DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,375,791

HOÀNG LÂM - Hành Trình Bài Thơ “TÀU ĐÊM”

Friday, August 28, 202012:11 PM(View: 372)
HOÀNG LÂM - Hành Trình Bài Thơ “TÀU ĐÊM”
                                        Hành Trình Bài Thơ
                    “TÀU ĐÊM”

Ta về một bóng trên đường lớn“ Tô Thùy Yên (1938 - 2019)

Giữa năm 1979 tôi và các bạn tù phải di chuyển từ Phước Bình về Trại Z.30C, Căn cứ 6, Hàm Tân. Bắt đầu từ đây chúng tôi được giao cho Công an đặc trách, không còn thuộc Quân quản nữa. Trại này gồm 2 khu: A và B cách nhau một con suối. Tôi được đưa vào khu A. Có lẽ là cấp bậc nhỏ và không thuộc diện “ác ôn” nên tôi được vào đội làm việc bên ngoài như đốn củi, chặt tre… tương đối được nới lõng.

Mỗi buổi sáng phải ra khỏi phòng tập trung tại sân trại để phân việc làm lúc 7:30 và mỗi chiều trở về trại lúc 4:30. Trước khi về trại sẽ được tới suối tập trung tắm rửa. Kiếp tù cứ lặng lẽ trôi qua.

Đến tháng 8 năm 1980 chúng tôi được nghe sẽ có các toán tù từ miền Bắc đến đây, được bố trí ở khu B bên kia suối. Rồi một ngày giữa tháng 8 tôi được anh phụ trách thư viện trong trại, một người cháu của thi sĩ BÙI GIÁNG cho biết đoàn tù từ miền Bắc chuyển đến có thi sĩ TÔ THÙY YÊN trong đó.

Rồi đến một buổi chiều sau giờ lao động, được đến suối tắm tôi len lõi đến đội của những người tù từ miền Bắc chuyển đến cũng đang tại suối tắm rửa để hỏi tìm Anh TÔ THÙY YÊN. Khi đến hỏi thăm, một anh trả lời: Tiên nào, Tiên thi sĩ hả? ( tên thật của thi sĩ là ĐINH THÀNH TIÊN ). Anh ta bảo tôi chờ, rồi bỏ đi không lâu  trở lại với một người nữa, tôi đoán là thi sĩ TÔ THÙY YÊN hay đúng hơn là người tù cải tạo , thiếu tá ĐINH THÀNH TIÊN của Quân Lực VNCH. Anh có dáng dấp trung bình, gầy nhom như mọi người tù sĩ quan miền Nam. Anh nhìn thẳng và cất tiếng hỏi: Cậu tìm tôi? Tôi có trả lời là người hâm mộ thơ anh từ lâu nay, nghe có anh trong đoàn tù từ miền Bắc chuyển về nên muốn gặp. Chúng tôi trò chuyện và làm thân nhau thật mau. Từ buổi chiều đó, tôi thường gặp anh nơi bãi suối sau giờ lao động để trò chuyện về sinh hoạt hiện thời cũng như được anh chia sẻ kinh nghiệm về sáng tác. Vì tôi đi lao động bên ngoài nên thường gom được cành khô từ những cây phải đốn mỗi ngày hoặc những sóng lá buông làm củi để mỗi chủ nhật có cái làm bếp nấu trà hoặc thức ăn do gia đình thăm nuôi. Do đó một hai bữa tôi đưa cho anh một ít để sử dụng vì lao động bên trong trại làm sao có cây, cành khô làm củi.

Cuộc sống trong trại tù cứ cứ tiếp tục diễn ra một cách nhàm chán và khó khăn. Điều mong mỏi nhất là được đọc tên thả về mỗi sáng tập họp tại sân trước khi đi lao động. Rồi một buổi sáng thứ sáu ngày 7 tháng 11 năm 1980 trong khi chờ phân công tác lao động, khi đọc danh sách những người tù cải tạo được thả  có tên tôi trong đó. Buổi chiều hôm đó tại bãi suối tôi báo tin cho anh để cùng chia sẻ niềm vui. Từ buổi sau đó tôi và những người có tên trong đợt thả được chuyển sang một phòng khác để chuẩn bị các thủ tục ra về nhưng vẫn đi lao động bình thường. Chiều hôm sau như thường lệ tôi cũng gặp anh ở bãi suối. Lần này anh đưa cho tôi một tờ giấy và cẩn thận nói: Đây là bài thơ mới viết, cậu có thể đem về cho gia đình tôi để giữ. Anh cũng cho tôi địa chỉ nhà ở GÒ VẤP gần ngay Cầu Hang. Khi trở về phòng tôi cẩn thận lấy tờ giấy do anh đưa, đó là tờ giấy dầu màu vàng thường để gói đồ cho khách hàng ở các tiệm tạp hóa hay ở ngoài chợ, đã chi chit chữ viết bài thơ bảy chữ TÀU ĐÊM. Tôi hứng thú đọc.

Sau đó nghĩ cách dấu và làm sao đem ra khỏi trại giam khi được thả về. Ban đầu tôi tính nhét giữa mặt sau ba lô tự chế bằng bao cát loại ny long có màu xanh áo lính của quân đội. Nhưng qua một đêm suy tính tôi quyết định đọc cho thuộc bài thơ rồi đốt bỏ tờ giấy đi vì vẫn sợ bị khám xét khi ra trại. Nếu bị khám phá thì rắc rối lớn. Cuối cùng, sáng ngày 15 tháng 11 năm 1980 lúc 9; 30 sáng tôi được phép rời trại để về nhà. Dù ra khỏi trại, tôi vẫn mặc chiếc áo tù màu xanh lam chứ không thay đồ dân sự mang theo khi trình diện đi “ học tập cải tạo “. Tôi đứng đón xe đò từ hướng ngã ba Ông Đồn chạy đến. Khi lên xe, tài xế cũng như lơ xe đều không lấy tiền , chắc hẳn biết chúng tôi là tù cải tạo. Về tới Sài Gòn lúc 2:00 giờ chiều. Tôi vẫn mang cái ba lô làm bằng bao cát đi bộ từ bến xe về nhà cũng khá xa. Nhà tôi trước đây là hảng sữa nhập cảng NESTLÉ số 35-37 đường Công Lý bấy giờ đã bị trưng dụng làm Sở Ăn Uống Thành Phố. Gia đình tôi ở tầng 3, nhưng phải đi lên bằng cầu thang trôn ốc phía sau vì mặt trước, tầng trệt, tầng 1 và tầng 2 đã bị chiếm dụng.

Bước vào nhà, mẹ tôi đã ôm tôi khóc. Tôi đã về nhà sau 5 năm 5 tháng 10 ngày từ những trại tù CS Trảng Lớn, Phước Bình và Hàm Tân. Sau khi ăn buổi cơm chiều xum họp cùng gia đình, tôi vào phòng nghỉ ngơi. Trong đêm tôi lấy giấy viết ghi lại bài thơ thành hai bản vì sợ để lâu sẽ quên . Sáng hôm sau tôi lên phường công an trình diện. Xong, tôi lấy xe đạp tìm nhà anh tại Gò Vấp. Đây là một căn nhà trệt có bề ngang rộng, có một hồ bonsai nhỏ có trồng vài loại cây trong đó có cây bông sứ ( nếu trí nhớ tôi còn thấp thoáng ) trước, xung quanh sân. Lúc tôi đến, trong nhà chỉ có Chị Bích, vợ anh hiện diện. Tôi trình bày cùng chị sự quen thân với anh từ trại tù Z.30C, Căn cứ 6 Hàm Tân và những lời dặn dò riêng tư của anh trong đợt thăm nuôi sắp đến và cẩn thận trao lại bài thơ TÀU ĐÊM của anh. Tôi không ở lại lâu vì không tiện với tình hình khá nhạy cảm của chúng tôi. Khi về tôi có hẹn sẽ đến sau một vài ngày nữa để trò chuyện nhiều hơn…
 
Dưới đây là bản chép tay đầu tiên của bài thơ TÀU ĐÊM mà tôi còn giữ và chép lại. Chúng ta sẽ thấy trong bản này có vài chử chưa chỉnh sửa và một vài đoạn đã bỏ đi khi chính thức ấn hành thành sách như hiện nay đang phổ biến.
 
 
TÀU ĐÊM
 
Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi
Lúc đó, sao trời đã ngủ mê
Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy
Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi

Thức dậy, những ai còn sống đó
Nhìn ra nhớ lấy phút giây này
Tàu đi như một cơn giông lửa
Cuồn cuộn sao từ ống khói bay

Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm
Dàn ra một ảo tượng im lìm
Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt
Sáng ít làm đêm tối tối thêm

Bến cảng, nhà kho, những dạng cây...
Chưa quen mà đã giã từ ngay
Dẫu sao cũng một lần tan hợp
Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc
Đèn bão mờ soi chẳng rõ ai
Ta gọi bàng hoàng ta thất lạc
Ta còn chẳng đủ nửa ta đây

Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ
Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?
Mai này xô giạt về đâu nữa?
Đất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!

Đất lạ, người ta sống thế nào?
Trong lòng có sáng những trăng sao
Có buồn bã lúc mùa trăn trở
Có xót thương người qua biển dâu?

Tàu đi như một cơn điên đảo
Sắt thép kinh hoàng va đập nhau
Ta tưởng chừng nghe thời đại động
Xô đi ầm ĩ một cơn đau

Ta nghe rêm nhức thân tàn rạc
Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau
Nghe cả hồn ta bị cán nghiến
Trên đường lịch sử sắt tuôn mau

Tàu đi những chấn động hung hãn
Búa bổ đầu ta đau dại ngây
Có lúc dường như ta khóc ngất
Ôi đời đã kiệt sức buông tay
 
Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ
Lờ mờ như nhớ lại tiền thân
Đời ta khi trước vui vầy thế
Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan
 
Đem thân làm gã tù lưu xứ
Xí xóa đời ta với đất trời
Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu
Đau lòng khi
chợt thấy mây trôi
 
Làm sao chợp mắt được đêm nay
Khi cả đời ta rộn chuyển dời
Khi cả hồn ta vang tiếng hú
Tàu ơi có kéo hết bi ai

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi
Trong chuyển dời xung xát bạo tàn
Ta trở thành than, thành súc vật
Tiếng người e cũng đã quên ngang

Hình như ta chợt khóc đau đớn
Lệ nóng cường toan cháy ruột gan
Lệ chảy không ra ngoài mí mắt
Nghẹn ngào đến cả tiếng than van

Giá ta có được một hơi thuốc
Dẫu chỉ là hơi thuốc mốc thôi
Để phả cho hồn ấm tỉnh lại
Để nghe còn sự sống trên môi

Đã mấy năm nay quằn quại đói
Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo
Mẹ ơi, con nhớ thời thơ dại
Nhớ miếng ăn mà mẹ chắt chiu

Thèm ơi một bữa cơm đầm ấm
Bên ánh đèn đoàn tụ vợ con
Chia xẻ chút tình cay mặn cũ
Miếng không ngon cũng lấy làm ngon

Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép
Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa
Lịch sử dường như rất vội vã
Tàu không đỗ lại các ga qua

Ô, những nhà ga rất cổ xưa
Dường như ta đã thấy bao giờ
Đến nay, người giữ ga còn đứng
Đèn bão đong đưa chút sáng mờ

Tàu qua những ruộng đồng châu thổ
Hiu hắt làng xa mấy chấm đèn
Đêm ở nơi đây buồn lặng lặng
Cái buồn trải nặng mặt bằng đen

Hỡi cô con gái trăng mười bốn
Đêm có nằm mơ những hội xuân
Đời có chăng lần cam dối mẹ
Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Có lúc tàu qua những chiếc cầu
Sầm sầm những nhịp động đều nhau
Dưới kia con nước còn thao thức
Bát ngát dềnh lên bãi sậy sầu

Có lúc tàu qua những thị trấn
Mà đêm đã gói lại im lìm
Tàu qua, âu cũng là thông lệ
Nên chẳng ai buồn hé cửa xem

Ôi những nỗi sầu vô dạng ấy
Gọi ta về với những đêm vui...
Ở đâu đèn sáng như châu ngọc
Thành phố người chen v
nói cười

ờn ai mộng ảo đèn hoa kết
Yến tiệc bày trong những khóm cây
Ta rót mừng em ly rượu đỏ...
Mà thôi… chớ nhớ nữa, lòng ơi

Mà thôi, hãy nuốt lệ còn đọng
Tỉnh thức, lòng ơi, nhìn tận tường
Thời đại đang đi từng mảng lớn
Rào rào những cụm khói miên man

Người bạn đường kia chắc vẫn thức
Mong tàu đi đến chỗ đêm tan
Có nghe lịch sử mài thê thiết
Cho sáng lên đời đã rỉ han

Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối...
Loài người,
xin hãy thức cùng nhau

1980

 
 
                                                                         Hoàng Lâm
                                                                               (AZ, USA)
                                                                     (Nguyễn Thanh Châu gởi)

                                                                                   *

                                                      Giới Thiệu Sách Mới: Bi Kịch Bản - Truyện dài Trần Yên Hòa

                                  *
                                    Acacia  Pharmacy

11033 Acacia Parkway

Garden Grove, CA 92840

Tel: 714 982-6979

Fax: 714 - 982-9307

Cindy Y. Tran, Pharm. D

Trân Trọng Kính Mời

Quý độc giả và thân hữu (Orange County) đến mua thuốc ủng hộ

Thanks

scan_pic0035_0-content
hoa_72-content

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, September 19, 202010:01 AM(View: 52)
Mặc dù tên tuổi Nhật Tiến gắn liền với tên tuổi thân phụ tôi, nhà văn Nhất Linh, nhưng trái với nhiều người nghĩ tôi hầu như không quen biết nhà văn Nhật Tiến. Tôi chỉ gặp anh đúng hai lần trong đời, do tình cờ. Hai lần ấy cũng xa lắm rồi.
Tuesday, September 15, 20206:43 PM(View: 168)
(h.PPM) Vào ngày 16 tháng Tám năm 2004, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời
Saturday, September 12, 20207:41 AM(View: 204)
Hoàng Hải Thủy còn có những bút hiệu: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn…
Wednesday, September 9, 20207:09 PM(View: 185)
Hồi 1982, khi cuốn Thủy mộ quan vừa xuất bản, đọc sách xong, nhân dịp viết thư cho Thanh Nam, tôi thắc mắc: Có bài thơ hay tôi đã biết qua, không hiểu sao Viên Linh loại bỏ không cho vào thi tập này, uổng quá. Chẳng hạn bài “Nhớ Sài Gòn”
Saturday, September 5, 20207:25 PM(View: 263)
Những năm 1965-1975 là thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất, cũng là giai đoạn bùng nổ của văn học miền Nam với nhiều khuynh hướng, trường phái văn học, từ cực hữu đến thiên tả