DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,483,780

Đỗ Tiến Đức

Tuesday, January 3, 201212:00 AM(View: 29663)
Đỗ Tiến Đức
Đỗ Tiến Đức



dotienduc

nhà văn Đỗ Tiến Đức


Sinh ngày 11 tháng 10 năm 1939.
tại Sơn Tây. vào Nam năm 1954.
Sang Hoa Kỳ từ tháng 6-1979.
Hiện sống tại Los Angeles California.
Hoạt trong lãnh vực điện ảnh và văn học.
Sáng lập
Đi học điện ảnh Minh Đức.
Được giải văn học nghệ thuật toàn quốc
năm 1969 (với truyện dài Má Hồng)
Chủ trương tạp chí Tiểu Thuyết Nguyệt San.
Chủ nhiệm & chủ bút báo Thời Luận.

Các phim đã đạo diễn:

  • Ngọc Lan
  • Giỡn Mặt Tử Thần

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Má Hồng (truyện dài 1968)
  • Vầng Trăng Trong Mưa (truyện ngắn 1994)
  • Và nhiều nữa...

Đỗ Tiến Đức với tác phẩm mới nhất "Tiếng Xưa"


V
ĩnh Liêm


Tôi vừa nhận được một món quà trước ngày lễ mừng Độc Lập của Hoa Kỳ, đó là cuốn tuyển tập truyện ngắn "Tiếng Xưa" của nhà văn Đỗ Tiến Đức. Nhân ngày lễ nên tôi mới có dịp đọc hết cuốn Tiếng Xưa. Cũng như tám năm về trước, khi nhận được tập truyện "Vầng Trăng Trong Mưa" (in năm 1993) của nhà văn Đỗ Tiến Đức, tôi đã phải đọc ngay và đọc hết cuốn truyện trong một ngày cuối tuần. Với tôi, truyện và thơ là hai món quà tinh thần trân qúi nên phải đọc ngay. Hơn thế nữa, tôi rất thích đọc truyện của nhà văn Đỗ Tiến Đức, vì những câu chuyện được xây dựng rất gần gũi với người đọc. Và nay, cuốn Tiếng Xưa lại gần gũi hơn vì đề tài xoay quanh người Việt tị nạn.


Tập truyện Tiếng Xưa dày 314 trang, bìa in màu, giá 15 Mỹ kim. Tác phẩm không có mục lục (tác giả quên hay cố tình quên?) nên người đọc phải tự tìm lấy. Tiếng Xưa gồm có 6 truyện, xin ghi lai theo thứ tự như sau: Bên Kia Sông (trang 6), An Nhi (trang 89), Một Tiếng Em (trang 139), Im Lặng Của Lửa (trang 169), Ngàn Thương (trang 198), và Tiếng Xưa (trang 241). Truyện Bên Kia Sông và Tiếng Xưa là hai truyện dài nhất. Các truyện còn lại thì dài trung bình. Không có truyện nào ngắn nhất. Người đọc có cảm tưởng là mỗi một truyện của Tiếng Xưa là một truyện dài được cô đọng lại. Có nghĩa là tác giả có thể kéo dài cái truyện đó ra để trở thành một truyện dài theo ý muốn mà không làm cho cái truyện đó thiếu sự hấp dẫn và lôi cuốn độc giả.

"Bên Kia Sông" được diễn ra tại Hoa Thịnh Đốn, nơi có sông Potomac, và kết thúc ở Miên. Nhân vật chính xưng tôi là người đã "hoa thơm chơi cả cụm" nên phải qua tận xứ Miên để gặp lại "người tình" (vì lỡ dại) và đứa con rơi. Người tình đó chính là cô em vợ tên Hân. Khi gặp lại người tình, tưởng đã gặp được con (tên Daisy) nhưng không ngờ đứa con đã bị bắt cóc. Thế là có một cuộc hành trình dài và gian khổ đi tìm chuộc lại đứa con. Tại sao Daisy bị bắt cóc? Ai hay tổ chức nào đã bắt cóc Daisy? Họ bắt cóc Daisy nhằm mục đích gì? Cái hay của tác giả là đã trả lời đầy đủ ba câu hỏi hóc búa ấy.

Khi tả sắc đẹp của Hân, tác giả viết: "Ba chúng tôi sống chung trong cảnh hòa thuận và hầu như tôi quên hẳn Hân là một cô gái, có lẽ vì nàng xấu xí quá nên ngay cả khi đụng chạm, ôm nhau, hay thấy nàng ăn mặc hở hang cũng không gây cho tôi một cảm xúc nào do sự khác phái tính." (trang 15 & 16) Thế thì tại sao lại có sự lẹo tẹo gây ra rắc rối như thế? Chẳng qua vì Hân bị bệnh nên ông anh rể cạo gió cho cô em vợ và sẵn dịp "làm thịt" nàng luôn (phá trinh). Đoạn gay cấn này được tác giả diễn tả như sau:

"Hân cựa mình, với tay lấy hộp dầu cù là và đồng 25 xu để sẵn trên đầu giường, đưa cho tôi, rồi nàng nằ? xấp xuống vừa kéo chiếc áo lên cao để lộ mảng lưng đầy đặn trắng mát trước mặt tôi. Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy ở người con gái này toát ra chất kích thích đầy nữ tính. Và đây cũng là lần đầu tiên tôi bắt gặp tôi khi đụng chạm vào Hân mà lòng tôi dâng lên một cảm giác thèm muốn háo hức. Ngón tay tôi ướt dầu cầm đồng tiền cạo gió cho Hân, và tôi chợt nhận ra tôi đã cố tình chà quét những ngón tay tôi lên lưng Hân, tạo nên sự đụng chạm khêu gợi. Còn mắt tôi như đã dính vào bầu vú nàng vì bị ép xuống mặt giường nên phồng cương thành một khối như chiếc bánh dầy quá khổ bằng nếp đầu mùa trắng muốt."

"Rồi vào một phút thật bất ngờ ngoài sự kiểm soát của tôi, bàn tay tôi từ trên lưng Hân đã lao xuống, đã sờ, đã đụng vào cái bánh dày đó. Hân vẫn gục mặt trên gối, nhưng tôi thấy nàng không biểu lộ một động tác chống cự nào mà dường như, không biết tôi có chủ quan hay không, thấy thân thể nàng hơi cong lên như để tạo cơ hội cho bàn tay tôi xâm chiếm trọn hai bầu vú của nàng. Và rồi, tôi đã đè Hân ra, không một lời, tự mình hùng hục thỏa mãn cơn đòi hỏi đầy thú tính." 

"Tôi xin nói rất thành thật rằng lúc đó tôi không yêu Hân. Tôi đã phá trinh Hân chỉ vì cơn điên cuồng của một người đàn ông trẻ, khỏe mạnh, nhất là đang sung sức vì đã một tháng không được gần đàn bà. Đầu óc tôi sau đó chỉ lẩn quẩn bào chữa, rằng tại sao Hân không chống cự tôi? Có phải Hân không chống cự tức là Hân bằng lòng? Mà theo tôi thì Hân bằng lòng cũng phải, vì nàng đã ngoài ba chục tuổi mà chưa biết tình dục là gì nên tự nhiên là phải thèm khát. Nghĩ như thế nên tôi tìm được sự thanh thản để tiếp tục gần gũi xác thịt Hân mỗi khi Linh vắng nhà." (trang 18 & 19)

Những tình tiết trong tập truyện Tiếng Xưa thật là éo le và gay cấn. Truyện "An Nhi" cũng là một sự éo le mà tác giả đã thêm thắt thật là uyển chuyển và tế nhị. Một nhân vật HO ở Mỹ được đứa con trai đem một người bạn gái về giới thiệu với bố. Cô bé nầy gốc Đài Loan (mẹ Đài Loan, cha Việt Nam). Người mẹ vì nghèo nên phải bán trôn nuôi miệng. Ông bố (mặc dù cô bé chưa hề biết mặt) là một nhân vật khá lớn của nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Nhân chuyến công du ở Đài Bắc, ông đã được phái đoàn (người Việt gốc Hoa) trả ơn bằng cách mướn An Kỳ, tức mẹ của An Nhi sau này, làm người chiêu đãi ông trong suốt thời gian công tác ở Đài Bắc. Thế rồi việc gì phải xảy ra đã xảy ra. An Kỳ thụ thai. Mặc dù sau đó An Kỳ có lặn lội qua Sài Gòn tìm người yêu của những đêm ngắn ngủi ở Đài Bắc, nhưng nhân vật này đã có gia đình hẳn hoi nên không giải quyết được gì cả. Thế là An Kỳ phải trở lại Đài Bắc, sống trong sự nghèo túng, tận tụy dưỡng nuôi An Nhi hầu trở thành người hữu dụng sau này. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhân cơn hồng thủy Biển Đông, An Kỳ lo chạy chọt tiền bạc để ba mẹ con (kể cả anh trai cùng mẹ khác cha của An Nhi) được vào trại tị nạn Hồng Kông và để được đi Mỹ. Mục đích của An Kỳ là tìm cho bằng được bố của An Nhi. Nhưng chẳng may An Kỳ ngã bệnh rồi từ trần.

Theo sự tiết lộ của An Nhi thì các chi tiết quả là đúng và nhân vật trong truyện chính là bố của An Nhi, nhưng ông ta chưa dám nhận ngay. Một hôm An Nhi mời ông đi ăn, chỉ có hai "bác cháu" thôi. Trên đường đi, An Nhi bị tai nạn chết một cách thảm khốc.

Truyện "Một Tiếng Em" là một mẩu chuyện thương tâm của một nhân vật nữ bị chứng bệnh đau tim hành hạ, và cũng là đầu mối của một cuộc ngoại tình của nam giới trong vòng đai tị nạn. Nhân vật nam là một bác sĩ, tên Phillip Vũ, và người tình tên Lan Hương, cũng là bệnh nhân của Bác sĩ Vũ. Ông bác sĩ đa tình này đã tả về người đẹp Lan Hương như sau:

"Theo thời gian, tôi ngày một nghĩ nhiều tới Lan Hương. Nếu cho rằng nàng đẹp thì điều này cũng chỉ tương đối. Mãi sau này, khi ăn ở với nhau, tôi mới khám phá ở nàng một vẻ đẹp độc đáo, một vẻ đẹp mà tôi mê mẩn, tôi háo hức, tôi khao khát, vì chỉ có tôi là được thưởng thức. Đó là sau giây phút sung sướng, đôi mắt Lan Hương từ từ nhướng lên như cánh bướm rung động trong giây phút ra khỏi chiếc kén mong manh, như cánh hoa quỳnh mềm mại đang nở ra dưới ánh trăng, như đôi mắt của người đẹp ngủ ngàn năm trong rừng đang từ từ thức dậy vì chàng hoàng tử đang hà những làn hơi ấm áp vào mặt... Tôi nằm trên nàng, quan sát cả khuôn mặt nàng tươi mát, rạng rỡ như mảnh vườn sau cơn mưa xuân, đôi môi nàng hơi hé ra vì nhịp thở dồn dập, mấy chiếc răng trắng muốt lấp ló phía trong như những cánh hoa nhài, chiếc mũi nàng cũng cương lên với hai cánh mũi mọng đỏ phập phồng những khi nàng hít mạnh không khí và xôn xao một âm thanh như gió sớm chạy qua bờ lau hoang vu ở bên dải sông trầm mặc..." (trang 144)

Hai người yêu nhau thật đắm đuối nhưng không thể lấy nhau được vì Vũ đã có vợ và chàng cũng không có ý định thôi vợ để lấy Lan Hương. Còn Lan Hương thì đã thôi chồng nhưng nàng cũng không có ý định cướp chồng của người khác. Thế rồi cơn đau tim cuối cùng đã vật ngã được Lan Hương, đem nàng về bên kia thế giới.

"Im Lặng của Lửa" xoay quanh vấn đề tình yêu và chính trị. Nhân vật chính của truyện là ông Hoàng Hải, cựu nghị sĩ thời đệ nhị Cộng Hòa; còn nhân vật nữ là bà Hoài Nhân, và cũng là chứng nhân của cái chết (tự thiêu) của ông Hoàng Hải. Ông Hoàng Hải gặp bà Hoài Nhân rồi hai người yêu nhau. Bà Hoài Nhân thì góa chồng, còn ông Hoàng Hải thì đang có vợ. Hãy nghe bà Hoài Nhân kể lại mối tình của bà với ông Hoàng Hải như sau:

"Linh cảm của người đàn bà cho tôi hay ông ấy đang tán tỉnh tôi khiến tôi như trẻ lại, tâm hồn tôi tưởng đã héo cằn từ khi chồng tôi mất đột ngột trong đêm ngủ bỗng như một gốc cây vùi trong tuyết đang có những chồi non cựa mình, chui ra khỏi lớp vỏ để vươn lên trong nắng mới. Thú thực, lúc đó tôi chưa thương yêu gì ông ấy. Những lời lẽ, những săn sóc, những món quà của ông ấy mang đến cho tôi chỉ vuốt ve tự ái tôi rằng ít ra nhan sắc tôi cũng còn được một người đàn ông chú ý. Và ngay cả khi để cho ông ấy ôm hôn, tôi cũng vẫn ở trong tâm trạng như vây. Nếu có gì thêm hay khác thì, phải nói rõ rằng từ đáy lòng tôi, dường như tự nhủ rằng thôi thì thân xác mình có gì mà phải giữ nữa, "để đáp lại tấm thịnh tình của qúi vị khán giả", cho ông ấy thỏa mãn thì mình càng có nơi nương tựa, giá rẻ nhất cũng là được giao những hàng dễ may, tiền nhiều và được ăn hủ tiếu nóng khi mệt mỏi." (trang 181 & 182)

Trong lúc hai người đang yêu nhau tha thiết thì tại sao ông Hoàng Hải lại chọn cái chết bằng cách tự thiêu dưới chân tượng Lenin ở Hà Nội? Cũng vì tấm vé số trúng hai trăm ngàn Mỹ kim mà ông Hoàng Hải đã mua cho bà Hoài Nhân. Nhờ tấm vé số này nên cặp tình nhân Hoàng Hải-Hoài Nhân quyết định đi du lịch tại Việt Nam. Tại Chapa, họ gặp đoàn quay phim của Hà Nội. Tên Trọng, chủ nhiệm đoàn quay phim, gặp Hoài Nhân thì mê tít. Hắn gài bẫy để bắt tình và tống tiền Hoài Nhân. Bọn chúng chẳng những đã rút hết tiền trong nhà băng của Hoài Nhân, mà còn tống khứ ông Hoàng Hải về Mỹ và bắt Hoài Nhân ở lại. Có lẽ vì ngán ngẩm trước đòn thâm độc của Cộng sản nên ông Hoàng Hải chuẩn bị cho bà Hoài Nhân về Mỹ trước, còn ông ở lại tự thiêu.

"Ngàn Thương" là một chuyện tình đầy nước mắt. Cặp tình nhân chính trong truyện là Thuần và Bạch Hằng; còn cặp tình nhân phụ trong truyện là Khánh và Hoàng Dung. Thuần gặp Bạch Hằng trong tiệc cưới và rồi hai người mến nhau, yêu nhau. Lúc đó, Thuần đã có vợ, còn Bạch Hằng thì sống độc thân, đúng hơn là một góa phụ. Sáng hôm sau Thuần đến thăm Bạch Hằng tại nhà nàng. Thuần kể lại: "Tôi xúc động trước vẻ đẹp ngái ngủ của Bạch Hằng, ôm vai nàng, khi không thấy nàng chống cự gì, tôi liền tiến thêm một bước, bèn ôm ngang lưng nàng, xiết chặt ngực nàng vào ngược tôi tới độ mà tôi biết chắc chắn rằng nàng không có mang nịt, không áo lót gì hết. Và tôi đã lò tò đi theo Bạch Hằng vào phòng ngủ của nàng." (trang 205). Đã bao nhiêu lần Bạch Hằng quyết định xa lánh Thuần vì nàng biết chắc chắn rằng hai người không thể lấy nhau được, nhưng rồi Thuần vẫn bắt nàng lại cho bằng được. Và cuối cùng, theo lời kể của Bạch Hằng, thì"Cơn khoái lạc tột cùng chiều ngày đó đã bất ngờ để lại trong em một giọt máu của anh." (trang 237)

Chuyện tình của Khánh và Hoàng Dung cũng ngang trái không kém. Cha của Hoàng Dung là một vị Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từng giữ chức vụ tư lệnh quân khu, làm tổng trưởng quốc phòng rồi tổng trưởng kinh tế. Còn cha của Khánh cũng là một ông tướng đang làm Bộ trưởng Quốc Phòng của chế độ Cộng sản. Khánh và Hoàng Dung gặp nhau tại đại học, học chung một ngành (Canh nông) và hai người có chung ước mộng tương lai về đất nước Việt Nam. Nhưng cả hai gia đình đều quyết tâm ngăn cản cuộc hôn phối giữa Hoàng Dung và Khánh. Cuối cùng Khánh và Hoàng Dung chọn con đường "lấy nhau vì tình", có nghĩa là hai người tự làm hôn lễ lấy, rồi cặp tình nhân tình nguyện tới một nước nghèo khó ở Phi Châu để giúp dân nơi đó phát triển nông nghiệp. Khi nào bố mẹ hai bên mãn phần, vợ chồng Khánh sẽ trở về Việt Nam để giúp đồng bào sớm ra khỏi niềm tủi nhục thua kém các dân tộc khác.

Truyện ngắn cuối cùng của tập truyện là "Tiếng Xưa". Đây là truyện chính của tập truyện. Một thiếu phụ với ba mối tình cùng một lúc. Tình cảm và chính trị quyện vào nhau, có thể dựng thành một truyện phim rất ăn khách. Hương tức Marilyn là nhân vật nữ chính trong cốt truyện, là tình địch của Jacqueline. Jacqueline tức Tâm Đan là vợ của Bác sĩ Toại, là bạn học cũ của Hương khi còn ở Việt Nam, nàng rất căm thù Hương vì Hương đã chiếm đoạt Toại. Hoạt là người yêu đầu đời của Hương. Vì Hoạt vô bưng theo Việt Cộng nên hai người không lấy nhau được. Cuối cùng, Hương bị gia đình bắt ép phải lấy Triệu, một sĩ quan trẻ cấp úy.

Tháng 4 năm 1975, Jacqueline theo gia đình di tản sang Mỹ. Hương và Triệu bị kẹt lại. Triệu đi tù mất 3 năm. Hoàn cảnh của Hương lúc bấy giờ rất là túng thiếu. Hoạt trở về thành, nắm giữ một chức vụ khá quan trọng, tiền vô túi đếm không kịp. Hoạt vẫn còn độc thân và vẫn còn yêu Hương. Hắn đi tìm Hương, nhưng hai người không thể lấy nhau được vì Hương đã có gia đình. Cuối cùng Hoạt lo cho gia đình Hương vượt biên. Sau khi đến Mỹ, Hương gặp lại Jacqueline. Bác sĩ Toại, chồng Jacqueline, nhận chữa trị chứng bịnh kinh nguyệt cho Hương, bên trong tử cung có bướu. Từ đó, cuộc tình vụng trộm giữa Toại và Hương bắt đầu. 

Hương còn ba người em bị kẹt lại ở Việt Nam nên nàng quyết định về thăm các em. Lần này, Hương gặp lại Hoạt. Dù biết rằng Hoạt đã có vợ hai con, nhưng Hương muốn được trả ơn Hoạt bằng cách làm tình với y. Nhờ từng trải việc đời, Hương đã làm cho Hoạt càng mê tít. Nhân cơ hội Cộng sản tổ chức văn phòng du lịch tại Mỹ, Hoạt vận động để được tháp tùng phái đoàn. Nhờ chuyến đi nầy, Hoạt được gặp lại Hương. Sau cuộc giao hoan với Hương tại chính căn nhà của nàng, Hoạt đã bị Triệu bắt gặp bèn cho Hoạt mấy nhát dao. Hoạt chỉ bị thương nặng chứ không chết. Triệu bị Cảnh sát bắt giam. Nhờ lanh trí, chẳng những Triệu không bị gán tội cố sát, mà còn được cộng đồng người Việt binh vực, ủng hộ gây quỹ, và vinh danh là anh hùng chống Cộng.

Qua cách diễn tả của tác giả, người đọc thấy rằng Hương vẫn còn yêu Hoạt; đồng thời nàng cũng yêu Toại rất là tha thiết. Mỗi lần làm tình với Toại hay Hoạt, Hương vẫn nồng nhiệt, vẫn tham gia triệt để. "Hương biết nàng đã đi tới điểm cuối cùng của con đường ngoằn ngoèo mong thoát khỏi cảnh phải làm tình với Hoạt rồi. Hoạt vẫn nóng nẩy, vẫn thèm khát, vẫn như muốn ăn tươi nuốt sống nàng. Thái độ hối hả nôn nóng của Hoạt tất nhiên cũng làm nàng hứng khởi nên nàng buông xuôi. Hương định cởi áo ra nhưng thoáng nhớ Toại, nàng bèn đứng dậy, nói:
- Anh chờ em đi tắm một chút, nhé!" (trang 300)

Lần sau cùng gặp lại Hoạt tại Việt Nam, Hương đã mở đường cho hưu chạy như sau: "Đang lơ mơ sống với những hình ảnh của dĩ vãng thì có tiếng gõ cửa, Hoạt đã đến trước giờ hẹn. Và khi đón Hoạt ở phòng khách, Hương đã ôm chàng thật tự nhiên như những người ở bên Mỹ mỗi khi gặp nhau khiến Hoạt đứng ngây như khúc gỗ. Thấy hai bàn tay của Hoạt bối rối, Hương làm vẻ bạo dạn hơn, ghì mạnh cho ngực hai người ép sát vào nhau. Thế là cánh cửa thiên đàng bật mở. Mối tình thắm thiết của chàng và nàng như hỏa diệm sơn chợt tới ngày phá vỡ đỉnh núi để phun ra."


"Đã lỡ đà rồi nên Hương làm mặt lì hơn, hai tay nàng níu vai Hoạt xuống, cái cổ vươn lên cho đôi môi đặt một nụ hôn lên má chàng. Thấy Hoạt vẫn còn bối rối, Hương mời gọi người tình:
- Hôn em đi, anh... Em chờ... em chờ..." (trang 270)

Còn đối với Toại thì Hương lúc nào cũng tham dự trò chơi một cách nhiệt tình và triệt để. Một cảnh xảy ra ở bãi đậu xe như sau: "Khi tới nơi hẹn hò thì Hương đã thấy chiếc xe Land Rover của Toại đậu chờ nàng. Nàng lái tới bên Toại rồi mở cửa sau của xe Toai bước lên vì như thường lệ, Toại đã ngồi sẵn ở sau xe chờ nàng vì chỗ đó những kính xe đã được nhuộm mầu sậm đen, ở ngoài nhìn vào không thấy gì. Ngay khi cánh cửa xe đóng lại, Hương như rớt vào chiếc bẫy sập, còn Toại như con cọp đói, hai tay chàng vươn ra, ôm cứng lấy Hương, môi chàng gắn chặt lên môi Hương khiến nàng muốn ngộp thở. Tiếp theo, hai bàn tay chàng lùng sục khắp thân thể Hương. Rồi chàng vừa vực Hương nằm lên băng ghế sau vừa hấp tấp kéo quần Hương xuống. Hai người giẫy giụa quấn quít nhau khiến chiếc xe lắc lư như đang bị một trận cuồng phong đang thổi qua." (trang 288)

Đọc hết tập truyện Tiếng Xưa, người đọc thấy rằng tác giả rất tinh ý trong khi dựng truyện: những chi tiết rất gần gũi với ngoài đời, những tâm lý được lột trần một cách nhuần nhuyễn, và lập trường quốc gia được bày tỏ một cách rõ rệt, nhất là ở trong truyện Ngàn Thương. Người Việt ở hải ngoại rất thành công trong hai lãnh vực học vấn và tài chánh, nhưng bù lại cũng đã có biết bao thảm cảnh gia đình, mà Tiếng Xưa là một điển hình.

Đọc Tiếng Xưa để cảm thông cho hay ghét những nhân vật vì hoàn cảnh hoặc thiếu ý thức nên đã đưa đẩy họ vào hố sâu của tội lỗi. Nói tóm lại, hai yếu tố TÌNH và TIỀN là đầu mối của mọi tội lỗi ở thế gian này. Nếu ta không biết sử dụng đứ?g đắn hai thứ này thì dễ đi tới tội lỗi và thân bại danh liệt.


Qua năm thập niên cầm bút, các tác phẩm của nhà văn Đỗ Tiến Đức từ trước đến nay rất được độc giả đón nhận, từ Hoa Niên (tiểu thuyết, 1954), tới Má Hồng (tiểu thuyết, 1968), rồi Lối Vào (tuyển tập truyện ngắn, 1990), và Vầng Trăng Trong Mưa (tuyển tập truyện ngắn, 1993). Đó là chưa kể ba phim truyện đã lên màn ảnh xi-nê rất thành công, như: Ngọc Lan (1972), Yêu (1973) và Giỡn Mặt Tử Thần (1975).

Với tác phẩm Tiếng Xưa này, nhà văn Đỗ Tiến Đức đã góp phần không nhỏ cho kho tàng văn học Việt Nam lưu vong ở hải ngoại. Với ngòi bút sắc bén và điêu luyện, người đọc tin chắc tuyển tập truyện ngắn Tiếng Xưa đã, đang, và sẽ được độc giả khắp nơi đón nhận và trân qúi đặt vào tủ sách gia đình. 

Địa chỉ mua sách như sau: Nhà Xuất Bản Thời Luận, P. O. Box 65705, Los Angeles, CA 90065 (U.S.A.). Điện thoại số: (323) 225-4561. Địa chỉ Email: Thoiluan3@aol.com.





VL







Bác Túc Gái


 Hôm chủ nhật 6 tháng 7, 2008 tôi tới Chùa Liên Hoa ở Garden Grove để cầu nguyện cho Bác Túc gái trong buổi lễ 49 ngày. Bác Túc trai nói rằng lễ 49 ngày mà các cụ nhà mình thường gọi là “thất thất lai tuần” là lễ tiễn linh hồn người quá cố siêu thoát, về cõi vĩnh hằng tức không còn lảng vảng trong cõi dưong trần này nữa.

 Chùa Liên Hoa rất đẹp và rất rộng. Trời nắng gắt nhưng ngồi trong sân chùa vẫn mát rượi nhờ những tàn cây cao. Thỉnh thoảng nhìn Bác Túc trai, thân hình như khúc củi mục, đầu quấn vành khăn tang trắng, đi qua đi lại đón bạn bè, họ hàng tới dự lễ, tôi không khỏi thở dài. Giả dụ tôi hay mọi người, có muốn nói chuyện với bác, an ủi bác vài câu, chia sẻ nỗi buồn của bác cũng đành chịu vì Bác bị điếc nặng. Mọi giao thiệp với Bác những năm gần đây chúng tôi phải nói qua bác gái rồi bác gái nói lại thì “chàng” mới nghe được. Dường như bác chỉ còn nghe mỗi giọng bác gái thôi, còn ai nói gì bác cũng coi như bỏ ngoài tai hết.

 Trong khi chờ buổi lễ bắt đầu, mấy bà bạn của bác Túc gái ngồi ghế bên kể cho nhau nghe : “Tội nghiệp cái con Hân, cả đến khi gần chết mà nó không nghĩ tới thân nó mà nó cứ lo khi nó chết rồi thì chồng nó sẽ khổ…”.

 Một bà khác nói : “Thì ông Túc này cũng vậy. Một tuần sau khi con Hân mất, một người bạn lên thăm ông ấy, thấy ông ấy khô đét. Hỏi ra mới biết ông ấy ăn không được mà ngủ cũng không được. Để cho ông ấy khuây khỏa, người bạn ấy mới rủ ông ấy đi casino. Bọn mày biết không, vô casino rồi ấy hả, ông ấy cứ đi vòng vòng, nhìn chỗ này, ngó chỗ kia. Người bạn thấy lạ mới hỏi to “Mày tìm cái gì thế ?”. Ông Túc trả lời : “Tao đi kiếm vợ tao”. Người bạn xúc động qúa đứng lặng người không biết phải nói thế nào. Mãi lúc sau ông Túc mới tâm sự : “Mày biết mà, mọi lần vô đây là tao đi với bà ấy nên tao cứ tưởng bà ấy đang ở đâu đó…”.

 Tôi học với Bác Túc trai tại Học Viện Quốc Gia Hành chánh từ năm 1958 tới năm 1962 rồi lại cùng nhau ra trường Đồng Đế theo học khóa sĩ quan hiện dịch. Bác Túc nổi tiếng trong Đại Đội 59 là “bệnh binh” vì chân bác mắc cái bệnh gì tôi không biết, chỉ biết vì bệnh đó mà bác không thể đi giầy. Lính quân trường mà không đi giầy thì còn tập dượt cái nỗi gì. Thành ra Bác cứ đôi giầy vác vai, tà tà đi theo đoàn quân ra bãi, nghe giảng rồi khi đại đội thực tập “thao trường đổ mồ hôi” thì bác tà tà ngồi chờ đến giờ về trại.

 Mãn khoá, chúng tôi được đeo lon chuẩn úy, rồi nhận nhiệm sở. Tôi đi Phú Yên, Đặng Huy Túc và Lê Tấn Nhiểu đi Quảng Tín là tỉnh mới thành lập do cắt từ tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi một số quận.. Ít năm sau, cậu Phó đốc sự Bắc Kỳ Đặng Huy Túc đi làm Phó Quận Chợ Mới tỉnh Long Xuyên với 130 ngàn dân theo đạo Hòa Hảo.. Đường công danh của cậu có lẽ đã phát nên năm sau, cậu được thăng làm Phó tỉnh trưởng Kiến Tường.

 Mãi tới khi cậu làm Phó tỉnh trưởng An Xuyên, trong dịp đi thanh tra ở Cà Mau, gặp cậu, lúc đó tôi mới giáp mặt bà Đặng Huy Túc lần đầu và biết bà Phó tên là Hân. Trong bữa ăn chiều ngoài phố thết đãi tôi, cậu mợ kể cho nghe cậu mợ chị cưới nhau từ năm 1961 nghĩa là trước khi ra trường một năm. Nhờ “đánh mau đánh mạnh” nên chỉ một năm đã có cậu con trai đầu lòng ra đời, cậu mợ đặt tên là Đặng Huy Hoàng, nghĩa là hai vợ chồng tin tưởng cuộc đời đã bắt đầu huy hoàng rồi…

 Từ đó, tôi không gặp cặp vợ chồng này nữa, cũng chẳng biết ông bạn tôi làm chức gì, ở đâu và khi miền Nam rơi vào tay cộng sản tháng 4 năm 1975, ông ấy có chạy thoát hay cũng ở trong một trại tù cải tạo nào đó như tôi.

 Mãi đến tháng 6 năm 1979, từ trại tỵ nạn đảo Bi Đông sang Los Angeles định cư, trong những ngày chân ướt chân ráo, tôi đã nghe điện thoại của bạn Túc gọi hỏi thăm. Tiếng bạn rổn rảng với “truyền thống” nói một câu lại cười một tiếng, khi hỏi qua loa tình trạng của tôi rồi hỏi địa chỉ nơi tôi tạm trú để “tao tới chở vợ chồng mày tới nhà tao ăn cơm để có thì giờ “thuyết trình” cho tụi mày nghe đời sống bên này mà tự liệu lấy thân”.

 Đó là lần thứ hai tôi gặp chị Đặng Huy Túc. Nét đặc biệt nơi chị là chị hay cười và lời nói thì vừa dịu dàng vừa dí dỏm nên nhanh chóng tạo một không gian thân mật khi nói chuyện với nhà tôi dù là buổi gặp nhau lần đầu. Mãi cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một câu chị nói nhiều lần với vợ tôi bữa đó và sau này những khi bạn bè tập họp ở nhà tôi, chị vẫn hay nói trước khi mở đầu câu chuyện nào đó bằng câu: “để tôi kể cho bồ nghe”.

 Trong bữa cơm hôm đó ở thành phố Alhambra còn có vợ chồng Nguyễn Huy Cẩm cũng là một đồng môn khoá 7 của Túc và tôi. Tôi kể cho hai anh nghe chuyện tù cải tạo, chuyện vượt biên. Túc kể cho tôi nghe chuyện gia đình anh bỏ Sài gòn di tản từ ngày 25 tháng 4, 1975 và đến Mỹ ngày 1 tháng 5 . Tôi hỏi “sao mày giỏi thế”. Túc cười : “Giỏi đ. Gì. Vợ tao nó được bạn bè thương cho qúa giang, nếu không thì tao cũng kẹt ở lại, cũng đi tù cải tạo như mày rồi”.

 Hình như nói về vợ khiến bạn tôi cao hứng kể : “Vợ chồng tôi và các con đặt chân lên Fort Chaffee, bang Arkansas đúng ngày 1 tháng 5, 1975. Nghỉa là chỉ ở tại trại nghỉ mát của sĩ quan hạm đội 7 ở ngoài khơi Philippines một tuần là vô Mỹ rồi”.

 Tôi hỏi : “Thế lúc đó tụi mày làm gì để sống ?”. Túc cười đáp : “Catholic Charity bảo lãnh đưa từ Arkansas đi Chicago. Bà vợ tao đi làm ngay. Tao ở nhà giữ con. Mấy tháng sau tao mới đi làm Mail Clerk tại bộ chỉ huy của công ty Montgomery Ward. Đến tháng 7, 1977 thì dọn về Cali”.

 Tôi chưa kịp hỏi thì Túc nói tiếp : “Về đây chỉ một mình tao đi làm thôi. Tao làm hai job. Một job từ 7 giờ sáng tới ba giờ chiều. Jos sau tới 11 giờ đêm. Tao bảo bà xã ở nhà trông coi con cái, vì sợ tụi nó mất gốc. Thế nhưng bà ấy đâu có chịu ngồi yên. Bà ấy may đồ trong những lúc con cái đi học và buổi tối để kiếm thêm tiền cho các con ăn học đầy đủ…”.

 Tôi nhìn chị Túc, định nói vài ba câu khen ngợi thì chị đã chỉ vào góc phòng. Tôi nhìn theo thì thấy một chiếc máy may. Chị nói : “Anh chị nghỉ ít ngày đi rồi tôi lo”. Quay sang vợ tôi, chị nắm tay, nói thêm : Chị đang mang bầu, lại có con nhỏ nữa, theo tôi thì tạm thời là cứ xin welfare cái đã. Rồi tôi sẽ hướng dẫn chị may đồ, tháng cũng có thêm vài trăm”.

 Khi chúng tôi vừa thuê được nhà thì chị Túc và một chị bạn của chị đã chở vợ chồng tôi đi mua máy may trả góp, do chị bạn bảo lãnh. Chị dạy nhà tôi cách sử dụng máy, từ việc gắn kim xỏ chỉ. Chị kiếm vải vụn cho nhà tôi tập may và luôn luôn khuyến khích “Dễ ợt à, chỉ nửa giờ là quen” khi nhà tôi e ngại đặt chân lên bàn máy vì từ bé tới giờ chưa khi nào cầm tới cây kim may vá.

 Ngày hôm sau, chị đưa nhà tôi tới hãng may mà chị vẫn lấy đồ. Chủ là một bà Cuba tỵ nạn, nói tiếng Mỹ có lẽ chỉ hơn mình ở chỗ đã sống nhiều năm trên đất Mỹ.

 Thế là chị Túc đã mở đường cho vợ chồng tôi đi vào nghề may.

 Lúc đó, vì xin welfare nên phải đi học nghề. Cơ quan thiện nguyện bảo trợ gia đình tôi lại do một đồng môn của tôi làm giám đốc nhưng chả khi nào tôi được gặp ông bạn này vì một viên chức, cũng là người Việt mình cả, ngồi ở phòng ngoài cứ trả lời : “Chuyện của anh là do tôi giải quyết, không cần tới giám đốc”. Một lần ông bảo tôi viết thư cảm ơn cơ quan của ông đã bảo lãnh. Tôi ký tên tôi là Đỗ Tiến Đức, ông không chịu, bảo phải đề là Đức Tiến Đỗ, và viết không bỏ dấu. Ít ngày sau, ông gọi tôi tới, bảo tôi phải ghi tên học nghề. Ông hỏi tôi muốn nghề gì ? Tôi trả lời : Dạ, thợ tiện. Ông gật gù : Có phải ai nói với anh rằng nghề thọ tiện lương cao không ?. Tôi lắc đầu : Dạ, không. Ông ngạc nhiên : Thế tại sao anh có ý nghĩa đi học thợ tiện ?. Tôi trả lời : Tại tôi thấy ông đọc tên tôi là Đục Tiện Đo, thì học nghề đó là đúng ý trời rồi còn gì.

 Hai vợ chồng tôi đi học ở Glendale college. Tài tử Bảo Ân cũng theo tôi đi học nghề thợ tiện. Nhưng năm sau, vợ tôi bàn chuyện mở xưởng may vì “em đã học được nghề rồi và em biết vụ này cũng có tiền lắm”.

 Bà vợ tôi nói là làm, với quân sư là chị Túc. Chị lại đưa đi mua các loại máy cho tiệm may như máy một kim, máy vắt sổ, máy làm khuy, máy đóng nút. Chị giới thiệu những bạn bè đang có xưởng may đua tôi tới hãng cắt. Mỗi khi có hãng nào tới xét, chị bốc điẹn thoại, huy động vài chị bạn tới, đóng vai thợ ngồi chờ đồ may khiến người đại diện hãng cảm động tình cảnh thất nghiệp của nhóm di dân này bèn giao cho đồ may thử.

 Rồi thì nghề dạy nghề, vợ chồng tôi mỗi ngày một phát đạt. Lúc “cực thịnh” trong xưởng của vợ chồng tôi có tối ba chục thợ. Thĩnh thoảng chị Túc cũng lấy đồ của chúng tôi, nhưng sau chị ngại đi xa nên thôi.

 Từ đó, giữa hai gia đình gặp nhau trong những buổi khoá 6 và 7 Quốc gia Hành chánh của chúng tôi họp mặt ở nhà tôi. Các con tôi gọi chị Túc là Bác Túc gái. Bác Túc gái là người nổi tiếng với món bánh đúc đậu phọng ai ăn cũng khen ngon. Nhưng có bà nào hỏi cách làm thì chị dí dỏm trả lời, muốn ăn thì cứ gọi tớ một tiếng là có ngay, không suớng hơn là phải làm lấy sao.

 Ngày vui chẳng được bao lâu thì được tin bác Túc gái bị cancer buồng trứng, phải giải phẫu, phải chạy điện. Gặp Bác, bác nói : “Khi vô tắm, đưa tay vò đầu, bỗng thấy tóc nó tuột từng mảng, mình hoảng qúa, mình hét lên !”. Rồi thì tóc mọc lại. Bác mừng vui nói : “Bác sĩ bảo hết rồi, nhưng phải sau năm năm mới chắc ăn”.

 Quốc gia Hành chánh bọn tôi lại họp. Bác Túc gái theo bác Túc trai tới nhà tôi. Tiếng cười của bác đã ròn tan trong căn phòng khách với các bà bạn. Bác gật gù nói : “Nhóm chạy điện của tụi này có 5 bà, tới nay đã có ba bà đi rồi”.

 Khi hạn kỳ năm năm đã qua, bác vui hẳn lên. Ít lâu sau, hai vợ chồng tính chuyện về thăm quê hương một chuyến. Vốn tính cẩn thận, bác bàn với chồng, đi khám sức khoẻ tổng quát cho chắc ăn. Chẳng ngờ bác sĩ khám phá có dấu hiệu khả nghi trong bao tử. Lại chụp phim… Lại thử máu. Kết qủa là khối u trong bao tử thuộc loại độc, phải giải phẫu cắt bỏ bao tử… Khi bác sĩ mổ thì lại thêm2 một hung tin là “nó” đã lan tới đầu cuống ruột rồi, nên nếu cắt bao tử cũng không giải quyết dứt điểm được.

 Thế là Bác Túc gái bước vào cuộc chiến đấu khác, nhưng tuy không ai nói ra, mọi người đều biết hy vọng rất mong manh. Bác sống được 65 năm thì mất gần chục năm sống với bệnh quái ác. Niềm hạnh phúc nhất đối với Bác là tình yêu của chồng. Khi chúng tôi đến nhà thăm, Bác nằm mẹp trên giường mà vẫn cố cười chào đón, “xin lổi mình không dậy được”. Nhìn miệng chị cười, tôi nghĩ thầm, chẳng thà chị khóc nó còn đỡ đau lòng hơn. Chị nói : “Ông Túc phải hầu mình, tội lắm, hôi thối, đêm nào cũng nằm ở cái ghế đặt sát giường mình để có chuyện gì mình gọi. Mà gọi thì ông ấy cũng không nghe được nên ông ấy sắm cho mình cây gậy nhỏ để mình khêu khều vào người ông ấy…”.

 Nhìn bác Túc trai phờ phạc, chỉ còn bộ xương, chúng tôi hỏi : “Ai làm cơm cho mày ăn ?”. “Tao làm lấy. Tao mua máy làm nước đậu nành, máy xay bột làm bánh nhân đậu ngon lắm. Mội tuần tao mua hai con gà, nấu nồi phở, ăn một tuần”. “Ngày nào cũng ăn phở ư ?”. “Chứ sao ! Ngày nào cũng làm một tô”.

 Bây giờ thì Bác Túc gái đi rồi. Bác Túc trai trả lời bè bạn thăm hỏi bằng một câu đã thuộc lòng : “Bà ấy đi lúc 9 giờ 58 phút sáng thứ tư 21 tháng 5 êm ái như ngủ”. Lễ giỗ 49 ngày của Bác rất đông bạn bè tới tiễn đưa bác về trời. Có mặt những người quen biết vợ chồng bác từ lúc làm việc ở tỉnh Cà Mau, ở Định Tường, ở Chợ Gạo. Có mặt những người bạn từ thời con gái học chung dưới mái trường Trưng Vương.. Với số người đúng ngồi chật cả chùa thế này thiết tưởng đủ để làm nhân chứng trước Phật về Bác, một con người sống làm sao mà được nhiều người thương yêu thế, thì nhất định là hương linh Bác được chuẩn phê cho về Phật quốc ngay rồi.

 Vấn đề còn lại là Bác Túc trai thôi. Để an ủi Bác, khi chia tay từ giã chùa Liên Hoa chúng tôi nói với bác, mình sẽ gặp nhau ở nursing home nhé. Phải nói mấy lần, và nói lớn, Bác mới nghe. Nghe xong Bác cười ha hả, trả lời : “Thì tao bây giờ cũng như ở nursing home rồi chứ còn đ. gì. Ở Nursing home có khi còn sướng hơn tao bây giờ vì có ngưòi lo ăn lo ngủ. Chứ tao một thân một mình với chiếc computer…”.

 Một người bạn chợt hỏi : “Ông có muốn đi casino thì tôi chở ông đi”. Bác Túc trai vừa nghiêng đầu vừa khum khum bàn tay be ngoài vành tai để nghe. Khi người bạn này nhắc lại câu nói, bác nghe được, bác lắc đầu : “Không, tao đ. đi. Vợ chồng tao mấy chục năm nay, đi đâu cũng có đôi, giờ đi một mình, tao chịu đ. nổi”.

 Sau bữa cơm chay ở chùa, mọi người thảnh thơi ra về. Thằng bạn đồng môn của tôi ngẩn ngơ nhìn vợ chồng Nguyễn Đắc Điều, vợ chồng Đỗ Thanh Lâm, vợ chồng Nguyễn Mạnh Huyên, vợ chồng Lê Tấn Nhiểu với những bước chân khoan thai. Tôi nhìn thằng bạn tôi đứng một mình. Như những lần hắn chở vợ đi chùa lễ Phật. Như những lần hắn chở vợ hắn đi họp Trưng Vương mà hắn thuộc “liên đoàn tài xế” đứng ngoài cửa chờ vợ… Thằng bạn tôi nhìn quanh khiến tôi nghĩ có thể hắn đang kiếm vợ và băn khoăn sao vợ hắn ra trễ thế.

 Bọn đồng môn chúng tôi nay đã ba thứ tóc trên đầu là tóc đen, tóc trắng và tóc nhuộm, nhưng vẫn gọi nhau bằng mày tao. Tôi tới bên Túc mà chả biết phải nói câu gì thì Túc tâm sự :

 - Tháng chín con tao sẽ mang tro cốt vợ tao về Việt Nam để gửi bà ấy vô chùa. Tháng tám, tao đi Thái Lan…

 - Mày đi chơi hả ?

 - Chơi đ. gì. Ở nhà buồn không chịu nổi thì đi thôi. Mà chưa đi, tao cũng đã thấy sợ rồi. Sợ cũng không chịu nổi. Vì từ lúc lấy nhau, chúng tao đi đâu cũng có đôi…

 


Đỗ Tiến Đức
(Hồi Ký)

Viết tặng bạn già Đặng Huy Túc

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, April 16, 20217:27 AM(View: 48)
Nhà thơ Xuân Thao, một cây bút trước 75, đã in thơ trên nhiều tạp chí ở miền Nam và đã xuất bản hai tập thơ “Sống Mòn” (1969), “Ngập Ngừng” (2015), hiện thường trú tại Đà Nẵng.
Wednesday, April 14, 20219:16 AM(View: 174)
Tôi yêu những truyện của nhà văn Tô Hoài, tác giả truyện nhi đồng nổi tiếng viết từ hồi tiền chiến như “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký,” “Xóm Giếng Ngày Xưa,” “O Chuột”… Nhưng với tiểu thuyết “Ba Người Khác,”
Saturday, April 10, 20217:39 PM(View: 130)
Hoàng Anh Tuấn (7-5-1932 – 1-9-2006) là nhà thơ ca tụng tình-yêu và nhung nhớ về một Hà-Nội đã bỏ lại và đã đánh mất - ông được thương gọi là 'nhà thơ của Hà-Nội', cùng một số bài về nước Pháp nơi ông từng du học thời trẻ. Ngoài công việc chính về điện ảnh và truyền thông (quản đốc đài phát thanh Đà Lạt),
Tuesday, April 6, 20218:04 AM(View: 152)
Trong giai đoạn thời gian qua, lúc tôi chưa lần diện kiến cùng nhà văn Nguyễn Thị Hàm Anh, thì không phải là tôi chưa hề nghe và đọc tác phẩm của Cô. Hàm Anh đa dạng trên lối viết tạp ký,
Wednesday, March 31, 20216:22 PM(View: 252)
Tôi biết nhà văn Phạm Phú Minh trước khi biết anh là nhà văn Phạm Xuân Đài. Sau cuốn “Hà Nội Trong Mắt Tôi” thì 26 năm sau, tác giả Phạm Xuân Đài mới cho ra mắt tác phẩm thứ hai là “Đi, Đọc và Viết.” Hồi đó, khoảng những năm sau 2000,