DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,419,533

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 4)

Thursday, August 13, 20207:45 PM(View: 866)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 4)
                   Tháng ngày "lính lác"

Hoa                                        
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)



4.
 
Trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương là nơi chứa những tân khóa sinh như tụi tôi, sẽ được sống, sinh hoạt ở đây, để đợi đến ngày nhập khóa. (tân binh).

Theo chỗ tôi biết, trong thời điểm này (1968), chỉ có các thanh niên gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, mới được chuyển thẳng vào trường, và được huấn luyện ngay (huấn nhục). Còn nếu thanh niên bị động viên vào các trường Đồng Đế, Thủ Đức, thì các người này phải thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện giai đoạn tân binh, 9 tuần, rồi mới được đưa đi Đồng Đế hay Thủ Đức. Còn Trường Đại Học Chiến Tranh Chính, khóa đàn anh, Khóa 1, thì được vào trường Thủ Đức học giai đoạn tân binh 9 tuần, rồi sau đó mới được di chuyển lên Đà Lạt.

Trại Nguyễn Tri Phương là những dãy nhà tôn dài. Mỗi nhà chứa được một đại đội, khoảng 200 tân khóa sinh. Trại kê những cái giường sắt đôi, trên một, dưới một (như ở TT1/TMNN). Về đây, chúng tôi có thêm những người bạn mới, từ Vùng 2 (Nha Trang, Bình Định và Cao Nguyên Trung Phần), Vùng 3 (Sài Gòn - Gia Định, Biên Hòa), Vùng 4 (Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Đồng Tháp, Rạch Giá) đến. Chúng tôi được lập thành một đại đội. Đại đội tụi tôi được một sĩ quan cấp trung úy chỉ huy. Chúng tôi được cung cấp thêm một bidong để đựng  nước uống, một gamen để đựng cơm, một xẽng cá nhân, một dây ba chạt cùng ba lô...Coi như mỗi người tân khóa sinh được trang bị đầy đủ như một người lính tác chiến (chỉ trừ đạn và súng, phải nhập khóa bên TT/HL Quang Trung, mới được phát).

Từ năm 1967, vì tình trạng chiến tranh leo thang, những thanh niên có tú tài 1 trở lên, những thanh niên này dù đang làm việc như công chức hay tư chức, hay các sinh viên không đậu chứng chỉ tiếp được, đều bị động viên đi Thủ Đức. Khóa 27 Thủ Đức là khóa Sĩ Quan cuối cùng của những thanh niên bị động viên trong tài nguyên 1967. Đến năm 1968, vì tình trạng lệnh gọi thanh niên vào Thủ Đức nhiều hơn, nên các cấp có thẩm quyền, đã cho thanh niên vào quân trường Thủ Đức lấy tên là Khóa 1/68. Tiếp tục là các khóa 2/68, 3/68...Các khóa này, bắt buột phải học ở Trung tâm Huấn Luyện Quang Trung 9 tuần. Xong 9 tuần mới chuyển qua quân trường Thủ Đức. Cùng lúc đó, cũng vì số thanh niên bị động viên đông quá, nên một số được đưa ra Nha Trang, thụ huấn khóa sĩ quan tại Quân Trường Đồng Đế, học giai đoạn sĩ quan.

Các khóa sinh CTCT đợt đầu đang theo khóa 8/68 ở đây. Nên tụi tôi phải chờ....chờ...và chờ... ngày nhập khóa theo khóa 9/68.

Tôi và Ng. vẫn ở cùng phòng nhau. Lần đầu tiên được lệnh phải thức dậy lúc 5:00 sáng, phải nhảy xuống giường để ra các giao thông hào "chà láng". Danh từ "chà láng" tôi nghe được đầu tiên, nhưng nhắc đến trại Nguyễn Tri Phương là nhớ đến "chà láng".

Xin nói là chung quanh khu doanh trại này có những giao thông hào, giao thông hào được "công lính" trước đây đã đào. Mỗi giao thông hào rộng khoảng 1 mét, sâu khoảng 1 mét rưỡi, còn dài thì theo chu vi doang trai. Mỗi người chúng tôi được phân công chà láng khoảng 5 mét giao thông hào, nghĩa là dùng nước, dùng gà mèn đựng cơm bằng Inox, làm sao chà cho các giao thông hào phía trên, phía trong, phía ngoài cho láng cóng. Đây là bước đầu mà theo vị sĩ quan cán bộ đã giải thích, là tập cho quen với đời lính, phải tuân theo lệnh, dù lệnh đó có vô lý đến đâu.

Chà láng xong, sĩ quan cán bộ ra xét, xem được, mới thôi.

Mỗi sáng, từ 5 giờ, khi tiếng còi reng réc thổi lên, là chúng tôi nhảy xuống khỏi giường, chạy ra giao thông hào "chà láng". Khoảng một giờ sau, chúng tôi mới được tha cho về phòng, lo đánh răng, súc miệng, vệ sinh cá nhân, rồi mới được lãnh cơm, hay bánh mì ăn sáng.

Nhớ trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương, chung quanh có trồng một dãy dài nhiều cây bả đậu. Những hàng bả đâu buổi trưa trái khô rớt xuống đất kêu răng rắc, nghe buồn vô cùng. Năm đó, khoảng tháng mười, mà trời Hóc Môn còn nắng đổ lửa. Buổi trưa, chúng tôi thường ra ngoài ngồi hóng gió.

Ngồi ngoài hiên hóng gió, tôi thường nhớ thương vu vơ, nhớ về cha mẹ, về em, những tháng ngày mật ngọt... nơi tình yêu bắt đầu. Tôi nhớ nhất câu thơ mà tôi đọc không biết bao nhiêu lần, không biết từ tập san Phổ Thông hay Thời Nay gì đó... Hai câu thơ tôi cũng không biết của tác giả nào, mà sao giống y hoàn cảnh của tôi lúc này quá:

Mai anh đi rồi người yêu bé nhỏ.
Dù xa nhau xin đừng nói giả từ.
 
Tôi mang trong lòng những suy nghĩ rất ít về chiến tranh, và không thích chiến tranh, vì đã làm cho chúng tôi xa nhau. Chiến tranh là chém giết, là chia ly, là chết chóc. Tâm hồn tôi vốn nhạy cảm, nên dễ ủy mị về những sự việc xảy ra.

Tôi nhớ Đà Nẵng với những ngày tôi ở đó, như những vần thơ của Yến Nguyên Thanh:
 
Và Đà Nẵng chiều nay trời trở gió
Con phố buồn hun hút ngã tư, năm
 
Trong những dịp cuối tuần ra phép đi chơi Sài Gòn, tôi thường đi chung với Ng. vì lúc này hai đứa đã kết nhau. Ng. dẫn tôi về Sài Gòn, đến khu nhà của người em vợ Ng. thuê ở để đi học, khu đường Nguyễn Cảnh Chân. Ăn uống vui chơi, cùng nhau đi ăn món đầu cá hấp ở Khu Bùi Viện. Khu này có bán món đầu cá hấp rất ngon, rất nổi tiếng. Ăn món cá hấp, uống bia Larue, vài ve, là thấy vui, thấy lòng lâng lâng, sãng khoái. Rồi buổi chiều chúng tôi trở về lại trại, cùng ghé vào khu Trung Tâm Tiếp Huyết ở Ngã Ba Chú Ía, để "xổ bầu tâm sự". Thế là xong một ngày phép.
 
Nếu chủ nhật không có phép, thì tôi ra Vườn Tao Ngộ chơi. Vườn Tao Ngộ là nơi thăm viếng tân binh với các thân nhân của họ. Thân nhân từ Sài Gòn hay các vùng lân cận, thường được phép đến thăm các tân binh ở đây. Họ chọn những bóng mát, trải poncho ra ngồi, ăn uống, vui đùa với nhau, trông thật êm ái, hạnh phúc. Có người còn đem con cái lên thăm nữa...Nên tôi thường ra chơi, nhìn "ké" hạnh phúc của người ta.
 
Vườn Tao Ngộ có một bản nhạc như sau:
 
Hôm nay ngày Chúa Nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh.
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi.
Ta nhìn nhau bâng khuâng,
Đâu biết rằng chuyện đôi ta sẽ vui hay buồn?
Ngày mai ra đơn vị đường trần hai lối mộng thôi từ đây biết ra sao?
 
Tụi tôi ở đây khoảng 2 tuần thì được tin, vì chưa có khóa, cũng 1 tháng nữa mới bắt đầu khóa 9/68. Nên chúng tôi được Ban Chỉ Huy trại cho đi phép nửa tháng, để về thăm gia đình, trước khi nhập khóa. Dù biết tốn kém vé máy bay, nhưng tôi và Ng. cũng mau mắn, về Sài Gòn, mua vé vù bay về Đà Nẵng. Tôi về Tam Kỳ còn Ng. về Quảng Ngãi.
 
Trở về lại quê, với tâm trạng không yên...nhưng cũng vui khi gặp lại cha, mẹ, chị hai tôi (anh G. đã đi Khóa 7.68 Thủ Đức) và em. Tôi vô cùng xúc động. Tôi vào Lý Tín, ghé vào trường thăm các bạn dạy học cũ, như Tú, Hào, Viên...Các bạn đang được thụ huấn 9 tuần giáo chức tại trung tâm huấn luyện Phú Bài. Tôi thấy buồn vô cùng, vì đã bỏ qua một dịp may, là được tiếp tục dạy học, đứng trên bục giảng bài cho các em.

Trong hoàn cảnh đó, nhìn các em học sinh tung tăng đi học trong sân trường Lý Tín, cùng các thầy, cô (bạn dạy cũ) của tôi. Tôi thấy lòng buồn bã. Các bạn tôi có người đã đi theo lệnh gọi chín tuần và có người trở về dạy lại, trong lúc tôi còn lêu bêu, là một tân binh, phải "chà láng" giao thông hào mỗi sáng, phải tuân lệnh những sĩ quan cán bộ bất cứ chuyện gì.
 
Tôi yêu nghề dạy học, yêu các em học trò quá. Nhưng mọi chuyện đã vuột ra khỏi tầm tay tôi rồi. Các em (không biết và không hiểu), nên đã chúc tôi một ngày sẽ trở lại với phấn trắng, bảng đen. Tôi buồn nhưng không biết thổ lộ cùng ai, bèn viết một bài thơ. Bài thơ này sau khi lên Đà Lạt, tôi gởi cho tuần báo Khởi Hành và được đăng:
 
Cho học trò lời giảng ngày về Tam Kỳ
(Gởi KY. và cho học trò Lý Tín 1966-68)
 
Thầy trở về một lần trong dáng nắng
sân trường xưa giờ đã đổi thay nhiều
bầy chim sẻ không còn trên mái ngói
trường xanh xao tiếng hát lời ca dao
 
Thôi các em cũng đừng mong thầy kể
chuyện nhọc nhằn của tuổi trẻ trên vai
em hãy học bài thuộc lòng năm ngoái
áo dài việt nam trong trắng hoa cài
 
Thôi các em cũng đừng câu chúc tụng
ngày trở về với phấn trắng bảng đen
bài chinh phụ ngâm một lần thầy đã giảng
thiên đường xưa vàng úa tự bao giờ
 
Thầy trở về làm lòai chim hút mật
đậu trong vườn cho tuổi mộng em cao
xin một phút đứng bên lề cuộc chiến
với niềm thương yêu một sớm mai nào
 
Đôi mắt đen như niềm êm dịu nhỏ
buổi lâm hành thầy chỉ có bấy nhiêu
sân trường cũ xin nhường cho em đó
đạn còn reo ngoài cửa sổ mỗi chiều
 
(tạp chí Khởi Hành)
 
 
                                                                          Trần Yên Hòa
                                                                                  (còn tiếp)

Cảm ơn Minh Lâm đã đính chính: Đúng là Inox. (đã sửa). Thks Minh Lâm! TYH
                                 * 


                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 
Reader's Comment
Sunday, August 16, 20208:51 PM
Guest
Gà mèn đựng cơm bằng Inox chứ không phải Hynos
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Thursday, November 19, 20201:49 PM(View: 96)
Cửa tiệm bán dụng cụ học sinh và văn phòng nằm ở đường Trần văn Thạch (*), giáp ranh hai đường Trần Quang Khải và Trần Khắc Chân miệt Tân Định, tuy nhỏ nhưng sạch sẽ và bày biện ngăn nắp. Tiệm có tên Thế Giới. Chủ tiệm người gốc Hoa. Ngay cửa, lúc nào cũng mở toang, bên phải, có dựng một tủ kiếng lau chùi sáng loáng, thấy trưng bày tập vở học trò, viết máy, những vật dụng học sinh lỉnh kỉnh, và nhiều bộ tem thư nước ngoài. Thuở ấy, giữa thập niên một chín sáu mươi, tôi đã đến tuổi được phép đi học một mình bằng xe gắn máy. Những sáng thứ năm, thời trung học đệ nhất cấp tại trung học tư thục Nguyễn Bá Tòng, chỉ phải học hai tiếng. Trong khi các bạn theo Ky-tô giáo phải ở lại học thêm giờ giáo lý, tôi được ra về thơ thới, hân hoan. Sáng Sài gòn, vào giờ ấy, không còn kẹt xe. Nắng ngày chỉ mới e ấp nóng. Vào những tháng cuối và đầu năm, thời tiết dịu mát, khoan thai bắt đầu một ngày mới. Trước khi về nhà, tôi thường ghé ngang tiệm, dán mắt chiêm ngưỡng những bộ tem trưng bày trong tủ
Monday, November 16, 20208:42 AM(View: 120)
Khi còn bé, tôi đọc sách. Tuổi thơ của tôi rơi vào buổi bình minh của miền Nam, một trong những thời kỳ phát triển tốt đẹp của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Cuộc đời rộn ràng bắt đầu, học sinh, công nhân, công chức, tư chức, người đi chợ búa tấp nập trên đường, những cánh cửa mở ra, đóng lại, tiếng xe máy, tiếng chuông xe đạp leng keng, chuông nhà thờ, chuông chùa. Trường học xây lại, nhà ga hoạt động, cầu cống, quán xá nhộn nhịp, đời sống rộn ràng mở cửa khi tôi sinh ra, lớn lên. Môi trường ấy thích hợp cho một nền văn học tươi trẻ, lành mạnh, cho những cuốn sách thiếu nhi, tiểu thuyết, phim ảnh, sân khấu. Chiến tranh chống Pháp vừa kết thúc, hòa bình lập lại, mọi người muốn trở về với cuộc sống thanh bình, bắt tay làm lại. Người ta muốn viết sách, muốn đọc sách. Người ta muốn thí nghiệm giống lúa mới, trồng cây ăn quả, muốn học nướng bánh mì, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời, đi chùa, đi nhà thờ, đến trường. Người ta muốn sinh đẻ và được sinh đẻ, muốn sống và muốn người khác được sống.
Friday, November 13, 20209:26 PM(View: 176)
Cô bé Maci Currin, 17 tuổi, cư dân thành phố Cedar, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, vừa được Guinness World Records chứng nhận hai kỷ lục thế giới: người phụ nữ có đôi chân dài nhất thế giới và thiếu nữ tuổi teen có đôi chân dài nhất thế giới. Các ông bự truyền thông như CNN, UPI đều nhanh chóng đưa tin. Họ nhạy bén như vậy là phải. Cái chi liên quan đến chân dài đều là những tin hấp dẫn. Chân cô bé Maci dài bao nhiêu? Chân trái dài 134.62 phân (53 inch), chân phải ngắn hơn một chút, 134.3 phân (52.874 inch). Vậy thì giai nhân chân dài này sẽ đi kiểu chấm phết? Không, chỉ hơn nhau có 0,3 phân thì nhằm nhò chi. Dáng đi của Maci vẫn chuẩn như người mẫu. Các bạn gái đọc tới đây chắc sẽ thắc mắc: làm sao để đo chân mình đây? Để coi xem thua cô Maci này bao nhiêu…thước? Theo cách đo quốc tế thì người ta sẽ đo từ rốn xuống tới mắt cá chân. Thường thì hai chân không dài bằng nhau mà so le chút đỉnh. Vậy trường hợp cô Maci có chân trái dài hơn chân phải là thường tình. Không có chi mà…dư luận.
Thursday, November 12, 20209:28 AM(View: 188)
Vừa rồi, chúng tôi, những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi. Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn. Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui. Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi, thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài: “Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi dấu kín vì sợ đến tai công an thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự
Saturday, November 7, 20207:25 AM(View: 207)
Tôi vẫn thường gọi anh là Phạm Phú Minh nhưng tên tác giả trên sách là Phạm Xuân Đài. Thì cũng chàng chứ ai. Tên đầu là tên thiệt cha sinh mẹ đẻ, tên sau là tên con gái dùng làm bút hiệu. Cuốn sách đầu tiên của Phạm Xuân Đài là cuốn “Hà Nội Trong Mắt Tôi” được xuất bản từ năm 1994, tới nay, 26 năm sau, mới có cuốn thứ hai “Đi, Đọc và Viết”. Điều này chứng tỏ ông bạn đồng tuế với tôi không thuộc loại con đàn cháu đống như tôi. Chuyện cũng đúng thôi. Phạm Phú Minh, hậu duệ của cụ Phạm Phú Thứ, tuy cùng tuổi với tôi nhưng khác tôi. Tôi chỉ làm những chuyện lặt vặt nhằm “mua vui cũng được một vài trống canh” trong khi ông bạn cao ráo, luôn nở nụ cười tươi như hoa, lại là người làm những chuyện để đời. Bạn tôi làm nhiều lắm, tôi chỉ nhớ tới hai sự kiện quan trọng: tổ chức cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn và số hóa bộ tạp chí Bách Khoa. Buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn quy tụ nhiều nhà nghiên cứu nổi danh trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, là một đánh giá đầy đủ và thận trọng nhất