ để vậy mà ngủ. Đến cuối tuần, thì được "giải phóng", đó là được cán bộ dẫn ra phố "tắm nước nóng". Đà Lạt lúc này dịch vụ tắm nước nóng mở ra rất nhiều. Tôi và Ng. lợi dụng "tranh thủ" tắm trước, tắm lẹ, trong lúc các "bạn ta" còn tuần tự tắm sau, cũng một tiếng đồng hồ nữa, tụi tôi bèn lén bỏ đi qua quán Phở Bằng, gần đó, ăn phở. Ơi, với đời sống kham khổ lúc này, được ăn một tô phở Bằng thì không có gì ngon hơn nữa. Ăn phở xong, nếu còn thời gian, tụi tôi còn mò qua đường Duy Tân, "xổ bầu tâm sự". May mà mọi chuyện trót lọt, chứ nếu cán bộ biết được, thì chắc là bị phạt dã chiến ngay. Amen, cảm ơn trời Phật! Mọi chuyện đều bình an vô sự. Thật ra, tôi vốn nhát gan, sợ bị phạt, bị quần thảo suốt đêm dã chiến với bao trò chơi của các cán bộ. Nhưng đi theo Ng., tôi trở nên lì