DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,375,860

Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 5)

Tuesday, August 18, 20208:29 PM(View: 516)
Trần Yên Hòa - Tháng Ngày "lính lác" (tiếp theo 5)
                  Tháng ngày "lính lác"

Hoa                                      
                                                                             Hồi Ức

                                   (tiếp theo)

 

5.


Những ngày đi phép vui vẻ với gia đình rồi cũng qua. "Ngày vui qua mau". Cuối cùng rồi tôi cũng phải trở về lại đơn vị là trại Nguyễn Tri Phương. Cuộc chia ly nào cũng buồn, nhất là tuổi trẻ phơi phới với tình yêu đầu đời lên ngôi, thì sự đi xa, mà lại đi lính nữa, mới buồn làm sao. Nhưng "dẫu có thế nào rồi cũng phải xa nhau."

Cầm tấm giấy phép trong tay, tôi, thân người lính tân binh với bộ đồ lính phát ra là bận ngay, chưa sửa lại gì cả, rộng xuềnh xoàng. Cái nón lưỡi trai chụp lên đầu, mang đôi giày bố. Tôi trở lại với dãy nhà tôn, với những hàng cây bả đậu, với giao thông hào của trại tiếp chuyển Nguyễn Tri Phương. Vì mới vô lính, sợ trễ phép sẽ bị phạt, như lời dọa dẫm của người sĩ quan cán bộ trước khi đi. Tôi trình diện đúng ngày, nên không bị phạt. Những người bạn cùng khóa cũng lục trở về. Có thể nói là lính mới tò te nên chúng tôi ít có ai trễ phép.

Lần này, tôi tình cờ gặp được một người bạn học với tôi ở trường TCV, Tam Kỳ. Đó là bạn Phạm Văn V. V. học ở trường Tiểu La Thăng Bình - Trung học đệ nhất cấp. Vì trường Tiểu La không có đệ nhị cấp nên đến năm đệ tam, V. mới chuyển vào trường TCV. V. học khá, chăm chỉ, tính tình hiền hậu. Hiện V. đang đi dạy tiểu học, vì (cũng) sợ làm đơn xin đi học 9 tuần không được, nên V. thi vào trường Đại Học CTCT (như tôi). Gặp V. tôi rất vui, có thêm một người bạn cùng quê, cùng trường, cùng lớp. Ng. cũng đã vào đúng phép nên tôi ở đây có 2 người bạn để tâm tình.

Ở đây khoảng một tuần thì chúng tôi nghe tin, có phái đoàn của Bộ Chỉ Huy Trường Đại Học CTCT từ Đà Lạt xuống, sẽ thi trắc nghiệm thêm về cách "ăn nói trước công chúng", coi thử thí sinh có nói năng lưu loát không, có ngọng hay cà lăm không? Và đo chiều cao nữa (phải trên 1 mét sáu).

Dĩ nhiên, dù gì, bất cứ một cuộc thi nào, có dễ đến đâu, cũng đem lại sự lo lắng cho thí sinh. Tôi cũng lo lắng khôn nguôi. Mình đã "binh" con đường vào trường để "lánh đạn" 2 năm, mà bây giờ thi trắc nghiệm bị rớt, bị loại khỏi khóa học, phải qua Thủ Đức, thì eo ơi! Có nỗi buồn nào hơn. Nhưng tôi cũng tin tưởng là tôi đã từng dạy học, mà dạy Việt Văn là chính, dạy về Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc lớp đệ ngũ, tôi đã đứng trước khoảng 50 em học sinh để giảng cho các em học, giọng nói tôi to, rền, sang sảng, nên cũng thu hút học trò lắm. Tôi đã nghe các em học sinh khen là tôi dạy hay, giảng bài hấp dẫn (có thật không vậy!), nên tôi cũng tạm yên tâm chút đỉnh. Nhưng nói gì thì nói, đã thi là lo.

Buổi thi diễn ra trong vòng 1 ngày cho 200 khóa sinh. Ban chỉ huy Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị làm giám khảo cuộc thi hôm đó, tôi còn nhớ:
- Hải quân Đại Tá Lâm Ngươn Tánh, Chỉ Huy Trưởng.
- Trung Tá Vĩnh Quyền, trưởng Khối Kế Hoạch.
- Thiếu Tá Hoàng Minh Hòa, Văn Hóa Vụ trưởng
- Thiếu Tá Nguyễn Văn Năm, trưởng Khối Khóa Sinh.
- Trung úy Nguyễn Tâm Miên, khối khóa sinh.
......
Những sĩ quan này sau khi vào trường tôi mới biết tên và chức vụ.
 
Chì có khoảng 5-10 bạn bị loại. Rất buồn là trong 10 bạn bị loại có bạn V. và Nhật, bạn cùng ở Vùng 1 vào đây. Hai bạn qua cân đo, không đủ 1 mét 6. Thi xong và thấy mình bị trượt, V. buồn lắm. V. cũng nghĩ như tôi, bây giờ chắc phải đợi đi Thủ Đức.

Buổi tối hôm đó, tôi và V. dẫn nhau xuống câu lạc bộ quân nhân "nhậu". Tôi mời V. uống với tôi một chầu bia chia tay. Lúc này chỉ có bán bia La Rue thôi. Chúng tôi uống mỗi người khoảng 4, 5 chai Larue, và thấy đời chẳng là cái thớ gì cả.

V. nói với tôi:
- Mi may mắn quá, thi đậu được cũng an tâm 2 năm. Tau số con rệp, chắc phải đi Thủ Đức rồi ra tác chiến quá.
Tôi an ủi V.:
- Đời chẳng biết đâu mà mò, nếu tau làm hồ sơ đi lính theo diện giáo chức 9 tuần, thì nay chắc tau cũng về dạy lại rồi. Bây giờ tau vào đây không biết tương lai thế nào, thôi kệ, đến đâu hay đến đó.
V. tâm sự:
- Tau vì dạy tiểu học theo ngạch công nhựt, nên tau cũng sợ làm đơn đi theo diện giáo chức không được, nên tau thi vào đây. Bây giờ bị loại nên lo lắng lắm.
Tôi lên gân, khuyên răn, triết lý vụn:
- Thôi, lo lắng mà chi. Đời ai cũng có số cả. Mày đừng bi quan.

Chúng tôi, hai thằng lính mới, chơi mỗi đứa khoảng (gần) 5 chai bia, nên thấy ngất ngư, ngất ngưỡng, "lắc lư con tàu đi". Tàn cuộc, chúng tôi dìu nhau về phòng, leo lên giường bước thấp bước cao, hai lần, ba lượt mới nằm xuống nệm được.

Hôm sau, V. có lệnh gọn gàng, được chuyển đi nơi khác. Từ đó đến nay tôi chưa gặp lại V. Nhưng nghe tin qua bạn bè, sau khi qua Thủ Đức, V. lại làm hồ sơ đi học 9 tuần. V. được chấp nhận trở về làm nghề "gõ đầu trẻ". Hiện bây giờ nghe nói V. ở đâu tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu.

Ở đây, trại Nguyễn Tri Phương một tuần nữa. Sau đó, chúng tôi gọn gàng quân trang quân dụng, chuyển qua TT/HL/Quang Trung. Chúng tôi, dân CTCT, khoảng trên dưới 200 người được thành lập một đại đội. Đó là đại đội 92 thuộc tiểu đoàn Nguyễn Huệ. Tiểu đoàn Nguyễn Huệ do thiếu tá Trần Văn Hiến chỉ huy. Đại đội 92 của chúng tôi do trung úy Trần Thế Phong làm đại đội trưởng. Có các sĩ quan như chuẩn úy Cường, thiếu úy Bình làm trung đội trưởng. Mới vô lính, nên thấy chuẩn úy Cường "dợt le", nói dốc về chuyện lính tráng, tôi rất nễ mặt.

Tiểu đoàn Nguyễn Huệ được coi là tiểu đoàn hắc ám nhất TT/HL/QT. Và ĐĐ 92 là đại đội mẫu, nên dược cấp tiểu đoàn chiếu cố rất nhiều. 

Xin nói thêm là trước đây, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung chỉ lo huấn luyện tân binh cho quân đội. Sau khi thụ huấn chín tuần, các tân binh có thể được phân phối về các đơn vị, là các sư đoàn bộ binh trên toàn miền nam. Đến tháng 1.1968, luật Tổng Động Viên chi phối nên động viên rất nhiều thanh niên vào Thủ Đức, Thủ Đức lại không đủ tài lực để đào tạo, nên các thanh niên phải qua lò Quang Trung học giai đọan 1/9 tuần.

Qua đây chúng tôi được trang bị thêm một khẩu súng Garant và đạn. Chúng tôi bắt đầu học làm lính, qua xử dụng các loại vũ khí đơn giản, như học cách tác xạ súng, ngắm bắn nhìn theo đỉnh đầu ruồi, học cách đâm lưỡi lê, học bắn đạn thật ở các bãi tập.

Về cơ bản thao diễn, học cách chào tay, đi đều hàng, cách cầm súng đi trong hàng. Mỗi sáng phải thức dậy lúc 5 giờ, chạy ra sân tập thể dục khoảng 15 phút, rồi mới vào phòng lãnh đồ ăn sáng. Xong đến khoảng 7 giờ là đã gọn gàng, ra tập họp đi học ở các bãi tập theo thời khóa biểu. Trời Hốc Môn lúc nào cũng nóng như đổ lửa, mà buổi trưa đi bãi về, có thiếu tá Trần Văn Hiến ra coi, quan sát đại đội đi có đều hàng không? Nếu không đều hàng thì sẽ bị phạt đi hai, ba vòng doanh trại, ai cũng le lưỡi vì mệt.

Xong, chúng tôi mới được tan hàng, về doanh trại, xếp hàng đi xuống nhà bếp lãnh cơm ăn. Thức ăn với gạo đỏ và thường thì với cá mối, một chén canh cải...Thế thôi. Dù thức ăn không ngon, nhưng vì đói, với sức trai tráng ngồn ngộn...Chúng tôi ăn như tằm ăn lên, nhiều khi nhà bếp sạch sành sanh.

Thời gian 9 tuần thụ huấn ở Quang Trung, Nhân dịp Xuân 1968-1969, Khối Chiến Tranh Chính Trị  có thực hiện một đặc san lấy tên Đống Đa, kêu gọi các khóa sinh viết bài. Tôi cũng hì hục cố gắng viết một bài và đã được đăng. Sau khi đặc san phát hành, tôi đọc thấy có nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang cũng có viết bài (khóa 9.68). Nhạc sĩ Quang đi theo nhóm tốt nghiệp Chính Trị Kinh Doanh.

Tôi cũng đọc được một bài của Phạm Nhã Uyên, tức anh Phạm Tuế, cùng khóa CTCT với tôi. Giao tiếp nhau vì biết Phạm Tuế tức Phạm Nhã Uyên hay làm thơ, nên tôi lân la tiếp xúc, và khá thân nhau khi lên trường Đà Lạt.
 
Về Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung có nhạc sĩ Mộng Long, sáng tác bản nhạc "9 tuần Quang Trung". Bản nhạc lính sến sịa, nhưng khi nghe cũng vui, như một kỷ niệm. Nội dung bài hát cho thấy một lớp thanh niên đang sống trong những lo âu, khi học xong Quang Trung, là  ra tác chiến ở các vùng như hỏa tuyến (Vùng 1) hay cao nguyên  (Vùng 2):
 
Còn đêm nay cuối cùng vui hết đi anh!
Sáng mai từ giã khổ đau vui buồn
Kỷ niệm Quang Trung da mềm nắng cháy
Qua chín tuần phong sương.

Mình cho nhau kỷ niệm thắp sáng đêm nay
Sớm mai mỗi đứa ra đi một miền
Anh về cao nguyên tôi vùng hoả tuyến
Chúc nhau lời bình yên.
 
Và bản "Tình bạn Quang Trung", của Hoài Nam, sau này nghe Trường Vũ ca, tôi nghe ướt át, sến chảy nước ra. Tuy là nhạc lính, nhưng đầy nỗi bi thương, kỷ niệm nhau chỉ còn một tấm hình:
 
Mình vui đêm nay, rồi mai chia tay mỗi người đi một ngã
Từ giã Quang Trung, anh ra vùng hoa tuyến, tôi về miền cao nguyên.
Ba tháng quân trường quyến luyến, giờ sắp chia tay
Ta trao nhau gì đây?
Khi đôi mình là lính, chỉ còn một tấm hình
Tặng nhau làm quà, kỷ niệm giữa tình ta

Học xong 9 tuần ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, chúng tôi chuẩn bị khăn gói về quân trường Đà Lạt, theo sự hướng dẫn của trung úy Nguyễn Tâm Miên.


                                                                    Trần Yên Hòa
                                                                                                                (còn tiếp)

                                   * 


                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

 
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, September 18, 20207:23 AM(View: 217)
Trước khi đi lính, tôi cũng đã nghe nhiều người kể chuyện, đi Sĩ Quan Đà Lạt bị huấn nhục dữ dội lắm, tôi chưa biết được nên không tưởng tượng nổi, đến khi tụi tôi dừng xe tại cổng Anh Đào, đứa nào đứa nấy cũng lê thê lếch thếch vì đi đường mệt mỏi, tuy ''đi máy bay quân sự'' nhưng chỉ được ''ngồi trên sàn'' nên ai nấy cũng nhừ người, lại thêm những quân trang quân dụng mang theo như balô, nón sắt,''sac marin'' nặng trĩu áo quần, vật dụng, nên khi xuống xe GMC, các Niên Trưởng khóa 1, quần áo kaki vàng, bê rê xanh đậm, phu-la xanh, thắt dây lưng cổ truyền, ra dàn hàng ngang đứng đón là tôi thấy mệt xỉu rồi. Khi các niên trưởng hô,''các anh bắt đầu chạy theo tôi'' tôi ôm xắc ma-ranh, vai mang ba- lô và chạy. Ơi những hòn đá cuội bên đường, ơi những đồi thông, ơi ''những hoa mộng'' như Đồi Cù, Rừng Ái Ân, Thung Lũng Tình Yêu ở đâu không thấy, chỉ thấy trước mắt tôi là bạn bè đang tơi tả. Từng tốp Niên Trưởng chia nhau ra ''quần'' chúng tôi, hết tốp nầy đến tốp khác, nhiều lúc mệt quá
Tuesday, September 15, 20207:32 PM(View: 192)
Nhật Tiến cầm bút rất sớm, từ thuở học sinh đã mơ làm văn sĩ, lập bút nhóm có tên là Gieo Sống, có truyện ngắn đầu tay Chiếc nhẫn mặt ngọc được đăng trên báo Giang Sơn, năm ấy Nhật Tiến mới 15 tuổi. Di cư vào Nam năm 1954; ban đầu sống ở Đà Lạt, Nhật Tiến viết kịch truyền thanh cho Đài tiếng nói Ngự Lâm Quân (thời còn Hoàng Triều Cương Thổ). Ít lâu sau đó, gia đình Nhật Tiến dọn về Sài Gòn. Không tốt nghiệp trường sư phạm nào nhưng năm 21 tuổi anh đã bắt đầu đi dạy học môn Lý Hoá tại các trường trung học tư thục, ban đầu ở các tỉnh Miền Tây như Bến Tre, Mỹ Tho ba năm sau đó mới về sống hẳn ở Sài Gòn. Truyện dài đầu tay Những người áo trắng được khởi viết và hoàn tất khi Nhật Tiến đang còn là một thầy giáo tỉnh lẻ. Tới Mỹ, không còn sống bằng nghề dạy học, Nhật Tiến đi học về máy điện toán/ hardware và sau đó làm cho một hãng Nhật đủ 15 năm trước khi nghỉ hưu. Tại hải ngoại, Nhật Tiến tiếp tục viết và xuất bản sách, sinh hoạt Hướng Đạo, hoạt động cứu trợ thuyền nhân. Hiện cư ngụ ở
Monday, September 14, 20206:43 AM(View: 502)
Những buổi chiều sau khi đi học quân sự ở trường Võ Bị Quốc Gia về, hay các buổi học Văn Hóa trên Đại Giảng Đường về, chúng tôi được sắp hàng ngay ngắn để vào Phạn Xá để ăn cơm chiều. Tôi không hiểu chữ Phạn Xá lấy ở đâu ra. Phạn có nghĩa là ăn (có lẽ thế). Phạn Xá là Phòng Ăn. Nhưng dùng chữ Phạn Xá (có lẽ) nó lạ hơn, trang trọng hơn, nó cho người nghe có cảm giác mình vào ăn ở một căn phòng sang trọng. (hay đại tá Lâm Ngươn Tánh là người Việt gốc Hoa nên muốn dùng chữ Tàu cho có vẽ kiểu cách). Thật ra Phạn Xá của trường cũng chẳng có gì sang trọng. Căn phòng lớn, lợp bằng ngói micro ximăng màu xám, thềm tam cấp bước vào Phạn Xá cũng bằng xi măng. Nơi phòng ăn này cũng là một nơi các niên trưởng đã "huấn nhục" tụi tôi bằng mọi cách, như đem những bức thư tình từ các "nàng" ở các miền quê gởi lên thăm các chàng ở đây. Bức thư được đọc lên cho mọi người cùng nghe và "người nhận thư" phải giải thích mọi điều trong thư, cho các niên trưởng nghe và các anh em học viên cùng nghe. Có khi
Tuesday, September 8, 20208:43 PM(View: 374)
Anh em SVSQ nghe tin ông đi cũng thở phào nhẹ nhỏm, bởi vì ông là một chỉ huy trưởng rất "rết lô", nói theo nghĩa bình thường là ông khám súng, khám doanh trại, khám rất kỹ, nhưng về chiến thuật bộ binh, thì ông không biết gì, để đến nỗi, khi địch đánh vào trường khiến hơn 40 tu sĩ tuyên úy Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và một số SVSQ Khóa 2 chết. Xác của họ đã được bỏ vô hòm, chất đầy cả đại giảng đường, thật là những ngày bi thảm. Nhưng rút cuộc rồi ông cũng ung dung thăng chức tướng và đi nhận nhiệm vụ mới, ngon lành. Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh là một đại tá Bộ Binh. Ông xuất thân Khóa 4 trường Võ Bị Quốc Gia. Đọc trong bản tiểu sử, đại tá Quỳnh đã từng là tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu...Đại khái là Đại tá Quỳnh cũng đã giữ một số chức vụ quan trọng trong thời gian trước đây. Nên khi ông về làm chỉ huy trưởng, đám SVSQ chúng tôi vui hơn. Trong cách giao tiếp, ông rất thoải mái, tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn giữ lòng kính trọng ông.
Friday, September 4, 20207:03 AM(View: 299)
Thiền Sư Nhất Hạnh sinh năm 1926, đã 94 tuổi đời, 78 tuổi đạo, 60 năm rong ruổi Đường Xưa Mây Trắng, hiện đã trở lại chùa Từ Hiếu, nơi khởi nghiệp, chờ ngày viên tịch. Đời thế gian đã khép lại, mọi bỉ thử của thế gian cũng trôi đi theo luật vô thường, cái còn lại là hào quang trí tuệ sắc bén, một luồng giác âm vang vọng Đông Tây, một vết chân tinh tiến đầy nghị lực… Người sau, dù là Phật tử hay không, dù Tây hay Ta, dù tả hay hữu, đã là trí thức, muốn tỉnh thức, muốn tu luyện Tâm Thân, muốn giải thoát khỏi hờn giận đau thương của cuộc sống, không thể không đọc sách, không thể không nghe video ghi âm thuyết pháp Nhất Hạnh , và càng đọc, càng nghe, càng sực tỉnh, càng hiểu chính mình hơn, càng sáng nghĩa hơn. Thời 1950-60 kinh sách thì ít ỏi mà sách bàn về Đạo Phật thì nhiều : Mở đầu với cuốn Phật Giáo Đại Quan của Phạm Quỳnh, Phật Lục của Trần Trọng Kim... thời tiền chiến, tiếp nối với các sách vở rất thâm hậu của học giả Nguyễn Đăng Thục, Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Đoàn Trung Còn,