DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,483,803

Những Thiên Đường Mù - Dương Thu Hương (tiếp theo và hết)

Sunday, January 8, 201212:00 AM(View: 17219)
Những Thiên Đường Mù - Dương Thu Hương (tiếp theo và hết)
Những Thiên Đường Mù

blank

15

Tàu đỗ lại đột ngột khiến người đàn ông răng bạc và tôi cũng bật ngửa về phía sau. Nó chạy thêm vài chục thước nữa, rồi dừng hẳn lại. Ga mới đứng sừng sững dưới ánh đèn. Ga này vắng khách. Trên đường kè xi măng, chỉ có dăm người đủng đỉnh lên tàu. Những chiếc vali nhỏ nơi tay họ giống như hộp đựng đồ hóa trang của diễn viên. Ga không lớn, nhưng kiểu kiến trúc nặng nề. Chúng giống những tảng đá xếp xô lệch, chồng chất lên nhau. Và những cây cột đèn đứng thành hàng đều đặn trên khoảng sân rộng, trông trơ trọi, chẳng ăn nhập vào đâu. Tuyến đường này, tôi đã đi vài lần. Tên các nhà ga, tôi không nhớ hết. Những cái tên Nga, dài lòng thòng, trúc trắc đối nghịch tâm hồn giản dị của họ. Nhưng bù vào đó, địa thế và kiến trúc các nhà ga, tôi nhớ như in. Ga này xấu xí. Không hiểu vì sao, cứ nhìn thấy nó tôi đã có cảm giác nặng nề, u uất. Dường như những dáng thô lậu, thiếu hài hòa ấy hăm dọa con người, đem cho họ những dự cảm không may mắn.

Tàu dừng ở ga khá lâu, có lẽ do bảng điều phối chung của ngành đường sắt. Trong khoảng thời gian chờ đợi, tôi móc trong túi được một nắm kẹo. “Chìa khóa vàng.” Tôi mời khách đồng hành. Ông ta cười váng lên:
- Răng tôi sắp hỏng hết rồi. Kẹo là kẻ thù số một đấy.
Tôi nhí nhách bóc kẹo, mong cho con tàu nhanh nhanh rời ga.

Rồi cũng tới lúc tàu rời ga thật. Những khối đen nặng nề từ từ trôi về phía sau. Cả các cột đèn trơ trọi, với những bình thủy tinh chụp hình trái anh đào lộn ngược. Cả cái bồn hoa hẹp và dài, chạy dọc theo kè xi măng, rùm ròa loài cây gai đầy hoa nở.
Người đàn ông mở sổ ra xem, và nói:
- Còn ba ga nữa thôi. Khoảng một giờ bốn mươi phút nữa ta sẽ tới Mátxcơva.
Tôi đáp,
- Vâng.
Ông ta hỏi,
- Có người chờ cô ở đấy chứ?
Tôi lúng búng đáp,
- Không biết. Có thể có.
Ông khách liếc nhìn tôi, rồi nhún vai:
- Một con chuột nhắt như thế này mà không có ai ra đón ư?
Tôi mỉm cười, thay cho câu trả lời. Còn ông ta rung đùi nhìn tôi, mắt nheo lại đầy hoài nghi. Lúc ấy, có tiếng mở cửa. Hai gã trai trẻ bước vào. Một gã cao to, lưng gấu, tóc vàng. Gã kia tóc đen, lông mày đen, ria mép đen, kiểu như người xứ Grudia. Toa tàu tràn ngập mùi rượu. Người đàn ông ngồi bên tôi ngả người ra phía sau, duỗi dài đôi cẳng chân. Rồi ông ta đưa mắt nhìn hai gã trai trẻ. Ngược lại, hai gã không nhìn ông ta mà nhìn tôi:
- A...
Gã tóc đen cất tiếng reo rồi xô tới:
- Mày có quần bò mốc không? Tao mua.
Tôi lắc đầu,
- Không có.
Dường như gã không nghe tôi trả lời, gã cao giọng nhắc lại lần thứ hai.
- Quần bò mốc, quần bò hoa. Tao mua cho.
Tôi đáp lại, to tiếng hơn.
- Không có.
Gã tóc vàng, lưng gấu cúi đầu xuống:
- Tao trả 130 rúp, bán đi. Ở Mátxcơva chúng nó mua rẻ hơn. Chỉ 115 rúp thôi.
Tôi đáp,
- Tôi đã bảo là tôi không có.
Gã tóc đen cau mày, hàng ria mép đen đụng đậy,
- Mày không muốn bán cho chúng tao, phải không?
Gã móc túi, chìa ra một nắm bạc,
- Chúng tao không ăn cắp, chúng tao trả tiền. Nhìn đây.
Hơi rượu phả vào tận mũi tôi. Tôi thấy óc não bắt đầu quay cuồng, hai thái dương nóng rừng rực.
- Tôi đã bảo là tôi không có. Mấy người điên hay sao?
Mắt gã trai tóc đen long lên, tức giận. Gã nhét tiền vào túi, tiến lên một bước, đứng chặn ngay trước mặt người đàn ông răng bạc. Rồi gã xỉa ngón tay vào trán tôi:
- Mày không chịu bán, phải không? Tụi Việt Nam chúng mày không bán, còn ai bán. Lần trước, một con bé giống mày bán cho tao chiếc áo phông tồi. Đem về nhà, em gái tao mặc. Một lần, đã rách hết đường chỉ. Ở đường phố Áccbát ấy, biết không, chỉ có chúng mày và tụi digan bán hàng rong.

Nước mắt và muối cùng lúc tràn lên che kín mắt tôi. Người đàn ông răng bạc đứng lên, làm gì đó, hình như túm cổ gã trai. Tôi nghe tiếng ông ta hét:
- Cút ngay, cút ngay, không ta cho chúng mày xuống đường tàu.
Tiếng ông ta bập bùng như gõ trống bên tai. Hình ảnh ông cũng lờ mờ, bị lủi chìm trong màn nước mắt. Tôi trùm tấm khăn len lên đầu, khóc nức nở, khóc như bị đòn oan, không còn kiềm chế được. Người khách đồng hành vỗ vai tôi nhẹ nhẹ, ra chiều an ủi. Rồi sau đó, ông ta khoanh tay, ngồi im lặng với vẻ mặt của một người từng trải, kiên nhẫn chờ đợi.

Bây giờ, tôi không hiểu vì sao tôi đã khóc như thế. Nhưng lúc ấy, nước mắt như dòng lũ không ngăn được. Lần đầu tiên, trong đời, tôi khóc trước một người khách lạ. Ông ta lại rút thuốc ra châm. Còn tôi, khi đã khan hét giọng, tôi rũ xuống như tàu lá héo, ngã vật vào góc toa tàu. Bên ngoài, những thị trấn, những phố lẻ lác đác ánh đèn trôi qua. Giống như những đốm lửa lạnh lẽo, xa cách, chúng nhắc nhở sân ga Mátxcơva năm trước.

Năm ngoái, cũng bà Vêra trao cho tôi bức điện:
“Hằng đến ngay Mátxcơva. Khách sạn Ratxia. Phòng 607.”
Tôi biết cậu Chính đã sang Nga, vì từ ba tháng trước, mẹ tôi viết thư báo. Tôi cũng ngồi trên con tàu này, vượt qua hàng ngàn cây số để tới Matxcơva vào một sớm lạnh lẽo. Tuyết chưa rơi, nhưng những đám lá vàng cuồi cùng của mùa thu đã ngả sang nâu sạm. Trên hè, những mảnh lá úa tàn bị gió lùa theo gót khách vãng lai. Trên không, thỉnh thoảng lại có vài chiếc lá vàng hiếm hoi bay lượn, như mảnh ước mơ của mùa thu bay lượn trước cửa ngõ mùa đông. Áo mỏng quá, tôi rét. Tôi phải giở bản đồ thành phố, nhanh chóng tìm bến xe điện ngầm gần nhất để xuống. Dưới các đường hầm ấm hơn trên mặt đất nhiều. Tìm được bến, tôi cắm đầu cắm cổ chạy. Lúc ấy, dân Mátxcơva chưa đi làm. Đường phố vắng, chỉ có những cảnh sát giao thông đứng trực trên các ngã tư, và trên quảng trường. Vừa chạy, tôi vừa ước ao một chén chè nóng pha đường. Nhưng lúc ấy, có tài thánh cũng không kiếm nổi một chén chè. Chưa tới giờ các quán ăn công cộng cũng như các bútphét mở cửa. Xuống ga, tôi ném đồng năm xu vào cửa tự động rồi bước qua hàng rào, vào trong. Tuyến đường tôi đi ngay gần đó. Hai phút sau, tôi đã ngồi trong toa, tở dồn dập vì mệt và lạnh. Da dẻ tôi dần dãn ra trong bầu kkhông khí ấm. Ngả người ra phía sau, tựa vào lưng ghế, tôi nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng bánh xe nghiến lúc tới các bến đỗ, tiếng của các hành khách mới lên. Khách vắng, cả toa chỉ dăm người. Tuy thế, tôi không thấy côi cút, tôi mong mỏi giờ gặp gỡ. Tôi sẽ biết tin mẹ tôi, và mọi chuyện bên nước nhà,

Mỗi ga, người phát thanh viên lại xướng lên trong loa phóng thanh. Nhờ đó tôi có thể mở mắt đứng dậy vào đúng ga cần tới.

Tàu dừng hẳng, tôi bước lên bờ kè. Ở đó, phải nhảy một lúc cho ấm người, tôi mới đủ dũng khí ra đi. Từ ga tàu điện ngầm tới khách sạn rất gần, chỉ qua vài khúc phố với một vườn cây nhỏ, ngả nghiêng những thân liễu mềm, thân bạch dương trắng óng. Cỏ đã trụi, đất phơi ra màu đen xỉn như xỉ than nghiền vụn. Những con chim câu già lông cánh xác xơ kiếm ăn sớm, kéo lê bộ đuôi bẩn thỉu dọc hè phố. Dưới bờ sông đào, con sông đang ngủ, làn nước màu chì phẳng lặng, không gợn sóng xao. Có một người đàn ông cao lớn, thọc hai tay vào túi, đi dọc theo bờ kênh. Vừa đi, ông ta vừa huýt sáo khe khẽ. Đó là giai điệu một ca khúc đang được ưa chuộng “Tình Yêu Màu Xanh.” Tôi đi sau người đàn ông, lắng nghe tiếng huýt sáo vọng trong không gian yên tĩnh như mơ ngủ. Tiếng sáo làm tôi bớt lạnh. Giờ này, có tới, người gác khách sạn cũng không cho vào. Vì lẽ đó, tôi đã mê mải đi theo thứ âm nhạc dân dã kia. Tôi đuổi theo nó mãi, tới khi người đàn ông dừng lại trước một tòa nhà cao tầng, ngẩng lên tìm kiếm một địa chỉ nào đó, và ông ta thôi không còn huýt sáo nữa. Sang đường, tới khách sạn, tôi phải đợi hơn nửa giờ sau mới được vào. Cậu tôi đã chờ tôi ở phòng khách tầng dưới, cùng với một chàng trai. Anh ta là phiên dịch của đoàn. Nhờ anh ta năn nỉ với người gác phòng, tôi được đưa lên tầng gác thứ sáu, nơi cậu tôi ở. Hành lang trải dạ thẫm màu, vắng tanh. Khách còn đang ngủ. Cậu Chính nói oang oang:

- May quá, nhờ cậu chú cháu tôi khỏi phải đứng dưới nhà. Thôi nhé, lúc nào cần tôi sẽ gọi.
Tôi nói.
- Cậu khe khẽ thôi. Có phải ở nhà mình đâu?
Cậu há miệng.
- Ờ ờ...
Rồi đưa tay chào người phiên dịch. Tôi thấy anh liếc tôi, mủm mỉm cười trước khi mở cửa phòng mình. Chúng tôi còn phải đi xa nữa, người phiên dịch ở phía đông , cậu Chính ở phía tây. Qua gian sảnh chung, tôi thấy hai phụ nữ trẻ đang ngồi đan áo. Cậu bảo:
- Giá cháu giỏi tiếng Nga, bán được mấy chiếc áo len cánh dơi cho các cô này thì tốt.
Tôi nhìn cậu, không nói gì. Tới trước cửa phòng, cậu rút chìa khóa, mở cửa.
- Vào đi cháu.
Tôi vào trước, cậu vào sau. Cậu khóa cửa cẩn thận rồi mới đưa tôi vào phòng. Tôi hỏi:
- Cậu ở một mình?
- Ờ, tiêu chuẩn của cậu.
Ngẫm nghĩ tí chút, cậu nói thêm:
- Ở một mình là tiện nhất.
Nói xong, cậu đưa mắt liếc ra ngoài cửa sổ. Nơi đó, những mái nhà thành phố hiện lên trong làn ánh sáng trắng như sữa của bình minh. Cậu ngó nghiêng lần nữa, vẻ yên tâm. Lúc đó, cậu nói:
- Cháu đem giải quyết mớ hàng này.
Rồi quì xuống, cậu lôi chiếc túi du lịch nhét trong ngăn dưới cùng của chiếc tủ gỗ ra.
- Hàng mợ chuẩn bị đầu đủ lắm cơ.
Kéo phécmơtuya roạt một tiếng, cậu sắp sửa lôi các thứ hàng xếp bên trong ra. Tôi vội nói:
- Từ từ đã cậu.
Cậu bảo.
- Nhưng lát nữa cậu còn phải họp đoàn, còn làm việc với bạn.
Tôi bảo.
- Chẳng đi đâu mà vội, ở đây, người ta không thức dậy sớm như bên mình.
Cậu băn khoăn.
- Nhưng lỡ tay phiên dịch nó sang.
Tôi nói.
- Chẳng sang người ta cũng thừa biết.
- Hằng..
Cậu quát lên, mặt tái mẹt.
- Mày nói gì thế!
Tôi đáp:
- Cháu nói thật.
Cậu gằn giọng.
- Cháu mấy chắt, đồ mất dạy.
Tôi lặng im. Cậu hùng hổ đi tới trước cửa sổ, vén tấm rèm lên, chẳng hiểu cậu tìm thấy gì trong khung cảnh của thành phố sớm mai yên tĩnh? Hai tay chống nạnh, đôi vai nhô lên, chắc cậu đang trút những hơi thở dài, bực bội. Lát sau, cậu quay vào, giọng hiền từ hơn.
- Thôi... Nhưng lẽ ra, cháu cũng không nên nói thế.
Tôi lặng im, không đáp. Cậu khẽ nói.
- Hằng này, cậu không muốn nhờ người khác, hoặc họ dìm giá, hoặc họ thóc mách, đồn thổi. Cháu giúp cậu.
Tôi bỗng thấy mỏi mệt đến nỗi muốn lăn ra giường ngay. Các đầu khớp xương nhức buốt. Da nổi gai ốc đầy lưng, và những cơn ớn lạh liên tục chạy dọc theo xương sống. Cảm giác giá lạnh cộng với cơn đói dày vò, khiến các cơ bắp như chảy lan ra, không có cơ hồ giữ lại. Tủi cực chăng? Khóc chăng? Nước mắt đã cạn. Tôi nhìn cậu, nói khe khẽ:
- Đáng lẽ, cậu nên thông báo cho cháu tình hình gia đình, sức khỏe mẹ cháu ra sao? Đáng lẽ, cậu nên cho cháu một chén nước chè. Cháu từ hàng nghìn cây số tới đây.
Cậu đứng ngẩn người ra, rồi ờ ờ... những tiếng vô nghĩa, tay cậu trở nên thừa thãi. Lát sau, cậu đi đến tủ lạnh, mở cánh cửa. Bên trong, lổng chổng một đống bánh mì tròn, thứ bánh mì bán trong các bútphét, hai xu một chiếc.
Tôi nói:
- Cám ơn cậu.
Nói đoạn, tôi đứng lên.
- Cậu làm ơn mở khóa cửa cho cháu.
Cậu mở cửa. Tôi đi dọc hành lanh, tới gian sảnh. Hai người phụ nữ trẻ vẫn đang đan. Tôi hỏi họ bútphét ở đâu? Họ chỉ đường cho tôi. Đi tới cuối mút hành lang, xuống tầng thứ 3. Bútphét đã mở. Khách ăn còn vắng. Chỉ vài ba người đàn ông to béo ngồi ăn dămbông với phomát. Bàn trong cùng, một cặp trai gái cao gầy, tóc bạch kim, có lẽ người Bắc Âu đang uống bia. Tôi mua một phần tư con gà, một đĩa trứng ốplếp với một chiếc bánh ngọt phết mứt dâu. Chừng ấy, đủ cho tôi chống cơn rét mệt. Ăn sáng xong, tôi trở về phòng, mang theo túi hoa quả. Trong phòng, chừng non một chục người ngôi. Đó là đoàn công tác của cậu tôi sang họp. Anh chàng phiền dịch ngồi sát cửa, ghé mắt nhìn xuống phố xá. Những người khác, vừa nghe vừa nặn trứng cá hoặc gãi mụn ruồi. Người nào cũng có vẻ bồn chồn. Chắc chắn họ đang tính cách nào bán hàng hóa nhanh nhất và nhờ ai mua được nhiều hàng hóa nhất. Cậu Chính đang cao giọng nói:
- Tôi yêu cầu các đồng chí nêu cao tinh thần gương mẫu trên đất nước bạn. Tất cả phải có ý thức tổ chức.
Tôi lặng lẽ quay ra. Tới gian sảnh tôi ngồi vào một góc ghế bành, chờ đợi. Nhưng trong góc chiếc ghế bành êm ái bọc nhung đỏ, tôi thấy côi cút. Tôi thấy cực nhục. Cơn đói và rét qua rồi, chỉ còn lại cơn xâm kích của các làn sóng tê tái. Chúng giống như các làn sóng biển thực sự, cứ ào tới rồi lại rút ra xa, lặp đi lặp lại triệu triệu lần. Nhưng không phải nước mặn, mà một thứ muối xót xa, một nỗi đau quằn quại,1 mỗi buồn thê thảm, không thể cắt nghĩa.
- Mẹ ơi i i...
Gương mặt mẹ hiện lên, trong khoảnh khắc ấy. Một gương mặt hiền dịu, tươi cười. Vừa thân yêu, vừa xa cách.



16

Dẫu sao, mẹ cũng vẫn là mẹ của tôi. Tôi yêu người. Từ biệt cô Tâm, với làng quê, với bao nhiêu ưu ấp, tôi trở về thành phố. Mẹ đang ngồi chải đầu. Hình như mẹ vừa gội đầu xong, tóc chưa kịp khô. Tôi chạy ào tới mẹ:
- Mẹ... Mẹ nhớ con không?
Mẹ ngẩng lên, đôi mắt chớp chớp xúc động. Nhưng qua giây phút ấy, mẹ lại dằn dỗi, nói:
- Nhớ! Chỉ có con nhiều thú vui, con mới chẳng nhớ ai.
Tôi ôm mẹ cười:
- Chẳng nhớ ai thật. Nhưng chỉ nhớ riêng mẹ thôi.
Rồi tôi nói thêm, khẽ khàng:
- Mẹ buồn cười lắm. Chẳng ai thay thế được mẹ.
Mẹ cúi đầu im lặng. Có lẽ, đó là nỗi im lặng sung sướng. Tối hôm ấy, mẹ nấu chè sen cho tôi ăn. Suốt đêm, tôi ôm mẹ ngủ. Chỉ còn ba ngày nữa là tựu trường. Đã bước vào năm học, tôi sẽ chẳng còn thời giờ nhõng nhẽo. Vừa từ giã đám bạn học cũ, tôi đã có những bạn gái mới, những nữ sinh viên đại học tương lai. Suốt ba ngày liền, họ kéo đến, sắm sanh quần áo, sách vở, tính toán trước những khoản tiền phải nộp cho nhà trường. Giá một đôi guốc bây giờ cũng đủ cho các bà mẹ có con gái lớn lo thắt tim. Có một cô, trong đám nữ sinh ấy, phải rửa bát thuê cho hàng phở, gánh nước suốt một vụ hè mới sắm nổi một bộ quần áo thường và một đôi guốc. So với các bạn, tôi phong lưu hơn. Cô Tâm sắm cho tôi một sấp vải các loại, từ thứ hàng kaki, hàng len ngoại may quần với các thứ phin nõn pha nilông, pôpơlin màu, vải sợi bông thô, lụa tằm pha sợi tổng hợp. Cứ sấp vải ấy, tôi có thể may quần áo đủ mặc suốt bốn năm . Nhưng mẹ tôi lại kỳ cục tìm mua cho tôi một mảnh phin nõn Nhật màu hoa cà, điểm những chấm trắng lấp lánh như chấm tuyết. Rồi mẹ lặn lội xuống tận Hàng Bông may cho tôi một chiếc sơmi kiểu mới, tại một hiệu may đang có tiếng là thời trang.
- Cô Loan bảo bây giờ đang có mốt áo Đan Mạch. Mẹ may cho con kiểu ấy.
Tôi ôm cổ mẹ.
- Mẹ trở thành một tay chơi chính hiệu rồi đấy. Hơn con nửa cây số công mười lăn phân.
Mẹ cười sung sướng. Chiếc áo trông rất kỳ khôi, với các mảnh vải đan chéo, bổ ngang, các thứ quai và khóa sáng loáng. Mặc lên, tôi hóa thành một nữ ca sĩ trong băng nhạc da đen, da đỏ nào đó ở châu Mỹ Latinh. Nhưng tôi đã mặc nó trong ngày tựu trường. Mẹ tôi nắc nỏm khen.
- Đẹp lắm, con ạ. Hiện đại lắm.
Chắc những danh từ ấy mẹ nghe lỏm của thiên hạ, đám người ngày ngày vẫn tới hàng của mẹ mua măng khô, miến, đỗ, lạc, đường... Mấy anh chàng sinh viên khóa trên nhìn tôi cười nhăn nhở.
- Ai vẽ cho em cái áo mốt thế?
Tôi im lặng. Và bọn họ cười ré lên. Nhưng tôi vẫn mặc cái áo tím kỳ khôi ấy, để thấy mẹ tôi cười. Người lớn, đôi khi cũng không khác con nít là bao. Những cơn mưa thu lại rơi, rổn rảng trên mái tôn. Nhưng gia đình tôi đã trở lại vui vẻ. Tối tối, mẹ ngồi đan áo. Chiếc áo len màu hoàng yến sẽ cho tôi diện dịp Tết Nguyên Đán này. Còn tôi, tôi cắm cúi trên các trang sách, thấy nhịp điệu đời sống xiết bao êm ái, thanh bình. Trong ngõ nhỏ, tiếng hát của anh què lại rống lên:
Rồi thu sang lá vàng rời đầy...

Nhưng tôi không còn thấy tim tái tê vì nỗi buồn thống thiết, vì một thất vọng che chắn cuối chân trời. Tôi chỉ cảm nhận trong những âm thanh ấy, một nỗi xót xa mơ hồ khiến ta phải não lòng, một niềm thương cảm trìu mến, ý muốn được che chở cho ai đó, được ủ ấp một mái đầu nào đó, được đưa bàn tay cho một bàn tay chới với giữa dòng nước xiết.

Tôi vào trường được hơn hai tháng, một chủ nhật, mẹ rủ tôi tới nhà cậu Chính. Không muốn làm mất lòng mẹ, tôi nhận lời. Thế là, sau mấy năm trời, tôi trở lại khu tập thể K. Khu nhà ấy đã cũ nhiều. Con đường chạy qua các trục chính đã tróc lở nhiều khúc. Các khoảng sân, các bậc thềm cũng như vậy. Người ta tự tu tạo bằng nhiều thứ vật liệu khác nhau, trông như nhiều mụn và khác màu trên một mảnh áo. Các bức tường vôi nhạt màu, hoen mưa gió, in những hình vẽ loằng ngoằng thô tục của bọn trẻ hư. Không khí oi nóng, quẩn tụ một thứ khói lạ, rất khó gọi tên. Có lẽ, nó là tổng hợp của khói thuốc lào, thuốc lá, khói các bếp dầu vừa tắt, khói ngún từ các bếp lò đun mùn cưa, và khói từ các đống rác nhỏ rải rác khắp các ngóc ngách khu nhà. Rất nhiều nhà mở đĩa hát và máy nghe băng nhạc. Nhạc Rock, nhạc trữ tình, nhạc tiền chiến xen lẫn điệu hát chèo và cải lương. Thanh niên tụ thành từng nhóm trước hè, miệng phì phèo thuốc giương những cập mặt thô lỗ nhìn người qua đường, buông lời chòng ghẹo. Tất cả đã thay đổi. Trạm gác gỗ ngoài cửa cũng không còn. Những mảnh ván đã được dọn trơ trụi, chỉ còn cây tre làm gạt chắn vẫn ngơ ngất chọc lên trời.

Cậu mợ Chính đang ngồi vặt lông vịt trong nhà. Thấy mẹ con tôi, mợ Thành rửa tay chạy vào, niềm nở chào hỏi. Hai đứa con trai họ Đỗ đã lớn lên nhiều, so với hồi tôi gặp. Nhờ thực phẩm của bà bác trợ cấp, chúng hồng hào béo tốt hẳn lên.
- Cháu chào bác. Em chào chị Hằng.
Lần này, không cần mệnh lệnh của ông bố, chúng cũng cất tiếng đồng thanh. Mẹ chúng liếc nhìn tôi, cười hớn hở.
- Cháu Hằng lớn lên, xinh quá nhể.
Mợ ta béo ra nhiều, mặc bộ quần áo lụa xanh hoa dây hồng, lại đính thêm một hàng đăngten lòe xòe dưới gấu áo. Mợ xăng xái đi lại, pha trà, rót nước, cả hai lườn, cả đôi mông lặc lè mỡ. Mặc dù đon đả mời nước, đôi mắt hẹp của mợ vẫn liếc về chiếc làn thực phẩm của mẹ tôi đặt dưới sàn nhà, gần góc tủ. Tuy vậy, lúc ấy trong mợ vẫn dễ chịu hơn lúc ngồi trước bàn, vừa ngậm tăm vừa đọc tuyển tập của Lênin. Sau lần đến nhà mợ đầu tiêu, tình cờ tôi được nghe một đứa bạn kể. Bố mẹ nó là giảng viên trường đại học, được trưng tập về giảng dạy ở trường Đoàn. Họ phải làm việc dưới quyền mợ Thành vì mợ là Đảng viên lâu năm. Cả hai khốn khổ 8 năm ròng vì bị trù úm. Vốn là những người có kiến thức, giàu lòng tự trọng, họ không thể chịu được một người ngu dốt, lại chỏng lỏn. Mợi ta vừa tự ti, vừa cường hào một cách phi lý. Có lẽ, bởi vì mợ mới học hết cấp hai trong trường bổ túc công nông, mà lại có trọng trách duyệt toàn bộ chương trình triết học.
- Kìa, cháu uống nước đi. Em mời chị.
Mợ ta vỗ vai tôi, rồi chỉ chén trà nóng, tươi cười. Khi cười, những nốt rỗ có bớt phần nguy hiểm. Tôi hỏi mợ:
- Hồi trước, cháu thấy mợ có bộ tuyển của Lênin mới tinh. Đâu rồi?
- Trong tủ, mợ cất trong tủ.
Người đàn bà trả lời hăng hái, tay chỉ chiếc tủ gỗ mới, nước sơn vécni còn mùi thơm.
- Cháu có cần, mợ cho mượn. Mợ đã nghiên cứu xong chủ nghĩa Mác-Lênin rồi, Giờ, mợ đang phải nghiên cứu các văn kiện.
Nói tới đó, chợt mợ đổi giọng kêu:
- Ay, chị để em... để em.
Vừa nói, mợ vừa lao tới, đỡ gói đường trên tay mẹ. Miện túi nilông bị sút sợi thun buộc, chỉ chút nữa đường đổ tung tóe. Mợ Thành cười hỉ hả.
- May thật là may.
Tới đó mợ quên bẵng câu chuyện về chủ nghĩa Mác-Lênin với các văn kiện, mợ quay sang cái làn thực phẩm. Cùng với mẹ tôi, mợ lần lượt dỡ từng túi đường, đổ vào những chiếc thẫu thủy tinh cao cổ miệng loe, những chiếc thẫu dùng ngâm rượu rắn cho đàn ông, ngâm mơ, ngâm táo cho đàn bà con trẻ. Xong xuôi, mợ lấy thịt và giò, thứ đem cất, thứ đem thái rim, thứ đem bày ra đĩa. Hai gò má mợ hồng hào, nhoáng mỡ.
- Gớm, bác cho hai cháu nhiều đường thế! Uống tới mùa thu sang năm cũng chưa hết. Anh Chính ơi! Xong chưa? Nhớ hãm tiết canh đúng kỹ thuật đấy nhé. Chị Quế chỉ thích mỗi món tiết canh vịt thôi.

Nói xong, mợ cười, hai mắt tít lại. Mẹ tôi cũng cười, hồn nhiên, thành thật. Giờ đây, mẹ đã có vị trí xứng đáng trong gia đình người em trai. Mẹ hoàn toàn mãn nguyện. Cái khoảng thời gian me bị khinh khi, ghẻ lạnh đã qua rồi. Giờ đây, mẹ trở thành người bảo trở. Mẹ gom góp từng xu để bù trì cho đứa em trai.

Và mái nhà cũ kỹ của chúng tôi sẽ không thể nào thay đổi. Mái nhà như hai mảnh vá khác màu. Trưa hè bỏng rãy, mùi nhựa đường khét lẹt bốc lên. Và mưa thu, gõ, gõ, gõ, gõ trên mảnh tôn đã lốm đốm thủng. Quá vãng đã được chôn vùi trong tro trấu. Món cháo lú của tinh thần hào hiệp và đức hy sinh. Đầu óc những người đàn bà nói chung là ngắn ngủi. Họ chỉ sống với khoảng khắc đang sống...
Đột nhiên, cậu Chính cao giọng gọi tên tôi.
- Cháu Hằng,
- Dạ.
- Vào bưng cho cậu đĩa tiết canh.
Tôi chạy vào buồng, bưng đĩa tiết canh theo chỉ thị của cậu. Tới mâm, tôi đặt xuống, ngắm nghía. Tiết canh đông cứng như khối thạch, chân đĩa không có ngấn nước long. Bên trên, gan vịt thái mỏng, lạc rang vừa lửa vàng rươm rắc đều cộng với tỏi nhánh đập vụn. Cậu lại gọi:
- Còn đĩa rau thơm ăn kèm, bưng lên nốt.
Một đĩa rau húng chó, húng láng, răm, ngổ, hành sống, mùi ta, mùi tàu. Không thiếu thứ gì. Cậu giải thích.
- Gia vị mỗi người mỗi sở thích. Ai thích gì, lấy thứ nấy.
Rồi cậu xoa tay.
- Hồi trên chiến khu Việt Bắc, chỉ nhờ tài đánh tiết canh vịt mà đại đội trưởng yêu cậu đấy.
Mợ Thành hể hể, đế thêm.
- Bây giờ cũng thế. Thủ trưởng của cậu Chính, có giỗ có Tết có tiệc tùng đều gọi cậu tới làm món tủ: tiết canh với hầm ba ba.
Cậu Chính hỏi vợ.
- Chai rượu mùi đâu Thành nhỉ?
Mợ Thành đáp.
- Trong tủ, ở góc trái ấy nhé.
Cậu mở tủ, lầy chai rượu cam ra. Mâm cơm đã dọn trên giường, sau khi khép hai cánh cửa và kéo tấm màn che một cách kỹ lưỡng. Vịt luộc, vịt rang gừng, tiết canh, chả quế và giò mẹ tôi vừa đem tới. Cậu Chính rót rượu.
- Nào, cả nhà ta vui vẻ.
Mọi người nâng cốc. Tôi cũng nâng cốc, chạm cốc với họ.
- Nào, hãy vui vẻ.



17

Sự vui vẻ ấy kéo dài thêm một năm. Qua năm sau, cậu Chính bị bệnh đái đường. Căn bệnh oái oăm, nhất là thời buổi gạo châu củi quế. Cậu phải ăn toàn thịt, mà lại toàn thịt nạc, không được lẫn một tí ti mỡ nào. Cậu là chuyên viên hai, lương gốc 115 đồng, nhà nước bao cấp không thể chiêu đãi cậu cho tới nơi tới chốn. Khi tôi đến viện, cậu ngồi bó gối trên giường, hai hốc mắt sâu hoắm, da xanh nhớt như da nhái.
- Mẹ đâu?
Cậu hỏi tôi, mắt hướng về phía cửa phòng, có ý trông ngóng. Tôi đáp.
- Mẹ cháu còn mua thêm cân cam.
Cậu rên rỉ.
- Cam với quít. Có ăn được đâu mà mua.
Tôi nói.
- Mẹ cháu vẫn tưởng cậu được phép ăn hoa quả.
Cậu nói cấm cảu.
- Kiêng. Kiêng tất. Bác sĩ bảo thế.
Nói xong, cậu ngồi thừ ra, trong ánh mắt hằn lên nỗi âu lo. Đúng lúc ấy mẹ tôi bước vào phòng. Mẹ cúi chào mọi người rồi rón rén ghé ngồi bên giường bệnh.
- Cậu xanh quá.
Mẹ rền rĩ, nước mắt ứa vòng quanh. Cậu Chính cau mày nhìn mẹ quát.
- Đã chết đâu mà khóc? Chị gỡ bỏ mẹ đi.
Lần đầu tiên, tôi thấy cậu văng tục, nói năng không còn nghiêm túc và thanh lịch như mọi bận. Trong đôi mắt hoảng loạn của cậu, lóe lên những tia sáng hãi hùng. Cậu sợ chết. Những ngón tay cậu run run. Cả những sợi râu thưa thớt lởm chởm đâm dưới cằm cũng run run. Mẹ tôi cắn môi, nhìn cậu.
- Bác sĩ bảo sao?
Quay mặt vào tường, cậu đáp trống không.
- Kiêng tuyệt đối, hoa quả cũng không được ăn. Và phải dùng thêm thuốc ngoại, thuốc của Mỹ.
Mẹ tôi cúi mặt, nhìn những ngón chân đen đủi xỏ trong đôi dép kiểu Thái Lan đã cũ, đế bẹt hẳn ra. Hồi lâu, mẹ thở dài và nói.
- Cậu cứ yên tâm chữa bệnh. Trước sau, chị cũng sẽ có...
Nói xong, mẹ xắp đặt những thứ thuốc bổ, những thứ thực phẩm cần thiết cùng hoa quả lên bàn. Mẹ nhờ cậy gửi gắm cậu cho những người bệnh xung quanh, rồi cúi chào họ trước khi dắt tôi ra về. Dọc đường, hai mẹ con cùng im lặng. Khi đã vào nhà, cất túi, mẹ bảo tôi.
- Sông có khúc, người có lúc. Đời người, ai cũng có đận gian truân. Vả chăng, cậu chỉ còn mẹ là người thân duy nhất. Con hiểu không?
- Vâng, con hiểu.
Tôi đáp. Và sau một lát đắn đo, tôi nói thêm.
- Mẹ yên tâm.
Từ dạo ấy, bữa ăn của chúng tôi rút xuống. Thoạt đầu, từ mức có vài lạng thịt quay hoặc vài khúc cá rán giảm xuống món đậu om cà chua hành trường kỳ hoặc nhộng rang. Sau đó món đậu om cà chua biến thành cá thầu dầu hoặc cá riếc răm kho khô. Còn món nhộng rang xuống cấp thành tép biển rang nuối. Cả những thứ rau độn bình thường cũng chạy theo sơ đồ của sự xuống dốc: từ súplơ, đậu hà lan, su hào, đậu đũa, dưa chuột chúng tôi trượt qua các loại cải xanh, lá bắp cải già muối dưa răm, cải soong và cả rau chuối thái ghém....
- Mát lắm con ạ, ăn cho nó giải nhiệt.
- Thứ rau này lành lắm, ăn nhiều da dẻ đỡ mụn nhọt.
Mẹ lý giải như thế, mỗi bận mẹ vác về một thứ rau mà chỉ nhìn đã đủ chán ngắt. Đang mùa đông, bệnh của cậu tăng lên, đòi hỏi lượng thuốc mua ngoài tăng gấp đôi. Thực phẩm bồi dưỡng cho cậu cũng nhân lên theo cấp độ đó. Mặt mẹ tôi quắt queo. Không hỏi, nhưng tôi biết mẹ đã phải nhịn bữa quà trưa ở chợ, lúc tôi học trong trường. Hai gò má mẹ nhô lên, những nếp nhăn kéo dầy dưới hai đuôi mắt. Những nốt tàn nhang hai bên cánh mũi và trên gò má lan rộng, kết liền thành từng mảng nâu sạm trên gương mặt mẹ, khiến nó u ám và xấu xí.

Bữa ăn của mẹ con tôi chỉ còn dưa cải muối trường kỳ với với su hào kho mỡ. Món su hào thái hình khẩu mía, kho mặn với tương rồi rưới mỡ nước lên giả làm thịt kho hoặc cá kho tôi nhớ mãi. Tôi đã ăn nó suốt một mùa đông. Tồi sẽ nhớ nó cho tới lúc xuống mồ. Tôi sẽ nhớ cả cảm giác tái tê của những buổi tối, khi đạp xe từ trường về, hai lỗ mũi đặc kịt bụi, bụng đói đến teo tóp lại trong lưng quần, tôi đã thèm một miếng thịt ra sao khi đi qua nhà bà Miều hoặc nhà chị Lan, hoặc nhà anh Hợp, mùi thịt kho tàu thơm lừng bay ra, khiến tay chân tôi run lên, mắt mũi tối tăm lại. Tôi sẽ nhớ mãi những buổi đêm như thế, đi học thêm ngoại ngữ về, tôi đã đạp đi đạp lại ba vòng quanh một hàng phở, điệu như rong chơi, nhưng thực chất để hít thở mùi vị ngon lành của nó lan tỏa trong không gian. Tôi sẽ nhớ cảm giác hổ thẹn của mình, lúc quay đi để nuốt nước bọt trước một người đàn bà mập mạp ngồi tuốt xâu chả nướng bỏ vào bát bún...
Một tối, không chịu nổi, tôi nói với mẹ.
- Con không đủ sức ngồi nghe giảng nữa. Mẹ bán một chiếc nhẫn đi lấy tiền mua thức ăn.
Mẹ tôi cau có.
- Nhẫn của cô Tâm, không bán được.
Tôi cố gắng ôn tồn.
- Nhưng cô đã cho con. Con phải sống, phải học được trước khi cần đeo nhẫn.
Mẹ tôi đáp.
- Không.
Tôi muốn khóc. Nhưng tôi cố ghìm giữ cho nước mắt khỏi trào ra.
- Con đói.
Mặt mẹ tôi tím lạnh, hai mắt tối sầm, dữ dằn. Mẹ đột ngột đứng đật, hét như người động kinh.
- Không. Tao đã bảo không là không.
Chưa bao giờ tôi thấy mẹ khủng khiếp như thế. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ xưng hô với tôi thô lỗ thế. Tôi im bặt, lủi ra ngoài sân. Cơn đói tan biến. Các nỗi thèm khát cũng tan biến. Chờ mẹ nguôi ngoai, tôi lên giường trùm chăn ngủ sớm. Tôi đã ngủ một giấc rất dài, rồi thức dậy khoảng hơn hai giờ sáng. Một cảm giác lạnh lẽo khiến căn nhà trống trải thêm. Tôi nhìn sang giường mẹ tôi, không thấy mẹ nằm ở đó. Chiếc chăn bông vẫn cuộn tròn, xếp gọn ghẽ cuối chân giường. Lúc ấy, có tiếng nức nở rất khẽ vẳng tới. Tiếng khóc của mẹ tôi. Không bật đèn, chờ cho mắt quen với bóng tối, tôi hé cửa ra sân. Mẹ tôi ngồi trong bếp, gục đầu lên hai cánh tay. Cánh cửa bếp nửakhép nửa mở, tôi nhìn thấy bóng đôi vai mẹ run rẩy từng cơn. Tiếng khóc bị nén trong họng, chỉ bật ra những cơn nức nghẹn, ngắt quãng, nghe tủi cực và ấm ức. Tôi đứng giờ lâu, phân vân giữa ý muốn vào an ủi mẹ và nỗi sợ hãi. Trong cơn giận dữ bùng nổ buổi tối, có nguyên cớ nào đó rất lạnh lùng, không thể cắt nghĩa. Nó khiến tôi ghê rợn. Thời khắc trôi qua, sương xuống ướt đầm mái tóc. Tôi run lên vì rét. Tôi sực nhớ mình chưa kịp mặc áo ấm. Tôi trở vào nhà nằm thao thức chờ mẹ lên. Nhưng chờ mãi vẫn nghe những tiếng nấc, như một ảo thanh vẳng bên tai. Lâu dần, tôi ngủ quên...

Sáng hôm sau, tiếng xe máy ồn ĩ bên ngoài đánh thức tôi. Cửa đã mỡ. Ngay giữa sân, người đàn ông đi chiếc Honda 67 đen trùi trũi đang ngồi chễm chệ. Ông ta vẫn đeo cặp kính mắt xanh chai như bữa trước. Và nụ cười nham nhở như bữa trước đọng trên môi.
- A... a... Cô nương dậy muộn quá. Ở nông thôn chúng tôi mà lười thế là không lấy được chồng.
Ông ta nhìn thấy tôi, liền nói chõ vào nhà. Sau lưng ông ta, một người đàn bà vừa nhảy xuống: cô Tâm. Tôi choàng áo bông, chạy ào ra đón cô. Toàn thân cô, hai tay cô, cả hai gò má và cằm cô lạnh buốt. Cô mỉm cười.
- Cháu của cô.
Nhưng rồi, chưa kịp ôm tôi vào lòng, cô đã lại đẩy bật tôi ra nhìn chằm chằm.
- Hằng làm sao thế?
Tôi cười.
- Có sao đâu cô?
Nhanh như sóc, cô luồn hai bàn tay vào trong áo len, vuốt dọc theo sườn và lưng tôi.
- Làm sao mà cháu trơ xương sườn, xương sống ra thế này?
Cô hỏi, giọng khẽ khàng, nhưng âm diệu khác lạ, nghe như thất thanh. Tôi chưa kịp trả lời, mẹ tôi đã từ trong bếp đi ra. Hai mắt mẹ tôi sưng mọng, gương mặt héo hon nhuốm vẻ hoảng hốt, sợ hãi.
- Chị vừa lên. Chị vào nhà chơi.
Mẹ quay sang người đàn ông.
- Mời bác vào nhà chơi.
Tay mẹ tôi cầm siêu nước. Chắc mẹ đã nấu cơm xong và đun được siêu nước đầu tiên. Từ chiếc vòi nhôm, làn khói bay ra. Người đàn ông đeo kính, đáp lại lời chào mời của mẹ tôi bằng một cái gật đầu rất hiên ngang, đoạn quay sang cô Tâm.
- Mấy giờ em dón chị?
Cô tôi bảo.
- Nửa tiếng nữa nhé. Giờ chú đi đi. Nhà chúng tôi có câu chuyện hàn huyên.
Người đàn ông đeo kính giơ một ngón tay sần sùi nâng gọng kính lênm cúi chào mẹ con tôi.
- Cảm ơn cô nhé. Lúc khác tôi vào chơi.
Nói xong, ông ta cho xe nổ máy lượn ra đường. Chiếc mũ lông Mông Cổ to xù như chiếc rế đại trên đầu. Tiếng máy Honda dội giữa các bức tường trong ngõ hẹp làm rạn vỡ bầu không gian yên tĩnh. Vào giờ này, những hàng xôi lúa, xôi đậu đen, bánh dày, bánh rán, bún gánh, phở gánh... đã ra đi hết. Chỉ còn lại tiếng nước chảy ồ ồ vào một chiếc thùng tôn ai đó đang hứng ở vòi công cộng. Cô Tâm bảo.
- Ta vào nhà.
Rồi cô dắt tôi vào, tay bên kia xách chiếc làn tre nặng trĩu. Mẹ tôi cầm siêu nước đi theo. Hai mí mắt mẹ tôi thâm quầng, tròng trắng vằn những tia máu. Mẹ đổ nước sôi vào phích rồi sai tôi.
- Lấy cho mẹ gói trà.
Tôi hỏi.
- Ở đâu ạ?
Mẹ nói.
- Bốc trong thúng hàng vậy. Hôm nay bận quá.
Tôi mở thúng hàng, lấy thứ bình dân mẹ vẫn bán, pha nước. Trước đây, mẹ tôi không bao giờ dùng tới nó. Đôi mắt sắc như dao cau của cô Tâm nhìn theo, lặng lẽ. Chờ cho tôi pha nước, và mẹ tôi đã yên vị lên chiếc ghế đối diện với cô, cô Tâm nới cất giọng rẽ ràng.
- Con Hằng nó đó ăn, sao không nói cho tôi biết một lời?
Mặt mẹ tôi đỏ ửng, mẹ lắp bắp.
- Em bận quá, tối ngày em ở ngoài chợ.
Cô quay sang tôi.
- Sao cháu không viết thư cho cô?
Tôi đáp.
- Tối qua cháu xin mẹ cháu bán một chiếc nhẫn đi mua thức ăn, nhưng mẹ cháu không cho.
Cô Tâm hỏi day lạ.
- Mẹ cháu không cho?
- Vâng. Mẹ cháu bảo của cô, không được tùy tiện dùng. Dạo này, hàng họ ở chợ khó khăn.
Cô Tâm cười, bảo mẹ tôi.
- Chẳng lẽ tôi quý của hơn người. Cô thừa biết con Hằng sẽ thừa hưởng toàn bộ gia sản nhà này? Để nó thành mớ xương khô rồi đeo vàng vào cổ hay sao?
Mẹ tôi đáp.
- Tuy là của chị cho cháu nhưng... em nghĩ là quyền ở chị. Chị chưa cho phép.
- Thôi được, giờ tôi cho phép. Có cả mẹ cả con cô ngồi đây, cô lấy đôi nhẫn với cặp hoa tai cho tôi.
- Vâng.
Nhưng mặt mẹ tôi tái ngắt. Ngập ngừng một lát, mẹ tôi đứng dậy, vào buồng trong. Mẹ lục rất lâu. Trong khoảng thời gian ấy, cô tôi thong thả bước tới bàn thờ. Cô lấy tấm ảnh của bố tôi xuống, rút mùi xoa trong túi, lau sạch, rồi đặt lên. Cô đứng trầm ngâm nhìn. Lúc đó, tôi chợt hiểu. Chàng thanh niên trong tấm ảnh mờ nhạt ấy, với đường ngôi thẳng tắp trong trắng, với nụ cười thẹn thùng, đường cong của vành tai và vẻ tươi tắn ngời lên trong ánh mắt... sao giống người đàn bà nhỏ thó da nâu sậm, đôi vai mỏng và gầy, những nếp nhăn khắc khổ hằn hai bên khóe mép. Hai chị em giống nhau lạ lùng. Một người dưới cõi âm và một người trên dương thế. Một thiếu niên và một người đàn bà khô héo, sắp bước lên bục lão làng. Có lẽ, đó là sức mạnh bí ẩn của huyết thống.
- Chị...
Mẹ tôi từ trong buồng bước ra, một tay nắm chặt, mặt bỗng dưng nhợt nhạt như người phải cảm. Cô Tâm quay lại. Bước những bước khoan thai, cô đi lại bàn nước, ngồi xuống ghế. Cầm chén chè đã bắt đầu nguội, cô đưa lên môi nhấp và hỏi mẹ tôi.
- Có chuyện gì thế, cô?
Mẹ tôi vẫn đứng lom khom, không dám ngồi xuống ghế. Một tay nắm chặt, tay kia vịn vào mép bàn.
- Em định nói với chị... là...
Cô Tâm im lặng, nhìn thẳng vào mắt mẹ tôi. Từ đôi mắt cô bắn ra những tia sáng lạnh, nhọn sắc, dường như chúng có màu tím. Tôi có cảm giác mẹ tôi sắp ngã quỵ trước những tia nhìn giá buốt ấy. Tôi định chạy tới đỡ mẹ. Nhưng một sức mạnh không cắt nghĩa được đã kiềm chế lại. Mẹ tôi vẫn đứng, môi trắng như giấy ngâm nước, cô gắng nói cho hết câu.
- Cặp nhẫn của chị, em cho người bạn mượn làm vốn buôn đường xa. Vì... họ hứa... chia lãi...
Tôi biết mẹ nói dối. Cô Tâm mỉm cười:
- Một tháng họ chia cho cô bao nhiêu?
Mẹ đáp, lần này trơn tru hơn.
- Năm phân.
Cô tôi vẫn cười, nói từ tốn.
- Nếu thế, một tháng, riêng tiền lãi đã đủ hơn 10 cân thịt, làm sao con bé lại gầy trơ xương thế này?
Mẹ tôi đáp, lần này rất nhanh.
- Nhưng em mới cho họ vay ba tháng nay. Ba tháng, họ chưa nhờ cậy được ai quen thuộc và tín cẩn để gửi tiền ra. Em có nhắn cho họ biết, cứ chồng tiền lại, tính lời, nửa năm em lấy một lần, cho ra tấm ra món...
- Họ ở đâu vậy?
- Minh Hải. Hai vợ chồng đem nhau vào tận trong đất mũi làm ăn. Đó là nơi tụ tập dân tứ xứ.
Tôi không ngờ mẹ tôi ứng biến mau lẹ thế. Những người dối trá, chỉ khó khăn nhất khi vượt qua ranh giới đầu tiên. Khi đã qua ranh giới ấy, không còn cái chốt nào hãm họ lại. Cô tôi đứng dậy đi xuống bếp. Vẫn dáng đi thong thả như thế. Rồi cô trở lại với mâm cơm đậy lồng bàn. Cô đặt mâm cơm lên, và lật chiếc lồng bàn ra: một đĩa dưa cải củ muối xổi, với một đĩa xu hòa kho tương. Thực đơn quen thuộc từ ba tháng nay. Cô nhếch môi cười. Mẹ tôi rùng mình, rồi cúi gằm mặt xuống. Mặt mẹ, hai bàn tay mẹ, cổ mẹ tất cả đều tím như người bị tụ huyết sau trận đòn. Cô Tâm nói.
- Cô ngồi xuống ghế.
Lúc này, mẹ tôi giống như kẻ mất hồn, đờ đẫn làm theo lời sai khiến của cô. Mẹ tôi ngồi, đối diện với cô nhưng không ngẩng đầu lên. Cô lại bảo.
- Đưa đôi bông tai đây.
Mẹ tôi đặt bàn tay vẫn nắm chặt lên bàn khẽ xòe ra, để rơi một gói lụa nhỏ màu xanh. Cô Tâm nhặt gói lụa đó lên, không thèm mở ra xem, mà gạt nó về phía ấm trà, như người ta gạt một bao thuốc lá hay một chiếc bật lửa. Cô nói.
- Cô Quế này, trước kia tôi vẫn thương cô. Dù những ngày oan khổ, cũng chưa phút nào tôi oán trách.
Giọng cô Tâm đều đều, như người đọc kinh, hàm chứa sự bình thản tột vời. Nghe cô nói, mẹ tôi rùng mình như bị lạnh, rồi mẹ cúi đầu thấp hơn, nhô vai lên cao như để tránh cơn gió buốt.
- Cô có nhớ ngày cô giả bộ móc cua để gặp tôi không?
Cô Tâm nói, và dường như mỗi lời nói là một lằn roi quất lên đầu mẹ tôi.
- Ngày ấy, lúc cô đi theo bờ ruộng, tôi cắp rổ quần áo ướt về làng, nước mắt hai hàng lai láng. Tôi thương thân, thương chú Tốn, thương cô. Làm sao còn nỡ dày vò nhau, những con người oan khổ. Tất cả nông nỗi ấy là số kiếp...
Mẹ tôi không gượng được, gục đầu xuống mép bàn. Giọng cô tôi rót đều đều.
- Bao nhiêu đêm ròng tôi thức trắng. Những đêm ấy, tôi thấy oan hồn mẹ tôi, tôi thấy hình bóng lang thang vật vờ của chú Tốn, tôi thấy gương mặt cô, cái buổi trưa trời nắng tóe lửa, mà cô khóc ngôi khóc nghê như mưa dầm. Tôi biết vợ chồng cô thương yêu nhau. Lạy trời cho vong linh em tôi mát mẻ...

Cô ngừng lại, mắt nhìn xa xăm. Rồi cồ nói tiếp.
- Tôi nhớ vụ mùa năm ấy. Ba giờ sáng tôi thức dậy, luộc một nồi khoai sọ, nửa ăn, nửa đùm vào giỏ đem theo. Thắt lưng buộc cho chặt, đi cấy thuê cho tiên hạ. Non trưa, cơn đói đã réo như sôi trong dạ, phải bấm bụng cấy một mạch tới đúng trưa mới dám giở giỏ khoai ăn. Mùa đông rét cắt ruột, người ta cấy xong lui về nhà làm vườn, chăn con lợn con gà chờ lúa chín. Đèn lửa, cơm tối ấm bụng, vợ chồng con cái họ kéo nhau lên giường. Tôi vác nón lội qua hai cánh đồng làm miến thuê. Mười một giờ đêm còn ngồi ôm cối quay bột. Gà gáy nửa đêm mới đội nón về nhà. Qua đồng, lửa ma trơi chập chờn như bóng đèn bay đuổi. Có bữa ở điếm canh thôn Đông, một thằng đàn ông xô ra. Nó đè sấn tôi ngay vệ cỏ... Giá như bây giờ cứ mặc, lại có đứa con nuôi. Nhưng lúc ấy, thì sống chết vật lộn, cào cấu. Đồng không mông quạnh, kêu cũng chẳng ai nghe. Mà có nghe, người trong xã tìm đến nơi, nhận ra mình là con địa chủ, họ cũng chẳng thèm cứu. Không biết chừng họ còn vu cho tội gian dâm. Cứ nghĩ vậy, mà liều mạng giằng giật. Hồi ấy đang xuân, tôi còn hăng lắm. Tôi cắn cổ thằng khốn nạn máu nó phọt ra mặn mà ấm như tiết gà. Nó kêu rống lên thả tay ra. Còn mình cũng vớ chiếc nón đâm đầu mà chạy. Vừa chạy vừa nhổ phì phì. Vị máu đọng trên đầu lưỡi, vừa tanh vừa mặn, đến nhà, gà gáy canh một , phải nhảy ùm xuống ao tắm, giặt áo, tẩy uế mùi hôi. Lóp ngóp lên bờ, gà đã gáy canh hai . May sao đêm hôm đó tôi không cảm hàn mà chết.

Cô lại ngừng. Hai bàn tay cô đặt lên bàn, như hai mảnh rễ cây chồng lên nhau, bất động. Những chiếc móng tay nhỏ nhưng xù xì, sừng dày và nổi những rạch thẳng như đường ray. Trên lớp da nhăn nheo hiện lên những chấm tròn nâu sậm. Đó là những vệt đồi mồi. Chúng đã được tạo thành quá sớm, so với những người đàn bà khác, ở lứa tuổi cô. Sau một hồi lơ đãng nhìn vào hư không, cô nói tiếp.
- Cô Quế, cô còn nhớ hồi sửa sai không nhỉ? Cái buổi tối những người oan ức trong làng đã tụ tập lại, đến trước cổng đập phá, đòi rạch miệng...
- Thôi, thôi...
Mẹ tôi bật kêu to:
- Thôi, thôi... Em xin chị, em lạy chị...
Rồi mẹ tôi khóc rưng rức, đầu gục xuống mặt bàn toàn thân run bần bật từng cơn. Tôi đến bên mẹ tôi, van vỉ.
- Mẹ, đừng khóc, đừng khóc...
Nhưng tôi biết việc tôi làm thật vô nghĩa. Mẹ tôi buông những lời nói đứt đoạn trong cơn nức nở.
- Em lạy chị, em lạy...
Cô Tâm ngồi im lặng. Đôi mắt tròn của cô cũng bất động, không thoáng qua chút ánh sáng nào. Dường như lúc ấy, trong đôi mắt đen của cô, bóng tối và ánh sáng đã hòa trộn để tạo nên một trạng thái âm u, mờ đục của khoảng khắc sau chót buổi hoàng hôn. Cô chờ cho mẹ tôi ngớt cơn nức nở, lại nói tiếp, vẫn giọng đều đều không âm sắc.
- Trên đời, chẳng ai gian dối được với ai. Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra huống hồ chuyện nhân gian, sờ sờ trước mắt thiên hạ. Ở quê tôi cũng biết được một số việc cô làm, mọi đồng tiền cô tiêu. Tôi chẳng trách cô, ai ai cũng máu mủ ruột rà. Tôi thương em tôi thế nào, người đời cũng biết thương em họ như thế. Nhưng trong chuyện này, tôi phải rành mạch cho cô hiểu, em trai cô là kẻ tử thù của gia đình tôi. Nó đã đẩy em tôi vào cõi chết. Tôi không cho phép ai dùng đồng tiền của tôi để nuôi dưỡng nó.

Nói xong cô đứng lên.
- Từ nay, cô cũng không được quyền thờ cúng em tôi.
Nói xong, cô bước tới bàn thờ, lấy tấm khung kính lồng ảnh cha tôi. Tìm một mảnh nilông, cô bọc lại cẩn thận. Sau đó, cô dỡ trong làn những thứ quà đem theo: nào giò, nào chả, nào đường, sữa, nào bánh trái... Tất cả, chất ngồn ngộn trên bàn. Cô Tâm bỏ tấm ảnh của cha tôi vào chiếc làn đã rồng không, bảo:
- Những thứ này của cô mua, đồng tiền của cô, mô hôi nước mắt của cô. Đem cho cháu chứ không cho quân sát nhân đâu nhé...
Tôi không dám trả lời cô, chỉ im lặng gật đầu. Mẹ tôi đã thôi khóc, không ngửng đầu lên, nhưng chắc chắn nghe rõ từng lời của câu nói riết róng ấy. Vừa lúc, tiếng xe Honda nổ ròn trước sân. Cô Tâm nhìn ra.
- Đừng tắt máy. Tôi ra ngay đây.
Cô cầm gói lụa xanh bọc đôi hoa tai trên bàn, bỏ vào túi, rồi bảo tôi.
- Cô cất cho con. Của con không chỉ có đôi hoa tai này. Còn trăm nghìn thứ nữa, Nhưng cô không muốn nó lọt vào tay kẻ khác.
Nói xong, cô bước ra cửa, không chào ai. Người đàn ông đeo kính màu xanh chai giơ tay lên mũ, nheo mắt cười với tôi. Rồi ông ta phóng xe đi. Cô tôi ngồi phía sau, bé nhỏ, gầy gò. Như con nhái bén bám vào quả dưa ếch.

Tôi quay vào. Mẹ ngẩng đầu lên, nhìn tôi. Mắt mẹ mọng nước, xa lạ và hằn thù. Tôi gọi.
- Mẹ...
Nhưng mẹ không trả lời. Bỏ cơm, mẹ gánh gánh hàng ra chợ. Từ hôm ấy, quan hệ giữa chúng tôi trở nên tồi tệ. Tôi không cắt nghĩa nổi vì sao. Tôi đã hết sức cố gắng, hết sức nhường nhịn, nhưng không cứu vãn được. Thoạt tiên, là thái độ lạnh nhạt, xen lẫn mỉa mai. Bữa ăn, tôi dọn ra, mẹ cúi đầu xăm xăm gắp dưa cải. Tôi gắp giò chả bỏ vào bát mẹ, mẹ hất xuống mâm.
- Mời chị. Tôi không dám đụng đũa vào phần người khác.
Tôi van vỉ.
- Mẹ lạ thật. Cô Tâm giận cô nói thế, mẹ để bụng làm gì?
Mẹ cười nhạt.
- Đồng tiền của người ta, mồ hôi nước mắt của người ta, tôi không dám.
Tôi cười xí xóa.
- Mẹ buồn cười thật. Ai mà chấp nê như trẻ con thế. Mẹ ăn con mới ăn.
Mặt mẹ lạnh như tiền, giọng kéo dài ra chế riễu.
- Ấy chết, chị phải tẩm bổ cho khỏe mà học cho thành tài. Người nhà chị nuôi dăm bảy con lợn để chờ ngày chị đỗ trạng nguyên mổ khao làng, khao nước.
Tôi vẫn cười.
- Con chỉ sợ không phải người ta mà chính là mẹ mong con đỗ trạng thôi.
- Không dám. Tôi đâu được quyền xếp hạng với người ta?
Nói xong, một lần nữa, mẹ hất miếng giò tôi bỏ vò bát mẹ xuống mâm. Tôi cố cười.
- Thế mẹ muốn con xếp mẹ vào hạng nào? Con thì con chỉ xếp được mẹ vào hàng lãnh tụ thôi.
- Đừng cho tôi đi tàu bay giấy. Chị đem người khác đặt lên bàn thờ thì hơn.
Dầu sao, tôi cũng chỉ là một cô gái 19 tuổi. Tôi không chịu đựng được thêm. Cơn tức giận bùng nổ. Tôi nói.
- Dù mẹ đẻ ra con, con cũng phải nói sự thật. Chính mẹ sai lầm. Mẹ đã dối trá. Xưa nay, chỉ một lần con nói dối mẹ. Hồi lên bảy, mẹ sai đi mua ba lạng thịt quay. Con đã mua hai lạng rưỡi, bớt tiền để đi thuê truyện. Lần ấy, mẹ đánh con lằn hết hai mông. Con đã đau, con đã nhục, con đã hiểu rằng dối trá là thói xấu và không bao giờ con lập lại.

Mặt mẹ tôi đỏ bừng lên. Hai mắt mẹ đảo lia lịa. Rồi bỗng dưng mẹ quăng đũ xuống, hét.
- Mày bước đi, bước khỏi nhà này... theo bà cô của mày.
Tôi đứng dậy, thu xếp quần áo, buộc lên xe. Mẹ tôi lấy cái bị cói, bỏ tât cả những thứ thực phẩm, quà bánh cô Tâm mua cho tôi vào, treo lên ghidông, miếng nói.
- Đi đi... bước cho khuất mắt.
Tôi đạp xe vào trường. Hôm ấy là một ngày đẹp trời. Mùa đông chưa qua, nhưng trời đã ấm. Nắng rực rỡ một cách bất thường, như tấm khăn choàng thiếu nữ. Người ta đi phố tưng bừng, vui vẻ. Không ai biết tình cảnh của tôi.



18

Tôi vào trường, xin ở nội trú. Quản trị tạm ghép cho tôi ngủ cùng với một cô bạn người Tày quê Lạng Sơn. Cô ta to béo, hai má luôn đỏ như trái đào chín, cười nói suốt ngày. Cô giúp tôi thu xếp đồ đạc, rồi xẩm tối, cô trang điểm kỹ càng, ra đi.
- Đằng ấy cứ buông màn ngủ trước nhé. Còn khuya tớ mới về.
Nói xong cô nháy nháy mắt nhìn tôi.
- Thông cảm. Người yêu đang chờ ở cửa ký túc xá.
Cô đi. Mùi nước hoa nội địa tạt lại, sực nức. Mấy cô trong phòng cũng lần lượt đi nốt. Tôi ngồi bó gối, nhìn ngọn đèn điện sụt thế tối lù mù như một thứ đèn hoa kỳ hạng bét treo lơ lửng giữa phòng. Nó giống con mắt màu da cam nhìn vào mắt tôi, bệnh hoạn, tăm tối. Bên ngoài, gió rất nhẹ, reo vi vút. Trời không rét, chỉ lành lạnh. Tôi nhớ căn nhà, ngọn đèn với cái chao bằng sứ trắng, giá sách cỏn con của tôi. cái lọ sành cắm mấy bông cúc vàng đặt ở góc cửa sổ... Giờ này, chắc mẹ tôi cũng ngồi bó gối trong căn phòng trống vắng, giá lạnh nư tôi. Nước mắt tôi rơi từng giọt. Khi con người có quá nhiều lòng tự trọng, mà buộc phải hành động thiếu lương tâm, họ không đủ can đảm nhìn vào tội lỗi. Liên sỉ, ở khía cạnh tiêu cực, là một sợi thòng lọng không có cơ hội tháo gỡ. Tôi biết mình thất bại...

Cuộc sống trong ký túc xá bắt đầu bằng một kỷ niệm vui vẻ. Những chuỗi ngày tiếp theo cũng không nhiều sóng gió. Có vài ba cuộc va chạm nhẹ, nhưng bản tính tôi không chấp nể, nên mọi kết thúc cũng tốt đẹp. Cô bạn người Tày rất đáng yêu. Một người dễ tính, tốt bụng và có đôi phần ngốc nghếch. Cô học rất kém, tôi luôn luôn phải chép bài cho cô. Bù lại, cô có nhiều anh chàng theo đuổi, toàn những chàng trai đẹp mã, thân hình như tượng thần Apôlông. Chàng này tặng thơ, chàng khác làm bài hát tặng cô. Và cô đánh số thời gian thư từ, các nhạc phẩm và thi phẩm thành bộ. Bộ sưu tập ấy cứ một tháng một lần được đem ra khoe tôi. Tôi giúp cô làm những bài thơ họa lại, viết những tình cavớ vẩn tặng lại, khiến đám nhân tình của cô lăn lóc mê cô như phải bùa. Tóm lại, chúng tôi quý nhau. Về phần kinh tế, ngay từ tuần lễ thứ hai tôi vào khu nội trú, người đàn ông đeo kính màu xanh đã đèo cô Tâm tới nơi. Từ đó, cứ hai tuần, cô lên chơi. Tiền nong, thực phẩm cô cung cấp cho tôi thừa mứa. Phải nói thực thà là, cả năm cô nữ cùng phòng với tôi và hội nam sinh nội trú bên cạnh được nhờ cậy ít nhiều vào cái kho thực phẩm của tôi. Người vác bát sang xin mỡ, người bưng ca nước sang xin đường. Có nhóm tới bữa cơm cầm chiếc camen gõ coong cong trước cửa lán. Toi lại phải đem nồi thức ăn mặn của mình ra san sẻ.
- Hằng ơi, viện trợ bát nước mắm.
- Hằng ơi, tớ xin thìa mỡ.
- Hằng ơi, cơm nhạt khó nuốt quá. Nồi cá kho của cậu xem chừng cần san bớt đi. Chủ nghĩa cộng sản được xây dựng trên tinh thần tương thân tương ái.
May mắn hơn nhiều bạn sinh viên khác, tôi không phải lo lắng vì miếng cơm, manh áo. Nhưng tôi bị phân tâm vì mẹ tôi. Bất kể sự ngang trái nào, bất kể sai lạc nào, tôi cũng là con. Và tôi yêu mẹ. Qua tin tức của những người quen, tôi biết những nỗ lực của mẹ tôi đã có kết quả. Cậu Chính khỏi bệnh, trở lại làm việc. Một lần mẹ tôi ốm, cậu mợ ấy đã đèo nhau tới chơi. Lần ấy, mẹ cũng bày biện trà thuốc, bánh kẹo, mời cô Vị và đám láng giềng sang để giới thiệu vợ chồng người em trai.
- Cậu ấy là cán bộ tư tưởng của Đảng và mợ ấy là giáo sư trường Đoàn.
Đứa con gái cô Vị kể lại với tôi, mẹ đã sung sướng biết bao khi giới thiệu những người ruột thịt của mẹ như thế, trước đám dân lao động trong ngõ phố. Nghe chuyện, tôi tạm yên tâm. Tôi mừng cho mẹ. Dầu sao, con người cũng nên có một cái lý để tự hào. Nhưng tôi không thể nén cảm giác tủi cực, có đôi phần uất ức. Chính họ, chính những người đem cho mẹ niềm vinh hạnh ấy là duyên cớ sự chia rẽ trong gia đình chúng tôi. Và, chui vào một góc tối trong học đường, ngồi giữa những hàng ghế thênh thang, bụi bặm, tôi mơ đến mái nhà vá víu của mình. Tiếng mưa rỉ rách gõ trên mái tôn. Âm điệu xôn xao của buổi lê minh, khi chân trời chưa rạng, khi tiếng gọi í ới, tiếng mắng chửi con cái, tiếng sai bảo công việc cùng lúc vang lên, ném qua các bức tường, hòa với mùi thơm của các món ăn sáng, tạo nên bầu không khí quen thuộc với tôi từ thuở ấu thơ. Tôi mơ tới giàn hoa đăng tiêu cháy như lửa, ngạo nghễ và chói chang giữa khóm nhà lô nhô, giữa những bức tường cắm mảnh chai bẩn thỉu và gớm ghiếc, như một bài ca khát vọng quá mãnh liệt trào lên trên ngọn triều bèo bọt của đời thường. Tôi mơ đến tiếng hát khàn và sai lạc của anh què, nghe như tiếng đổ vỡ, tiếng kêu, lời mời gọi. Tôi mơ tới một que kẹo mạch nha...

Học kỳ ấy tôi được xép hạnh sinh viên ưu tú, Cô Tâm may cho tôi hai chiếc áo bằng hàng mútxơlin ngoại, một chiếc màu lòng tôm, một chiếc xanh da trời. Ai cũng khen tôi mặc áo mới, trông trẻ và xinh hẳn ra. Cô Tâm im lặng nghe những lời khen ấy, với vẻ mặt đăm chiêu. Chắc cô đang tính xây cho tôi một thiên đường ngay ở cõi trần ai này. Cô đổi chiếc xe nữ Thống Nhất cũ rỉ tôi vẫn đi bằng chiếc xe Mifa mới. Cô định mua xe Pơgiô cho tôi nhưng may sao, người đàn ông đeo kính màu xanh chai đã kịp gàn.
- Không phải em tiếc cháu. Nhưng con gái đi xe đắt tiền chỉ làm mồi cho bọn bất lương.

Cô nghe theo, nhưng cô vẫn đánh một sợi dây chuyền vàng tây bắt tôi đeo.
- Nam vô tửu bất thành nam, nữ bất điểm trang bất thành nữ.
Cô nói thế. Rồi cô xuống một làng ngoại thành đóng cho tôi một lúc ba đôi giày. Thứ có gót, thứ hở gót, thứ quai tết không khóa cài. Nhưng có một nguyên tắc, không bao giờ cô đưa quá nhiều tiền cho tôi. Vàng cũng thế. Tôi ít ra thành phố, thường lúc rỗi tôi chúi mũi vào thư viện đọc sách. Chưa nhận lời yêu ai, tôi không ham đi xem chiếu bóng, xem xiếc, rong chơi. Tiền đối với tôi dường như không cần thiết. Và thế, món trợ cấp hàng tháng của cô cứ dồn tích lại. Tôi định khi nào mẹ nguôi giận tôi sẽ đem món tiền ấy về, thay lại mái nhà cũ. Nếu không đủ đổ mái bằng, tôi cũng lợp ngói Tây. Nhưng trái với dự tính của tôi, món tiền ấy đã được dùng vào việc khác.

Ấy là một chiều xuân, tháng hai, mưa phùn rắc đầy trời. Ánh chiều tím sẫm, lọc qua mưa, bảng lảng như khói. Chúng tôi ngồi trong phòng, vừa tí tách ăn hạt bí, vừa tán chuyện hôm trước, lớp trướng của chúng tôi cưới vợ. Anh ta là bộ đội chuyển ngành, 33 tuổi, xấu mã nhưng rất tốt bụng. Một người chính trực, công bằng. Trong lớp, kể cả những chàng trai ngang ngược nhất, kể cả những cô gái chỏng lỏn, hoặc lười học ham chơi, hoặc đôi co mách lẻo, hoặc có thói ăn cắp vặt... những người bị anh đề nghị kỷ luật cũng không thù ghét được anh. Sáng qua, mưa phùn dầm dề. Cả lớp đội mưa, bì bõm lội qua một khúc đường sống trâu để vào dự đám cưới. Làng anh ở Vĩng Phú, vùng đồi xinh tươi nhưng nghèo khó. Đám cưới có cả kẹo nuga, kẹo Hải Hà, cả kẹo bột và chè lam nhà tự nấu. Hạt bí anh phải mua từ Hà Nội đem về. Cô dâu ở làng, một thôn nữ khỏe mạnh, lưng to chân to. Hai má không cần đánh phấn cũng đỏ rực. Đám cưới vui.

Chừng bảy tám giờ tối, lũ chúng tôi mới mò mẫm ra ga, trở về Hà Nội. Cô dâu chú rể quần xắn ngang bắp chân theo ra ga đưa tiễn. Hai người dúi cho chúng tôi một gói hạt bí, một bọc chè lam, lại cả một đùm bánh khoai bánh nếp. Con tàu chạy suốt đêm. Chúng tôi vừa phải chống đỡ đám hành khách lôi thôi tràn trên các ga lẻ, vừa rôm rà chuyện trò.

Gần sáng, tàu mới tới thành phố. Kéo nhau về khu học xá, cả bọn lăn ra ngủ. Nhưng khi cơn buồn ngủ đã được thỏa mãn, chúng tôi lại cảm thấy phấn khích, lại tụ tập nhau cắn hạt bí, tán chuyện. Đối với tuổi thanh xuân, đám cưới, hôn nhân, tình yêu là đề tài bất tận. Mội cô nàng chợt hô lên.
- Sắp hết hạt bí rồi.
Cả đám nhao nhao nói.
- Đề nghị tiếp tục trợ cấp.
- Tới lượt ai?
- Ninh, tới lượt cái Ninh. Ba lần trước nó đều đánh trống lảng. Ê, Đào Thị Ninh, xùy tiền ra. nay đã tới phiên nhà ngươi nộp thuế thân.
- Nhưng mà đến hôm nay mỗ lại hết tiền... Ha ha ha... may thật là may.
Đào Thị Ninh, một cô gái quê Hải Phòng, to béo, đen mập, sống mũi gồ to như con trai nhâng nháo nói. Nói xong, cô nàng lại đứng phắt lên, ngay giữa đám đông lộn hết các túi áo túi quần. Mấy cậu bạn trai nhăn mũi.
- Hắt xì hơi, mất vệ sinh.
- Thôi, ngồi xuống, đàn bà con gái gì mà...
Ninh liền túm tóc cậu con trai vừa nói lên.
- Mà làm sao, nói tiếp?
Cậu bạn cười cười, cố gỡ mái tóc uốn quăn chùm nho khỏi bàn tay cứng như thép của nữ lực sĩ. Ninh hỏi.
- Nói mau, không ta cho một chưởng.
Cậu bạn chớp mắt, rồi đánh liều.
- Mà mà... thơm như hoa nhài vậy.
Cả bọn rũ ra cười, nước mắt giàn giụa, cười xong, chừng vẫn nhớ rằng hạt bí sắp hết, mà câu chuyện đang giòn. Tất cả quay lại Đào Thị Ninh.
- Mày đích thị là đồ hủi. Lần nào phải nộp phạt mày cũng hết tiền.
Ninh cười ha hả.
- Số mỗ luôn luôn may. Thần tài phù trợ cho mỗ.
Đoạn Ninh khoa chân múa tay, hát tuồng.
- “Như ta đây, chẳng phải dân Nghệ An, Hà Tĩnh nhưng thánh keo cũng gọi bằng cụ tổ. Năm một hội, tháng hai kỳ, dân con miền Trung xì xụp khói hương, lễ bái ta, ta phù hộ độ trì cho muôn dân xứ ... keo...”

Một cô bé quê ở Hải Hưng rú lên trước, rồi cả bọn cứ thế mà cười theo. Lần này, đứa nào đứa nấy ôm bụng bò lóp ngóp trên giường, lũ con trai chổng cả vó lên, giãy đành đạch. Từng cơn cười kéo tới, không kiềm chế nổi, từ người nọ lây lan sang người kia. Phải 10 phút sau, chúng tôi mới hoàn hồn. Tích, một anh chàng quê Nghệ An, vừa lau nước mắt vừa nói.
- Tổ cha mi, mi vào quê tao xem mi có dám hát thế không?
Ninh đáp lại liền.
- Tổ cha mi, tau mà vào quê mi tau thành triệu phú.
Tích thật thà quay lại hỏi.
- Sao vậy?
- Tau thuê thợ tiện, tiện một ngàn con cá gỗ. Đem sơn vàng, sơn đỏ, vào quê mi bán giá thắt cổ, tau thành triệu phú liền.
Tích vỡ lẽ, giơ nắm tay đấm Ninh. Ninh chạy. Hai người đuổi nhau mấy vòng liền. Rồi, sau đó, Ninh giơ tay đầu hàng.
- Kéo cờ trắng.
Cả hai về chỗ ngồi, thở hổn hển. Lúc ấy, Đào Thị Ninh quay sang bảo tôi.
- Ê, nhà tài phiệt mặc quần thâm, xì tiền đi mày.
Tôi bảo.
- Cũng được. Nhưng mày phải đi mua. Trời mưa, tao ngại lắm.
Ninh liền trợn mắt quát:
- A, ra mày cậy có tiền, mày muốn ngồi nhà phải không?
Tôi đáp:
- Tất nhiên, ông mất của kia, bà chìa của nọ.
Cô gái lực sĩ liền túm lưng áo tôi, nhấc bổng lên.
- Này, đây là luật của bạn bè, nghe không ? Mặc áo mưa vào và đi ngay tắp lự. Mày giở thói bà chủ ra, mày sẽ bị tống cổ khỏi hội ngay.

Tôi nghĩ, Ninh cũng có lý. Vả lại, không ai có thể khuất phục cái con bé nặc nô ấy. Bụng tức, nhưng tôi vẫn phải trùm áo mưa đi. Ở cổng trường, có một dãy hàng quán. Tới đó, có thể mua từ hộp sữa ngoại tới vài cái kẹo vừng hoặc mấy nắm bỏng ngô.

Sân trường lầy lội. Khu nội trú càng lầy lội hơn. Những viên gạch ném trên lối đi chìm nghỉm trong lớp bùn nhão. Đám cỏ loi phoi nhú ngọn lên. Tôi bước từ viên gạch lát này sang viên gạch lát kia, cố gắng không trượt chân dẫm xuống nước. Chú tâm vào việc đó, tôi không biết có một người đang đi ngược lại phía mình.
- Hằng!
Tiếng gọi giật giọng khiến tôi giật nảy, ngẩng mặt lên. Cách tôi vài bước chân là cô Vị. Cô trùm tấm nilông xám, dài ngang khoeo chân. Quần đen xắn tới bẹn. Đôi chân trần lội trong bùn. Một tay cô giữa tấm vải che mưa, tay kia xách đôi dép.
- Cô tìm cháu suốt từ lúc tan tầm.
Tôi nhìn gương mặt đầm đìa nước của cô.
- Lâu quá cháu chưa về nhà... Có chuyện gì thế cô?
Cô cũng đăm đăm nhìn tôi, rồi thay vì trả lời, cô nói một câu chẳng ăn nhập gì vào câu chuyện.
- Mày có lớn mà chẳng có khôn, Hằng ạ...
Xung quanh chúng tôi là khoảng sân láng nước, mấp mô các gờ đất, các lối đi rải sỏi. Không nơi nào trú chân được. Tôi nói với cô.
- Cô quay ra cổng trường với cháu. Ở đó, có quán hàng.
Cô gật đầu.
- Ờ.
Rồi chúng tôi im lặng đi về phía cổng trường. Mươi phút sau, tôi đưa cô vào quán bà Nhu, một bà chủ quán quen thuộc. Nhiều lần cô Tâm lên, cô cháu tôi thường ra ăn quà ở đó. Bà Nhu đang ngồi ngáp, đon đả cất tiếng chào. Rồi bà chỉ cho chúng tôi khúc tre thừa đầu quán, đề móc mấy tấm vải che mưa. Những chiếc ghế băng lấm bùn. Tôi mượn bà Nhu mảng giẻ lau. Bà hỏi.
- Cô Hằng ăn gì?
- Cháu xin bà hai chén chè nóng với đĩa bánh đậu xanh.
Bà Nhu rót hai chén chè Thái xanh vào chén vại, rồi đặt một gói bánh đậu xanh lên chiếc đĩa hoa Hải Dương.
- Bà với cô tự nhiên nhé, Cho tôi vô phép...
Sau khi nói một cách lịch sự, bà co hai chân lên ghế tựa lưng vào vách, ngủ gà ngủ gật. Cô Vị uống một hơi hết cả chén nước, có lẽ cô đang lạnh. Rồi cô hỏi.
- Sao hôm đi, không rẽ vào cô?
- Mẹ cháu đuổi cháu đi tức khắc. Vả lại, lúc ấy cháu không nghĩ ra.
- Lúc ấy, cô còn ở nhà. Hàng chưa đủ gánh. Giá cô biết thì không đến nỗi.
Cô thở dài sườn sượt. Tôi ngồi im. Tốt nhất là im lặng và đợi. Những năm tháng sống cô đơn dạy tôi điều ấy. Cô Vị lại uống nốt chén chè thứ 2, và nói.
- Mẹ mày khổ lắm.
- Nhưng cháu cũng có sung sướng gì đâu?
- Đã đành, nhưng mẹ vẫn là mẹ.
- Bao giờ cháu cũng yêu mẹ cháu.
- Trời đầy bà ấy.
- Chính mẹ cháu đã đuổi cháu đi.
- Phải, cô biết... Nhưng mẹ mày không muốn thế.
- Không muốn?
- Phải, không muốn, nhưng vẫn cứ làm. Ở đời, nhiều khi như vậy. Bao giờ cháu lớn lên, từng trải hơn khắc biết. Chẳng phải đương nhiên, nhân gian có câu: ma đưa lối, quỷ đưa đường.

Tôi mở chiếc nắp bông ủ trên tích nước chè, rót chén thứ ba cho cô. Chén chè nóng giãy. Cô đưa hai bàn tay ủ chén nước cho đỡ rét. Tôi nói.
- Cô bán hết hàng chưa?
Cô gật đầu.
- Bán hết hàng vừa tan tầm. Cô gửi quang gánh cho người quen rồi đi ô tô tới đây.
Uống nốt chém chè thứ ba, cô đứng dậy.
- Đi đi cháu.
Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Đi đâu?
- Mẹ mày què chân rồi. Bị ô tô chèn sáng nay, khi gánh hàng qua đường. Lúc cô biết tin trời đã non trưa, người ta đã đưa bà ấy vào viện. Bác sĩ phải tháo khớp gối. Đi đi cháu, bà ấy nằm trong bệnh viện Bạch Mai.
Tôi không nhớ mình đã làm gì lúc ấy. Chân tay tôi giá lạnh, như bị chuột rút, tôi ngã vào bàn bày bát chén, bánh trái của bà chủ quán. Cô Vị đỡ tôi lên, trả tiền, nói gì đó thì thầm với bà chủ quá. Rồi bà chủ quán đội áo mưa le te chạy đi. Lát sau, bà quay về với chiếc xích lô. Chúng tôi cùng lên xe. Người lái xe kéo chiếc nón lá già che kín mắt, cắm cúi đạp. Đường gồ ghề, xóc nảy, mỗi lần xe xóc, lại vòng hào quang nảy ra trong mắt tôi. Một cơn rét run từ xương tủy lan tỏa ra da thịt. Cô Vị ôm tôi, khẽ đập vào vai.
- Khóc đi, khóc đi cho nhẹ.
Tôi không khóc được. Dường như tiếng khóc vón thành cục nước đá nằm trong họng. Dường như máu cũng đông thành một thứ tiết đặc trong các huyết quản tôi. Mắt tôi tối dần, cùng với bóng tối. Trời vẫn mưa. Mưa xiên lệch cả đất trới. Cái cổng vào viện trống toang hoác như cửa nhà mồ. Cô Vị đã phải năn nỉ mãi, người gác mới cho chúng tôi đi qua. Hành lang... Những giường bệnh... Những gương mặt xa cách và sầu não... Sau cùng là mẹ tôi...
- Mẹ ơi!
Tôi gọi. Và nước mắt trào ra như nước suối, nóng hổi, mặn, chảy tràn trên hai gò má, lan xuống cằm, rơi thánh thót. Bỗng dưng, khối tiết đông đặc trong tôi tan chảy thành các dòng máu. Cục đá trên tim tan chảy thành từng giọt lệ. Người tôi nhẹ bổng đi.
- Mẹ ơi!...
Mẹ tôi quay ra, giơ một bàn tay cho tôi, mỉm cười. Nhưng môi mẹ méo xệch. Rồi nước mắt cũng tuôn đầm đìa trên gò má những vết nám và những vết tàn nhang. Chân mẹ quấn đầy băng cụt ngang gối.



19

Có tiếng ai gọi trong sương mờ. Sao giọng nói xa lạ? Tôi định mở mắt nhưng không được. Tiếng gọi lặp lại lần thứ hai :
- Dậy đi cô bé, tới nơi rồi.
Bàn tay cứng cáp của một người đàn ông nào đó lắc vai tôi. Tôi choàng dậy:
- Chào cô bé, hết khóc chưa?
Người đồng hành cười, những chiếc răng bạc lóe lên. Chiếc mũi khoằm của ông ta giờ đây không còn làm tôi khó chịu. Giơ ngón tay trỏ, ông quệt nhẹ vào má tôi:
- Hãy còn nước mắt đọng đây nhé. Tôi hy vọng là ra ngoài gió nó sẽ khô.
Tôi sực nhớ cảnh toa tàu đêm qua, hai gã trai thô bạo, cơn tủi cực tràn đầy con tim nhỏ bé của tôi. Tôi đã nức nở mãi trong mơ. Người đàn ông sắp xếp hành lý:
- Chuẩn bị xuống ga đi, cô bé. Chỉ còn một hai phút nữa thôi.
Mátxcơva đã ở bên ngoài. Qua ô cửa, tôi thấy khung cảnh quen thuộc của nhà ga. Các đường ray, các mái trú tạm, kè xi măng đón khách chạy giữa các tuyến đường. Các cụm đèn tín hiệu. Các nhân viên nhà ga lặng lẽ đi lại. Trên một mái nhà lợp đá đen xa xa, lũ bồ câu đứng hiền lành.

Tiếng còi tàu rú lên. Ở nơi nào trên trái đất, tiếng còi tàu cũng thế. Người đồng hành nắm cánh tay tôi:
- Mặc áo vào cô bé. Và đưa chiếc túi tôi đeo cho.
Không chờ tôi trả lời, ông ta khoác luôn chiếc túi du lịch của tôi vào vai, trông ông thật giống một con ngựa thồ. Thứ ngựa vùng sa mạc, gân guốc và thanh mảnh. Chúng tôi cùng đi ra ga, trông như hai cha con người Trung Á về thủ đô, hòa vào dòng người đông đúc. Thỉnh thoảng, người đàn ông cúi xuống nhìn tôi, vẻ như ủ ấp và che chở. Cái nhìn của ông takhiến tôi nao lòng. Trong ký ức của tôi, biết bao lần ánh mắt che chở như thế đã hiện về, giữa những trưa hè oi ả, giữa đêm lạnh gió mùa đông bắc ù ù thổi, giữa những cơn mưa thu dầm dề... khoảng thời gian dài rộng đã được đan nối bằng quá nhiều giấc mơ non yểu viển vông và quá nhiều nỗi khao khát. Thỉnh thoảng, người đàn ông lại cầm bàn tay tôi, bóp nhẹ. Tôi nhìn ông ta với lòng biết ơn.

Nhưng phút giây hạnh phúc ngắn ngủi rồi cũng hết. Chúng tôi chia tay nhau trước sân ga. Người đàn ông cúi xuống, nói dịu dàng:
- Rất tiếc, cô bé nhé. Tôi phải đến nơi hẹn bây giờ. Tôi không thể đưa cô đi.
- Cảm ơn ông rất nhiều. Tôi biết tất cả các ga xe điện ngần của thành phố.
Ông ta nghiêng đầu cười:
- Cô bé nói tiếng Nga giỏi hơn tôi. Tôi ở...
Ông ta đọc một tên thành phố nào đó chưa từng biết. Có lẽ, nó không được ghi trên bản đồ.
- Một lần nữa, chào nhé. Hãy đi, và đừng để ai bắt nạt.
Ông ta ghì lấy tôi, hôn lên tóc rồi quay đi. Ông ta qua đường hối hả. Tôi cũng bước đi, hối hả. Tôi tới ga xe điện ngầm gần nhất.

Đừng bao giờ quay lại nhìn, dù một thoáng.
Vì phút giây hạnh phúc sẽ vỡ tan.
Vì phía trước, con đường sẽ trở nên lạnh lẽo...

Những câu thơ tự dưng vang dội trong óc tôi. Như có thi sĩ nào đó, vớii giọng ngâm bốc lửa đang đọc chúng trong một căn phòng vắng.

Tới ga xe điện ngầm, tôi đáp chuyến đi thứ hai trong ngày. Toa tôi ngồi có chừng trên một chục khách, Họ vừa đọc báo, vừa nhai bánh mì kẹp thịt. Có lẽ họ từ một nhà máy nào vừa đi ra, Tới ga thứ ba , bọn họ xuống hết. Còn một mình tôi. Tôi ngắm mình trong tấm kính đối diện, lấy lược ra chải lại tóc. Rồi rút bánh trứng trong túi du lịch, ăn. Lần này khôn ngoan hơn, tôi phải chuẩn bị đồ ăn từ nhà. Giá có một chén chè nóng với lát chanh thì tốt. Ăn xong, tôi mở sổ ra xem địa chỉ. Năm trước, cậu Chính cùng đoàn công tác đi ngắn ngày, ở khách sạn năm Rátxia. Lần này cậu xin đi tập huấn bốn tháng, ở trường Đảng Aôn, ngoại thị. Không hiểu sao, người ta cho một ông già ngót nghét 60 tuổi như cậu đi học? Có lẽ, đó là một trong những chính sách tuyệt diệu nhất. Sực nhớ gương mặt cậu trong lần gặp gỡ trước, tôi không khỏi mỉm cười.

Chuyền tàu mấy lần, tôi mới tới được nơi cậu ở. Aôn đây là trường học được biệt ưu ở nước Nga. Không có một trường học nào được dành cho mọi sự thuận tiện về sinh hoạt, phương tiện học tập và giao tiếp như ở đây. Tôi đã nghe nói nhiều về nó. Tôi biết ở đây, mỗi học viên được sử dụng một phòng, điều mà sinh viên các trường khác, kể cả đại học Lômônôxốp không dám mơ ước. Tôi hy vọng được vào căn phòng riêng của cậu, để uống một chén chè nóng pha đường. Nhưng người ta báo cho tôi biết cậu không có nhà. Tôi hỏi:
- Cậu tôi, ông Đỗ Quốc Chính nằm bệnh viện?
Người trực ban ngạc nhiên nhìn tôi:
- Viện nào? Đồng chí ấy gửi cho chúng tôi mảnh giấy này.
Một mảnh bìa nhỏ, trên đó ghi vài dòng chữ Việt:
“ Hằng có đến, tìm cậu ở nhà anh Khoa, nghiên cứu sinh ở...”
Giờ, tôi không nhớ rõ địa chỉ ấy. Nó ở gần đại lộ Lômônôxốp mang tên nhân vật có họ Ulivanốp, có lẽ là em của Lênin. Một tòa nhà cao tầng, kiến trúc tầm thường, kiểu kiến trúc phổ thông sau thế chiến thứ hai . Cửa chính tòa nhà giáp một cửa hàng bách hóa cỡ nhỏ. Trong đó, người ta bán một số đồ dùng lặt vặt như cốc chén, thìa nĩa, xoong nồi, bàn chải răng, các loại xà phòng thơm và xà phòng giặt... Có cả bơ, cả phómát. Nhưng lớn nhất là quầy bia rượu. Người bán hàng, một ông già cao lớn, vạm vỡ, mặc áo blu trắng, đội mũ trắng. Ông đi đi lại lại sau các quầy hàng, lấp lánh đủ thứ chai rượu và các giấy trang kim, trông như một trái núi tuyết di động. Khách mua hàng rất đông, từ chai nước quả chục kôpếch đến chai cônhắc nhãn năm sao mấy chục rúp. Ông giao hàng và nhận hàng cùng với dáng vẻ vô cảm như nhau. Đôi mắt của ông còn rất trong, xanh lơ, đưới hai tràng mày bạc trắng. Hai bàn tay to, rắn rỏi, với những vết đồi mồi lớn và các đường tĩnh mạch nổi phồng lên. Tôi đã đứng sau lưng đám người mua hàng, nhìn ngắm ông rất lâu.

Trong khoảng thời gian đó, tôi bị giằng co giữa ý nghĩ bước vào khu nhà xa lạ kia và trở lại ga, lên tàu về tỉnh lỵ của chúng tôi. Rõ ràng, cậu Chính không ốm. Cậu đã bịa ra cớ ấy để gọi tôi lên Mátxcơva. Không lẽ bên nhà có tin đột xuất? Nếu có, hẳn mẹ tôi đã đánh điện thẳng cho tôi. Từ ngày bị cụt một chân, không còn đi lại xông xáo được. mẹ đã ngồi ở nhà, mở quán bán chè chén. Khung cửa sổ của chúng tôi đã được đục to thêm, trát xi măng phẳng phiu. Để tạo thành một khoảng không gian rộng rãi. Ở ô cửa ấy, mỗi sáng mẹ ngả tấm ván gỗ có chân chống xuống, biến thành chiếc bàn bán hàng. Gáng hàng khô xưa đã bán hết. Vốn buôn cụt dần đi, chỉ còn đủ mua vài chiếc lọ thủy tinh lớn nhỏ đựng lạc, kẹo vừng, thuốc lá cuốn rẻ tiền, bánh đậu xanh và bánh rán không nhân bán dỗ trẻ con, chừng một chục chiếc chén vại Bát Tràng. Dăm túm bánh chưng và bánh gai của các hàng bán đem gửi. Một ấm chè Thái ủ trong giỏ lót bông. Thêm chiếc điếu cày là đủ lệ bộ. Khách đa phần là dân trong ngõ. Họ bán hết gánh bún xong, trở về ngồi ăn chiếc bánh chưng, hoặc bán chè rồi tới ăn chiếc kẹo vừng cho lạ miệng. HọÏ đi nhặt những đồng bạc lẻ, nhàu nát của dân thành phố, rồi đem về ngõ xóm nuôi nhau. Có khi, uống một chén chè chiếu lệ, họ ngồi chuyện vãn với mẹ tôi cả buổi. Và mẹ tôi, cũng bòn những đồng bạc lẻ của họ, bỏ vào chiếc bị cói nhỏ, như người ta làm một nghĩa vụ không hào hứng bao nhiêu. Số tiền lời ấy, mẹ có thể mua đủ xuất gạo. Dương nhiên, tiền ăn tiêu trông cả vào những hòm hàng gửi qua tàu biển hoặc bưu kiện của tôi. Cuộc đời sinh viên của tôi đã kết thúc, kể từ buổi chiều xuân mưa dầm dề, khi người hàng xóm tới báo cái tin độc địa...

Giờ đây, tôi tới thăn cậu Chính làm gì? Người mà tôi bị trói bởi một mối liên quan không thể tháo gỡ. Ông già bán rượu vẫn đi lại trước mặt tôi, luôn tay giao hàng. Dáng đi của ông bồn chồn như con gấu đợi mồi. Tia nhìn chậm rãi, nhưng đôi mắt còn rất trẻ, rất xanh. Những người khách mua hàng xong đều lặng lẽ ra đi. Ngay trước cửa hàng, là bến xe buýt. Xe tới, xe đi, hầu như không có tiếng động. Khác hẳn Hà Nội, một thành phố luôn luôn bị lên cơn co giật thần kinh bởi những tiếng còi xe hỗn độn, man rợ. Thêm vào đó, là tiếng pháo nổ bất thường, không cần luật lệ và tiếng rú thất thanh của một gã say rượu hứng chí hoặc của một vụ cãi cọ, đánh đấm nhau. Những người dân Nga im lặng xếp hàng, mua hàng, im lặng ra bến xe chờ đợi, im lặng lên xe. Những con người hiền lành, tuân thủ luật tắc. Trong cái trật tự của đời sống ở xứ này, hàm chứa cái gì đó trì đọng. Một thứ an bình của làn nước hồ không gió bão, không luân chuyển. Một thứ êm ả của núi cao, của cỏ cây trong thung lũng, làn không khí trong trẻo nhưng thiếu dưỡng khí cho sức triển nở, sức sáng tạo và sự thăng hoa của con người. Nhưng dẫu sao, nhìn những người dân với vẻ mặt êm hòa, nhiều chịu đựng ấy, tôi vẫn thấy họ đã được nhào nặn qua một từ trường của văn hóa, của một xã hội chí ít cũng tạo nên những thành trì của văn minh vật chất và tinh thần.

Xe buýt đã tới. Đám người đứng chờ trong trạm ghép gỗ nối nhau lên. Họ không chen lấn, xô đẩy. Lúc này, tôi phải quyết định: nhảy lên xe buýt ra ga hoặc vào khu nhà kia. Một chàng trai từ trong cửa hàng chạy bổ ra, va phải tôi. Anh ta ngoái cổ lại:
- Xin lỗi nhé.
Rồi sải những bước chân rất dài, anh ta lên xe. Hai nách kẹp hai chai rượu. Chai thứ ba thò thò lên từ miệng túi quần. Tôi đang nhìn anh, xe đã lăn bánh. Tôi thầm nghĩ:
- Trễ rồi.
Vậy là trời đã bắt ta phải gặp cậu Chính thêm lần nữa. Tôi đi ngược lên chừng 50 thước. Ở đó, cổng ngôi nhà đã khép kín. Tôi đành đi vòng lại cổng sau, ở phố bên kia. Trước cổng này, có một đám đông thanh niên. Họ đứng túm tụm lại, nhưng rất ít chuyện trò. Hóa ra họ ăn kem. Quày bán kem ngay gần đó thụt sâu vào một khu vườn. Có khoảng trên một chục người đang xếp hành trước khuôn cửa gỗ hình tổ tò vò, chờ mua kem. Đa số là người Việt. Tôi chắc họ là những nghiên cứu sinh hoặc cán bộ thực tập trong ngôi nhà kế đó. Tôi chọn người đàn ông tóc muối tiêu, mặc complê màu xám nhẹ, sơmi trắng có đường thêu hoa văn dọc từ vai xuống gấu để hỏi thăm:
- Thưa chú, trong nhà này có anh Khoa, nghiên cứu sinh năm thứ hai không ?
Người đàn ông tóc muối tiêu ăn mốt miếng kem cuối cùng, rút mùi xoa lau miệng, lau tay rồi hỏi lại:
- Khoa nào? Trong nhà này toàn các nghiên cứu sinh cả. Người nhà em làm luận án về môn gì?
Tôi im lặng. Lúc ấy, tôi chưa kịp nghĩ tới địa chỉ cụ thể của cái ông nghiên cứu sinh tên là Khoa kia. Tôi vẫn nghĩ, đám người làm luận án phó tiến sĩ chắc không bao nhiêu và họ quen biết nhau cả. Người đàn ông chăm chú nhìn tôi và hỏi:
- Em ở xa mới về Mátxcơva, đúng không?
- Vâng. Xa lắm.
- Tiếc cho em quá. Ở đây có Khoa Điện-cơ, Khoa Sinh-Hóa, Khoa Ngữ-văn. Nghĩa là chừng ấy ông Khoa được gắn liền với môn khoa học làm luận án thành biệt hiệu.
- Cháu có địa chỉ của anh ấy.
Tôi đáp và đưa cho người đàn ông tấm bìa. Ông ta đọc, rồi đưa mắt nhìn tôi rất nhanh. Tôi không đoán được ý nghĩa của cái nhìn đó. Nhưng tôi biết chắc chắn nó hàm chứa một hiện thực không bình thường. Người đàn ông nói:
- Khoa Sinh-Hóa. Tôi có thể đưa em đếxn tận nơi. Em có mang đủ giấy tùy thân theo không ? Ở đây, người ta nguyên tắc máy móc lắm.
Tôi gật đầu:
- Cảm ơn chú. Cháu chuẩn bị rồi.
Người đàn ông giúp tôi xách túi du lịch. Ông ta bước lên bậc tam cấp, đẩy cánh cửa gỗ luôn khép kín cho tôi vào. Qua một phòng gỗ hẹp ngăn cách giữa cửa lót bên trong, như kiểu kiến trúc thông dụng các tòa nhà ở đây, chúng tôi bước vào gian tiền sảnh. Đó là một căn phòng rộng, có những chiếc ghế gỗ cũ và xoàng xĩnh kê sát tường cho người lên xuống ngồi chờ. Một tấm bình phong giá ghép bởi các khung gỗ có căng vải sơn vẽ hình trang trí, ngăn cách gian tiền sảnh chính rộng hơn. Bên trái gian tiền sảnh, một phòng trực ghép gỗ, khung cửa vuông. Một ông già ngồi trực bên trong. Ông đang đọc sách chăm chú, mái đầu trắng phơ cúi xuống, những chòm lông bạc đâm tua tủa từ hai lỗ tai lớn ra hai bên. Người đàn ông tóc muối tiêu bước tới gõ gõ vào khuôn cửa gỗ. Tôi chắc ông lão nặng tai. Quả nhiên, người đàn ông gõ tới lần thứ ba , ông mới ngẩng lên:
- A... Có việc gì vậy?
Ông hỏi với giọng nặng và trầm, không giống giọng nói của dân Mátxcơva. Thay vì trả lời, người đàn ông hỏi lại, với cách phát âm và ngữ điệu Nga một trăm phần trăm.
- Bố già lại vùi đầu vào sách. Ai vậy?
Ông già lật tấm bìa lên. Đó là cuốn Chàng Ngốc của Đốtxtôiépxki. Người đàn ông tóc muối tiêu xốc cổ áo nói:
- Con người khổng lồ của nước Nga.
- Đúng, đúng.
Ông già dật đầu tán thưởng với một niềm hân hoan sâu sắc. Ông chìa bàn tay hồng như bị cước, đầy những vết đồi mồi ra bắt tay người đàn ông tóc muối tiêu. Họ gật gù nhìn nhau. Sau đó, người dẫn đường của tôi nói:
- Có một cô bé từ tỉnh xa tới, cần gặp anh Khoa Sinh-Hóa. Giấy tờ của cô ta đây. Bố già vào sổ giúp cho.
Ông ta đưa giấy tùy thân của tôi cho ông già. Rồi quay lại vẫy tôi lên:
- Cô bé ấy đây.
Ông già đưa mắt nhìn tôi một cách nghiêm khắc. Sau đó ông lấy cuốn sổ trực to tướng, cẩn thận mở ra, ghi tên họ và số giấy tùy thân của tôi vào những hàng cột dọc. Ghi chép xong, ông bỏ tất cả vào ngăn kéo và gật đầu nhìn tôi:
- Đi đi.
Tôi cúi chào ông, bước đi. Ánh mắt của ông vẫn đuổi theo, tôi linh cảm thấy điều đó. Nhưng tôi không dám quay lại nhìn. Chúng tôi vào buồng thang máy, lên tầng tư, tới tận cửa sổ nhà của ông nghiên cứu sinh tên là Khoa.
- Đây rồi.
Người đàn ông tóc muối tiêu nói. Chúng tôi cùng đứng lại. Một lần nữa ông ta đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hàm chứa điều bí ẩn nào đó. Hình như ông ta định nói, nhưng sau phút giây lưỡng lự, lại thôi.
- Tôi đã làm xong phận sự với em rồi. Thôi, xin chào.
Ông ta chìa tay ra:
- Và chúc mọi sự bình an.
Đó là lời nói sau chót. Người đàn ông quay đi, và biến mất ở khúc rẽ của hành lang.
Tôi gõ cửa, chuẩn bị tinh thần để gặp một người đàn ông xa lạ. Nhưng người mở cửa chính là ông cậu tôi.
- Cháu Hằng, vào đây. May quá, cậu mong cháu từ chiều hôm qua. Ở đàng Aôn, người ta có nhắn gì cậu không?
Tôi bước vào, lẳng lặng treo áo, lẳng lặng ngồi xuống ghế rồi đáp:
- Cháu không gặp ai cả. Người trực ban đưa cho cháu mảnh giấy này.
- Thế hả, thế là tốt.
Cậu nói, và thở phào. Lúc ấy, tôi mới nhìn cậu. Một tay cậu cầm con dao lưỡi to bản, chắc đang thái thịt. Bụng cậu quấn tạpdề làm bếp. Chân cậu đi dép lê của đàn bà, thứ dép thêu từ Việt Nam xuất khẩu sang, bán có hai đồng rúp một đôi. Căn phòng vắng, chủ nhân nó đã để lại chiếc giường với đống chăn gối nhàu nát, chưa thu dọn. Tấm vải trải xiên lệch, bên mép đầy những vét chùi chân. Đầu giường treo tấm áp phích quảng cáo quần lót phụ nữ của HàLan. Một cô gái, đứng ưỡng rốn vào mặt khách, ở cái vị trí dễ thấy nhất trong căn phòng. Cô gái có đôi mắt đen hoang dã, riềm mi dày và mái tóc uốn xù đổ xuống lưng. Góc tấm áp phích ấy là tấm ảnh cỡ chín-sáu của chủ nhân, dược dán ép vào cùng với dòng chữ: “ Mùa đông đầu tiên ở Mạc Tư Khoa. Nhớ em Nga của anh.” Cuối giường, một chiếc bàn cao chân, trên để các chồng đĩa hát ép nghiêng giữa đống sách báo và tường nhà. Vài bông cẩm chướng khô héo. Vài chiếc dao cạo râu vứt bừa bãi với chiếc mùixoa bẩn và dụng cụ tránh thai của đàn ông.

Tôi nóng mặt. Tôi chợt hiểu ánh mắt người đàn ông tóc muối tiêu, Tôi chợt hiểu cái nhìn nghiêm khắc thầm lặng của ông già dưới gian tiền sảnh. Tiếng nói của cậu Chính vang lên:
- Hằng uống gì nào? Bia hay nước quả?
Tôi chưa kịp trả lời, cậu nói thêm:
- Uống nước kơvát nhé. Ở đây tha hồ xả láng.
- Cho cháu chén nước chè.
Cậu cười:
- Con bé này giản dị nhỉ!
Nói rồi cậu đi pha trà nóng cho tôi. Chưa pha xong chén nước, đồng hồ treo tường đã thong thả điểm nhịp. Mười một giờ ba mươi. Con chim cúc cu thò mỏ gỗ ra mổ làm nảy bật một âm thanh trong như tiếng hạc. Cậu Chính kêu:
- Chết thật, đến giờ rồi.
Nói đoạn, cậu hấp tấp bưng chén trà tới đặt trước mặt tôi:
- Cháu uống nước, ngồi chơi nhé. Cậu đang dở tay một tí. Chúng nó về bây giờ.
- Cậu nói ai cơ?
Thay vì trả lời tôi, cậu lặp lại như cái máy:
- Chúng nó về bây giờ.
Và cậu ngồi xuống, thái tiếp miếng thịt bò đang thái dở. Hai cái bếp điện đang cháy, thanh cácbon đỏ rực. Một nồi áp suất đang sôi. Bếp kia, vẫn để không . Cậu Chính thái thịt nhanh như một tay bán phở. Cậu đập tỏi, gia thêm mì chính, muối tinh ướp thịt. Sau đó, cậu quay sang thái khoai tây. Khoai tây đã gọt vỏ, cậu xắp hình con chì. Còn súplơ cậu cũng xắt lát dày trên năm li. Con dao đưa thoăn thoắt dưới bàn tay cậu, chắc chắn còn khéo léo và thành thục hơn 50 phần trăm số đàn bà Việt Nam thời nay. Còn lại hai củ cà rốt, cậu lách mũi dao tỉa sơ hình chiếc lá rồi thái sao. Cả cần và tỏi tây cũng được tỉa chè hình hoa một cách cầu kỳ. Xong các động tác chuẩn bị, cậu đặt chảo mỡ lên chiếc bếp để không. Chừng hai phút sau, mỡ đã sôi. Cậu thả mớ khoai tây vào. Tôi hỏi:
- Khoai tây xào thịt bò hả cậu? Sao lại thái hình con chì?
Cậu bảo:
- Ngốc. Khoai tây thái con chì mời dòn dều. Để ăn kèm với rau sống và thịt bò rán. Còn bát thịt ướp tỏi kia để xào súplơ và cần tỏi tây.
Trong lúc chờ khoai tây chín, cậu vừa đảo đều lên bằng chiếc bàn sảm, vừa lôi trong gậm bàn một chiếc xoong nhôm mới. Hóa ra xoong đựng đầy nhân nem, bao gồm thịt băm trộn với miến vụn, rau bắp cải thái, trứng, hành tiêu cùng ướp. Mở ngăn kéo, cậu rút ra vài tập bánh đa nem, như người làm ảo thuật. Và trước cặp mắt ngỡ ngàng của tôi, cậu cuốn nem thoăn thoắt. Tôi trầm trồ:
- Cậu giỏi thật. Ai dạy cậu thế?
Trán cau lại, cậu làu bàu đáp:
- Ai dạy? Không biết làm thì có mà...
Tới đó, cậu ngừng lại. Ngoài hành lang, vang lên những bước chân ồn ĩ. Có vật gì đó va đập rất nặng nề. Cậu Chính ngừng tay, ngẩng lên nghe ngóng:
- Chúng nó về đấy.
Cậu nói, lần này là lần thứ ba . Ngay tức khắc sau đó, tiếng gõ cửa vang lên. Cậu nói to:
- Có đây.
Đoạn bảo tôi:
- Ra mở cửa đi cháu.
Tôi ra chưa tới cứa, đã nghe tiếng một cậu con trai gắt bên ngoài:
Mau lên chứ! Ông ngủ trong ấy à!



20

Cánh cửa vừa mở, tôi đứng dẹp sang một bên, cả tốp người đã ào vào như cơn lốc. Họ lần lượt đặt những gói, những hòm, những túi đựng hàng hóa xuống góc phòng, rồi mới ngẩng lên. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại. Vẻ mặt họ mệt mỏi và cáu kỉnh.
- Đói quá, xong chưa bố già?
Vẫn cái giọng gắt gỏng ban nãy gào lên. Câu trai lùn nhất trong bọn, vai ngang, lưng to, và khuôn mặt đỏ rực với quai hàm rất nở, vừa gào xong, chợt nhìn thấy tôi bên cánh cửa, cậu ta khựng lại. Cậu Chính đáp.
- Sắp xong rồi. Nem vào xào phải ăn nóng.
Đoan, cậu đứng lên:
- Xin giới thiệu: cháu Hằng. Còn đây là chú Khoa, anh Hải, anh...
Họ chào tôi. Tôi chào lại từng người. Hải, anh chàng thấp lùn quay lại bảo cậu Chính:
- Bố già chơi khăm. Có phái yếu thì phải giới thiệu trước chứ?
Ông nghiên cứu sinh Khoa, cười.
- Phải cho những cô gái chứng kiến cơn háu đói của anh mới thú vị. Khi xuất hiện trước các cô, anh nào cũng như siêu nhân.
Đáp lại lời Khoa, cái anh chàng cao dong dỏng, da ngăm đen khóe miệng đẹp như khóe miệng của vị thần săn đuổi tình ái mỉm cười:
- Đừng chế riễu, ông anh. Chúng em chẳng muốn làm siêu nhân, cũng chẳng muốn làm ma quỷ. Con người là con người. Những ai thích răn dạy thiên hạ, luôn luôn khoác áo thày tu và miệng đọc kinh: Nam nữ thụ thụ bất thân, tới khi tha hóa họ ngủ với con gái không cần đắn đo 15 phút. những kẻ ấy, đã trượt là trượt tới đáy bùn.
Nói xong, anh ta kéo ghế mời tôi:
- Mời cô.
Rồi anh ta ngồi xuống chiếc ghế đối diện, dáng điệu như chủ nhân chính thức của căn phòng. Còn ông nghiên cứu sinh Khoa thì cười cười như để chống đỡ lực tấn công nào đó, tay lùa vào mái tóc:
- Tôi là con người hành động. Tôi không ưa lý luận đâu.
Anh chàng da ngăm vẫn nhếch môi cười, lộ hai hàm răng trắng như ngọc.
- Đúng rồi, sau khi đã ban phát cho lũ đàn em chúng tôi mọi thứ lý luận cao siêu thì các ông anh phải gấp gấp hành động. Không hành động thì thiệt thòi. Tuổi 50 đuổi sồng sộc sau lưng. Mà cuộc đời còn nhiều thú vui quá, và các cô con gái cứ mỗi ngày là một lạ lùng hơn.

Nói xong, anh ta lại cười. Làn môi thanh tú nhếch lên. Đôi mắt nheo nheo nhìn ông nghiên cứu sinh Khoa lúc ấy giả tảng cúi xuống đẩy những hòm hàng vừa mua được vào gầm giường. Tôi không thể rời mắt khỏi nụ cười ấy. Nó làm tôi nhớ tới một nhân vật trong bộ phim, 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Nhân vật ấy là lãng tử Yến Thanh, một tài nhân siêu việt, cầm kỳ thi họa giỏi mà võ nghệ cũng cao cường. Đáng người thanh tú, gương mặt đẹp, điệu đi uyển chuyển mềm mại, anh ta xuất hiện giữa đám ca công, kỹ nữ cũng như xuất hiện giữa phường lục lâm thảo khấu, hoặc đám hảo hớn cùng với một dáng điệu ung dung tự tại và nụ cười hàm chứa vẻ mỉa mai lẫn sự độ lượng trên môi. Nụ cười đó vừa là nụ cười của con sói giò đã vượt qua bao nhiêu hoang nguyên, đã tử sinh qua bao nhiêu cuộc chiến, coi hòn đạn mũi tên như cốc rượu quân cờ, lại vừa là nụ cười của một chàng trai trẻ đang độ thanh xuân, một cánh rừng trinh trắng và quyền rũ. Chưa có người nào gợi cho tôi sự liên tưởng mãnh liệt như vậy.
- Ối giời ơi...
Anh chàng to béo tên Hải lại quát tướng lên:
- Thôi đừng tranh luận nữa. Tôi đói quá rồi.
Đoạn quay sang tôi, anh ta hạ giọng:
- Vả lại, cũng còn phải chiếu cố tới vị khách này nữa chứ? Ông Chính đã mời em ăn gì chưa? Chắc là chưa phải không? Ông ấy có thể ngậm một đồng kôpếch từ sáng đến chiều trong miệng nếu như vì thế mà bớt được hai bữa cơm. Nào bố già, dọn ra đi.
- Xong tất cả rồi. Chỉ ba phút nữa là có thể chạm cốc.
Miệng nói, tay cậu trải miếng nhựa hoa lên bàn. Rồi cậu lần lượt đặt đĩa thị bò xào súplơ, cà rốt, cần tỏi. Sau đó tới đĩa khoai tây rán với bítết. Một đĩa rau sống cùng với dọc tỏi muối, thứ thực phẩm mua ở các chợ nông trường. Một tô canh lớn sườn ninh. Cuối cùng là nem rán, xếp trong chiếc giỏ nhựa màu trắng rất xinh, trông như đồ chơi của thiếu nhi. Nước chấm nem được làm đúng theo kỹ thuật Việt Nam: nước mắm khô, chanh ớt, tỏi giã, mì chính, đường. Mọi người ngồi vào bàn, Cậu Chính lấy bát đũa, cốc thủy tinh cỡ lớn và một chục chai bia. Anh chàng Hải xoa ba tay, nói.
- Được dược. Sau một buổi sáng đi chiến đấu, cứu nước cứu nhà ăn bữa cơm như thế này mới là xứng đáng. Nào, các ông. Kìa bố già chưa mở biara sao? Chậm trễ thế. Ông phải nhớ thời buổi này làthời buổi chuyên môn hóa cao độ. Không ý thức được điều ấy sẽ bị loại trừ khỏi cuộc sống. Chúng tôi mà cứ rù rờ như ông có đến Tết cũng không mua nổi 12 chiếc nồi áp suất trong một giờ đồng hồ. Thôi, tôi phải làm cái nem đã.

Anh ta cúi xuống bốc một chiếc nem ăn vã. Hai người kia ngồi im. Trong khoảng thời gian đó, cậu Chính cố thao tác mở bia, rót bia vào các cốc cho tật nhanh. Tay cậu run từng chập. Có lẽ, sức khỏe của cậu cũng không thể phục hồi hoàn toàn sau thời kỳ mắc bệnh. Rót tới cốc của tôi, cậu làm bia rớt xuống bàn. Anh chàng to béo háu đói sau khi nuốt hết chiếc nem ngẩng lên.
- Nào, ta chạm cốc.
Tất cả cầm cốc bia. Anh chàng da ngăm quay sang tôi.
- Mời cô.
Tôi cầm cốc lên, cùng chạm với bọn họ.
- Nào chúc sức khòe.
- Chúc cho đội quân cứu nước cứu nhà.
Giọng cười bỡn cợt. Tiếng cốc chạm lanh canh. Bia lắng dần lớp bọt trắng phau như tuyết, để lại thứ nước trong suốt màu vàng. Màu của cánh đồng xứ sở, ngày mùa. Màu của nhớ nhung.
Đám đàn ông đã uống cạn. Họ bắt đầu cúi xuống ăn, bình phẩm các món ăn.
- Nem hôm nay hơi mặn đấy bố già nhé.
- Tôi sẽ rút kinh nghiệm.
- Xào thì được. Khá hơn lần trước.
- Lần trước thì là tại thị bò già, thớ nhão mà dai quá.
- Ờ, anh Khoa, bảo anh dúi cho con Irina năm rúp trước ngày mua thực phẩm, sao anh không đưa?
- Tớ quên.
- Đừng có vờ. Anh chỉ quên một thứ : là tên các em dưới tỉnh lên thôi. Anh liệu đấy, không xấu chơi được đâu.
- Hôn ấy tao hết tiền đi taxi.
- Bỏ kiểu ấy đi, lần sau phải đưa tiền trước cho nó nghiêm chỉnh. Nó sẽ giành cho mình thịt loại một . Hôm nọ tôi tặng nó cả một chai Lúa Mới 15 rúp hôm nay mới có thịt ngon như thế này.
- Thế à. Rượu cậu lấy của ai?
- Sứ quán.
Tôi uống ngụm bia. Bỗng dưng tôi thấy căn phòng chòng chành chao đảo. Các chai bia, những cốc thủy tinh màu vàng rơm, những đĩa thức ăn, làn khói bay trên tô canh nóng. Tất cả hòa trộn, quay đảo cùng với các gương mặt đang đỏ dần lên vì men bia. Cô gái Hà Lan ném vào tôi cái nhìn khiêu khích, mái tóc đe bồng bềnh như đám huyền thảo trong thế giới ảo mộng phiêu lãng nào đây. Chiếc quần tắm màu đỏ có các đường ren kim tuyến óng ánh kẻ một lằn thẳng căng trên làn da hồng. Cái chụp đèn gục trên chồng sách.Tất cả bắt đầy quay. Trong tôi, từ từ dâng lên những lượn sóng không màu sắc, không mùi vị nhưng dồn dập hết cơn sóng này tới cơn sóng khác, nhấn chìm tôi xuống, làm tôi nghẹn thở. Tôi cố gắng chống ta đứng dậy.
- Có lẽ...
Tiếng chàng trai da ngăm cất lên:
- Cô ấy ốm rồi. Mặt tái xanh thế kia.
Tôi thấy bónh anh nhào tới. Bàn tay anh đặt trên vai tôi, dìu tôi lại chiếc giường. Lúc gương mặt anh sáp gần, tôi chớt thấy hiện lên một gương mặt của quá khứ. Nhất định tôi đã gặp anh ta. Nhất định thế... lãng tử Yến Thanh, tôi đặt cho anh ta cái tên đó, và chìm trong cơn sốt...

Tôi không rõ mình đã nằm mê bao lâu. Lúc tôi tỉnh dậy, ánh đèn sáng chói rọi vào mắt khiến tôi vội nhắm mắt lại. Ánh đèn chói như kim đâm. Lúc ốm, mọi cảm giác đều sai lạc và khủng khiếp. Tôi kéo chăn, trùm kín đầu. Tuy thế, vẫn ngửi thấy mùi khói thuốc, toàn thuốc N.B. hôi khét, khiến đầu tôi nặng như chì. Nhưng cảm giác chòng chành như say sóng không còn nữa. Tôi thấy rõ rệt là mình đang nằm trên giường, bằng phẳng và chắc chắn, không bị các con sóng đu đẩy. Tiếng máy quay đĩa văng vẳng bên tai. Chợt, giọng anh Hải béo oang oang:
- Tính xong chưa mày?
- Xong.
Đó là chàng lãng tử đáp lại. Lại giọng ông nghiên cứu sinh Khoa:
- Tớ phải trả cậu bao nhiêu nữa?
- 120 rúp chẵn.
- Gay quá nhỉ. Kỳ này bà xã thúc gửi hàng ráo riết, lương hết nhẵn như chùi.
- Thôi, anh không cần nhăn nhó, tôi cho anh chịu.
Chàng lãng tử ngừng lại một chút rồi nói tiếp:
- Nhưng tiền ăn phải nạp cho sòng phẳng. Tuần này mỗi người hết 28 rúp.
Ông nghiên cứu sinh kêu thảng thốt:
- Sao lại những 28 rúp?
- Nghe đây, 84 rúp rưỡi, không phải mỗi người 28 rúp thì bao nhiêu? Cái phần nửa rúp đương nhiên tôi chịu cho.
- Còn ông Chính.
- Anh ngu quá...
Giọng anh chàng lãng tử rành rọt:
- Ông ta đã tới làm thuê cho mình, lại còn bắt nộp tiền ăn. Anh thấy đời nào có chuyện ấy không?
Anh Hải cười khanh khách:
- Đúng quá. Các ông anh toàn giỏi những lý luận trên trời dưới biển, luật sống tối thiểu thì không chịu biết. Quên, còn tiền công của bố già Chính, góp vào thanh toán luôn.
- Lão ấy đòi à?
- Phải, ông ta đòi trả ngay tức khắc.
Chàng lãng tử cười:
- Ông ta thích cầm chắc đồng rúp trong tay. Nào các vị, mỗi người hai rúp bỏ lên bàn cho tôi. Được rồi, lát nữa ta sẽ chứng kiến nụ cười của lão Grăngđê tái sinh. Ông ấy đang làm gì? Bát đĩa rửa sạch từ nãy cơ mà?
- Ông ấy đang giặt nốt hai cái áo Pantô của ông và tôi.
- Sao lại giặt? Phải chải xăng chứ?
- Đúng. Nhưng tôi bước vào phòng tắm đã thấy ông ấy đập bồm bộp, bọt xà phòng bắn tung tóe lên. Đành chịu chứ sao. Khi nào khô phải đem chải và hấp lại lần nữa.
- Đúng là mua việc.
- Lần trước ông ấy cũng làm cháy cái áo thun của toi. Hàng Ý xịn hẳn hoi. Hôm nhờ cắt khẩu hiệu cũng không cắt nổi. Ông anh tôi cùng học trong trường Aôn bảo ông ấy lên lớp toàn ngủ gật. Nhưng về tới nhà, nhanh như cắt đi lùng mua hàng căngtin. Thứ nào quý, ông ấy mua được trước tiên. Có lẽ, khả năng vĩ đại nhất trong con người ông ta là khả năng đầu bếp.
- Phải, nhờ khả năng ấy ông ta chiếm được lòng cấp trên, nhờ được lòng cấp trên ông ấy nhảy lên cấp lãnh đạo

Lúc ấy, có tiếng bước chân lẹt xẹt. Chắc của cậu Chính. Cậu thở hào hển, kêu:
- Khiếp, vắt hai cái áo nặng quá. Mỏi nhừ cả tay.
Chàng lãng tử cười.
- Một chiến công. Xin chúc mừng ông. Đây, sáu rúp tiền công, mời ngài cầm lấy.

Tôi nghe cậu hẹ hẹ, không rõ ra tiếng cười hay tiếng hắng giọng. Rồi, cậu bảo:
- Hôm nay các anh tiến bộ thật.
Chàng lãng tử hỏi.
- Tiến bộ gì?
- Không mở nhạc nhảy. Từ ngày tới đây mới có buổi tối yên tĩnh. Tôi cứ nghe thứ chát sình ma quỷ ấy là điên đầu. Chẳng hiểu hay ho ở chỗ nào mà các anh nghiện như nghiện thuốc lá?
- Ra thế. Trong con mắt ông, chúng tôi là lũ trai hư hỏng, phải không?
- Thời chúng tôi, không ai thích những thứ nhạc nhẽo trụy lạc như vậy.
- Ở cùng số nhà với bố mẹ tôi, có một ông phó giám đốc, cỡ tuổi gần như ông. Ông ấy mặc quần ống rộng, đũng rộng và dài. Không phải thứ quần bó chịt, làm nổi mông nổi đùi như lũ chúng tôi. Áo kiểu Tôn Trung Sơn gài khuy tận cổ, cũng không giống thứ áo xẻ bụng, xẻ nách in hình chim cò sặc sỡ như áo tụi tôi. Ông ấy được tiếng là nghiêm nghị. Mở miệng là nói lời giáo huấn. Đầu óc toàn nghĩ tới chuyện cao cả: Nào là tinh thần cách mạng, nào là ý thức tổ chức, nào là nghĩa vụ quốc tế và nghĩa vụ công dân. Số nhà tôi ở gồm sáu hộ, 27 nhân khẩu lớn nhỏ, không ai có bộ mặt quyền uy như ông ấy. Ông ấy có hai đứa con gái và một đứa cháu ngoại. Bà vợ kém ông ta vài tuổi, hai ngày một lượt leo lên xe con đi chợ, mắt chẳng bao giờ ngó xuống đám láng giềng. Rồi bỗng một hôm, chúng tôi đi đá bóng buổi trưa về, cả lũ tắm truồng lông nhông ngoài sân. Nghe có tiếng kêu vang trong nhà tắm công cộng. Một đứa giật cửa, nhưng cửa gài chặt. Mà tiếng kêu ú ớ bên trong cứ vẳng ra. Lũ chúng tôi bèn công kênh nhau, ghé mắt qua lỗ thông hơi sát nóc nhà tắm, nhìn vào. Ông phó giám đốc tôn kính đang ở trong đó, trần như nhộng, trên một con bé 14 tuổi. Con bé ấy vẫn ú ớ kêu, còn ông ta ông ta vẫn tiếp tục làm việc. Lũ mất dạy chúng tôi, thoạt đầu thích chí cười rinh rích. Hết thằng nọ tới thằng kia đổi nhau, xem trò vui. Nhưng con bé giãy giụa mãi, chắc nó đau. Ông ta bịt chặt miệng nó lại không thể kêu to. Đó là một con bé mắc chứng tâm thần. Nó học hết lớp năm thì phải bỏ về nhà. Nó cũng là một đứa mồ côi. Cha nó làm nghề lái tàu điện bị chứng hậu bối chết từ khi nó lên ba . Mẹ nó ở sát số nhà tôi, làm nghề bán dưa chua cà muối. Hồi nhỏ, lúc nó chưa mắc chứng tâm thần, chúng tôi vẫn chơi trò ú tim, trò nhảy dây, trò đá cầu với nhau. Nó không đẹp, nhưng mũm mĩm xinh xắn, lại thảo ăn. Có quả nhót, quả ổi nào cũng chia cho bạn. Lúc ấy tôi chợt thấy mình dã man. Tôi chợt nhớ rằng con bé bị hãm hiếp kia cũng 14 tuổi như mình, cũng chỉ là một đứa bé con, không có gì che chắn và bảo vệ, dù một mảnh chai sắc hay nắm đấm của một gã đàn ông thô bạo cũng chẳng đủ sức chống đỡ. Tôi không tham gia trò đùa nhẫn tâm ấy. Tôi chạy sang nhà bà hàng xóm, gọi bà Cứ đang thái dưa cải, nghe tin, thét lên như bị chọc tiết. Cứ thế, vẫn con dao nhọn trong tay, chạy sang...

Chàng trai ngừng lời. Không ai lên tiếng. Gian phòng im phăng phắc. Tôi chỉ còn nghe tiếng đồng hồ tích tắc kêu. Rồi lát sau chàng lãng tử hắng giọng nói tiếp.
- Thế đấy ông Chính ạ. Cái lão hiếp dâm ấy không tới sàn nhảy bao giờ. Chắc chắn cũng răn dạy công nhân xí nghiệp của hắn là nhảy nhót là trụy lạc, rằng thế hệ của hắn không bao giờ tham dự những trò vui hư hỏng như thế, rằng cuộc đời hắn chỉ là để phục vụ cách mạng cao cả cho tới hơi thở cuối cùng. Hắn cũng cùng quan niệm và sở thích như ông. Nói thế, tôi không muốn xúc phạm ông. Tôi biết ông không phải là kẻ hám gái. Nhưng những người như ông và hắn có gì đó rất giống nhau.
Cậu Chính hỏi, giật giọng.
- Anh nói cái gì?
Chàng trai đáp, bình thản.
- Ông cứ bình tĩnh. Và nếu ông định dọa nạt tôi ở đây thì ông sẽ phí công. Cho dù ông có tới tòa đại sứ nịnh hót, tố cáo, vu khống tôi đủ điều. Cái trò đó, nhiều kẻ đã diễn rồi. Hãy ngồi xuống ghế, uống đi một cốc kơvát, và tôi sẽ tiếp tục hầu chuyện ông.

Lại một khoảng khắc im lặng. Rồi giọng chàng trai cất lên.
- Chính những người như hắn hoặc như ông ra lệnh săn đuổi chúng tôi trên đường phố, cắt ống quần loe khi các ông không mặc quần loe, cắp ống quần tuýp khi các ông không mặc quần tuýp. Phẩm cách con người được các ông định khuôn bằng chiều rộng của ống quần. Nếu các ông mặc quần ống 23 thì 18 triệu thanh niên chúng tôi phải mặc ống quần cỡ 23. Chật hay rộng hơn đều là phản Đảng, phản quốc. Tôi không bao giờ quên được cảnh tượng ấy, khi tôi còn nhỏ, tôi đã nhìn thấy anh chị tôi và đám bạn của họ bị rượt đuổi, bị chặn đứng ở các ngả tư đường phố, bị soát xét hạch lạc như những kẻ trốn tù. Vẻ mặt nhớn nhác của họ, con mắt bạc nhược hay hờn căm của họ, những lời họ van xin hoặc gào thét phản ứng. Lúc ấy, tôi đứng nép vào chân cột điện, tôi nhìn họ và tay chân tôi run bắn. Đường như chính tôi cũng sắp bị lấy dao xẻ rách ống quần. Tại sao con người lại bị đọa đầy vô lý thế? Vết thương ấy không thành sẹo trong tim tôi. Nhát chém nào trong tuổi thơ cũng không thể lành. Tôi lớn lên. Và dần dần tôi chứng nghiệm rằng những con người từng có sức khống chế lũ chúng tôi như lão phó giám đốc kia hoàn toàn không giống hình ảnh kinh sợ và cao cả mà chúng tôi đã hình dung. Họ là những diễn viên đại tài. Họ định ra bao nhiêu niêm luật khắt khe. Nhưng trong bóng đêm, họ sống cuộc sống nhầy nhụa không đạo lý và luật tắc. Này ông Chính, ông vẫn cứ bảo thứ nhảy nhót của chúng tôi là trụy lạc. Đã bao giờ ông chứng kiến những cuộc nhảy nhót vô hình còn trụy lạc gấp triệu triệu lần thế không ?

Cậu Chính đáp, giọng khô khan.
- Anh đừng nói tầm phào. Làm gì có những cuộc nhảy nhót vô hình?
Chàng lãng kử cười khe khẽ nói.
- Có đấy. Tôi đã chứng kiến vài lần. Những kẻ cao sang, sau một thời gian bày mưu tính kế hãm hại các đối thủ, chạy chọt, o bế quan trên, đã tới được cái đích của họ, một chức tước nào đó đủ cả quyền uy và bổng lộc. Đêm hôm cuối cùng của cuộc hạ sát ấy, họ ngồi hút thuốc lào sòng sọc hoặc đốt thuốc lá cho tới buổi sáng mà quyết định bổ nhiệm họ được đọc lên. Đêm ấy, chắc chắn tim óc họ sẽ nhảy nhót. Chúng tôi nhảy thì ôm bạn gái. Còn họ ôm cái bóng của chính mình, ôm cái ghế mà họ khao khát. Ấy là điệu nhảy vô hình mà tôi muốn nói. Theo ông, điệu nhảy ấy có trụy lạc hơn điệu nhảy của chúng tôi không ?
- Tôi không nói chuyện ấy với anh. Các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, cơ quan chúng tôi không có.
- Cứ tin là cơ quan ông không có. Vậy khi cơ quan ông không có, ông cũng không thèm để tâm tới các hiện tượng xã hội? Thế các ông làm gì?
Cậu Chính gay gắt.
- Anh lạ thật. Chúng tôi làm công tác tư tưởng.
Lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Chàng lãng tử hỏi.
- Ai đấy? Kìa anh Khoa ngồi gần mở cửa xem ai?
- Thôi tớ đang viết dở, Hải ra hộ vậy.
Hải béo đáp.
- Được.
Tiếng bước chân anh ta huỳnh huỵch. Cửa kẹt mở. Giọng rụt rè của một cô gái.
- Cho em hỏi anh Khoa.
Hải hỏi.
- Cô tên gì?
Giọng đáp lại e dè.
- Em là Chương. Em ở Kiép.
- Chờ nhé.
Đoạn anh ta quay vào.
- Anh Khoa.
Tiếng ông nghiên cứu sinh thì thầm.
- Bảo tớ vắng nhà. Bảo cô ta đi đi.
- Được rồi.
Tiếng chân anh ta ngay đầu giường tôi nằm. Chợt, giọng chàng lãng tử vang lên.
- Khoan đã.
Hải dừng lại. Nghe tiếng anh ta thở ngay đầu giường tôi nàm. Rồi anh hỏi, ngạc nhiên.
- Có chuyện gì vậy?
Chàng lãng tử đáp.
- Chờ đã.
Rồi anh ta cười khảy và nói.
- Này anh Khoa. Anh đuổi một đứa con gái giữa lúc đên khuya dễ dàng như thế sao?
- Không đuổi thì để nó vào làm gì? Có cho nó ngủ nhờ cũng chẳng còn chỗ. Cậu treo nó lên đầu cậu được không ?
- Nếu cần, treo cô ta lên đầu anh. Bất cứ người con gái nào anh chưa lừa được lên cái giường của anh đều có giá. Và ngược lại... Chí ít anh cũng phải có một chút lương tri chứ?
Khoa cười nhạt, phì một tiếng, đáp:
- Cậu ít nhời đi. Còn đủ thời gian lý luận.
- Tôi không tranh cãi. Nhưng anh phải để cho cô ta vào. Mười giờ đêm cô ta biết đi đâu?
Khoa quát.
- Cậu ra lệnh cho tôi phải không ? Tôi là chủ căn phòng này.
Chàng trai cười khảy.
- Anh là chủ căn phòng này. Đúng. Nhưng tôi lại là chủ thứ khác có giá trị hơn. Nói chung, anh thích nghe những lời thô lỗ. Giờ, muộn sao?
Trong phòng im lặng. Chỉ còn nghe tiếng tích tắc của đồng hồ. Rồi, giọng ông nghiên cứu sinh nặng nề.
- Thôi được. Hải, gọi cô ta vào hộ tôi.
Hải bước ra khỏi cửa. Rồi quay vào oang oang nói.
- Biến rồi.
Chàng lãng tử bảo.
- Cậu đuổi theo cô ta. Chắc cô ta còn ở phòng trực.
Anh chàng to béo mở cửa, đi ra. Tiếng bước chân nặng nề mất hút dần ngoài hành lang. Căn phòng yên lặng. Không ai nói với ai nữa. Tôi lơ mơ như muốn ngủ lại. Nhưng chừng 10 phút sau, tiếng chân ồn ĩ của anh chàng to béo đã khua ngoài cửa. Anh ta vào, nói.
- Biến rồi. Tôi trễ thang máy. Xuống phòng trực, họ bảo cô ta vừa lấy giấy tờ xong. Chạy ra cửa không thấy bóng dáng ai. Có lẽ cô ta đã vớ được chuyến xe buýt cuối ngày.
Không ai nói gì. Chừng năm phút sau, anh chàng Hải béo lại lên tiếng.
- Thôi đi ngủ các vị. Mai tiếp tục cuộc chiến đấu. Được ngày nào vét ngày ấy không tới kỳ thi lại đâm đầu vào học.
Anh ta ngáp thật to rồi nói.
- Ối giời ơi, thế này mà ở bên nhà mọi người cứ nghĩ mình đi học nước ngoài là sung sướng lắm đấy. Thật là thân trâu cày ngựa cưỡi... Oàm oàm...
Anh ta lại ngáp thật to, nghe như tiếng gầm của một con hổ bị nhốt trong cũi sắt. Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, căn buồng trống vắng. Nhưng lúc tôi quờ tay, làm rớt vật gì đó xuống sàn, anh chàng da ngăm chợt xuất hiện ở cửa thông sang khu vực phụ. Anh ta hỏi.
- Tỉnh rồi hả?
- Vâng.
Mặt và đầu anh ta ướt ròng. Chắc vừa ở trong phòng tắm. Hôm nay anh ta mặc sơ mi carô nâu nhạt và quần jin nhung. Tôi chợt nhớ một hình ảng đã gặp. Tôi ngơ ngác. Anh ta nhìn tôi, tủm tỉm cưới.
- Có phải cô đang nghĩ xem đã gặp tôi ở đâu, phải không ?
- Sao anh biết?
- Tôi đang học nghề phù thủy hiện đại. Nói đúng hơn, tối đang muốn thử nghiệm khả năng ngoại cảm của mình. Cô đã nhớ ra chưa?
Tôi lắc đầu.
- Chịu.
Chàng lãng tử cười.
- Trí nhớ tồi qua. Hôm khai trường, cô mặc chiếc áo đầy những dây và khóa cài màu tím nhạt, và đi đôi guốc trắng vẽ hoa.
Tôi bất chợt reo lên.
- À! tôi nhớ rồi.
Anh ta ở nhóm sinh viên lớn đã đùa cợt tôi.
- “Ai vẽ cho em kiểu áo đẹp thế?”
Nhưng dạo ấy, anh gầy hơn bây giờ, trông như cây lau.
- Tôi là sinh viên khóa Sử. Lúc cô vào, tôi vừa học xong một năm ngoại ngữ, chuẩn bị sang đây.
- Anh vẫn học?
- Tất nhiên. Phi vụ này là công việc của tụi tôi. Trách nhiệm với gia đình. Còn cô tại sao bỏ học?
- Mẹ tôi bị tai nạn giao thông, cụt chân. Tôi đành bỏ trường để kiếm sống.
- Làm gì?
- Thợ dệt.
Anh ta lắc đầu.
- Còm nhom thế chịu sao được rét. Kiếm được miếng cơm ở xứ này cũng nhọc nhằn lắm cô bạn ạ.
- Tôi biết. Nhưng không còn cách nào khác.
Anh ta xoa mạnh chiếc khăn mặt lên đầu, đôi mắt thờ thẫn nhìn đâu đó. Mắt anh ta màu hạt dẻ, mơ màng. Rồi chợt thở một hơi mạnh, hỏi.
- Còn ông Chính là thế nào với cô?
- Cậu ruột.
Chàng trai nhún vai.
- Thế à?
Tôi im lặng. Anh ta lại hỏi.
- Cô lên chơi với ông cậu? Nhưng tôi thấy cô còn đang ốm.
- Tôi vừa ở bệnh viện về được 10 hôm. Cậu ấy điện cho tôi lên.
- Điện thế nào?
- Điện là : “Cậu ốm. Hằng lên ngay.”
Anh nhếch môi cười. Lúc ấy tôi thấy như chàng lãng tử Yến Thanh hiện về, với tất cả vẻ kiêu mạn trẻ trung đầy quyến rũ. Anh thong thả vắt khăn mặt lên ghế, kéo ghế tới gần giường, ngồi đối diện với tôi.
- Cô biết ông cậu của cô gọi cô lên Mátxcơva làm gì không ?
Tôi không đáp, nhìn anh chờ đợi. Anh nói tiếp:
- Ông ta chuẩn bị đóng hòm gửi biển. Việc ấy, cần phải giỏi tiếng Nga và giỏi chi tiêu. Cả hai thứ ông ta đều kém.
Chàng lãng tử ngừng lại, suy ngẫm hồi lâu rồi tiếp.
- Đám người như thế, tôi soi kính lúp vào tận ruột họ. Nhưng dù sao, tôi cũng không thể hiểu được, với một cô gái mảnh khảnh yếu ớt như cô.
- Boong...
Chuông ngân nga. Đã chín giờ rưỡi. Chàng lãng tử nói.
- Ông ấy đi ra cửa hàng thực phẩm sắp về.
Rồi móc trong túi một xấp bạc, đưa cho tôi.
- Cô cầm lấy.
Tôi kêu lên.
- Không được. Sao anh kỳ cục thế?
Chàng lãng tử nhếch mép cười.
- Không kỳ cục đâu, cô bạn. Nghe tôi nói đã. Cô không thể ở đây giúp ông cậu gửi hàng vì việc đó tốn sức và tốn tiền. Mặt cô xanh mét, và tiền chắc cũng không dư dả. Lát nữa, khi ông ta ngỏ lời nhờ cậy, cô hãy đưa nắm tiền này ra và nói: Cháu phải về làm việc, không thể ở lâu. Cháu giúp cậu tiền cước.

Tôi lắc đầu.
- Không phải vậy.
Anh chàng quả quyết.
- Không phải, cho cô chặt đầu tôi. Cứ cầm lấy. Ông ấy về ngay bây giờ.
Dúi nắm tiền vào tay tôi xong, anh ta quay đi luôn. Tôi nhét số tiền ấy dưới gối. Chàng lãng tử pha một cốc sữa nóng với mấy viên trợ lực đưa cho tôi.
- Uống đi.
Tôi cầm cốc sữa, không dám nói lời cảm ơn vì thấy rõ sự nhạt nhẽo của ngôn từ. Uống sữa xong, người tôi nóng dần lên, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương và trên trán. Chừng năm phút sau, lúc tôi nằm trùm chăn, chàng lãng tử cạo râu trước gương, cậu Chính về. Ném làn thực phẩm xuống sàn, cậu hỏi.
- Anh thấy con cháu tôi nó tỉnh chưa?
- Quái lạ, đã uống thuốc mà cứ sốt li bì. Lẽ ra, nó phải dậy rồi mới đúng.
- Chỉ có mấy viên cảm làm sao đủ trị sốt. Ông phải cho cô ấy ăn uống gì nữa chứ? Không ăn, mẻ cũng chết.
- Ờ ờ... Tí nữa tôi sẽ nấu mì cho nó ăn.
Tôi nghe chàng lãng tử thu dọn đồ vật gì đó, rồi chừng năm phút sau, anh ta bảo cậu Chính:
- Tôi đi. Một giờ tôi về.
Cánh cửa mở rồi đóng, rung sàn. Tôi ngồi lên. Cậu Chính mừng rỡ bảo.
- Cháu khỏe rồi hả? Có ăn gì không ?
- Cháu không muốn ăn gì.
- Ừ, tới bữa ăn cả thể cũng được.
- Bao giờ cậu về trường?
- Ngày mai.
- Cậu gọi cháu lên đây có việc gì?
Cậu gật đầu ờ ờ... Rồi bước tới gần tôi vcậu nói:
- Cậu sắp về, chỉ hai tuần nữa thôi. Cháu còn ở lại lâu, cháu có khả năng làm kinh tế. Cậu muốn nhờ cháu giúp cậu...
Tôi lặng im, cậu tiếp.
- Khi đi, mẹ mày dặn: khó khăn gì đã có con Hằng. Cháu giỏi ngữ. Cậu chẳng biết tiếng tăm.
Tôi vẫn ngồi im, cậu hắng giọng, lại tiếp.
- Hàng họ cậu đã chuẩn bị hòm. Nhưng gay go nhất là khoản cước.
Tôi lại muốn nằm, tôi muốn kết thúc nhanh chóng. Tôi rút nắm tiền dưới gối.
- Đây, cậu cầm lấy.
Cậu nhìn, ngần ngừ hỏi:
- Bao nhiêu? Sao nhiều thế?
- Cậu cứ cầm lấy, cháu chưa đếm.
Cậu cầm nắm bạc, bắt đầu đếm. 134 rúp. Cậu xếp nắm tuyền thứ tự: tờ 50 rúp ngoài, tới tờ 25 rúp bên trong, tới tờ 10 rúp, năm rúp, một rúp. Một công việc cẩn trọng và say mê. Khuôn mặt cậu hiện ra lồ lộ trước mắt tôi: đường lượn của quai hàm, tràng mày, đường cong đuôi mắt, sống mũi. Những dáng nét quen thuộc từ phút giây gặp gỡ đầu tiên. Phút giây ấy, tôi đã yêu cậu với một tình yêu sung sướng.
- A à à...
Cậu bỗng buông tiếng thở dài khoan khoái, đoạn bỏ số tiền đã xếp gọn ghẽ vào túi áo. Tôi trùm kín chăn để khỏi nhìn thấy cậu. Trong bóng tối, hình ảnh một ngày quá vãng trở về.

Sớm hôm ấy, tôi thức dậy sớm. Tôi pha sữa cho mẹ uống, giặt giũ mớ áo quần bẩn, mua hoa quả, bánh trái và đặt sẵn những dụng cụ cần thiết trên bàn. Xong xuôi tôi gửi mẹ cho mấy người nuôi bệnh nhân cùng phòng để đi báo tin cho cậu Chính. Mẹ tôi đã yêu cầu khẩn thiết từ buổi tối đầu tiên tôi vào ngủ trong bệnh viện. Nhưng tôi khất lần cho tới hôm nay. Mẹ bảo.
- Chủ Nhật, thế nào cô cậu ấy cũng ở nhà.
- Vâng, mẹ cứ yên tâm. Nhưng mới có sáu giờ sáng, chưa thể đi ngay được. Ở những khu tập thể, họ thường ngủ muộn.
Mẹ lặng im, nhưng nét mặt bồn chồn. Sáu giờ 15, tôi xách làn đi. Trước hết, ra cổng viện, tôi kiếm hàng xôi lúa làm một đĩa đầy rồi mới thủng thẳng dắt xe đi. Tới Quốc Tử Giám, gặp gánh xiếc miền Nam có biểu diễn trò xe leo vòng, tôi lại ghé vào xem một lúc. Tôi tới nhà cậu Chính lúc non 9 giờ. Cậu đang buộc lại cánh cửa chuồng nuôi thỏ. Thấy tôi, cậu cười.
- A, cái Hằng. Mẹ cháu đâu?
- Mẹ cháu bị xe chẹt.
- Có làm sao không?
- Một.
- Thế còn là may. Hôm qua ở đường Triệu Việt Vương có thằng bé 15 tuổi bị xe chẹt cưa cụt cả hai chân. Không chịu chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông. Sống mà vô tổ chức vô kỷ luật thì thế nào cũng chết, chẳng sớm thì muộn. Thôi, vào nhà đi. Cậu rửa cái tay đã.

Tôi vào nhà. Cậu Chính thu dọn kìm búa, mấy đoạn giây thép, vài cái đinh rồi đi rửa tay. Mợ Chính đang bận gì đó trong buồng. Thấy tôi, mợ ló đầu ra, đôi mắt sáng rỡ.
- A, Hằng đến chơi hả cháu? Mẹ đâu?
Tôi chưa kịp trả lời, cậu Chính đã nói vọng vào.
- Mẹ nó bị xe chẹt, cụt chân rồi.
Mặt người đàn bà đần ra, đôi mắt tắt ngấm. Mợ ta lắp bắp.
- Thế hả?... Thế hả?
Sau đó, mợ bảo.
- Ngồi chơi với cậu nhé, mợ đang tìm cho em Tú chiếc áo len cũ.
Rồi mợ thụt đầu vào trong buồng. Cậu Chính lau khô tay, tới ngồi trước mặt tôi.
- Mẹ mày nằm viện nào?
- Mẹ cháu nằm trong viện Bạch Mai. Mẹ cháu có ý nhắn cậu từ thứ tư tuần trước, nhưng cháu bận.

Tới đó cậu lặng ngắt. Tôi cũng lặng ngắt. Để ý nhìn, gian phòng của cậu đã khang trang hơn xưa. Nơi đặt chiến trạn gỗ đã thay bằng chiếc tủ lạnh hiệu Xatatốp mới tinh. Trên nóc tủ đứng, đặt một chiếc máy truyền hình Nhật 19 inh. Máy phủ tấm lụa in hoa sặc sỡ. Sau một lát im lặng, Cậu Chính cất tiếng gọi.
- Thành ơi.
Từ trong buồng có tiếng đáp.
- Có chuyện gì, anh Chính?
- Ra đây tôi bàn tí việc.
Trong buồng có tiếng đáp.
- Thì cứ nói, đang dở tay tìm cái áo cũ cho thằng bé.
- Cần một ít tiền gửi vào cho chị Quế. Nhà mình có không?
Mợ Thành đáp vọng ra:
- Có hay không anh còn phải hỏi hay sao? Lương kỳ một trả hết tiền căngtin rồi, vừa xà phòng, mì chính vừa xăm lốp xe đạp và hai cái xoong nhôm.
- Rút tiết kiệm.
- Anh thật quan liêu. Sổ tiết kiệm nhà mình là loại có định kỳ, năm năm nữa mới rút ra được. Còn hàng tháng lấy lãi phải tới mồng 7 tháng sau.
- Có vay tạm ai được không
- Đoạn ấy thì chịu. Xưa nay mình chẳng vay ai một xu.
Cậu Chính thở dài. Đoạn, cậu làu bàu.
- Có cái gì đem bán đi nhỉ?
Cậu nói nhỏ, như hụt hơi. Nhưng mợ Thành nghe thấy. Mợ lao từ trong buồng ra, tay cầm một chiếc áo len trẻ con màu đỏ, có lẽ là hàng viện trợ chiến tranh. Mợ thảng thốt nhìn chồng.
- Bán cái gì?
Cậu Chính lằm bằm.
- Ấy là tôi nói thế.
- Chiếc Xalatốp kia là tiền của tôi, tôi mua, trong đợt tham quan Liên Xô đấy nhé. Nhà này, anh chỉ mua được cái TV thôi. Anh có bán thì bán. Nhưng bán thì con anh mất xem.

Tôi lẳng lặng bỏ ra về. Cả hai vợ chồng đang cúi gằm mặt suy tính. Có lẽ, họ không nhìn thấy tôi. Hoặc nhìn thấy nhưng họ cố tình giả tảng?

Tôi trở lại phòng bệnh của mẹ tôi lúc gần ngọ. Mẹ đang nằm, mặt quay ra cửa. Thấy tôi, mẹ cười tươi.
- Hằng về hả con?
Nụ cười tươi tắn trên vành môi nhợt và gương mặt trắng như giấy ngâm. Hai mắt mẹ hau háu nhìn tôi, có ý chời đợi, phấp phỏng. Ánh mắt ấy là ánh mắt của con chó trung thành chờ âm huệ ban thưởng. Tôi nhói lòng. Tôi quay đi. Mẹ có ý nhắc.
- Thế nào còn?
- Cậu Chính đi công tác mẹ ạ.
Mẹ hỏi, mụ cười vẫn ngời sáng trên môi.
- Cậu đi công tác xa hay gần hở con?
- Xa.
- Thảo nào, hôm qua mẹ nghe đài nói có đoàn đại biểu Liên Xô vừa sang trao đổi với Đảng mình về công tác tư tưởng. Chắc cậu con đưa đoàn ấy đi tham quan các tỉnh miền Nam.
- Vâng.

Có một bàn tay đập rất mạnh vào vai tôi.
- Dậy, dậy đi Hằng. Cậu nấu trước bát mì, ăn đi cho mau khỏe.
Tôi co mép chăn, để cậu khỏi giật ra được, và tôi đáp.
- Không, cháu không muốn ăn, cậu để cho cháu nằm.
Trong bóng tối ấm áp của tấm chăn, tôi được tĩnh lặng Tôi quên mọi gương mặt, tôi xóa mọi âm thanh. Trí nhớ như căn phòng hoang vắng. Và tôi chìm vào giấc ngủ.

Hôm sau, chàng lãng tử ngỏ ý đưa tôi ra ga thay cậu Chính. Không một phút đắn đo, tôi gật đầu ưng thuận, dù trong thâm tâm tôi biết rắng người con gái cư xử như thế thật chẳng hay ho gì. Tôi không muốn trước khi bước lên tàu, chịu đựng một cuộc hành trình buồn tẻ lại phải nhìn thấy ông cậu ruột. Chàng lãng tử đã mua sắm đồ ăn đường và mua vé cho tôi. Anh cũng mua cho anh tấm vé vào ga để đưa tôi ra tận kè đá chờ tàu. Tôi thấy anh ta nói tiếng Nga giỏi chẳng kém gì người đàn ông tóc muối tiêu đã đưa tôi tới căn buồng của ông nghiên cứu sinh Sinh Hóa. Với ngữ điệu đặc sệt Nga, nước da rám đen và gương mặt thanh tú anh chàng khiến cho nhiều cô gái Nga chú ý. Họ ném theo những ánh mắt hoặc vội vã thầm lén, hoặc công nhiên và dai dẳng. Chàng lãng tử giữ vẻ mặt phớt tỉnh Ănglê. Tôi thầm cười anh ta vì dẫu sao, anh cũng chỉ hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi đứng bên nhau chờ tàu, nói đủ thứ chuyện, trừ chuyện về bản thân. Giờ từ biệt, cuối cùng cũng tới. Tôi xiết chặt tay anh.
- Cảm ơn anh. Cảm ơn anh rất nhiều.
Chàng lãng tử cười.
- Đừng, cảm ít thôi còn để dành cho lần sau.
Mắt anh lóe lên tia lửa tinh nghịch, ranh mãnh. Tôi bật cười theo. Anh hỏi.
- Có gửi gắm gì cho cậu không ?
- Không.
Rồi sau chút đắn đo, tôi hỏi.
- Cậu ấy làm thuê cho các anh từ bao giờ?
- Mấy tháng nay. Trước, chúng tôi thuê một ông khác. Ông ấy về nước và giới thiệu ông Chính. Hai người này có quen biết nhau. Ở đây chúng tôi coi là việc hợp lý hóa lao động.
Tôi lắc đầu.
- Dù sau , tôi cũng không thể hiểu. Ngày hôm qua, sự việc diễn ra đúng như anh dự đoán.
Chàng lãng tử đưa tay kéo món tóc xòa xuống mắt tôi lên, rồi nói.
- Người ta nên hiểu biết hết mọi sự trên đời cô bé ạ, dù cho là sự thực đau buồn. Ông cậu của cô giống như một loạt người tôi từng gặp. Họ là những kẻ đã phung phí gần hết đời sống của mình vào việc vẽ nên một thiên đường dưới trần ai, nhưng trí khôn ngắn ngủi của họ lại không đủ để hiểu thiên đường ấy ra sao và con đường nào đưa tới nó. Vì thế khi biết công việc ấy hão huyền thì họ hối hả tìm kiếm những miếng ăn thực, nhặt nhạnh những hạt ngũ cốc thực trên mảnh đất bùn lầy, Họ làm việc ấy, bất kể bằng cách nào. Họ là tấn thảm kịch cho chính họ, tấn thảm kịch cho thế hệ chúng ta.

Tàu đến, anh xiết chặt tay tôi lần nữa, rồi xách túi đưa tôi lên toa. Khi tôi ngồi vào chỗ, anh trở lại bờ kè. Ở đó, anh đứng chờ cho con tàu tư từ lướt qua và hình bóng anh nhòa dần sau ô cửa kính.

 

 

Hết

Dương Thu Hương

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address