DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,481,999

Mây Mù Thế Kỷ - Bùi Tín (tiếp theo và hết)

Saturday, January 21, 201212:00 AM(View: 10722)
Mây Mù Thế Kỷ - Bùi Tín (tiếp theo và hết)
Mây Mù Thế Kỷ



Những Vấn Đề Của Hiện Tại Phần 1


Hỏi và Trả Lời với Một Số Cựu Chiến Binh Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam và Quân Lực VIỆT NAM CNG HÒA

Hiện tại Việt nam vẫn phải đối mặt với di sản của thế kỷ 20 - thế kỷ của chiến tranh tang tóc và tàn phá. Mây mù trong nhận thức xã hội cần giải tỏa. Độc lập chưa trọn vẹn, đất nước vẫn bị cầm tù bởi một học thuyết ngoại lai. Dân chủ - giá trị thời đại vẫn còn ở phía trước.

Ông nhận xét như thế nào về cộng đồng người Việt ở hải ngoại nói chung và những người quốc gia ớ hải ngoại nói riêng?

Cộng đồng người Việt chúng ta hiện nay ở hải ngoại rất đông đảo, có chừng hai triệu người và ở rải rác trên gần 60 quốc gia khác nhau. Hiếm có nước nào có một cộng đồng ở hải ngoại đông, mạnh, có tiềm lực đến thế. Tôi thường nói, đây là nỗi bất hạnh của dân tộc, khi có biết bao người con có tấm lòng đối với đất nước buộc phải bỏ đất nước ra đi. Nhưng đồng thời, điều bất hạnh ấy lại trở thành thế mạnh. Nhiều người ra đi đã lập nên cơ đồ, đời sống khá hơn nhiều khi còn ở trong nước. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại có lớp con em trẻ, học hành rất xuất sắc, tiếp thu được kiến thức khoa học, kỹ thuật và văn hóa của thế giới hiện đại. Tất cả vốn liếng, vốn về kinh doanh, về kĩ thuật công nghiệp hiện đại, về tổ chức v.v... sắp tới trong điều kiện thuận lợi nếu đưa được về để đóng góp xây dựng đất nước thì rất đáng quý. Nỗi bất hạnh ấy có thể trở thành niềm hạnh phúc, lợi thế. Nhưng hiện nay, do chính quyền trong nước bảo thủ, độc đoán nên những lợi thế đó chưa phát huy được hết, bà con ta ở ngoài nước nhìn chung chưa có thể đưa tài năng về để xây dựng đất nước. Đây là một thiệt thòi rất lớn cho đất nước.

Nhưng tôi thấy người Việt sống ở hải ngoại cũng còn có những nhược điểm: chưa thực sự đồng tâm nhất trí, còn chia rẽ nhiều. Tình trạng chia rẽ nhau cũng là điều dễ hiểu, bởi vì mỗi người ra đi có hoàn cảnh khác nhau. Trong những người gọi là 'quốc gia' ở hải ngoại, có những nhược điểm cần khắc phục. Đó là thái độ hận thù còn quá sâu. Hận thù ấy không những đối với hàng ngũ lãnh đạo bảo thủ ở trong nước, mà còn đổ xuống tất cả các đảng viên cộng sản với con mắt 'vơ đũa cả nắm', cứ ai dính tới cộng sản, từng ở trong đảng cộng sản đều bị định kiến, không thể bắt tay, không thể tin cậy. Tâm lý hoài nghi như thế cũng dễ hiểu, vì những người tự nhận là 'quốc gia' có mối thù rất sâu đối với sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng cũng nên thấy rằng, cần có cách nhìn có văn hóa và tỉnh táo, có nghĩa là, chỉ nên hận thù đường lối lãnh đạo sai lầm của một số người cộng sản bảo thủ; và cũng nên nhớ rằng đảng cộng sản không phải thuần nhất, không phải tất cả các đảng viên cộng sản đều nghĩ như những người lãnh đạo, mà chỉ có một số người lãnh đạo ở bên trên nghĩ thay, đặt ra đường lối, rồi buộc toàn đảng phải tuân theo. Cũng như đảng Cộng sản Liên xô trước kia có một thời kì có vẻ vững mạnh, nhưng đến khi bùng nổ dân chủ, nó tan rã rất nhanh, vì nó không cố kết được, không đồng tâm nhất trí. Do đó, chúng ta cần nhìn vào đảng Cộng sản Việt nam với con mắt tỉnh táo. Phân biệt được giữa những người bảo thủ trong cơ quan lãnh đáo với những người cộng sản khác mà chúng ta có thể bắt tay. Lại cần phân biệt những người đảng viên bình thường, họ chỉ có lòng yêu nước và trình độ chính trị trung bình, không có đường lối sâu sắc Ngay những người hiện nay đang làm việc ở trong bộ máy cầm quyền, chúng ta cũng nên có sự phân biệt; cũng có những người tham nhũng nặng nề, lạc hậu, bảo thủ, nhưng đồng thời cũng có những người trong sạch, có lý tường dân tộc, muốn có công bằng, bác ái. Cả những đảng viên về hưu tôi quen biết và đến nay vẫn còn liên hệ, có nhiều người tài sản chằng có gì, sống hết sức trong sạch, thực tâm muốn đất nước mình hòa hợp, để tiến nhanh, hòa nhập với thế giới.

Trong số những anh em 'quốc gia' còn có người nhìn nhận với con mắt định kiến. Vì thế, họ có những chủ trương không thích hợp. Ví dụ, như họ có chủ trương không quan hệ giữa người trong nước với người ngoài nước, không tham gia xây dựng, giúp đỡ người ở trong nước. Có thời kì họ còn lập cả những ủy ban để ngăn cản bà con về thăm quê nhà v.v... Tôi nghĩ, đó là những cách nhìn cứng nhắc, tai hại. Cách nhìn tỉnh táo là cách nhìn đồng tình với nguyện vọng về thăm quê hương của bà con ở nước ngoài, gửi tiền về giúp gia đình họ ở trong nước. Đấy là một lợi thế để chứng minh rõ rằng chế độ hiện nay ở trong nước không có điều kiện nâng cao mức sống của nhân dân mà phải dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài. Vả lại, thông qua những chuyến du lịch về thăm quê hương, người Việt ở nước ngoài có thể mang theo những câu chuyện sinh động dân chủ, dân chủ có lợi như thế nào, về chống độc đoán, chống tham nhũng... Khi gặp những người của chính quyền trong nước, cũng nên ngay thẳng, đàng hoàng phê phán, phê bình những mặt trái, chủ trương sai lầm của họ một cách bình tĩnh, cởi mở, không cần chửi bới, thóa mạ. Cách tốt nhất là thuyết phục, 'nói phải củ cải cũng nghe. Ngay cả đối với những nhóm nghệ sĩ trong nước sang Pháp hay Đức biểu diễn, hát những bài hát dân tộc, tại sao lại tẩy chay họ, gọi đó là 'văn nô, văn hóa một chiều? Đáng lý ra phải tranh thủ họ bằng những tư tưởng dân chủ, hòa hợp và đoàn kết dân tộc thì lại đẩy họ đi, đem lại cho họ những ác cảm đối với người Việt hải ngoại. Mọi chủ trương cần cân nhắc, đừng để xảy ra những điều đáng tiếc.

Rất mừng là hiện nay trong cộng đồng chúng ta đã có những tiếng nói tỉnh táo, phù hợp với thực tế hơn. Việc giúp đỡ ở trong nước là một việc rất nên làm, như quỹ quyên góp đỡ đầu những học sinh học giỏi, đỡ đầu những mầm non văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, giúp anh em thương binh ở cả hai bên, (nhất là ở phía Việt nam Cộng hòa không được nhà nước quan tâm giúp đỡ), trại trẻ em mồ côi duy trì, bảo tồn những di tích lịch sử, văn hóa ở các địa phương, mà ngân sách ở trong nước chưa có đủ. Việc làm này rất có lợi, cho dù có thể bị cắt xén, lấy mất chút ít vì tham nhũng, nhưng ai đã cho tiền thì phải được quyền kiểm soát xem những đồng tiền đó phát huy tác dụng đến đâu. Những liên lạc ấy rất có ích để đất nước đỡ khỏi điêu tàn, lại chứng minh rằng chính quyền hiện nay không quan tâm đầy đủ và bất lực, vừa cho thấy rằng tấm lòng của bà con Việt nam ở nước ngoài luôn hướng về quê hương. Như bác sĩ Phạm Minh Hiển ở Pháp đã vận động chở về nước mấy trăm chiếc xe lăn cho những anh em thương binh không có điều kiện mua sắm... Những việc làm đó đã nâng ảnh hưởng của cộng đồng của người Việt hải ngoại lên, trên cơ sở đó giúp đỡ bà con trong nước, nâng nhận thức về chính trị, về dân chủ lên.

Khi đã xác định rằng không nên và không thể dùng bạo lực để lật đổ chính quyền - đồng bào trong nước cũng không tán thành việc làm đó, ba mươi năm chiến tranh làm họ ngao ngán, không muốn có hỗn loạn nữa - thì phải dùng những mối quan hệ để tác động một cách hòa bình, chính biện pháp đấu tranh hòa bình mới làm các chế độ độc đoán sợ và khó lòng ngăn cản.

Sau khi ông đã từ bỏ hàng ngũ đảng cộng sản và ông có lập trường chống lại sự lãnh đạo độc đoán của giới lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay, liệu ông có chấp nhận lập trường của người quốc gia không? Ông có ý định gia nhập một tổ chức quốc gia nào không?

Tôi nghĩ, danh từ 'cộng sản' và 'quốc gia' đã bị xói mòn quá nhiều, gần như bị lạm dụng đến mức nó không còn ý nghĩa chuẩn xác của nó nữa. Việc chia thành 'cộng sản' và 'quốc gia' được hình thành trong lịch sử và ở một mức độ nào đó có phần giả tạo, không có ý nghĩa thực chất. Trong hàng ngũ những người cộng sản, có nhiều người vào đảng chỉ vì yêu nước và ý thức quốc gia, có tinh thần đấu tranh cho độc lập. Rất nhiều người trên danh nghĩa là 'cộng sản', nhưng có ý thức quốc gia sâu sắc. Họ vào đảng, ra mặt trận, chịu đựng những hy sinh, hiểm nghèo và tận tụy phục vụ nhân dân. ý thức đó xuất phát từ tinh thần yêu nước và bao trùm tất cả tinh thần của họ vẫn là đấu tranh giành độc lập cho đất nước khỏi sự chiếm đóng của nước ngoài.

Tôi cho rằng, sự đối lập giữa cộng sản và quốc gia là một đối lập giả tạo, không thực chất. Như tôi đã nói, rất đông đảo người cộng sản, khi gia nhập đảng không phải là để xây dựng chủ nghĩa cộng sản, mà trước hết là để giành độc lập cho đất nước. Tuổi trẻ của chúng tôi ra trận chính vì một lý tường như thế. Nếu coi mọi người cộng sản đều không có tinh thần dân tộc là không thực tế, không phù hợp với sự thật, và đối lập những người cộng sản với những người đấu tranh cho độc lập của đất nước thì đối lập này lại càng không thực tế, càng không phù hợp với sự thật. Do đó, trong số những người cộng sản cũng nên chia ra làm nhiều loại. Có những người lãnh đạo ở trên cao, mang nặng ý thức 'đấu tranh giai cấp' và 'chuyên chính vô sản', và những đảng viên thường vào đảng chỉ để có công ăn, việc làm, hoặc để có một chức vụ nào đấy nhằm phát huy khả năng bản thân, vì không có một tổ chức chính trị nào khác được phép hoạt động trên đất nước Việt nam cả. Tôi nghĩ rằng, không nên đối lập những người cộng sản với những người quốc gia trên tinh thần ấy.

Ngược lại, tôi cũng nghĩ, đối với những anh em binh sĩ, sĩ quan, viên chức của chế độ ở miền Nam trước đây tự nhận là những người 'quốc gia', chúng ta cũng cần có sự phân biệt. Bởi vì, trong số họ cũng có người yêu nước thật sự, có không ít người có tinh thần đấu tranh cho độc lập của đất nước. Trước đây chúng tôi nhận định về những người ấy không đúng, coi họ là 'ngụy', là 'tay sai của đế quốc là 'cõng rắn cắn gà nhà' và 'gây nên cuộc chiết tranh tàn khốc'. Đánh giá như thế là sai, là chụp mũ.

Bây giờ tôi mong rằng giữa cộng sản và quốc gia cần có sự nhìn nhận mới. Trong cuộc đấu tranh hiện nay để xây dựng một chế độ dân chủ, cái thiết nhất của đất nước, tuy đã có độc lập, là chưa có dân chủ. Giành lại chế độ dân chủ, xây dựng xã hội công dân là việc quan trọng nhất hiện nay. Lúc này là lúc cần tập hợp tất cả mọi người, không phân biệt quá khứ đã từng ở trong đảng nào, trong quân đội nào, miễn là bây giờ có tinh thần bắt tay nhau xây dựng một chế độ dân chủ. Những người dấn thân cho thể chế dân chủ là những chiến sĩ dân chủ. Đối lập với những lực lượng dân chủ là thế lực độc đoán và bảo thủ. Thế lực đó hiện nay nằm trong cơ quan lãnh đạo của đảng cộng sản và chính quyền ở trong nước. Nhưng không thể nói tất cả những người đảng viên cộng sản, tất cả những người tham gia chính quyền ở trong nước đều là những người chống lại trào lưu dân chủ. Cần thấy rằng, cơ quan lãnh đạo rất bảo thủ, nhưng trong đảng không hiếm người có ý thức dân chủ và có thể tranh thủ được họ để chống lại chế độ độc đoán, giáo điều hiện nay, đưa đất nước hòa nhập với thế giới và tiến lên. Đã đến lúc nên có sự bắt tay giữa những người quốc gia có tinh thần dân chủ với những người trước đây hoặc hiện nay vẫn còn ở trong đảng cộng sản cũng có tinh thần dân chủ. Khi có biến chuyển, số chiến sĩ dân chủ ở trong nước - trong nhân dân, trong đảng cộng sản - có thể tăng lên gấp bội.

Thái độ của ông đối với những người chống cộng hiện nay như thế nào?

Nếu gọi 'chống cộng' là chống chủ nghĩa cộng sản tùm lum, cả gói, không phân biệt, thì tôi không có lập trường ấy. Tôi vẫn quan niệm Mác là một nhà tư tưởng lớn. Nước Cộng hòa Liên bang Đức hiện nay vẫn có những đại lộ mang tên Các Mác, nhiều tượng Mác và cả bảo tàng về Mác. Nhân loại có đến hằng trăm nhà tư tưởng lớn, đẻ ra vô vàn học thuyết... Mỗi học thuyết là một viên gạch, hoặc một nấc thang trong quá trình nhận thức vô tận của loại người. Chủ nghĩa cộng sản bản thân nó trong lý thuyết chứa đựng nguyện vọng và xu hướng của nhân loại. Cái sai hình thành cơ bản từ những người vận dụng rất tùy tiện học thuyết ấy, được rút ra từ thí nghiệm ở Liên xô và một số nước khác chưa hội đủ những điều kiện làm tiền đề cho chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản hiện nay còn xa vời, là ước mong chủ quan, không thực tế. Có người từ bỏ chủ nghĩa cộng sản không phải vì căm thù nó, mà vì nhân loại chưa hội đủ điều kiện để đạt được mục tiêu của nó. Tôi là người theo chủ trương đa nguyên, nên tôi tôn trọng bất kỳ lý tưởng của ai, dù họ có xu hướng chính trị nào đi nữa; tôn trọng không đồng nghĩa với chấp thuận. Hiện nay tôi không theo con đường của chủ nghĩa cộng sản nữa vì nó là ảo tưởng, xa lạ với dân tộc chúng ta. Đồng thời, tôi cũng thông cảm với những người thù hận với chủ nghĩa cộng sản. Theo tôi cảm nhận: có thể họ thù hận chủ nghĩa cộng sản là do đảng cộng sản gây nên bao điều tệ hại, do những người lãnh đạo cộng sản mà họ đã phải từ miền Bắc chạy vào miền Nam và từ miền Nam chạy ra nước ngoài. Nếu vậy, lập trường chống cộng của họ cũng không phải là chống chủ nghĩa cộng sản, - vì chưa ở đâu có chủ nghĩa cộng sản cả -mà là chống những người lãnh đạo cộng sản.

Bà con người Việt ở hải ngoại căm thù cộng sản là cũng dễ hiểu và tôi thông cảm, tôn trọng thái độ của họ đối với những người lãnh đạo gia trưởng, bảo thủ và giáo điều có những chủ trương sai lầm kìm hãm đất nước, đẩy một bộ phận đông đảo người Việt vào tình thế bị đát và bất hạnh.

Riêng tôi, tôi cũng căm giận những người lãnh đạo cộng sản vì những tội lỗi họ gây ra cho xã hội, cho đồng bào ta. Nhân đây tôi xin kể một câu chuyện. Vào năm 1991, tôi ghé qua Canada, trong một cuộc gặp với một số anh chị em trẻ, trí thức và bà con Việt nam sống ở đó. Có người bảo tôi: 'Bây giờ ông phải sám hối trước chúng tôi, nhận tất cả những tội ác của đảng cộng sản!'. Tôi nói: 'Ông đặt yêu cầu này không đúng chỗ, bời vì tôi không phải là người đề ra chủ trương chính sách. Do đó tôi không có gì phải sám hối. Và nếu tôi có tội phải sám hối thì tôi sẽ sám hối trước nhân dân, chứ không phải sám hối trước bất cứ một cá nhân ai. Tại sao tôi lại buộc phải sám hối trước những người mà tôi không hề đụng chạm, liên quan tới họ. Tôi lại càng không thể sám hối trước những người mà tôi cho là cũng tham nhũng, có những chủ trương sai lầm với nhân dân!' Cũng tại cuộc họp ấy, có một chị đến chỉ vào mặt tôi và trút tất cả hận thù vào tôi, vì chị ta có mẹ và một người con bị chết trên biển trong khi vượt biên ra nước ngoài. Tôi đề nghị tất cả mọi người bình tĩnh để nghe. Chị ta nói gần như tố khổ và sau khi xong câu chuyện, tôi có nói rằng tôi rất thông cảm với một người như chị đã mất con, mất mẹ. Nhưng cá nhân tôi không chịu trách nhiệm, không liên quan trực tiếp đến hậu quả bị thảm ấy. Chính những người lãnh đạo đất nước mù quáng gây nên không khí căm thù, phân biệt đối xử để dẫn đến làn sóng di tản của thuyền nhân. Tôi ngỏ ý: chị gặp tôi và có những lời không đúng với tôi nếu việc đó có thể làm nguôi chút nào nỗi khổ đau của chị, thì tôi cũng sẵn sàng nghe. Tôi cảm thấy nỗi đau của chị như chính nỗi đau của tôi chính nỗi đau của chị nhân lên hàng ngàn, hàng vạn lần của người khác đã thúc đẩy tôi tìm kiếm một giải pháp cho đất nước. Chị đã đến bắt tay tôi xin lỗi và nói: 'Đến nay tôi mới hiểu rằng, chính cái điều ông đang đấu tranh là để có một xã hội lành mạnh, công bằng, bớt đau khổ cho người dân'

Ông có ý kiến như thế nào đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại?

Tôi đã nhiều lần nói rõ rằng: cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một tập thể đông đảo (gần hai triệu người), có nhiều thành đạt. Có những thành đạt ở hàng đầu của cộng đồng người nước ngoài trên thế giới, không kém gì người Nhật, người Hoa và cũng không kém gì người Do Thái,... Những thành tựu đó là về: làm việc, kinh doanh, buôn bán, học hành, tiếp thu khoa học kĩ thuật. Nhất là các em trẻ tuổi, nam cũng như nữ, hòa nhập rất nhanh, có trình độ học vấn khá cao và thành đạt khá nổi tiếng trong trường đại học ở tất cả các nước, đó là vốn quý của dân tộc. Tôi thường nói: dễ gì mà cử được số người đông đảo như thế, gần như ở khu vực nào cũng có để hòa nhập, học tập lối sống, văn hóa, văn minh, kinh nghiệm của các dân tộc khác. Tôi ví họ như một đàn ong cần mẫn hút nhụy hoa làm mật, chất tinh túy ấy chính là vốn kiến thức, vốn tiền nong, kinh doanh, khoa học kĩ thuật và công nghệ. Hiếm có dân tộc nào đã biến bất hạnh của hoàn cảnh trở thành điều may mắn, hạnh phúc.

Bất hạnh bà con ta phải trả là phải bỏ nước ra đi, từ đó tạo nên những cái đáng mừng. Cái còn tồn tại trong cộng đồng người Việt hải ngoại, theo tôi, là chưa đoàn kết; có quá nhiều tổ chức, lại kình chống nhau. Người Việt hải ngoại thiếu những tổ chức thống nhất, lành mạnh, có thể tập hợp đông đảo người Việt có cùng một chí hướng, có sinh hoạt dân chủ. Tôi có cảm giác ở nơi này, nơi kia những tổ chức của người Việt hải ngoại còn mang nặng tính hình thức. Những hội đoàn, ái hữu chú trọng nhiều đến cờ quạt, úy lạo, diễn văn, chụp ảnh chủ tịch đoàn v.v... một cách phô trương, mà ít có những hoạt động thực chất. Thảo luận dân chủ chưa rộng rãi, vẫn còn không khí gia trưởng, áp đặt Có những người chủ trương 'cấm vận' với trong nước, không được có quan hệ làm ăn buôn bán, đi lại, thăm hỏi, du lịch, vì cho rằng như vậy mới có thể làm cho chế độ cộng sản ở trong nước mau sụp đổ (!?) Chủ trương như thế không được thảo luận đầy đủ, và những ai có dự định trái với xu hướng 'cấm vận' ấy phải tránh đi, không dám cưỡng lại không muốn phát biểu công khai. Nhưng điều mỉa mai là chính những người đề ra chủ trương như vậy rốt cuộc, cũng lao vào làm ăn buôn bán ở trong nước, về thăm quê, gửi tiền về cho người nhà ở trong nước v.v... Như thế là không lành mạnh, nói một đàng, làm một nẻo, khống chế người khác và không tôn trọng lẫn nhau. Tôi nghĩ, trong cộng đồng làm sao xây dựng được một tinh thần dân chủ, thẳng thắn tranh luận, đối thoại, cởi mở, mỗi người đều có chính kiến riêng, đều có thể phát biểu công khai, không e ngại lo sợ bị đe dọa, khủng bố. Đối với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, có người có thái độ khiêu khích, gây sự, đe dọa hành hung ông, hoặc o bế, gò ép ông, cho gặp người này, ngăn cản gặp người khác... Đấy là thái độ thiếu lành mạnh, thiếu văn hóa ở ngay trên đất nước dân chủ.

Sự chia rẽ của tổ chức Văn bút ở hải ngoại là đáng tiếc, làm giảm uy tín của cộng đồng người Việt. Việc phê phán một ông tướng từng là Chủ tịch ủy ban Hành pháp ở Miền Nam có ý hòa hợp và hòa giải giữa người Việt với nhau, hoặc việc lên án một bà ủy viên hội đồng địa phương ở úc đề xuất ý kiến kết nghĩa với một quận ở thành phố Hồ Chí Minh... mang tính chất thóa mạ, chụp mũ, không khác mấy với kiểu chỉnh huấn, kiểm thảo, tố khổ của đảng Cộng sản? Hai vị ấy bị lên án là tay sai Hà Nội, đi đêm với kẻ thù, đâm dao sau lưng chiến sĩ và bà con ta; hay bị cộng sản mua mất linh hồn, tiếp tay cho ma quỷ, phản bội cộng đồng, sẽ bị hỏi tội và trừng phạt...

Trước đây, có một vài tờ báo và cá nhân phát biểu rằng, ông đã từ bỏ hàng ngũ cộng sản để về với quốc gia, rời bỏ chủ nghĩa đen tối của cộng sản để đến với 'chính nghĩa quốc gia', rằng ông đã bị chiêu hồi, đã bỏ cờ đỏ sao vàng để theo cờ vàng ba sọc đỏ. Nhân dịp này xin ông cho biết ý kiên của ông về những điều đó?

Nhiều lần tôi đã nói, có những người nhận định không đúng về tôi, ví dụ như cho tôi là bị chiêu hồi, bỏ hàng ngũ cộng sản để về với 'chính nghĩa quốc gia' như ông đã hỏi. Nhân đây, tôi cần nói rõ thế này. Hiện nay tôi không còn là người cộng sản nữa. Người ta đã khai trừ tôi khỏi đảng cộng sản. Tôi yên lòng và còn tự hào đứng ngoài đảng cộng sản. Nhưng không phải vì vậy mà tôi bôi đen hoặc nói xấu đảng cộng sản. Trước hết, đối với đảng cộng sản, tôi luôn cho là không ít người vào đảng cộng sản do động cơ yêu nước. Và hiện nay tôi vẫn cho là trong đảng cộng sản có hơn hai triệu đảng viên nhưng phần lớn họ vào đảng không phải vì lý tưởng cộng sản, học thuyết cộng sản, mà chính tình thế bắt buộc do không có đảng nào khác ở trong nước để họ lựa chọn. Trừ một số trường hợp riêng biệt, ai muốn làm việc, tiến thân đều phải vào đảng cộng sản. Trong số hơn hai triệu đảng viên cộng sản hiện nay, không hiếm người có tinh thần dân tộc sâu sắc nghe theo lẽ phải. Nhưng vì chưa có điều kiện, thời cơ hoặc còn e ngại vì ách độc đoán, nên họ chưa biểu hiện thái độ của mình. Đã và đang có nhiều người thảo luận ngầm với nhau về hướng dân chủ hóa cho đất nước trong tương lai.

Còn việc có người cho rằng tôi đã 'trở về với chính nghĩa quốc gia', tôi nghĩ, không phải tất cả những người Việt ở hải ngoại đều là 'quốc gia'. Bởi vì 'quốc gia' không có nghĩa là cứ người bỏ miền Nam ra đi đều có tinh thần 'quốc gia'. Trong cộng đồng đó có đến ba, bốn trăm tổ chức khác nhau, có những tổ chức chống đối nhau quyết liệt. Tôi không gia nhập tổ chức nào và cũng không để ai lôi kéo mình. Cho nên, không thể nói tôi trở về với 'chính nghĩa quốc gia' và 'bị chiêu hồi' được. Những người yêu nước thật sự là người theo chủ nghĩa yêu nước chân chính, dù họ có là cộng sản, hay quốc gia và đều là những con người chân chính. Còn những người mang danh 'quốc gia', nhưng không dấn thân cho sự nghiệp độc lập, tự do, phát triển của quốc gia, thì chắc gì đã là người quốc gia chân chính? Tôi đã gặp một số vị trong chế độ Sài Gòn cũ, có vị là trung tướng nói với tôi rằng: 'Nếu chúng tôi chiến thắng, tức miền Nam thắng miền Bắc, không chắc chính sách của chúng tôi đối với các ông đã hơn gì so với chính sách của các ông đối với chúng tôi. Có khi chúng tôi lại có những trại giam tàn bạo hơn'. Ngay một số trí thức từng ở trong chính quyền miền Nam cũng tỏ ra phủ nhận bộ máy lãnh đạo của chế độ Việt nam Cộng hòa trước đây và phủ nhận cả lá cờ vàng ba sọc đỏ. Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: 'Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu, quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy. Chế độ đó đã thất trận, thất trận do thối nát, thiếu sáng suốt, phải bô nước chạy ra nước ngoài'. ở trong nước, đồng bào ta, kể cả những người từng sống trong chế độ Sài Gòn cũ, cũng không nuối tiếc và hy vọng gì về những người 'quốc gia' ở nước ngoài, vì họ không tác động có hiệu quả đối với đất nước, trong khi phần đông họ chỉ cổ vũ hận thù và một thời gian còn có không ít người chủ trương dùng bạo lực. Tôi thấy còn hai nhược điểm lớn tồn tại trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Thứ nhất là hiện tượng kích động hận thù, duy trì và phát triển sự phục thù sâu sắc, nặng nề. Thứ hai là chủ trương bạo lực lật đổ chế độ cộng sản, giành chính quyền, xu hướng này đã giảm rõ, nhưng chưa bị triệt tiêu. Tôi tự cho mình không có 'sứ mệnh' thay đổi trận tuyến để đi theo kiểu ấy. Bởi vì hơn 40 năm là đảng viên cộng sản và 37 năm trong Quân đội Nhân dân Việt nam, suốt quãng thời gian ấy tôi không làm điều gì xấu xa, không có điều gì phái hổ thẹn cả. Hồi ấy, tôi đã chiến đấu với tấm lòng trong sáng, tin tường ở chính nghĩa để giành lại độc lập cho dân tộc. Đến khi ra ngoài này, tôi trình bày kiến nghị của tôi về xây dựng và phát triển đất nước. Những người lãnh đạo đảng cộng sản khai trừ tôi.

Tôi thanh thản giã từ đảng cộng sản. Trước sau tôi vẫn giữ tấm lòng yêu nước, nguyện đấu tranh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, ngoài ra không có cái gì khác. Cho đến nay tôi vẫn gắn bó với đồng bào ở trong nước, gắn bó với lực lượng còn ở trong đảng cộng sản mà tôi có khả năng thức tỉnh họ theo xu thế thời đại, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh cho dân chủ. Đó sẽ là lực lượng quyết định ở trong nước để xây dựng một nền dân chủ thực sự cho đất nước. Tôi không đặt cho mình phải cắt đứt mọi liên lạc với những người cộng sản, mà đặt cho mình nhiệm vụ phê phán những người lãnh đạo bảo thủ, tham nhũng, thối nát trong đảng cộng sản. Những người lãnh đạo bảo thủ, giáo điều, vì quyền lợi cá nhân mà duy trì ghế lãnh đạo, duy trì đặc quyền, đặc lợi hòng vơ vét của cải của nhân dân và của đất nước. Đây là những đối tượng chúng ta phải đấu tranh gạt bỏ khỏi chính quyền hiện nay. Còn những người trí thức, những anh em trẻ tuổi có trình độ học vấn cao, có đạo đức tư cách tốt hoặc những người ngoài đảng cộng sản như ông Phan Đình Diệu, ông Hà Sĩ Phu... và một bộ phận khá lớn tuy còn ở trong đảng, nhưng vẫn giữ tấm lòng đối với đất nước, giữ được tư cách đạo đức trong sáng... tôi nghĩ đó là tiềm năng của cách mạng dân chủ, là lực lượng mà tôi cần liên hệ, bắt tay đoàn kết, tin cậy để đưa đất nước vào con đường dân chủ. Về lá cờ, đã có người ra điều kiện cho tôi là: 'Ông bỏ đảng thì ông phải dẫm chân lên lá cờ đỏ sao vàng, bước qua lá cờ đó!' Tôi trả lời: 'Không ai có quyền yêu cầu người người khác làm điều đó và tôi cũng không bao giờ làm như vậy. Lá cờ đô sao vàng tôi đã tôn trọng, đã chiến đấu dưới lá cờ ấy với lòng yêu nước của tôi, nó từng là biểu tượng trong cuộc đấu tranh giành độc lập trong trái tim tôi!' Nhưng quả thật, lá cờ đó không còn hoàn toàn đáng ngưỡng mộ đối với tôi như trước nữa. Lá cờ đó đã bị tập đoàn lãnh đạo bảo thủ làm cho hoen ố bởi những sai lầm tội lỗi trong Cải cách ruộng đất. Dưới lá cờ ấy, những tòa án mệnh danh là 'tòa án nhân dân' đã xét xử và bắn chết hàng vạn đồng bào nông dân vô tội, trong đó có cả những người quen biết, họ hàng của gia đình tôi và gia đình vợ tôi. Lá cờ đó đã bị hoen ố trong vụ 'Nhân văn - Giai phẩm' như đối với các ông Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần... và trong vụ 'Xét lại, chống đảng'. Gần đây lá cờ ấy càng bị hoen ố thêm trong vụ xử tù ông Hoàng Minh Chính, ông Lê Hồng Hà cũng như các ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, các nhà lãnh đạo tôn giáo trước đó, v.v...

Lá cờ đỏ sao vàng đã bị lạm dụng, bị bôi nhọ khi chính quyền trong nước tăng cường độc đoán, gây nên bất công, đau khổ cho những người yêu nước vô tội. Chính lá cờ ấy đã cắm trên những nhà tù giam cầm hàng trăm chiến sĩ dân chủ yêu nước như trước đây đã từng giam hàng chục vạn sĩ quan, công chức của chính quyền Sài Gòn cũ.

Về lá cờ vàng ba sọc đỏ, nó được dựng lên dưới thời thực dân Pháp. Dưới lá cờ ấy biết bao nhiêu người chết oan uổng, mẹ tôi đã bị quân đội viễn chinh Pháp bắn chết. Hàng chục vạn người bị chết trong những cuộc càn quét của quân Pháp và lực lượng do Pháp xây dựng. Rồi sau này là những đợt 'tố Cộng', 'diệt Cộng', thực chất là giết những người yêu nước ở miền Nam. Theo số liệu của Lầu Năm Góc (Hoa Kỳ), hơn 20 ngàn người bị tử hình, ám sát trong thời kì 'tố Cộng thực hiện kế hoạch 'Phượng Hoàng'. Phía bộ đội miền Bắc và 'giải phóng' cũng có 28 ngàn chiến sĩ bị bắt ngoài mặt trận, bị giam trong các nhà tù mà lá cờ đó đại diện. Lá cờ ba sọc đỏ chưa hề chinh phục được tôi.

Tất nhiên mỗi người có quyền tín nhiệm, yêu thích, tôn trọng lá cờ mà mình tự lựa chọn và tôn trọng sự lựa chọn của người khác. Nhưng cũng không nên áp đặt buộc mọi người theo một lá cờ nhất định. Cũng không nên vì chuyện lá cờ mà những người cùng chung chí hướng, cùng nguyện vọng không thể đối thoại với nhau, không thể đứng cạnh nhau để cùng nhau làm một công việc ích nước, lợi nhà như hiện nay.

Công bằng mà nói, đối với tôi, lá cờ vàng ba sọc đỏ đã có một lúc nào đó kiêu hùng phất phới khi một số anh em hải quân Việt nam cộng hòa chống trả quân bành trướng Bắc Kinh trên vùng đảo Hoàng Sa cuối năm 1974, để giữ một vùng lãnh thổ và hải phận của Tổ quốc, trong khi thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố cam chịu sự bành trướng nước lớn của Trung Quốc ở vùng đảo này!

Phần 4



 


NHNG VN Đ CA HIN TI 4




Một số người bị quan, thậm chí cho rằng dân Việt nam quá mệt mỏi trong chiến tranh triền miên, quá nghèo đói, lạc hậu, đã trở nên hèn, sợ bạo quyền, không dám đứng dậy đòi tự do.

Đó là một cách nhìn phiến diện, hời hợt; xã hội nào cũng có người hèn, người không hèn. Tùy theo điều kiện sinh sống, giáo dục, rèn luyện, quan hệ xã hội, quá trình sống. Dân tộc Việt nam ta có những đức tính, truyền thống bền vững qua lịch sử lâu dài đầy thử thách. Đó là truyền thống bất khuất trước cường quyền, truyền thống nhân ái, chuộng công lý lẽ phải. Anh hùng, sĩ phu nước ta thời nào cũng có, tiêu biểu cho lương tâm dân tộc. Đất nước hiện nay cần nhất là tự do để phát triển bằng người. Một loạt nhân vật kể trên là tiêu biểu cho lương tâm dân tộc hiện nay. Họ không sợ cường quyền. Hãy nghe khẩu khí của họ - nhà thơ Bùi Minh Quốc, bạn tôi, viết mấy dòng thơ, gửi sang Pháp:

Có lẽ nào?

Có lẽ nào?

Lịch sử

Lại như con thò lò trong ván bài quỷ dữ

Máu nhân dân tuôn chảy đúc ngai vàng

Bạo chúa ngồi lem lém tụng 'nhân dân'...


Đó 'Hèn' như vậy đó? Dám gọi kẻ cầm quyền thối nát là quỷ dữ, ngồi trên 'ngai vàng đúc bằng máu nhân dân, gọi chúng là 'bạo chúa' lem lém tụng 'nhân dân'?

Những vần thơ bộc trực, khảng khái đó là vết chàm kết tội, in dấu trên trán bọn cầm quyền tham nhũng.

'Hèn nữa của Bùi Minh Quốc là câu thơ kết thúc bài thơ Những người tháng Tám:

ở trong tôi là triệu người đã khuất

Đang thét đòi máu nợ:

Tự do! Tự do!

Nhà thơ Phùng Quán cũng có khí phách như vậy:

Yêu ai cứ bảo là yêu,

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu...

v
à:

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá!


Một tuyên ngôn rõ ràng, lẫm liệt, đập thẳng vào mặt chính quyền độc đoán. Tôi xin được nhắc thêm mấy câu thơ của Bùi Minh Quốc đang bị quản thúc ở Đà Lạt chỉ vì nhà cầm quyền khiếp

sợ những câu thơ cảm khái của anh chửi thắng vào mặt bọn tán tận lương tâm cướp đoạt mọi tài sản chung:

Chúng đang nhậu từng cánh đồng dải núi

Từng mảng trời, ruột đất lòng khơi

Nhậu mọi thứ từ Vua Hùng để lại

Nhậu tới nàng Tô Thị rã thành vôi...

và lời cảnh cáo dõng dạc:

Đến người chết cũng đội mồ đứng dậy


Khi trên đời còn một mảng bất công!

Đây là khẩu khí văn học, tiêu biểu cho khẩu khí dân gian đang ngày đêm vang khắp hang cùng ngõ hẻm đòi công lý, nhân phẩm, kết tội những kẻ chà đạp quyền sống tự do của dân đen.

Nỗi sợ đối với chính quyền độc đoán có thật sự giảm bớt nhiều trong đồng bào ta ở trong nước không?

Khó mà đo cho chính xác được. Nhưng có thể cảm thấy rõ.

Đây là một kết quả nổi bật của thời mở cửa. Sau hơn 10 năm mở cửa, nhất là từ đại hội 7, sau khi Liên xô sập đổ, người dân trong nước không còn bị bưng bít như xưa. Trước kia dân ta như ở đáy giếng, không hiểu gì xung quanh. Đảng cho biết gì thì biết. Nay đã có giao lưu rộng. Thư từ. Bà con thăm viếng. Khách du lịch. Phim, ảnh, thu thanh, video, ti vi

Thêm nữa, đảng đổ đốn, tham nhũng tràn lan, bất công khủng khiếp, dân đen nghèo khổ, nỗi căm giận tăng, thì nỗi sợ giảm. Người ta chửi công khai bọn tham nhũng, coi như dòi bọ lúc nhúc. Cần nói thêm là nỗi sợ di chuyển - chuyển từ dân sang quan. Gương Đại Hàn, hai cựu tổng thống vào tù vì tham nhũng. Gương Tổng Thống Marcos, hét ra lửa một thời bị kết án, trốn đi. Gương tướng Suharto ở Nam Dương mới đây, bị dân chỉ mặt: cướp đoạt 4 tỷ đô la cho gia đình, cả một triều đình nháo nhác... Cho nên khẩu hiệu chống tham nhũng, bình đẳng trước pháp luật, họ rất sợ.

Họ sợ nên rất muốn trừng trị ông Trần Độ nhưng phải vừa dọa, vừa xoa. Lê Khả phiêu gặp hai lần ông Hoàng Minh Chính; Lê Khả phiêu cũng đến chúc Tết (?) ông Trần Độ. Vừa để đe nẹt, vừa thăm dò, vừa xoa dịu. Nhưng chưa dám khai trừ ông. Sợ phản ứng ở trong đảng, ở ngoài xã hội.

Sợ cho nên hèn. Ông Phạm Thế Duyệt, ủy viên thường vụ, thường trực Bộ Chính Trị, coi như nhân vật số 2 của đảng, cũng đến thăm ông Trần Độ, sau khi báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân đăng gần 20 bài lên án, phê phán, chụp mũ bằng giọng điệu phỉ báng ông Trần Độ. Họ trích dẫn, cắt xén, xuyên tạc bức thư của ông Trần Độ nhưng lại không dám nêu một lần tên ông! Hèn hơn nữa là khi ông Trần Độ hỏi ông Duyệt: Có phải các anh mở chiến dịch công kích tôi trên báo đảng không' thì ông Duyệt chối bai bải là không có chủ trương, không có chiến dịch công kích như thế! Họ sợ lẽ phải, sợ công luận. Cái thế của họ sa sút đến thế đó Làm đó rồi chối đó. Thật là miệng quan trôn trẻ. Dân ta bớt sợ nhiều rồi. Tôi xin kể một chuyện. Khi nhà báo Pháp của RFI sang Việt nam và lên tận nhà tù Thanh Cẩm (Thanh Hóa), có hai người Việt nam hướng dẫn tỷ mỷ để họ đi đến nơi, về đến chốn nơi xa lạ đối với họ. Đó là hai người tù chính trị cũ, từng là đại úy trong quân đội thời ông Bảo Đại sau 1954. Một ông tên là Kiều Duy Vĩnh, một ông có biệt danh là Văn thợ mộc (muốn biết thêm về ông này, xin đọc Đêm Giữa Ban Ngày của nhà văn Vũ Thư Hiên - nhà xuất bản Văn Nghệ). Ông Vĩnh và ông Văn còn đàng hoàng trả lời vô tuyến truyền hình Pháp về vấn đề tù chính trị ở Việt nam, đâu có sợ, đâu có ngán chính quyền độc đoán?

Hơn nữa khi công an hỏi hai ông, hai ông đều trả lời đàng hoàng: họ hỏi đường do không biết, chúng tôi biết thì chỉ cho họ. Chúng tôi cho là họ làm điều tốt thì giúp, vậy thôi..

Khi ra tới cửa trạm công an, ông Văn còn chỉ ảnh ông Hồ Chí Minh treo trong phòng lớn, nói: Các chú còn để ảnh cái ông già kia làm gì! Vì ông già kia mà gia đình tôi tan nát và biết bao bà con ta khổ cực!

Mấy tay công an trẻ nghe rõ hết, không dám phản ứng, chỉ cười hì hì xoa dịu: sao bác lại nôi thế! rồi tiễn ra cửa... Trước kia mà nói vậy là mang tội chết chắc chắn!

Sự thay đổi trong nỗi sợ cường quyền được đo' qua những cảnh sống động như thế.

Hiện nay cuộc vận ông dân chủ đã đạt đến đỉnh cao chưa?

Theo tôi, đến mùa xuân Mậu Dần đầu năm 1998 này, cuộc vận động dân chủ đã đạt đến một đỉnh cao. Điều này không phải ngẫu nhiên. Nó do tình thế tạo nên. Do những nguyên nhân xa và nguyên nhân gần. Đổi mới nửa vời đạt kết quả khả quan về kinh tế thôi thúc người lao động đóng góp cho phát triển, quý trọng, giữ gìn những thành tựu, không để mai một. Không tiến lên thì có nguy cơ mọi thành tựu bị triệt tiêu. Họ hiểu rõ cuộc sống có khấm khá lên là không phải công ơn của đảng, mà là do đảng đã buộc phải trả lại xã hội cái quyền tự do làm ăn mà đảng đã tịch thu từ lâu. Cuộc khủng hoảng rộng lớn về kinh tế tài chính ở châu á thúc ép thêm mọi suy nghĩ tích cực để thoát hiểm. Đại hội 8 chứng tỏ không đoán bệnh và bốc thuốc đúng đắn. 'Cơn bão Thái Bình' là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với cường quyền. Nguồn đầu tư từ nước ngoài sút giảm, khiến đường xa nghĩ đến sau này mà kinh! Sự chia rẽ, chửi bới nhau trong nội bộ đảng chưa bao giờ tệ hại như hiện nay: một phó thủ tướng cũ viết hồi ký gọi một đại tướng là 'y', một tài liệu nặc danh tán phát rất rộng kể tội viên đại tướng có 7 tội lớn (như sớ thất trảm hồi xưa), một thư lưu truyền trong quân đội kể tội 'bốn tên họ Lê: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu', đòi 'đưa bốn tên họ Lê này ra trước Tòa án quân sự', cáo giác thủ tướng Phạm Hùng đã đội tử trên bụng bà Trần Thị Trung Chiến, hiện là bộ trưởng, ủy viên Trung ương đảng... Đảng chẳng còn ra cái thể thống gì nữa. (Xem phụ lục, do độc giả cung cấp thêm)

Chúng tôi luôn nhận được những thông tin đáng phấn khởi từ trong nước. Luật sư Đàm Văn Hiếu từng cãi cho ông Lê Hồng Hà trước tòa án đã gửi đơn yêu cầu tòa án xem lại vụ án ấy vì nó đã xét xử không đúng luật. Đây là cuộc dấn thân của một nhà luật học gây tiếng vang lớn trong hệ thống tư pháp. Ông Trần Quang Huy, một cựu ủy viên Trung ương Đảng, nguyên bộ trưởng, trước khi mất đã dứt khoát từ chối chỗ 'nghỉ' trong Nghĩa trang Mai Dịch vì 'nó thối lắm rồi', và yêu cầu được hỏa thiêu.

Một bạn từ Sài Gòn điện thoại sang Paris cho biết tang lễ 'Cụ Già Chợ Đệm' Nguyễn Văn Trấn có khá đông sinh viên trẻ đi dự. Các em thắp hương trước linh cữu và khấn to, rất to: chúng cháu xin hứa đấu tranh bất khuất theo gương bác để giành tự do, dân chủ, trước hết là tự do báo chí cho đến thắng lợi. Các bạn trẻ một số trường đại học cho ra báo Thao Thức được giới trẻ chuyền tay nhau đọc. Chúng tôi cũng nhận được bài viết của ông Trần Dũng Tiến một sĩ quan có chiến tích vang dội, quyết tử quân Thủ đô hồi 1946, tố cáo đích danh Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương Đảng phịa ra 'bức thư mách bu' ký tên Hoài Việt - một Việt kiều ở Ca-li (Mỹ) nhằm bôi nhọ tướng Trần Độ; rồi bức thư ngỏ mang chữ ký 10 nhân vật cao cấp của đảng cộng sản tố cáo ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Phạm Thế Duyệt cùng phó chủ tịch Hà Nội Đinh Hạnh về tội tham nhũng.

Thế kỷ 20 chỉ còn có hơn một năm nữa là kết thúc. Lịch sử loài người như muốn rảo bước, thanh toán mọi điều, xấu xa còn lưu cữu để bước vào thế kỷ mới, cũng là thiên niên kỷ mới với nhiều hứa hẹn.

Chính do những điều kiện ấy mà xuất hiện những kiến nghị mới với nội dung mới, tập trung đòi dân chủ và công lý. Có thể nói một thế lực đối lập khá vững chắc đang hình thành ở trong nước, một thế lực bao khắp nhiều vùng của đất nước, từ thành thị đến nông thôn, bao trùm mọi giới, đang tìm mọi cách liên hệ với nhau, phối hợp với nhau, tập họp lại gần như công khai để đi đến nội dung đấu tranh thống nhất. Thống nhất trong nước với nhau, thống nhất trong với ngoài nước, hỗ trợ cho nhau, truyền âm, tăng âm cho nhau dựa vào những phương tiện truyền thông hiện đại.

Do đó sau đỉnh cao vận động dân chủ đầu xuân năm 1998 này sẽ có những đỉnh cao hơn nối tiếp nhau theo kiểu triều dâng trong mùa nước lên. Tôi mong và, tin rằng cuộc vận động dân chủ đẹp đẽ đầy triển vọng sẽ lôi cuốn mọi tấm lòng yêu nước, thương dân trong nước và ngoài nước tham gia một cách thiết thực, trên tinh thần góp gió thành bão. Một cuộc dấn thân tự nhiên, nhẹ nhàng, hào hứng của triệu con em đất Việt. Thời cơ đã đến rồi.

Đảng cầm quyền không thể cầm quyền như hiện nay được nữa.

Người dân không thể sống như vừa qua và hiện nay được nữa.

Thế giới hiện đại không thể để cho nhân dân Việt nam sống không có tự do và dân chủ được nữa.

Dòng chảy của lịch sử thế giới ngày nay đang thừa sức cuốn đi mọi sức ỳ tệ hại, cuốn đi những di sản nặng nề cùng những mây mù trong nhận thức của thế kỷ 20 đang kết thúc.

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài nên làm gì trước thời cơ ấy?

Sức ỳ của chính quyền độc đoán còn tồn tại chỉ vì sức ép từ bên ngoài chưa đủ mạnh. Gần đây, Hà Nội hay nói đến nội lực, cái sức ở bên trong cơ thể. Nội lực của đáng đã yếu, yếu lắm rồi, nó sa sút rất nhanh sau khi đảng cộng sản Liên xô, đảng đàn anh, đảng trụ cột - quê cha đất tổ của chủ nghĩa cộng sản - sụp đổ tanh bành, nó tan nát trong kinh tế thị trường vì bị vi-rút tham nhũng thâm nhập vào xương tủy, nó rã rời vì các phe nhóm kình chống, chửi bới nhau, dành ăn với nhau, bôi nhọ nhau loạn xạ.

Trong lúc họ bối rối, gặp khó khăn gay gắt, đất như rung chuyển dưới chân họ, thì thật đáng tiếc cuộc đấu tranh của bà con ta ở hải ngoại, tuy có khá hơn trước, nhưng vẫn còn yếu. Sức ép của người Việt ở nước ngoài đối với chính quyền độc đoán ở trong nước chưa tương ứng với khả năng tiềm tàng của nó?

Ông nói đến sự thức tỉnh cần thiết như thế nào đối với người Việt ở hải ngoại hiện nay?

Với tất cả lòng ngay thật và quý trọng với tất cả khoảng 2 triệu bà con ruột thịt trải khắp trái đất này, tôi thấy bà con ta cần làm một cuộc nhìn lại mình cho thật rốt ráo, rút ra những kinh nghiệm quý báu nhất, từ đó cùng nhau đề ra một định hướng đấu tranh chung, những biện pháp đấu tranh thích hợp nhất có hiệu quá nhất, rồi tổ chức hành động thật mạnh mẽ, đồng bộ. Với tất cả tâm huyết với cộng đồng, tôi nói lên điều này.

Ông nói đến một cuộc kiểm điểm, một cuộc phản tỉnh, một cuộc kiểm thảo, tự phê bình ư?

Vâng, có thể đại loại là như thế. Không ồn ào, nhưng sâu sắc, bình tĩnh, có thực chất. Những người có trình độ, có uy tín, nhất là có tâm huyết nên gặp nhau làm việc này. Họ là élite, là tinh hoa, là 'màng bơ' của cộng đồng. Tôi có thể kể một số tên các nhân vật như thế, nhưng lúc này chưa tiện, dễ gây hiểu lầm và rắc rối. Tôi tin ở cộng đồng ta vì có nhiều nhân tài và tâm huyết. Họ bị che khuất, ẩn mình, ít lộ diện. Có khi họ bị kèn cựa, chụp mũ, vu cáo...

Xin ông thử kể ra những vấn đề gì cần nghiên cứu, thảo luận, kiểm điểm?

Từ những vấn đề lịch sử chân thực của đất nước nửa thế kỷ qua; từ những mặt mạnh, mặt yếu của người Việt 'quốc gia'; những sai lầm, thiếu sót khi còn cầm quyền ở miền Nam; những thành tích (khách quan), những đóng góp và những hạn chế, tiêu cực hiện tại của cộng đồng; phương hướng và biện pháp đấu tranh có hiệu quả là thế nào? Rồi tổ chức cộng đồng ra sao cho thích hợp. Hiện nay, quá nhiều tổ chức, rối tinh rối mù, nhiều nhân danh..., nhiều lạm dụng danh nghĩa... Rồi tác phong làm việc ra sao là tốt thiết thực, có hiệu quả. Một số bạn nhà báo, giáo sư ở Ca-li, Hao-xtơn - Tếch-dớt (Texas) cho tôi biết rằng một số vị lên gân, chống cộng hết mình chỉ là để kiếm phiếu, củng cố ghế ngồi theo kiểu tiên chỉ ở đình làng thòm thèm cái thủ lợn! Họ lợi dụng sự nhẹ dạ của bà con ta. Nhưng rồi họ cũng bị lộ tẩy. Cần có một số người lãnh đạo có tài, có đức có uy tín, tập họp được lòng người. Và rất cần 'trẻ hóa' phong trào, huy động tuổi trẻ vào cuộc, tăng sinh khí, kiến thức, khoa học, nhiệt huyết... Mỗi công việc ta làm đều phải lấy đại khối đồng bào trong nước làm đối tượng. Vì đồng bào trong nước là lực lượng chủ lực, đông đảo, chiếm đến 95% số dân Việt ở mọi nơi, lại là lực lượng trực tiếp làm xoay chuyển tình thế, kết thúc chính quyền độc đoán. Tôi thấy các phong trào của cộng đồng ta còn có phần xa cách, chưa nắm kỹ nhận thức, suy nghĩ, ước muốn, tâm tư chung của đồng bào trong nước. Cần tập trung sức mở rộng quan hệ về trong nước, góp phần nâng cao dân trí về dân chủ, xóa tan những mây mù trong nhận thức của đồng bào do tuyên truyền của chế độ. Những lời chửi bới kiểu 'chống cộng kiên định không có tác dụng gì mấy so với việc kiên nhẫn, bền bỉ đối thoại với người Việt trong nước một cách ôn tồn, thẳng thắn, gỡ dần những lầm lẫn trong suy nghĩ của họ bằng sức thuyết phục cao của lẽ phải và chân lý. Đó mới là phương sách có hiệu quả để mau kết thúc chế độ độc đoán đã về chiều.

Không bắc cầu nối cho thật chặt chẽ với trong nước thì kiểu cách 'chống cộng ở hải ngoại còn rất ít hiệu quả và tác dụng, còn xa cách thực tế, mặc vào bệnh duy ý chí chẳng kém gì những người lãnh đạo cộng sản.

Xin ông cho biết một vài thí dụ về sự xa cách ấy?

Từ khi ở trong nước, tôi đã đọc một số báo tiếng Việt ở hải ngoại và nghe một số đài từ nước ngoài. Gần đây tôi có gặp một số anh em trí thức, cán bộ từ Hà Nội, Sài Gòn sang Pháp và đưa cho anh em xem khá nhiều báo, tạp chí tiếng Việt xuất bản ở Mỹ, Pháp, Đức... Một số tờ báo thật khó đọc, một số bài đọc trên đài khó nghe (khó nghe lọt tai vì nội dung chứ không phải vì kỹ thuật). Anh em phát biểu: họ nói về Việt nam như nói về một hành tinh nào? họ giàu tường tượng quá? Báo đài trong nước tô hồng, bôi đen, thì báo đài hải ngoại cũng tô đen, bôi hồng tùy tiện! Nhà cầm quyền trong nước nuôi dưỡng hận thù, thì một số giới ở hải ngoại còn nuôi dưỡng hận thù hăng hơn? Người lãnh đạo cộng sản dấu diếm sai lầm, khuyết điểm, tự cho là luôn sáng suốt, đúng đắn, thì các vị quốc gia cũng luôn tự cho là luôn đúng đắn, không hề phạm sai lầm? Tôi xin nói thật rằng những người 'quốc gia' chưa tạo nên niềm tin đối với đồng bào trong nước. Bà con ta, đại khối gần 80 triệu người trong nước, tuy bị bộ máy tuyên truyền trong nước khống chế, điều kiện hóa, đã qua kinh nghiệm bản thân, hiểu được sự thật, chán ngấy với sự lãnh đạo cổ lỗ của đảng cộng sản, nhưng vẫn chưa được thuyết phục bởi những người 'quốc gia'. Có người tuy biết rõ sự thật, hiểu tình hình đất nước, nếu phải lựa chọn, họ vẫn lựa chọn những người 'cộng sản' hơn là người 'quốc gia'. Không phải họ mù quáng đâu, mà họ thận trọng. Họ cần tìm hiểu, đánh giá qua thực tế đã. Họ băn khoăn tự hỏi: những người quốc gia từng cầm quyền ở miền Nam, từng có cơ hội biểu lộ khả năng kinh bang tế thế, sao lại gắn mình với thực dân Pháp? sao không xây dựng được miền Nam cho tốt đẹp? sao lại thất bại đến thế trong chiến tranh? nay để họ cầm quyền thì sẽ ra sao? Họ đã nhìn lại mình ra sao? Hơn nữa họ hận thù như vậy thì họ sẽ trả thù đến như thế nào?

Hiện nay, theo tôi hiểu đại khối đồng bào trong nước, từ nông dân, công nhân, trí thức đến bộ đội, sĩ quan, nhà kinh doanh, sinh viên, tuổi trẻ - mà tôi vẫn có quan hệ trực tiếp và gián tiếp - có một mong muốn chung là thay thế cho sự lãnh đạo độc đoán, bảo thủ 'loạng choạng' hiện nay sẽ có một tập thể lãnh đạo mới mẻ, 'mô đéc', gồm những người lương thiện, có kiến thức bất kể 'cộng sản' hay 'quốc gia, chủ yếu ở trong nước, được tiếp sức bởi một số nhân tài từ ngoài nước trở về. Những nhân vật này cần có ý thức dân tộc sâu sắc, có tinh thần dân chủ, có kiến thức hiện đại, để nắm vận mệnh ' quốc gia.

Cái nhãn hiệu 'cộng sản', 'quốc gia', đã thuộc về dĩ vãng rồi. Các giá trị mới là: dân tộc, dân chủ, kiến thức mới. Tinh thần dân tộc là gốc, dân chứ là giá trị phổ cập của thời đại khơi dậy mọi tiềm năng, kiến thức là kho tàng văn hóa tích lũy của toàn nhân loại. Nước Việt nam nghìn năm văn hiến được nối tiếp đến nay để kéo dài, phát triển qua các giá trị: dân tộc, dân chủ, kiến thức hiện đại. để mà trường tồn..

Cho nên cái khẩu hiệu 'chống Cộng' kiên định chống Cộng đến cùng, đòi cộng sản phải rút lui toàn bộ, phải ra đi hết, phải chuyển giao chính quyền, phải bàn giao lại cho người quốc gia, hay 'đánh sập chính quyền cộng sản', 'quang phục quê hương'... là không thích hợp, không thực tế, nếu không nói là lạc điệu với đồng bào trong nước..

Với đồng bào trong nước, các khẩu hiệu trung tâm, hấp dẫn, cấp bách nhất là: chống tham nhũng, chống bất công, chống cường hào mới, đồng thời đòi tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do xuất nhập cảnh, đòi thả hết tù chính trị, đòi quyền dân chủ, giải quyết các khiếu nại, kiện cáo của dân, đòi trả lại ruộng đất, nhà cửa cho dân, chống sa thải lao động...

Vậy người quốc gia có tương lai gì đối với nước Việt nam sắp tới hay không?

Tôi đã nghe một số vị 'quốc gia' hỏi rằng liệu 'bọn mình có thể về nước tham chính, nắm chính quyền không? Nếu cần chuẩn bị thì chuẩn bị cái gì?. Tôi rất cảm kích về sự chân thành của các vị. Và tôi trả lời rằng: Có lẽ nên để cho cánh trẻ nắm vận mệnh đất nước. Nhiều nước có tổng thống, thủ tướng... chỉ 38, 40, 50 tuổi. Hơn nữa tuổi trẻ không bị sự ràng buộc nặng nề của quá khứ. Hiện nay, nên để cho những người sinh ra trong nửa sau của thế kỷ 20 chấp chính.

Và cũng có lần tôi nói: tùy thuộc ở chính các vị. Tuy tuổi có cao, nhưng các vị có sức khỏe, có sức nghĩ trẻ, nhất là có tinh thần dân chủ thì tôi thấy các vị có thể được nhân dân chọn lựa chứ! Vì lúc ấy đã có dân chủ.

Còn bà con ta đã chán ngấy với các vị quan cộng sản rồi. Họ rất sợ các quan mới, đọc diễn văn kêu chan chát, lời lẽ hết sức hùng hồn, luôn dạy bảo 'úy lạo nhân dân, nhân danh trung ương này, trung ương nọ... ra mệnh lệnh chỉ thị tới tấp... mà họ không sao nhận diện ra là người của dân, người của bà con ta... Trong cộng đồng ta số nhân vật như thế không thiếu, nhưng may thay những người có tấm lòng nhân nghĩa, có tâm huyết thật, khiêm tốn, giản dị, có kiến thức rộng... cũng không quá hiếm.

Hòa họp và hòa giải bị chống đối dữ dội, bị một số coi là thủ đoạn, là cạm bẫy của cộng sản, ông làm sao thuyết phục nổi họ?

Tôi rất tự tin là lẽ phải sẽ dược phần lớn bà con ta thừa nhận.

Tôi cũng bác bỏ, phản đối kiểu hòa hợp mà những người lãnh đạo cộng sản kêu gọi. Theo họ hòa hợp là cúi đầu phục tùng, chịu sự lãnh đạo của họ. Hòa hợp ấy hòa hợp giả cầy, kiểu ban ơn, trịch thượng. Một số người cộng sản cực đoan vơ đũa cả nắm, khinh thị nhân dân miền Nam, dùng khái niệm 'ngụy quân', 'ngụy quyền' và 'dân ngụy' nữa. Một số người 'quốc gia cực đoan cũng có ý niệm: 'chống cộng tùm lum, chống cộng đến tên cộng sản cuối cùng, rồi có người còn thành kiến với đồng bào miền Bắc mà họ cho là dân cộng sản, tiêm nhiễm cộng sản. Riêng bởi vì có những thành kiến ấy mà 'hòa giải, hòa hợp' là cần thiết. Khi còn 'cộng sản' còn 'quốc gia do lịch sử để lại thì còn cần đến hòa giải và hòa hợp, để hóa giải những hận thù, những hiểu lầm, những khác biệt.

Tôi viết báo, gặp anh em 'cộng sản' và 'quốc gia' trao đổi, nói chuyện ngay thật như thế này là tôi làm công việc hòa hợp, hòa giải giữa những người Việt nam với nhau, bắc cầu nối giữa những người tốt ở cả hai bên để phối hợp làm điều tốt cho đất nước.

Bà con ta, ở hai miền Nam Bắc, có quan hệ họ hàng, làng xóm, đồng hương, đồng học... gặp nhau nói chuyện, thảo luận, giúp đỡ nhau về vật chất, tỏ lòng quý mến tương trợ nhau... bỏ qua mọi khác biệt, hiềm khích do hoàn cảnh tạo nên, thế là hòa giải hòa hợp. Do đó hòa giải hòa hợp ta từng làm ở mọi nơi, suốt 23 năm nay, vô vàn, khôn xiết, là thực tế hiển nhiên, làm sao bác bỏ hay phủ nhận? Nay ta cần làm tiếp, có ý thức và chủ động hơn. Nên làm nhiều hơn nói.

Ông có kinh nghiệm riêng gì về hòa giải, hòa hợp? Tôi có kỷ niệm khá sâu sắc. ở Pháp, tôi gặp lại một bạn học cũ ở Huế thời xưa. Sau Cách Mạng tháng Tám, anh ấy vào bộ đội (lúc ấy gọi là Quân Đội quốc Gia Việt nam, sau là Quân Đội Nhân Dân) học ở trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn khóa 1, rồi làm việc ở bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12-1946 anh ấy lên Việt Bắc. Có sang Vân Nam (Trung Quốc) để vận chuyển vũ khí. Đến năm 1953, bị ốm, nhớ nhà, có phần bất mãn vì bị khiển trách, anh ấy vào thành rồi vào Nam. Bị động viên, anh lại được cử đi học ở Đà Lạt, rồi về làm việc ở Bộ Chỉ Huy Vùng chiến thuật 2, cấp trung tá. Chúng tôi cùng nhau nhắc lại chuyện thời học sinh trung học: các thày giáo, ký túc xá,. các bạn cũ; rồi chuyện ở Việt Bắc hồi kháng chiến chống Pháp, các bạn cũ ở bộ Tổng Tham Mưu, các cuộc chiến dấu ở Bình Trị Thiên, ở Việt Bắc... Chúng tôi cho thời kỳ 1947-1948 là thời kỳ đẹp nhất, vui nhất của thời trai trẻ, vô tư, hăng hái, lãng mạn. Thế rồi chúng tôi cùng nhau hát, say sưa các bài hành khúc Diệt Phát Xít, Bắc Sơn, Sông Lô, rồi cả những bài trữ tình: Suối Mơ, Thiên Thai...

Năm 1963, khi tôi vào vùng giải phóng ở Bình Định, Quảng Ngãi, anh cũng dự cuộc càn lên chiến khu, gần Đỗ Xá. Thật là thú vị. Hai bạn học, hai trận tuyến, gặp nhau thì có thể bắn nhau không chút lường lự, nay lại gặp nhau nơi quê người, và bàn về cuộc phấn đấu cho dân chủ ở quê hương. Cung nhau ca hát những bài hát hào hứng xưa. Đó là hòa giải, hòa hợp rất đẹp, còn là gì khác được? ở Hanover (Đức) mới đây, tôi dự một tối văn nghệ với nhạc sĩ Phạm Duy và nhạc sỹ Kiều Hưng ở miền Bắc sang. Hai nhạc sĩ từ hai chân trời đối lập tay bắt mặt mừng, nói chuyện thả giàn về hát, các bài hát, các nhạc sĩ hai miền, cứ như là bạn cũ gặp nhau, thân thiết vô cùng. Đó là hòa giải hòa hợp chứ gì? Sau đó ca sỹ Mai Huyền (từng là sĩ quan Sư Đoàn 304 quân đội Nhân Dân song ca với ca sỹ Nam Sơn (từng là sỹ quan Thủy Quân Lục Chiến quân đội Việt nam Cộng Hòa). Hai người từng giáp trận nhau ở chiến trường Trung Bộ hồi 1972 và 1975. Thật vui, thật cảm động, khán giả yêu cầu hai anh hát lại hai lần, vỗ tay không ngớt. Có cả những giọt nước mắt. Niềm xúc động về hòa giải hòa hợp dân tộc, giữa hai anh em thù địch. Không ai nói đến các chữ hòa giải, hòa hợp, nhưng đích thực là đó.

Ông có kỷ niệm nào sâu sắc nữa về hòa giải, hòa hợp dân tộc?

Có thể nói là nhiều kỷ niệm. Tôi gặp lại nhiều bạn học thời xưa, là sĩ quan Việt nam Cộng Hòa. Gặp nhau, thăm hỏi hòa nhã. Có lúc cãi nhau, hơi to tiếng, cuối cùng hiểu nhau, đồng thuận, rồi thân nhau hơn xưa nữa. Tôi có hầu chuyện cụ Phạm Đình Liệu nay đã 96 tuổi, sáng lập viên Quốc Dân Đảng cùng thời với đảng trưởng Nguyễn Thái Học. Con cháu cụ người ở 'bên này', người ở 'bên kia'. Cụ có con trai cả là anh Phạm Lợi, trung tá quân đội Việt nam Cộng Hòa, tuẫn tiết ngay sau ngày 30 tháng 4. Anh từng gặp và quen tôi ở Tân Sơn Nhứt hồi tháng 1-1973, trong Ban Liên Hợp Quân Sự bốn bên. Chúng tôi từng nói chuyện hòa nhã với nhau, trong thâm tâm có cảm tình với nhau. Tôi đã thắp nén hương tường nhớ anh trong niềm hòa giải và hòa hợp anh em và tự coi mình như con cụ Phạm, một nhà cách mạng lão thành thâm thúy về nho học.

Tôi đã nói chuyện về hòa giải và hòa hợp với giáo sư Phan Ngô (chị Phan Ngô là bạn thân với chị tôi hồi xưa ở Huế), với giáo sư Lê Đình Duyên, con cụ Lê Đình Thám, bác sĩ nổi tiếng về am hiểu Phật Học ở Huế (có anh ruột là Lê Đình Luân bạn rất thân của tôi, chết trận hồi chống Pháp) đều là H.O, sang Hoa Kỳ sau khi bị tù cải tạo lâu năm. Tôi có nói: căm thù là chuyện bình thường của con người, cần thông cảm và thông hiểu. Nhưng vượt được lên căm thù, có lòng độ lượng thì thật là cao thượng, do tự vượt lên mình. Độ lượng, bao dung với kẻ thù cũ đã tỏ ra hiểu biết, để hướng tới tương lai của dân tộc thì thật là cao cả.

Tôi cúi đầu hai lần cảm phục các anh, sau những năm tháng tù đày, bị tra tấn, cùm chân... mà tự tưởng cao đẹp đến vậy.

Rồi chúng tôi nói đến lòng từ bi, hỉ xả của đạo Phật; lòng thương yêu chúng sinh. Chúng tôi nói về kinh nghiệm 'thiền', về sống theo tư tưởng biến hóa, siêu thoát của Dịch... và ước mong cộng đồng ta ở hải ngoại và đại khối dân tộc trong nước sớm hòa đồng trên nền văn hóa rất cổ mà lại rất tiên tiến và hiện đại ấy...

Đó là thuốc bổ bổ nhất, thức ăn tinh thần ngon lành nhất, sự giàu sang quý báu nhất của tâm hồn... trong cuộc sống con người.

Hòa hợp do cộng sản đề ra, ta có nên dùng không?

Họ đề ra nhưng họ đã tráo trở, không thực hiện. Nay thì họ chỉ nói đến 'cùng nhau hòa hợp', với cái nghĩa là phải cúi đầu theo tôi! Đây là kiểu hòa hợp, của ông 'đại trí thức' Phó Bá Long, về nước dự họp, đấm ngực sám hối, nhận tội với đảng cộng sản và còn xin chính phủ Hà Nội ra một sắc lệnh đại ân xá cho những người trốn ra nước ngoài (?). Đó là kiểu hòa hợp làm trò cười cho thiên hạ! Những người dân chủ bác bỏ kiểu hòa hợp ấy. Chúng ta không thể hòa giải hòa hợp với những người độc đoán. Chúng ta có nội dung hòa giải hòa hợp phong phú, đúng đắn của nhân dân với nhau.

Đối với những kỷ niệm trong chiến tranh, theo ông, các cựu chiến binh nên có thái độ ra sao?

Mỗi người lính chiến đều có cả một kho kỷ niệm thường là sâu sắc, khó quên. Những hoàn cảnh căng thẳng, có khi gay gắt, hiểm nghèo, tình đồng đội san sẻ từng củ sắn, hớp nước, dòng thư nhà cho nhau; nghĩa cấp trên với cấp dưới theo tình phụ tử chi binh, cứu nhau trong hoạn nạn; tình quân dân cá nước trong khói lửa chiến tranh... ở bên nào cũng có. Rất nên giữ lấy trong tâm khảm những kỷ niệm sâu sắc ấy... Đó là quyền tự do của mỗi người, không ai có quyền can thiệp...

Biết bao người của mỗi bên đã hiến cả tuổi thanh xuân cho cuộc chiến đấu mà mình cho là đúng đắn, cần thiết. Nay nhìn lại, mỗi người có thể có một chỗ đứng khác, một cách nhìn khác, nhưng theo tôi, mỗi người có thể hoặc giữ chính kiến cũ, hoặc hối tiếc những việc đã làm - theo lương tâm và trí tuệ tự do của mình - nhưng không nên có thái độ cơ hội, a dua, vị kỷ mà quay lưng lại một cách giả tạo với những kỷ niệm mà mình từng cho là quý báu, thiêng liêng...

Mỗi cựu chiến binh ở cả hai phía nên có cách nhìn mới trên tinh thần hòa giải và hòa hợp. Thật là xót xa khi chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nay nhớ lại những kẻ thù của nhau tìm cách diệt nhau trên chiến trường chính là anh em ruột thịt của nhau, 'ai' cũng như 'ta', đều có bố mẹ, có vợ, có con xiết bao yêu quý, nhìn lại, niềm xót thương càng lớn khi hồi ấy, chúng ta coi một trận đánh đáng vui mừng là trận diệt được nhiều 'địch', nghĩa là anh em ruột thịt giết nhau càng nhiều! Như đã nói, tôi mong cả nước tổ chức một cuộc cầu siêu lớn theo đạo Phật cũng như theo các tôn giáo khác, để hóa giải mọi hận thù sau cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn.

Còn có bạn hỏi về những huân chương, ảnh quân nhân, ảnh chiến trường cũ, quân phục cũ... tôi thấy nên coi đó là những kỷ niệm riêng mà mỗi người có quyền tự do gìn giữ làm kỷ niệm riêng, không có ảnh hưởng gì đến nền an ninh của đất nước... Đất nước đã có hòa bình hơn 20 năm. Không nên ngăn cấm, phê phán, đe dọa như một số cán bộ cơ sở và cán bộ an ninh ở phường xóm một số đô thị và nông thôn miền Nam từng làm hồi sau 1975, bắt buộc anh em cựu chiến binh Việt nam Cộng Hòa và gia đình phải cất dấu, phá hủy hết những ảnh kỷ niệm, huân chương, bằng khen quân phục đi cùng với chủ trương cần thiết thu hồi hết vũ khí các loại..

ý kiến của ông về mỗi quan hệ giữa cộng đồng ta với bà con ở trong nước ra sao?

Tôi dã nói về vấn đề này ở trên. Xin nói thêm đôi chút vì đây là vấn đề rất lớn, một vấn đề sinh tử của mọi phong trào ở hải ngoại. Có nhiều ý kiến khác nhau, đối lập nhau.

Trước kia, đã có lúc, có chủ trương bao trùm trong cộng đồng là theo chủ trương cấm vận chung, tuyệt đối không có chuyện trở về làm ăn, thậm chí gửi giúp gia đình người thân cũng rất hạn chế, giúp đỡ từ thiện cũng rất bị cản trở, cho rằng làm thế là giúp cho chế độ cộng sản kéo dài, nuôi dưỡng tham nhũng.

Cho đến khi Mỹ từ bỏ cấm vận giữa năm 1994, quan hệ bình thường Mỹ-Việt được khôi phục từ giữa năm 1995, tình hình đã có khác. Nhiều bà con trở về thăm viếng quê hương, gửi tiền về giúp thân nhân cũng nhiều hơn, giúp đỡ từ thiện có nhích lên, nhưng vẫn còn như muối bỏ biển, còn dưới khả năng khá xa. Vấn đề này, vẫn còn là vấn đề tranh cãi trong cộng đồng. Đã có nhiều ý kiến cho rằng cứu bệnh hiểm nghèo (lao, cùi...) như chữa lửa, cấp bách, không thể trì hoãn, chờ đợi. Ngăn cản là bất nhân. Từ năm 1992, khi tôi gặp một số thượng nghị sỹ có thế lực ở Quốc Hội Hoa Kỳ, họ đã báo tin là chính quyền Mỹ đã xác định hướng từ bỏ cấm rận, bình thường hóa với chính quyền Hà Nội, và hỉ thời gian ngán nữa là thực hiện. Mong cộng đồng Việt nam được thông báo, hiểu rõ tình hình chủ xướng mới của chính phủ Hoa Kỳ để cùng phối hợp thuận lợi, tránh trống đánh xuôi, kèn thổi ngược...

Phía Mỹ lập luận: hồi 1979 sau khi Việt nam chiếm đóng Cam Bốt, việc cấm vận để trừng phạt, cảnh cáo là cần thiết. Nay Việt nam đã rút hết khỏi Cam Bốt vào năm 1987, cần có cách đề cập khác. Mỹ hành động theo quyền lợi của Mỹ, cũng là quyền lợi của cộng đồng người Việt trên đất Hoa Kỳ, trong khi vẫn giữ ý định thúc đẩy quá trình dân chủ hóa Việt nam, góp tay vào việc kết thúc chính quyền độc đoán. Mỹ đã tính kỹ, không thể để Việt nam lại lâm vào nội chiến, bạo loạn, thành một khoảng trống hỗn loạn mà cuối cùng Mỹ phải gánh vác việc vãn hồi trật tự với chi phí nặng nề... Sự tránh khả năng hỗn loạn cũng phù hợp với lợi ích của cộng đồng người Việt.

Chủ trương của Mỹ là: tình hình thay đổi, biện pháp thay đổi. Trước kia là cấm vận, là tẩy chay, là bao vây, không quan hệ. Sắp tới là: cần sự có mặt của Mỹ. Cờ Mỹ, sứ quán Mỹ, lãnh sự Mỹ, sách báo Mỹ, tài liệu Mỹ, nhà buôn Mỹ, giáo sư mỹ, khách du lịch Mỹ, đô la Mỹ, ngân hàng Mỹ, hàng hóa Mỹ, viện trợ Mỹ... tất cả đều cần, đều vào cuộc để tác động tới quá trình dân chủ hóa Việt nam. Phía Mỹ rất mong cộng đồng ta sẽ chia sẻ với chính quyền Mỹ về phương hướng ấy. Họ cho rằng trong tình hình mới cần có sự có mặt của Mỹ ở Việt nam. Có mặt càng nhiều càng tốt. Và cộng đồng cũng nên theo hướng ấy. Hơn nữa, bà con ta sống trên đất Mỹ, theo luật pháp Mỹ, khá đông còn là công dân Mỹ, thì theo đúng đường lối chính sách Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt nam là cần thiết, còn là lẽ đương nhiên và làm tăng thêm sức đấu tranh. Ai vắng mặt sẽ bị 'thiệt', sẽ tự đứng riêng, đứng ngoài quá trình dân chủ hóa Việt nam. Hồi ấy, chúng tôi đã có dịp kiến nghị với cộng đồng: nên lập một số quỹ và cử người, lập tổ chức chăm lo: chi viện, giúp đỡ các thương binh vừa và nặng, các thương binh tàn tật của miền Nam trước đây hiện ở trong tình trạng rất bi thảm... lập các học bổng cho các tỉnh, thành trong nước như là phấn thưởng cho học sinh giỏi (không tính lý lịch, thành phần xã hội, địa phương), học trong nước và du học ngoại quốc, lập quỹ góp phần tu bổ, gìn giữ các di tích, lịch sử và văn hóa ở.các địa phương; các đền chùa, nhà thờ bị hủy hoại, lập quỹ từ thiện giúp các người bị bệnh hiểm nghèo, hủi (cùi), ho lao...

Ngoài ra, cộng đồng Việt nam có thể tham gia hùn vốn, làm kinh tế ở trong nước và cử chuyên gia về kinh doanh, kinh tế, kỹ thuật về thực hiện một số công trình quan trọng.

Chính qua những sự trở về, tiếp xúc, tham gia chi viện, làm từ thiện như thế mà thúc đẩy nề nếp dân chủ, chống tham nhũng, nâng uy tín của cộng đồng đối với đồng bào trong nước. Ta không làm thì các nước khác cũng làm. Ta vẫn cứ đứng ngoài thôi?

Đây là tương kế tựu kế với chính quyến trong nước. Họ cần vốn, cần kỹ thuật, ta cần có mặt để nâng cao dân trí về dân chủ, để đối thoại với đồng bào.

Quan hệ với trong nước là cả một cuộc đấu tranh. Không phải nhất nhất làm theo yêu cầu của chính quyền cộng sản, mà là mặc cả, thương lượng, đề ra điều kiện, tương nhượng, có phần lợi này bù cho bất lợi kia, nhưng người có tiền, có vốn, có kiến thức bao giờ cũng ở lợi thế, theo nguyên tắc ai chi tiền, người đó chi phối... Trong muôn vàn mối quan hệ, ta nên đề cao luật pháp, tập trung vào những công trình lợi ích chung mang tính lâu dài, bền vững. Nếu làm những việc trên đây từ hồi 1994, 1995 thì nay ta đã có khá nhiều đòn bẫy hữu hiệu để đất nước mau chuyển biến theo hướng tiến bộ. Từ bỏ cách làm cũ, tiến hành biện pháp mới cần có một sự đồng thuận rõ ràng, cần sự sáng suốt và quả đoán đoạn tuyệt với cách làm đã lỗi thời, bắt tay vào cách suy nghĩ và một loạt công việc mới mẻ.

Sự đoạn tuyệt nào cũng đau đớn. Nhưng để theo kịp với tình thế mới thì đau chỉ là tạm, niềm vui kết quả sẽ lớn, rất lớn... Việc lớn bao giờ cũng cần chí lớn, gan to. Cần khắc phục những tình cảm bồng bột. Giận quá mất khôn.

Phần 5



 

Với đồng bào trong nước, cách nói thế nào là thích hợp?

Nói đúng sự thật. Chớ yêu nên tốt, ghét nên xấu. Phải công bằng, ngay thật. Không cần dùng chữ nghĩa kiểu đao to búa lớn. Sẽ mất cảm tình, mất niềm tin. Mà mất niềm tin là mất hết.

Tôi nghe một anh bạn H.O. nói rằng: 'Báo chí hải ngoại nhiều tờ ăn nói thiếu văn hóa quá; họ chửi bới om xòm. Nếu chửi bới, nguyền rủa có thể làm cho chế độ cộng sản chết thì nó đã chết lâu rồi?' Chửi bới, nguyền rủa để giải tỏa nỗi hậm hực, cay đắng, hận thù thì đó là quyền của mỗi người. Nhưng đồng bào trong nước cần một cách đề cập bình tĩnh, tỉnh táo, công bằng, có văn hóa. Khi đã có lẽ phải và chính nghĩa thì chẳng cần hò hét om xòm! Chính quyền cộng sản làm được điều gì có kết quả, tốt đẹp, thì ta cần công nhận. Có như vậy khi nói đến sai lầm của chính quyền thì nhân dân mới dễ tiếp nhận. Nhân dân tuy phần lớn nói, viết không văn hoa, lưu loát, nhưng lương tri người dân thường rất mẫn cảm, ý thức về công bằng rất sâu sắc

Lại cần nói đến yếu tố tâm lý. Người dân dưới chế độ chính trị nào thường tùy theo vấn đề và hoàn cảnh mà vừa mâu thuẫn, đối lập với nhà cầm quyền, lại vừa có lúc gắn mình với chế độ ấy. Cần khéo léo thuyết phục, lôi kéo để nhân dân tách khỏi chính quyền độc đoán, đấu tranh đòi lại quyền tự do của một xã hội công dân.

Khi cộng đồng yêu cầu không liên lạc với trong nước, 'cấm vận, tẩy chay' thì đồng bào trong nước rất buồn, có cảm giác bị đối xử không công bàng, vô lý

Qua kinh nghiệm thực tế, chính quyền độc đoán ở trong nước không lo sợ gì những sách báo 'chống Cộng' in ấn ở ngoài nước chửi bới, nguyền rủa họ, mà lại giật mình kinh sợ những tài liệu bởi người trong nước có tâm huyết dân chủ viết như: Hoàng Minh Chính, Hà Sỹ Phu, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ,... hoặc những sách báo có giọng điệu bình tĩnh, có văn hóa như: Thông Luận, Diễn Đàn (Forum) ở Pháp, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 (ở Hoa Kỳ), Thiện Chí, Dân Chủ và Phát Triển, Cánh én... (ở Đức). Họ truy tìm rất kỹ những sách báo trên, cùng với những cuốn Đêm Giữa Ban Ngày, bài viết của Đoàn Viết Hoạt, của Thích Quảng Độ... chính vì những sách báo ấy, với giọng điệu đúng mức, nói lên sự thật một cách bình tĩnh, hợp với 'gu' bà con trong nước và dễ được bà con thích thú chuyền tay, bàn tán và nhân bản lên để lưu truyền rộng. Tôi hiểu rằng những sách báo chống Cộng kiểu vung vít, thô bạo, chụp mũ lung tung như coi thi sĩ Nguyễn Chí Thiện là con bài của Hà Nội, coi Dương Thu Hương là trá hàng', coi bản thân tôi ở trong màng lưới gián điệp cộng sản (!)... rất được bộ máy tuyên truyền và an ninh của Hà Nội đánh giá 'cao', được họ truyền bá rộng để bôi nhọ thêm, làm mất uy tín thêm ngành sách báo tiếng Việt ở hái ngoại. Họ coi những người tạo ra những sách báo ấy là đồng minh mặc nhiên' của họ, giúp họ kéo dài tuổi thọ?

Vì sao chinh quyền độc đoán ở trong nước sống dai đến vậy?

Ngay sau đại hội 7, năm 1991, khi Liên Bang xô viết sập đổ đảng cộng sản Liên xô tan rã, đảng cộng sản Việt nam phát hoảng, những người lãnh đạo của đảng có lúc mất tự tin, tưởng như không trụ nổi. Vì họ đã quen coi đảng Liên xô và đất nước Liên xô như cột trụ, chỗ dựa, như đất tổ, như nguồn sống, mẫu mực của họ. Tan nát hết, ghê gớm quá, bất ngờ quá?

Họ gắng gượng trụ lại. Họ cố tìm chỗ dựa mới là Trung Quốc, cũng là thày cũ, là anh hai thuở trước, gắng gượng quên đi cuộc chiến tranh giữa hai nước trước đó hơn 10 năm.

Đến nay cuộc đổi mới nửa vời đi vào khủng hoảng và bế tắc. Lòng dân không yên. Đảng thoái hóa. Họ còn trụ lại được vì sức ép từ bên ngoài chưa đủ mạnh, vì phong trào dân chủ trong và ngoài nước còn yếu, chúng ta còn dở! Ta chưa có phương hướng đúng, chưa vận động đúng với khả năng mình dư luận quốc tế, chính quyền các nước, các tổ chức và nhân vật quốc tế ủng hộ mạnh mẽ hơn cho cuộc đấu tranh ở trong nước.

Nhận rõ những chỗ dở của mình là điều kiện đầu tiên để khá lên.

Chúng ta ở giữa thời điểm của những thay đổi. Hình như lịch sử đang hối hả xỏ vào chân mình đôi hia bảy dặm để lao vào thế kỷ 21, vào thiên niên kỷ thứ 3. Cuối thế kỷ có những thay đổi ngoạn mục, bất ngờ.

Các chế độ độc đoán, các đảng cộng sản sụp đổ hàng loạt ở Đông Âu, rồi ở Liên xô là một đột biến lịch sử. Thế lực phân biệt chủng tộc Nam Phi tưởng như trường thọ sập rất nhanh, để người tù da đen 27 năm liền Nelson Mendela trở nên tổng thống của nước Cộng Hòa Nam Phi, gồm cả người da đen và da trắng. Cuộc chiến tranh lâu dài Palestine-ixrasen đi vào ngừng bắn và giải pháp chính trị. Người tù chính trị từng bị án tử hình được bầu làm tổng thống Đại Hàn. Người hùng ở Nam Dương Suharto bị sinh viên đốt hình nộm, đang theo con đường ô nhục của tên độc tài Marcos ở Philippin trước đây.

Đây là thời điểm của sự sụp đổ dây chuyền những chính quyền độc đoán, mất lòng dân. Chính quyền ấy ở Việt nam đã lung lay, chệnh choạng, nhưng ta chưa tạo đủ sức ép, chưa tạo đủ 'gió mạnh' để nó đổ.

Làm thế nào để lạo nên gió mạnh, nên giông bão như ở Nam Dương gần đây?

Cộng sản Việt nam là cái đuôi còn rớt lại của phong trào cộng sản quốc tế. Thế kỷ 20 là thế kỷ hoành hành dừ dội nhất của phong trào cộng sản quốc tế. Nếu so với các trào lưu tư tưởng khác của nhân loại, phong trào cộng sản như lửa rơm. Có lúc nó đã chinh phục nước đông dân nhất thế giới (Trung Quốc), nước rộng lớn nhất thế giới (Liên xô), bành trướng trên hơn một phần ba quả địa cầu, từ âu sang á, từ Mỹ đến châu Phi... ở giữa thế kỷ 20, những trí tuệ, những nhân vật trí thức cỡ lớn nhất thế giới phần lớn từng ngả theo Cộng sản. Đây là sự lầm lẫn, sự ngộ nhân lớn nhất của thế kỷ 20. Cộng sản bành trướng do dấu kỹ bản chất hung bạo, vô nhân, phản dân chủ. Cộng sản Việt nam tồn tại cùng với Trung Quốc, Cu Ba, Bắc Triều Tiên chỉ là mây mù còn sót lại trong nhận thức một bộ phận nhỏ, rất nhỏ của nhân loại. Tất cả nhiệm vụ của những người dân chủ là giúp cho một xã hội bị lầm lẫn xóa sạch mây mù tồn đọng của thế kỷ sắp kết thúc, gột rửa sự sùng bái mù quáng một đảng cầm quyền đã hết thiêng, chấm dứt sự tin cậy ở những người lãnh đạo kém cỏi, thiếu hiểu biết và thiếu bản lĩnh cầm quyền, vươn dậy tự giải phóng khỏi cường quyền, áp bức, bất công, hòa nhập vào thế giới văn minh.

Chúng ta cần tận dụng cao nhất mọi mối liên hệ với trong nước để góp sức làm tan biến những áng mây mù đen tối còn tồn tại trong nhận thức xã hội, giải phóng về nhận thức cho những người từng ngỡ mình là người đi giải phóng thiên hạ. Mây mù nhận thức cũ tan biến thì hiểu biết về dân chủ, về tự do, bình đắng, về đa nguyên, về luật pháp sẽ được thiết lập vững chắc, làm nền cho cuộc sống mới, cho xã hội mới trong thế kỷ 21 tươi đẹp sắp khởi đầu.

Ông hình dung chinh quyền độc đoán ở trong nước sẽ sập đổ ra sao? Có đúng ở trong đảng đang có nhiều phe phái xâu xé nhau không?

Cần nhận rõ tình hình. Báo hải ngoại nhận định trong Bộ Chính Trị, trong Trung ương Đảng cộng sản phân hóa thành nhiều bè phái, phái đảng quyền, phái chính quyền, phái quân đội và công an, hoặc phái bảo thủ, phái trung gian và phái đổi mới... Tôi không cho là vậy. Hiện nay trong Trung ương và Bộ Chính Trị còn có sự nhất trí khá chắc về đường lối đổi mới: đổi mới về kinh tế nhưng vẫn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa, duy trì khu vực quốc doanh rất lớn; đổi mới về kinh tế nhưng đổi mới tà tà về chính trị, duy trì độc quyền cai trị của đảng để bảo vệ đặc quyền của đảng cầm quyền, của các đảng viên có thức, có quyền. Họ nhất trí cao vì họ đã tuyển lựa nhau kỹ, ngăn chặn rất chặt chẽ không cho đảng viên nào có tư tường dân chủ có thể lọt vào đại hội các cấp, từ cơ sở, nhất là vào cơ quan lãnh đạo cao như Trung ương và Bộ Chính Trị. Những đảng viên có tư tưởng dân chủ chỉ ở trong hàng ngũ đảng viên thường. Nếu ở cơ quan lãnh đạo mà có tư tường dân chủ, cởi mở, thoáng đãng... thì họ tìm cách đưa ra ngoài ngay, như Trần Xuân Bách, như Trần Độ, hay cả như Nguyễn Cơ Thạch...

Chúng ta, các chiến sĩ đấu tranh đòi dân chủ không nên ảo tưởng về sự xâu xé, chia rẽ trong nội bộ cơ quan lãnh đạo của đảng cộng sản.

Mặt khác cần thấy rằng mâu thuẫn giữa cơ quan lãnh đạo của đảng và chính quyền với đông đảo đảng viên thường đang có xu hướng mở rộng, trở nên gay gắt, do sự sa sút biến chất của những đảng viên có chức, có quyền, những tư bản đỏ mới, những cường hào mới. Đặc biệt ngấm ngầm mà gay gắt là mâu thuẫn giữa đông đảo nhân dân với cơ quan lãnh đạo của đảng và nhà nước. Chính mâu thuần này đã làm nổ ra phong trào nổi dậy mạnh mẽ ở Thái Bình, Hải Dương, Hưng yên, Hà Tây, Thanh Hóa, Đồng Nai, Biên Hòa, Bình Thuận... Đi với nhân dân nghèo khổ có khá nhiều đảng viên thường, những cựu chiến binh, những thương binh, cán bộ về hưu... Cho nên khả năng làm cho tình hình biến chuyển chính là ở phong trào đấu tranh của nhân dân, chứ không phải chủ yếu ở các phe phái xâu xé nhau, tuy rằng trong cơ quan lãnh đạo có thể có một số hiện tượng kình chống nhau về quyền lợi, về tranh ăn, về địa vị hoặc về địa phương Bắc, Trung, Nam... Muốn đạt đến một phong trào sâu rộng lại cần phân hóa cao độ cơ quan lãnh đạo bảo thủ với đảng viên thường, với viên chức cấp dưới của chính quyền ấy, chứ không nên gộp chung họ vào một khối để chống tất cả mọi người cộng sản, mọi người trong bộ máy viên chức, mọi người lao động dưới quyền họ.

Ông có kỳ vọng gì vào cộng đồng ta ở nước ngoài?

Tôi đã nói nhiều lần, cộng đồng ta có nhiều điểm rất mạnh. Phần lớn là thành dạt trong cuộc sống trên quê hương mới, một số thành đạt cao. Thế hệ kế tiếp rất xuất sắc trong học hành, tiếp thu khoa học kỹ thuật. Giá trị sản lượng của 2 triệu người Việt hải ngoại không kém gì nhiều giá trị sản lượng gần 80 triệu người trong nước. Tấm lòng yêu nước cũng sâu đậm. Vốn về tiền bạc, về kiến thức và kinh nghiệm cũng lớn lắm.

Lực là mạnh. Nhưng Thế lại yếu, chưa tương đương với lực, nên chưa phát huy được về trong nước. Thế và lực liên quan chặt. Thế được tạo nên do điểm tựa. Archimède từng nói: cho tôi một điểm tựa, tôi có thể nâng cả quả đất. Đó là luật về đòn bẩy trong Vật lý. Có điểm tựa đúng, tạo nên thế tốt thì lực sẽ được nhân lên...

Cho nên tất cả vấn đề của cộng đồng ta là tạo nên thế. Nhưng ý kiến của tôi đề xuất trên đây cũng chính là tìm cho ra điểm tựa thích hợp để tạo nên thế mạnh.

Còn có cách gì nữa để tạo nên thế mạnh?

Dân chủ - nếp sống dân chủ. Tập dượt dân chủ. Không thể chống độc đoán, chửi độc tài mà chính trong cộng đồng lại không dân chủ, thiếu dân chủ hay dân chủ hình thức... không thể chống bệnh duy ý chí, mù quáng của người cộng sản mà chính cộng đồng lại duy ý chí, không liên hệ máu thịt với trong nước, không tìm hiểu sâu sắc mọi mặt về bà con ở trong nước để tiếp sức, hướng dẫn, giúp đỡ bà con nhận rõ tình hình và có cách đấu tranh thích hợp. Cần loại bỏ nếp nghĩ độc đoán, gia trưởng, quan liêu quân phiệt nữa... Hết sức tôn trọng, nâng đỡ, bồi dưỡng anh chị em trẻ, rất ưu ái mạnh tay bồi dưỡng phụ nữ có ý thức dân chủ vào các cương vị xứng đáng... Dân chủ sẽ khơi dậy sức trẻ cho cộng đồng, mang lại sáng kiến, nhựa sống cho cộng đồng. Hãy để cho thật nhiều anh chị em trẻ về nước tiếp xúc với tuổi trẻ trong nước, làm những công việc văn hóa, giáo dục, thể thao, văn hóa, nghệ thuật, từ thiện, tường như không làm chính trị mà thật ra là làm chính trị rất sinh động, sâu sắc. Sự hòa giải, hòa hợp của tuổi trẻ trong và ngoài nước cần có cơ quan của cộng đồng chăm sóc, chỉ đạo chu đáo Tương lai dân chủ và phát triển đất nước sẽ đi qua con đường ấy. Chính quyền trong nước không có lý gì để ngăn cản tuổi trẻ ngoài nước trở về thăm viếng quê hương, thực hiện những công việc văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, thể thao và từ thiện... Anh chị em trẻ trong cộng đồng thừa bản lĩnh để hoạt động hữu hiệu mà không khiêu khích chính quyền để họ tạo cớ ngăn cản hay đàn áp...

Nhân đây ông có nhắn riêng gì anh chi em trẻ tuổi trong cộng đồng?

Tôi rất quý trọng tuổi trẻ. Anh chị em trẻ trong nước cũng như ở hải ngoại. Tôi từng đề tặng Hoa Xuyên Tuyết và Mặt Thật cho tuổi trẻ Việt nam, với niềm ân hận là thế hệ chúng ta đã phạm nhiều sai lầm, để lại cho thế hệ trẻ một đất nước lạc hậu, độc đoán, thua kém các nước láng giềng! Với cuốn sách này, tôi cũng gởi gắm niềm tin ở tuổi trẻ Việt nam.

Tôi xin làm quà các bạn trẻ một câu chuyện nhỏ. Tôi có mấy cháu họ tại Hoa Kỳ, ở Cali và ở gần Washington D.C. Có cháu từng là hạ sĩ quan Việt nam Cộng Hòa, tuổi đã hơn 40, rất quan tâm đến chính trị, ở trong hội quân nhân... Gặp mặt, cháu vui vẻ kể đã cùng các chiến hữu đi đắp và lắp một số cột cờ, treo cờ vàng ba sọc đỏ. Có nơi cảnh sát Hoa Kỳ yêu cầu hạ cờ, phá bỏ; các bạn đấu tranh làm lại, rồi còn tính làm thêm một loạt 'kỳ đài' nữa ở nơi có đông người qua lại. Cháu rất hứng khởi cho đó là việc quan trọng vô cùng, thành tích xuất sắc đóng góp cho việc 'dẹp bộ cộng sản', 'quang phục quê hương. Tôi nói với các cháu: các cháu sống có lý tưởng, còn nhớ, nghĩ đến quê hương, ngày nghỉ còn làm những công chuyện của cộng đồng, tổ chức giao cho, thế là tốt. Người quân nhân biết đề cao, tôn trọng, bảo vệ lá 'quốc kỳ' cũng là điều tốt, ý thức công dân cao. Thế nhưng nhìn vào sự thật, công nhận sự thật rõ ràng là điều cần thiết. Thực thể Việt nam Cộng Hòa không còn tồn tại hơn 20 năm rồi. Thực thể quân đội Cộng Hòa cũng không còn tồn tại 20 năm rồi. Tuyệt đại bộ phận người dân trong nước nghĩa là hầu như đại khối dân tộc hầu như không còn ai nghĩ đến lá cờ này nữa, vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó tuổi trẻ hải ngoại nên làm những việc thiết thực, hợp với đại khối đồng bào trong nước, có tác dụng thúc đẩy đất nước sớm kết thúc chế độ độc đoán, có chính quyền dân chủ, hòa nhập với thế giới. Nên nhìn tới phía trước. Cháu hỏi tôi nên làm gì? Tôi kể chuyện ở Đức, có anh em trước cũng ở quân đội Việt nam Cộng Hòa, cùng nhau dùng máy vi tính, dựng internet; qua thư điện (E-mail) chuyển đi những tin tức tài liệu, nội dung sách báo về dân chủ hóa, và đã có một số địa chỉ trong nước tiếp nhận, in lại, truyền bá... Có lẽ việc làm như thế có tác dụng thiết thực hơn. Hai việc làm đều có động cơ tốt, nên làm việc nào hơn? Hoặc nên làm cả hai việc, xin tùy các bạn trẻ. Chính quyền độc đoán trong nước họ sợ việc nào thì ta nên làm việc ấy.

Sự kiện tháng 5-1998, dân Nam Dương hạ bệ Suharto có thể có tác dụng ra sao đối với Việt nam?

Trong những tháng, năm trước mắt, khi dân trí về dân chủ, về xã hội được nâng cao, khi truyền thông quốc tế thâm nhập rộng và sâu vào xã hội ta, khi nội bộ đảng cộng sản phân hóa dữ dội, cố khả năng xuất hiện là một nhóm người cộng sản thức thời có xu hướng dân chủ được quần chúng ủng hộ xác lập được quyền lãnh đạo. Đây là một xu hướng hiện thực, cần theo dõi và vun đắp, tránh được hỗn loạn và đổ vỡ.

Khả năng tức nước vỡ bờ cũng là một khả năng hiện thực - như ở Nam Dương tháng 5-1998 vừa qua, thông qua nổi dậy của quần chúng, đi đầu là sinh viên và lao động ở các thành phố lớn: Djacarta, Djogiacarta và Solo... Hơn 200 người bị chết trong những đám cháy lớn, sáu sinh viên hy sinh do bị quân lính đàn áp, để đổi lấy một cuộc đổi đời, hạ bệ triều đình Suharto độc đoán-quân phiệt-tham nhũng. Rối loạn chỉ diễn ra trong hai tuần lễ! Việt nam và Nam Dương rất giống nhau: đảng Golkar độc quyền lãnh đạo, giống như đảng cộng sản Việt nam (tuy không theo học thuyết Mác-xít), các ông tướng cầm quyền, vai trò quân đội và an ninh lớn, tham nhũng tràn lan, mức sống chung của người dân rất thấp (Nam Dương, thu nhập bình quân đầu người năm 1995 là 900 đô la, 1997 là 600 đô la; Việt nam thu nhập bình quân đầu người năm 1997 là 320 đô la...) Theo định mức của Liên Hợp Quốc, nước nào thu nhập đầu người hằng năm dưới 365 đô la (mỗi ngày, mỗi người dưới 1 đô la) là ở mức rất nghèo khổ.

Ông có cho rằng sau khi Suharto bị mất chức, đảng cộng sản Việt nam rất lo sợ cho chính họ hay không?

Có chứ. Họ rất lo. Họ giật mình, ăn ngủ không yên.

Vì ở châu á, chỉ có Miến Điện và Việt nam là giống chính quyền Nam Dương: ở chóp bu chính quyền là những viên tướng (tướng Lê Đức Anh, tướng Lê Khả Phiêu).

Mới hai tuần trước tướng Suharto còn hét ra lửa, uy quyền đầy mình! Thế mà chỉ vài cuộc xuống đường của sinh viên, kéo theo người lao động dông đảo, qua đó hình nộm Suharto bị đốt, ảnh Suharto bị xé, người dân thét: cả gia đình Snharto là một ổ tham nhũng phải bị truy tố và xét xử! Suharto phải 'đầu hàng', từ chức ngay.

ở Việt nam kẻ đương quyền vơ vét tham nhũng cũng rộng khắp, tràn lan. ở Nam Dương, vợ Suharto (chết tháng 4-1996) bị gọi là 'mụ 10 phần trăm', thì ở Việt nam các bà lớn cũng bị gọi là 'bà 10 phần trăm? Hiện tài sản cả đại gia đình Suharto đang bị điều tra, có thể lên đến 14 tỷ đô-la. Sẽ khó tránh khỏi bị tù, tài sản bị tịch thu!

Những người lãnh đạo cộng sản Việt nam còn rất hoảng khi thấy trên truyền hình quốc tế cảnh sinh viên tặng hoa cho quân lính bộ binh và xe tăng đến đàn áp mình; cảnh binh lính Nam Dương mỉm cười trước cảnh hình nộm tướng Suharto cháy phừng phực; và 16 quân nhân Nam Dương bị bắt giam và truy tố về tội bắn vào sinh viên đang biểu tình... Những hình ảnh mang nhiều ý nghĩa...

Trông người lại nghĩ đến ta! Họ lo sợ, giật mình là điều tất nhiên.

Vẫn chưa hết. Hà Nội thường rao giảng rằng đổi mới cần có kỷ luật. Kỷ luật và ổn định cần hơn dân chủ! Dân chủ là giá trị xa lạ của phương Tây! (họ làm như chủ nghĩa Mác không phải được họ du nhập từ xa, từ phương Tây!). Các chế độ quân phiệt đổ sập ở Thái Lan, Nam Hàn, Đài Loan, nay là ở Nam Dương, nêu rõ toàn bộ châu á cần đến dân chủ một cách cấp bách ra sao.

Rõ ràng dân ở châu Âu, châu á, châu Mỹ, châu Phi... đều cần đến dân chủ, không có một ngoại lệ nào.

Họ rất sợ sinh viên, thanh niên Việt nam, ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn nhìn rõ hình ảnh sôi nổi ở Nam Dương những ngày tháng 5 vừa qua... Họ kiểm duyệt kỹ báo, đài truyền hình để những hình ảnh ấy không đến với nhân dân, đến tuổi trẻ...

Cuối tháng 6-1998 vừa qua, Tổng Thống Hoa Kỳ đi thăm Trung Quốc, sự kiện này có ảnh hưởng ra sao đối với nước Việt nam?

Chiến tranh lạnh đã chấm dứt. Đưa Trung Quốc từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế là một chủ trương thích hợp, phù hợp với quyền lợi Mỹ đồng thời khuyến khích xu thế dân chủ hóa trong lòng xã hội Trung Quốc.

Nhìn chung và theo cách nhìn dài hạn, điều này cũng có lợi cho xu thế dân chủ hóa ở Việt nam. Điều đáng lo, và cũng đáng buồn cho Việt nam là sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt nam vẫn trì trệ, chậm chân, bị bỏ lại đằng sau! Đổi mới đã chậm hơn Trung Quốc đến tám, chín năm (Trung Quốc khởi đầu từ 1978, Việt nam từ 1986), Trung Quốc có các nhà kiến trúc đổi mới chủ động tính toán đường đi nước bước (Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Chu Dung Cơ...) còn Việt nam thì bị động trong đổi mới, không nhất quán, loạng quạng... Giá trị sản lượng đầu người của Trung Quốc đã đạt hơn 460 đô la/ năm, Việt nam mới đạt hơn 300; dự trữ ngoại tệ Trung Quốc đạt đến 160 tỷ đô la, Việt nam chưa đến 2 tỷ? Chính do kinh tế quá thấp, chính trị quá yếu mà cái thế của Việt nam bị Trung Quốc bỏ xa lại sau. Nguyên nhân chỉ vì chính trị quá ư thủ cựu, cổ lỗ, đổi mới không dứt khoát. Trong quan hệ với Hoa Kỳ, Việt nam đã bỏ lỡ thời cơ lớn. Thời cơ ngay sau tháng 4-1975 và thời cơ 1990-1991 khi khối Liên xô đổ sập, chiến tranh lạnh chấm dứt. Lúc ấy Hoa Kỳ có nhu cầu hòa giải với Việt nam. Cuối 1991, ở Washington D.C., New York, California, Boston... tôi gặp trợ lý ngoại trưởng đặc trách Đông Nam á và Việt nam, các thượng nghị sĩ, dân biểu Hoa Kỳ, cố vấn an ninh tổng thống, các giáo sư Đại học Stanford, Harvard... họ đều mong đợi một dấu hiệu tích cực của Hà Nội trong cải thiện quan hệ Việt-Mỹ, giở sang trang sử mới trong quan hệ hai nước, có lợi to lớn cho hai nước, đặc biệt cho Việt nam. Điều này ở Việt nam cần một sự lãnh đạo thật sáng, nhìn xa, trông rộng, vượt qua quá khứ, quả đoán, mang tầm thời đại; điều mà những người lãnh đạo Việt nam hồi ấy do quá ư giáo điều, bảo thủ, do tự kiêu hão, không sao nhận ra? Hồi ấy, khi trao đổi với một số chính khách Mỹ, tôi đã cùng họ phác họa một tình bạn Mỹ-Việt mới, tiêu biểu cho thời đại mới, mang tính mẫu mực, tiền phong và khám phá, và tính đến khả năng sớm có cuộc thăm viếng lẫn nhau giữa các người đứng đầu hai nhà nước ở Washington D.C. và Hà Nội... Thế nhưng chỉ là ảo tưởng. Nhường bước cho sự hòa giải nổi bật đẹp đẽ giữa Nelson Mandela và Frederic de Klerk ở Nam Phi, cho con đường đàm phán giữa Arafat và Ra bin ở Trung Đông! Lãnh đạo Việt nam thua hẳn một cái đầu? Vì thiếu hẳn một cái đầu lãnh đạo!...

Do sự lãnh đạo cổ hủ như thế mà đất nước Việt nam vẫn lỡ tàu hoài! Những chuyến tàu tốc hành của lịch sử đi tới phát triển, dân chủ và thịnh vượng. Dân ta vẫn cứ phải đứng ở sân ga mà nhìn, mà tiếc mà hổ thẹn vì thua kém thiên hạ. Đã đến lúc toàn thể đồng bào ta nhìn rõ tình hình trên đây, nhận ra nguyên nhân và tỏ thái độ. Không thể cam chịu bị cầm tù và lỡ tàu hoài!

Việc Hà Nội trả lại tự do cho các ông Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế, Lý Tống, các vị Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu... có làm cho quan hệ Việt-Mỹ mau được cải thiện và gây khó khăn cho cuộc đấu tranh đòi dân chủ của bà con ta ở trong và ngoài nước không?

Không. Vì vẫn còn chừng 200 tù chính trị. Họ lùi bước này, nhưng nếu bà con ta thừa thắng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh lên nữa cùng với việc vận động tăng mạnh áp lực quốc tế, thì họ sẽ còn phải lùi nữa. Họ bí lắm rồi. Tôi được tin từ bạn bè ở Bộ Ngoại giao Hà Nội, vừa rồi trong lãnh đạo họ có ý kiến khác nhau. Cuối cùng họ buộc phải đồng ý nhượng bộ vì tình thế kinh tế, tài chánh, ngoại giao đều bí, hầu như bế tắc. Chuyến đi của ông Phan Văn Khải sang Paris, Lon don, Bỉ, áo mới đây nhằm tranh thủ đầu tư thay cho các nhà đầu tư á Châu đang rút bớt đã không đạt kết quả. Cả Châu Âu đều chán nản với những lời hứa của Hà Nội, Quốc hội Châu Âu còn ép mạnh thêm về tôn trọng nhân quyền. Mới đây, chuyến đi của ông Trần Đức Lương, Chủ tịch nước sang Nga cũng chỉ là những lời hứa vì ông thủ tướng mới vẫn chưa được Quốc hội Nga chấp thuận. Món nợ đối với nước Nga lại quá lớn hơn 10 tỷ đô la? Chỉ còn trông mong ở cái Tối Huệ Quốc của Hoa Kỳ. Nhưng phía Hoa Kỳ không vội. Họ còn ép tiếp. Cuộc thương lượng về thương mại còn vòng vo chán? Danh sách tù chính trị Hà Nội chưa chịu thả - mà Hoa Kỳ và các nước phương Tây yêu cầu thả ngay - vẫn còn dài! Vì sao còn giam cầm ông Nguyễn Đình Huy? Vì sao nhiều linh mục, thượng tọa, mục sư còn nằm trong tù? Rồi còn các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội... được ghi trong Hiến pháp Việt nam và trong Công ước Quốc tế về quyền chính trị và quyền dân sự của công dân mà chính phủ Việt nam đã ký kết, nghĩa là cam kết thực hiện. Cái khó của Hà Nội là trao trả hết thì tay trắng, không còn gì để mặc cả. Mà trao trả theo kiểu nhỏ giọt thì càng bị níu áo, đòi nợ thêm gay gắt. Bế tắc là ở đó.

Chỉ đến khi nào họ thật sự từ bỏ ách độc đoán, trả lại sòng phẳng quyền tự do cho toàn xã hội, tỏ ra thật lòng gia nhập một cách lương thiện vào cuộc sống có luật pháp của cộng đồng văn minh thì họ mới thoát khỏi sức ép từ mọi phía.

Ông có tin rằng mây mù thế kỷ như ông tả có thể tan biến sớm không?

Tùy thuộc ở cuộc đấu tranh cho dân chủ hiện nay của bà con ta ở trong nước và sự hỗ trợ của đồng bào hải ngoại. Cuộc đấu tranh ở trong nước đang có xu hướng phát triển. Trong lá thư ngỏ mới đây (tháng 6-1998) của 10 nhân vật cộng sản vào loại 'công thần' đã đe rằng nếu ông Trần Độ mà bị bắt thì sẽ có hàng vạn vạn đảng viên và quần chúng xuống đường để chống lại...

Ông Hà Nghiệp, đảng viên kỳ cựu, cán bộ cấp cao, từng là trợ lý cho tổng bí thư Trường Chinh, gần đây lại công khai đòi đổi tên đảng (vì tên 'cộng sản' là vô duyên, không thực tế, là ảo tưởng, không có nội dung gì thiết thực)..., đổi tên chế độ xã hội chủ nghĩa (vì không có thực chất, mỉa mai so với thực tế), từ bỏ chủ nghĩa Mác-lê (vì cả gần 80 triệu người Việt không còn gắn bó gì với cái học thuyết xa lạ này), từ bỏ chuyên chính vô sản (vì nó quá xa lạ, ai là vô sản ở Việt nam?), từ bỏ cả điều 4 của Hiến pháp (đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo) vì trái với nền dân chủ, trái với nếp sống chính trị chung của thế giới...

Những điều trên, tôi đã kiến nghị gác bỏ từ năm 1990. Nay lại đang rộ lên ở trong nội bộ đảng. Đây là những mây mù còn tồn đọng, sớm muộn sẽ tan vì nó xa lạ với dân tộc, với nhân dân, với thế giới. Cần gây nên tranh luận công khai, bình tĩnh, thấu đáo về các vấn đề này, điều mà nhóm lãnh đạo giáo điều đang ngăn cản.

Cuốn sách best seller (bán chạy nhất) năm 1997 ở Pháp là cuốn La fin d'une illusion (Kết thúc của một ảo tưởng) của giáo sư Sử học Francois Furier đã tả sự tan biến của bóng đen cộng sản, của phe xã hội chủ nghĩa, của Liên Bang xô viết - sự kiện lịch sử nổi bật nhất cuối thế kỷ này. Có lúc đông đảo trí thức, nhà chính trị lầm lẫn về bóng đen ấy ngỡ là chân lý, là mặt trời... Nó tan biến vì cái lõi phi nhân của học thuyết này và vì sự áp dụng đầy tội ác. Quả thật có lúc những thành tựu của nó rất hấp dẫn như cái Sputmik (vệ tinh nhân tạo đầu tiên), như Gagarine (nhà du hành vũ trụ đầu tiên), như tàu phá băng chạy bằng sức nguyên tử mang tên Lénine. Những Goulag (các trại tập trung) và cuộc xâm lược Afganistan đã phơi bày sự thật. Hệ thống này tan biến, không đè lại một vết tích văn hóa nào đáng kể (trong khi đế chế Napoléon còn để lại cho nền văn minh nhân loại một bộ luật có những tư duy pháp lý tiến bộ).

Có lẽ tác dụng tích cực duy nhất của phe xã hội chủ nghĩa hiện thực là đã thúc đẩy cho các nước tư bản phát triển mạnh mẽ hơn về khoa học kỹ thuật, cải tiến chủ nghĩa tư bản liên tục, có hiệu quả và nâng cao phúc lợi xã hội cho người lao động trong cuộn thi đua hòa bình giữa hai hệ thống xã hội đối lập. Vì thế, có người nhận định rằng con đẻ của phe xã hội chủ nghĩa hiện thực thì ốm yếu, còi cọc nên chết yểu; còn 'con hoang' (không cố ý đẻ ra) thì lại kháu khỉnh và sống dai!

Vậy thì các vị Nguyễn Đức Bình, Đoàn Khuê. Lê Đức Anh, Lê Khả phiêu... còn lưỡng lự gì mà chưa chia tay với quá khứ, góp sức làm cho mây mù về nhận thức chính trị tan biến khỏi bầu trời Việt nam còn u ám, để mặt trời văn minh, tiến bộ của thời đại ló rạng trên giải đất hình chữ S còn bất hạnh này!

Có người cho rằng ông có vẻ vẫn gần những người 'cộng sản ' hơn những người 'quốc gia , điều ấy có đúng không?

Đúng, mà cũng không đúng

Vì tôi vốn ở trong đảng cộng sản, trong quân đội Nhân Dân. Quan hệ xã hội tôi rất rộng. Cho nên số bạn bè từng ở trong đảng và trong quân đội khá đông. Phần lớn tôi vẫn giữ tình bạn với họ. Vì phần lớn, họ vẫn là những người yêu nước. Tôi vẫn giữ quan hệ với bè bạn trong nước, mặc dầu bị chính quyền kiểm soát. Với những người 'quốc gia' cũ, tôi không ngại gần gũi, quan hệ, trao đổi ý kiến. Vì tôi cho rằng họ đều có lòng yêu nước, tuy ít hay nhiều, với những kiểu cách khác nhau. Có một số trở thành bạn, có người trở thành bạn thân.

Tôi thấy cách nhìn của một số người lãnh đạo cộng sản cực đoan, phân chia rành mạch hai trận tuyến đối lập rồi nhận định theo kiểu: người kém nhất của phe mình cũng còn hơn là kẻ cao nhất, tài giỏi nhất của phe 'chúng nó'. Cho nên họ buộc nhân dân, đảng viên phải giữ lập trường vững vàng: gọi ông Diệm, ông Thiệu là 'thằng'.

Người 'quốc gia' cũng có người cực đoan có quan niệm tương tự: cộng sản là xấu tuốt luốt, là 'chúng nó', là đồ bỏ đi, 'cả gói'!

Tôi cho rằng phía nào cũng có người tốt, người xấu Hiện nay tôi lấy tiêu chuẩn 'độc đoán' hay dân chủ' để đánh giá tốt, xấu, để chọn bạn mà chơi.

Với ai tôi cũng giữ thái dộ cởi mở, ngay thật và cố tìm ra mặt tốt. Nếu vì nói thắng, nói thật, có người phật lòng, tôi xin họ thông hiểu. Thà mất lòng trước mà được lòng sau còn hơn. Và châm ngôn ta có câu: thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng. Còn ai cố tình hiểu sai, chụp mũ tôi, tôi tự nhận lỗi về mình, vì tôi chưa có đủ sức làm cho họ hiểu. Thế thôi

Ông có lời nhon thêm gì nữa với cộng đồng ta ở hải ngoại?

Tôi rất mừng là số người có cách nhìn cực đoan không còn nhiều. Số bà con ta theo dõi kỹ phong trào dân chủ ở trong nước và tỏ ý ủng hộ các chiến sĩ dân chủ - dù đó là ông trung tướng cộng sản, ông cựu ủy viên Trung ương, hiện là đảng viên cộng sản - ngày càng đông đảo trong cộng đồng ta. Một số chiến sỹ dân chủ ở trong và ngoài nước đang phối hợp thảo ra một tuyên bố chung, tuyên ngôn chung, hoặc gọi là hiến chương chung, một kiểu xã ước (Contrat Social) chung gì đó để trong và ngoài nước cùng đồng tình trên một quá trình chuyển từ chế độ độc đoán sang một chế độ dân chủ trong hòa bình, một kiểu cương lĩnh tối thiểu, đúng vào dịp cuối thế kỷ này.

Sự đồng tình càng sâu rộng thì tạo nên sức ép với chính quyền trong nước càng lớn, càng có hiệu quả.

Muốn vậy mỗi người phải tự vượt qua chính mình, vượt qua thù hận lưu cữu ở hai bên, giang tay anh em ruột thịt ra với nhau, hòa giải và hòa hợp trên hành động thực tế, chung sức trong sự nghiệp xây dựng dân chủ cho quê hương. Đức Khổng Tử xưa kia từng nói: người quân tử biết khoan dung thay thù hận.

Chúa Giê-su cũng từng nói: chúng ta cần biết thương yêu và cầu nguyện cho kẻ thù địch về những sai lầm của họ.

Tôi biết anh em từng ở bên kia chiến tuyến với tôi đến nay vẫn không tin tôi, cho tôi là 'cò mồi', 'chim mồi', 'trá hình', làm 'tình báo'. Tôi không oán trách ai nặng lời với tôi, chỉ tự trách mình là chưa làm cho hiểu thật rõ mình. Tự tôi có lỗi. Có người khi nghe tôi nói chuyện, hoàn toàn đồng ý tán thành những suy nghĩ của tôi, nhưng lại yêu cầu tôi: 'Nhưng xin ông chớ nói với ai là tôi đã gặp ông và tán thành những điều ông nói'. Tôi buộc phải tôn trọng yêu cầu ấy, nhưng lòng dạ không thư thái. Sao lại vậy? Có người trả lời: 'Vì cộng đồng này phức tạp lắm, ông không biết đâu. Những kẻ quá khích có thể khiêu khích, gây sự, thậm chí hành hung chúng tôi. Tránh voi chẳng xấu mặt nào'. Có kẻ dọa bắn bỏ những người mà họ chụp cho cái mũ vô lý là 'phản bội', 'trở cờ'.

Tôi mong tất cả bà con ta, bất kể trong quá khứ từng ở bên nào, quê hương Bắc hay Nam, hay Trung, lớn tuổi, trung niên và các bạn trẻ, hiện ở Hoa Kỳ, châu Âu, Cháu úc, ở Đông Âu hay Liên xô cũ, hãy tập trung tất cả sức đấu tranh vào cuộc vận động dân chủ hiện nay, biểu thị đồng tâm nhất trí trên một phương án chung. Hãy gắn nỗi đau của mỗi người vào nỗi đau chung của hơn 70 triệu đồng bào trong nước chưa được hưởng tự do xứng đáng với con người. Chúng ta là một đàn gà cần mẫn, nòi giống đẹp, có cùng chung một mẹ, do hoàn cảnh, do sự thúc ép của xung quanh, đàn gà vĩ đại ấy ly tán, rồi xung đột, cào mổ nhau, giết hại nhau, nay hãy họp đàn lại, đùm bọc nhau, chữa cho nhau những vết thương lòng còn rỉ máu, hòa thuận tin yêu nhau sống dưới đôi cánh ấm áp vĩ đại của bà mẹ Tổ quốc Việt nam thân yêu đời đời... '

Viết xong ở Paris (Pháp) tháng 6, 1998.

Sửa chữa, bổ xung ở Vancouver (Canada) tháng 9, 1998.

Phụ Lục


Lá THƯ VIếT TAY GửI ÔNG LÊ KHả PHIÊU


Dưới đây là lá thư tác giả viết tay gửi cho ông Lê Khả Phiêu từ đầu năm 1997, khi đã có dự định cử ông Lê Khả Phiêu thay thế ông Đỗ Mười làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt nam, nhân vật số một của chế độ cầm quyền.

Tôi từng quen biết ông Phiêu, vì là cùng một lứa sĩ quan từ Trung tá lên Thượng tá, rồi Đại tá Quân đội Nhân dân. Tôi gặp ông nhiều lần trong các cuộc hội nghị quan trọng của Quân đội, cửa đảng cộng sản, khi ông là chủ nhiệm chính trị Quân đoàn 2 hồi 30 tháng 4 năm 1975 và sau đó là chủ nhiệm chính trị Quân tình nguyện Việt nam ở Cam Bốt từ đầu năm 1979...

Bức thư này đã được đưa tận tay ông phiêu tháng 5-1997. Tôi đặt hy vọng rất dè dặt ở kết quả. Vì cho đến nay, ông Tổng bí thư mới vẫn giữ giọng điệu cũ công thức và giáo điều trong các bài phát biểu, ông còn về thăm quê ở Đông Sơn, Thanh Hóa với vẻ quan cách lễ nghi rớm, kiểu vinh qui bái tổ, còn làm lễ ở đền Vua Lê (với ngụ ý khai sáng một triều đại tân Hậu Lê) và thăm Mộ Tổ Hùng Vương rất ồn ào ở Vĩnh Phú...

Cái tầm cỡ lớn của 'vĩ nhân' này được một nhà báo hóm hỉnh ở Bắc Hà nhận xét là: mèo mù vớ cá rán! Câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về con ếch phình bụng để bằng con bò có thể là bài học bổ ích.

Tôi gửi lá thư này chỉ là để yên tâm rằng đã gửi một tín hiệu thiện chí, đã chân tình góp ý và cảnh báo về tình hình sẽ xấu tê hại nếu không có một quyết định hệ trọng về chính trị theo hướng dân chủ hóa, hòa nhập mạnh bạo với thế giới văn minh.

Người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản vẫn còn quyến luyến với bóng đen của quá khứ và chưa muốn xua tan những mây mù của thế kỷ còn đè nặng lên hiện tại và tương lai của đất nước.

Thêm nữa, vừa qua (giữa năm 1998) một số quan chức ở Ban Văn Hóa và Tư Tưởng của Trung ương đảng cộng sản cùng một số quan chức ở ngành công an đã dựa vào việc tôi gửi bức thư này cho ông Lê Khả Phiêu để tung tin xuyên tạc rằng: Bùi Tín hiện đang ở trong tình trạng bị đát, sức khỏe giảm sút, xa vợ con, không bạn bè, cuộc sống chật vật cô đơn tinh thần sa sút... nên đã tô ra hối hận, ngô ý xin về nước sống yên thân (!)...

Do sự xuyên tạc trên đây, tôi thấy cần công bố bức thư này trước công luận để đồng bào trong nước và ngoài nước hiểu rõ việc tôi làm với tinh thần lạc quan, nhất quán, tin tưởng vững chắc ở tương lai ra sao.


Paris 1-3-1997

Kính gửi Anh Lê Khả Phiêu

Hà Nội

Tôi từng biết và gặp anh ở Sài Gòn (30-4-75) khi anh ở Quân đoàn 2, và hồi 1979 và 1980 ở Nom Pênh.

Nay đối với anh, tôi ở xa, về nhiều mặt. Năm nay đang thay một thế hệ lãnh đạo. Cờ đang đến tay anh, với trách nhiệm rất nặng trước đất nước, nhân dân, trước đảng cộng sản.

Đời một người chỉ thoáng qua giữa cái vô tận. Để lại được gì tốt đẹp trong lòng dân? Tiếng thơm sẽ còn lại lâu bền.

Tình hình đến nay đã chín cho bước đi mạnh dạn, quả đoán, thực hiện những cải cách chính trị tiến kịp với những cải cách kinh tế, để đổi mới được toàn diện, đồng bộ, hài hòa, không vấp váp, đình. Càng quý những thành tựu vừa qua, càng cần thúc đẩy đổi mới thêm một bước, như dư luận anh chị em trí thức, nhà kinh doanh, tuổi trẻ... có tâm huyết và trí tuệ yêu cầu, như dư luận quốc tế chờ đợi

Tôi chắc anh đã nghĩ đến những điều ấy. Những vật cản ngáng trở đổi mới về chính trị đã giảm bớt. Lúc này chính là thời cơ để đề xướng và chủ động thực hiện. Rất mong anh chọn những trợ lý tốt, thành một nhóm đồng lòng thúc đẩy cải cách toàn diện theo cách riêng của Việt nam, từ đó thuyết phục rộng rãi cơ quan Nhà nước, đảng theo hướng tích Ta có thể đi sớm, đi nhanh hơn Trung Quốc về mặt này.

Tôi nghĩ rằng đã đến lúc anh gặp một số anh em trí thức ở miền Bắc và ở miền Nam từng có những ý kiến xây dựng theo hướng dân chủ hóa; kể cả những người từng bị tù hay hiện đang còn ở tù chỉ vì những kiến nghị dân chủ hóa; anh em trẻ, các nhà kinh doanh ngay thật, các cụ tuổi cao đã về hưu mà trí tuệ còn trẻ... đều có thể tạo nên những cảm hứng chính trị mới mẻ cho người lãnh đạo. Tôi tin rằng anh sẽ có thái độ lắng nghe, bình đẳng, cân nhắc những gì là đúng thì tiếp thu, làm cho tư duy chính trị thêm giàu có, sắc sảo, khỏe và trẻ.

Tôi tin tường chắc chắn rằng cả một khối người lương thiện, yêu nước mình, thương dân mình, am hiểu tình thế và thời đại sẽ lập tức đứng dậy sau lưng anh! Cả một đại khối người Việt ở nước ngoài sẽ biểu đồng tình. Cả thế giới sẽ hoan nghênh những hành động sáng suốt ấy? Tất cả đều chờ! Rất nhiều anh em trong đảng và ngoài đảng mong rằng sẽ có một phiên họp đặc biệt của trung ương đảng bàn về một số vấn đề lịch sử còn tồn đọng, mà những kết luận cũ đã tỏ ra lỗi thời: như về vụ Nhân Văn Giai Phẩm; 'vụ án xét lại chống đảng làm gián điệp cho nước ngoài'; việc bỏ tù hàng trăm ngàn viên chức sĩ quan cũ ở miền Nam; sự kiện thuyền nhân bị thảm; việc thu vàng, buôn bãi, bán tàu với vô vàn nạn nhân thê thảm...

Anh đã biết rõ những kết luận chính thức cũ: đảng luôn đúng; tất cả những người trong các vụ việc ấy đều có tội nặng, đảng hết sức nhân đạo, công minh, không có gì phải xem xét lại... là khiên cưỡng, trái đạo lý và trái với sự thật đến thế nào! Nếu không thanh toán sòng phẳng những vấn đề quá khứ nặng nề thì không thể giải quyết đúng các vấn đề hiện tại, để mở đường cho tương lai sáng rõ.

Mong anh sẽ là người đứng ra triệu tập một cuộc họp trung ương đảng như thế - một cuộc họp Quốc hội đặc biệt sẽ tiếp theo để mở rộng đồng thuận. Sinh lực của đất nước này, của nhân dân này vốn trọng chính nghĩa, công bằng, bao dung sẽ bật dậy! Tôi hình dung sẽ như là khí thế của Cách mạng tháng 8 hơn nửa thế kỷ trước!

Anh đã góp phần lãnh đạo đất nước đổi mới về kinh tế, bước đầu đổi mới nền hành chính, cải tiến quân đội, đấu tranh chống tham nhũng, xây dựng luật pháp... nay đất nước cần đổi mới tiếp theo cho sâu sắc hơn nhằm thúc đẩy đà phát triển với tốc độ cao và chất lượng cao hơn; mong rằng anh không phụ lòng ao ước và mong đợi của nhiều lớp người đặt ở nơi anh.

Tôi vẫn sống ở Pháp. Nhớ gia đình, nhớ quê hương khôn xiết. Tôi rất tự hào về những việc đã làm hơn sáu năm nay vì cảm thấy nó có ích phần nào cho đất nước. Đời sống riêng khó khăn nơi đất người, nhưng lương tâm tôi thanh thản. Tôi không hề có tham vọng cá nhân nào. Danh lợi tôi không màng. Tôi đã thất thập cổ lai hy. Sức lại yếu. Tôi chỉ mong sẽ góp phần làm một tờ báo tư nhân thật trung thực - một tờ báo tự do của công dân, rất cần cho đất nước để hình thành công luận, góp phần xây dựng xã hội có luật pháp.

Tôi luôn sẵn sàng góp ý kiến với các anh trên tinh thần xây dựng. Tôi cũng có thể là gạch nối để cải thiện quan hệ giữa Nhà nước ta với Hoa Kỳ, các nước phương Tây, và với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, mà tôi có một số quan hệ tốt. (Vài ngày nữa tôi đi Chicago dự cuộc họp tổng kết về Chiến tranh Việt nam, theo lời mời của Lầu Năm Góc và Viện Hải quân Hoa Kỳ). Tôi cũng quen khá thân với một số thượng nghị sĩ trong ủy ban Châu á Thái Bình Dương của Quốc hội Hoa Kỳ.

Tôi rất mong nhận được hồi âm của anh. Tôi sẵn sàng giữ liên hệ với anh qua thư, điện thoại, fax, qua những anh em làm việc ở chỗ anh. Tôi hy vọng anh hiểu đây là những suy nghĩ tâm huyết của tôi. Tôi vẫn tin rằng trong đảng cộng sản không thiếu những người không chạy theo bả phú quý giàu sang, thật lòng yêu nước thương dân, mong mỏi nước ta sớm hòa nhập thật sự với thế giới hiện đại, mà dân chủ là một giá trị lớn lao. Chắc anh hiểu rõ hơn hết là vấn đề nhân quyền, thái độ khe khắt với các tôn giáo, tù chính trị... đang là cản trở nguy hiểm cho sự hòa nhập. Tự sự lãnh đạo của đất nước mình nhìn xa trông rộng mới cất bỏ được sự cản trở ấy. Đó là hạnh phúc của dân tộc đã tìm lại thấy mình, một Việt nam ruột thịt, độc lập tự do, hãnh diện nhập chung hàng ngũ các dân tộc tự do của thế giới đang tiến tới thế kỷ 21.

Gửi anh lời chào tin cậy.

Bạn chiến đấu cũ,

Bùi Tín

Điện thoại và fax:

(0) 1.48367598

1 Guilletat 93120 La Courneuve

(Pháp)

______________________________________________

Phụ lục 1: (Do bạn đọc bổ xung)

Bức Thư của Đại Tá CSVN Nguyễn Trần Thiết

Đại tá: NGUYễN TRầN THIếT

NHà BáO - NHà VĂN

25A Phan Đình Phùng

Ngày 22 tháng 8 năm 1997

ĐT:280048

Kính gửi: Thủ Trưởng Tổng Cục Chính Trị

Sau ba tháng vào TP HCM, khi trở ra Hà Nội tôi được các bạn đồng nghiệp trao cho tập tài liệu kèm theo đây để phân tích. Tôi đọc tới lần thứ ba mới bầy tỏ chính kiến: đây là chuyện thật.

Tôi không rõ thủ trưởng TCCT [tức Tổng Cục Chính Trị] đã biết việc này chưa và đã có biện pháp ngăn chặn không cho chuyện tương tự xảy ra chưa, nên xin phát biểu ý kiến riêng.

Cách đây 3 hoặc 4 năm, Thư Viện Quân Đội giao cho tôi 4 tập 'Đường Thời Đại ' đề nghị tôi đọc và có tham luận trong hội thảo. Tôi nhận lời. Là người cầm bút, tôi rất trân trọng các tác giả. Tôi nghe kể nhiều huyền thoại về Đặng Đình Loan. Từ cán sự 3 hoặc 4 gì đó đã ra khỏi biên chế, Loan đã làm cách nào lọt vào các hội nghị tổng kết quân sự cấp chiến lược; Loan được nhiều cấp trung tướng, thượng tướng, đại tướng tiếp và đến thăm nhà; Loan đã xoay cách nào để có trên 300 triệu tài trợ để xuất bản 'Đường Thời Đại '. Loan sắp phục hồi Đảng tịch, được nâng lên cấp chuyên viên 8; Loan rất giàu.

Tôi không quan tâm đến chuyện ngoài lề. Không cần vắt óc suy nghĩ, chỉ cần ngồi chép được 2000 trang đã đáng phục rồi. Tôi đọc 'Đường Thời Đại ', là người trong cuộc, đã có nhiều tài liệu viết về đề tài chiến tranh, tôi nhận ra ngay nhược điểm không có gì bù đắp nổi của tác giả 'Đường Thời Đại ': Đó là anh thiếu vốn sống, không có mặt ở chiến trường, trình độ khái quát yếu, lại tham vọng vươn quá cao. Tôi từ chối đọc tham luận vì mình khen lấy lệ sẽ không thật lòng; nếu mình chê sẽ không hợp ý Ban Tổ Chức và tác giả.

Gần đây tôi được thông tin là Loan đã xin tài trợ thêm được 900 triệu, được phục hồi Đảng; được nhận lương chuyên viên 9, tôi thoáng ngạc nhiên vì Loan chưa phải hội viên Hội Nhà Văn sao lại được ưu ái quá mức như vậy ? Hôm nay đọc tài liệu này, tôi mới rõ chân tướng của Đặng Đình Loan. Loan là kẻ đầu cơ chính trị, buôn chính trị. Loan hồ đồ, chủ quan, suy diễn những việc xảy ra theo sự hiểu biết hời hợt của mình. Tôi trách Loan một phần, nhưng trách Tỉnh ửy Thừa Thiên - Huế hai lần. Nếu lãnh đạo tỉnh không bật đèn xanh, không cho phép, làm sao Đặng Đình Loan có diễn đàn ? Có lẽ Loan là người đầu tiên của nước ta phê phán anh Giáp ở Điện Biên Phủ. Tôi là phóng viên của báo QĐND [tức Quân Đội Nhân Dân] ở Điện Biên Phủ, sống cạnh lán anh Giáp và trong suốt chiến dịch tôi không một lần gặp anh Nguyễn Chí Thanh, tại sao Đặng Định Loan dám đổi trắng thay đen khi mọi nhân chứng còn sống ? Nghị quyết 15 do ai soạn thảo đã có kết luận của Trung Ương, sao Loan còn dám nói ngược lại mà các thính giả - đặc biệt là các đồng chí có chức có quyền trong tỉnh ủy - không phản ứng lại ?

Tôi không đi vào tranh luận từng điểm với Loan vì khi người nói có động cơ không trong sáng với dụng ý bóp méo, xuyên tạc lịch sử theo nhận thức chủ quan của mình thì nội dung sẽ rất sai lệch. Tôi giật mình vì những nội dung cuối trang 3, đầu trang 4. Tại sao chuyện cung đình lớn như vậy, hệ trọng như vậy mà Loan dám đưa ra công khai phê phán ? Tôi hoàn toàn không tin anh Võ Văn Kiệt đánh giá anh Giáp là con số không, và chả có cơ sở nào để tin rằng việc Bộ Chính Trị không đồng ý anh Giáp là chủ tịch danh dự Hội Cựu Chiến Binh. Việc đồng chí Lê Đức Anh đưa ra lời khuyên Loan 'nên đứng lơ lững có lợi hơn ' là đúng hay sai sự thật? Tại sao anh Anh có quan hệ quá mật thiết với Loan như vậy? Phải chăng Loan dụng ý tô vẽ cho mình trong mọi cơ hội?

Dựa vào những ý kiến phân tích trên đây, tôi đề nghị:

1/ Tổng Cục Chính Trị ra thông báo không công nhận nội dung buổi nói chuyện của Đặng Đình Loan. Phê phán những người tổ chức cho Loan nói chuyện là sai nguyên tắc.

2/ Rà xét lại và thu hồi những quyền lợi Đặng Đình Loan hưởng bất hợp pháp như:

a/ Thu hồi toàn bộ tiền trợ cấp sáng tác cho Loan

b/ Xóa tên Đặng Đình Loan trong danh sách Đảng viên.

c/ Nếu thực sự đã có quyết định đề bạt Loan lên chuyên viên cấp 9 (hay chuyên viên 7, 8), ta nên thu hồi lại, trả Loan về vị trí xuất phát của anh ta.

d/ Tịch thu những tài sản bất minh của Đặng Đình Loan.

đ/ Cảnh cáo những người tổ chức nói chuyện.

Với trách nhiệm của Đảng Viên là Nhà Văn, tôi xin phản ảnh để thủ trưởng TCCT tường và có cách xử lý thích đáng

Kính

(ký tên)

Nguyễn Trần Thiết

**********

(Tài liệu 2, nguyên văn)

Bản Tường Trình

Về Việc Đặng Đình Loan Tổ Chức Nói Chuyện Với Một Số Cán Bộ Nhằm Đả Kích Một Số Đồng Chí Nguyên Là ủy Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Một số tư liệu về Đặng Đình Loan:

Đặng Đình Loan sinh năm 1943 tại Phong Điền (Thừa Thiên - Huế). Trước 1966 là sinh viên Đại Học Tổng Hợp Văn ở Hà Nội. Năm 1966 vào làm phóng viên thông tấn xã ở Quân Khu Trị Thiên. Đã có vợ và 2 con ở Phong Điền, sau đó bỏ vợ con ra Hà Nội lấy vợ khác (cô Linh - bác sĩ, vợ liệt sĩ đã có 1 con gái với chồng liệt sĩ). Năm 1974, bị ốm ra điều trị ở Hà Nội (có tin khác là đào ngũ ra Hà Nội), bị khai trừ ra khỏi Đảng từ năm 1974 (theo cung cấp của một số cán bộ quen biết). Cũng có tin là tự ý bỏ sinh hoạt Đảng.

Nhưng lại có người có chức, có quyền (?) 1989 không biết vì động cơ gì đã tìm cách phục hồi đảng tịch cho Loan (dù đã bị khai trừ hoặc bỏ sinh hoạt Đảng hơn 20 năm rồi mà lại được phục hồi Đảng tịch là một việc làm sai nguyên tắc về Đảng - cần phải xem xét lại). Đã bằng nhiều cách thu nhập rất nhiều tư liệu của địch (miền Nam) và cả Bộ Quốc Phòng.

Từ một nhà báo không tên tuổi, mới viết mấy tập 'Đường thời đại' mà đã tự phong mình ngang hàng với Tolstoi (Liên Xô) viết Chiến Tranh và Hoà Bình.

Chỉ một thời gian ngắn không biết từ nguồn tiền nào đã xây được một nhà 5 tầng ở Hồ Tây (Hà Nội).

Theo các nguồn tin chính xác:

Năm 1994, một lần tại Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh) Loan cũng đã đả kích Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Và năm 1995, một lần nói chuyện ở Huế với nội dung như trên... có thể có nhiều buổi nói chuyện khác nữa với cá nhân và tập thể.

Cụ thể buổi nói chuyện của Loan ngày 20/11/1996 tại khách sạn Thắng Lợi số 10B đường Nguyễn Huệ (Huế).

Thời gian từ 8 giờ 30 đến 11 giờ 30 ngày 20/11/1996.

Danh sách mời dự kiến 16 đi 12 cán bộ (có danh sách cụ thể) Loan có nhờ một phó giám đốc công an tỉnh đi mời người.

Vào đề Loan nói: 'Tôi vào Huế công tác để thăm các bác và để viết tiếp chiến tranh cục bộ. Hôm nay, nói chuyện có tính chất tâm tình. Trước khi vào có báo cáo anh Thắng (1) và các anh trong Thường Vụ Tỉnh ủy nhất trí cho nói chuyện.'

Loan hỏi Thuyên (nguyên cán bộ thông tấn xã, bạn quen của Loan) là đã kiểm tra có ai gài máy ghi âm không, Thuyên trả lời 'có kiểm tra rồi ' không có gì.

Loan nói tiếp: 'ý anh Mãn (Phó Bí Thư Tỉnh ủy) là nên tổ chức buổi nói chuyện này tại văn phòng Tỉnh ủy hoặc nhà khách của Tỉnh ủy. Anh Mãn nói không đồng tình nói chuyện ở khách sạn Thắng Lợi đâu '.

Đề nghị cho gọi bằng 'anh' cho thân mật. 'Các anh cứ nêu, có gì thì thằng em xin nói', lời Loan.

'Tôi là người viết sử nên tôi nói về sử kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cuộc kháng chiến thắng lợi là công của tập thể nhưng có nhiều người muốn ôm thành tích vào mình.'

Ông Giáp:

Trong lịch sử thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ không giao cho ông Giáp mà giao cho ông Phùng Chí Kiên. Nhưng ông Giáp lại nói Bác Hồ giao cho ông ấy. Bác Hồ không giao, nhưng sau đó ông Giáp xu nịnh Bác nên Bác giao cho ông Giáp làm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ta quá ngây thơ chứ những tay chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta cũng công nhận như vậy.

Chiến dịch biên giới ông Giáp không chỉ huy.

Chiến dịch Điện Biên Phủ ông Giáp nhát gan nằm suốt trong hầm, ông Giáp phạm sai lầm cho kéo pháo vào, rồi kéo pháo ra. Mà chỉ huy Điện Biên Phủ là đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, sau thắng lợi Điện Biên Phủ ông Giáp giành thắng lợi về mình.

Sai lầm năm 1958 của ông Giáp là giải giáp 8 vạn quân.

Khi ra Bắc, ý đồng chí Duẩn là số quân miền Nam ra Bắc tập kết phải giữ lại để đưa trở lại vào Nam. Nhưng ông Giáp cho 2 vạn quân ra nông trường. Khi ông Duẩn ra Bắc rất tức. Do vậy khi miền Nam và Trị Thiên cần thì không có quân.

Nghị Quyết 15:

Ông Giáp vỗ ngực tham gia biên tập nhưng thực chất ông Giáp không biết gì. Khi đồng chí Lê Duẩn ra Bắc đề xuất người viết là ông Duẩn chứ ông Giáp không biết gì.

Ai cũng phạm sai lầm, kể cả Bác Hồ trong cải cách ruộng đất để nội bộ đánh nhau tan tác, nhưng Bác Hồ biết sai và sửa. Nhưng đằng này họ thấy sai mà không chịu sửa.

Ông Trường Chinh thân Trung Quốc, bệ nguyên xi trường kỳ kháng chiến của Trung Quốc về Việt Nam làm sai mẹ. Kể cả cải cách ruộng đất. Sau thất bại dân không tin.

Chuyện 10 tướng tài của thế giới mà Hoàng gia Anh phong tặng ông Giáp làm gì có, mà do một nhà báo nước ngoài đưa tin rồi báo ta đưa tiếp thế thôi.

Tết Mậu Thân:

Cuối năm 1963 và đầu năm 1964 ta dự kiến sẽ đánh lớn. Người chỉ đạo là đồng chí Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái. Người viết là thiếu tướng Vũ Quang Hồ. Nhưng tại sao ta không làm vì Mỹ mở chiến tranh cục bộ. Vì vậy, kế hoạch đó bỏ vào tủ sắt.

Năm 1967 chiến tranh lên đến tột đỉnh. Ta biết rằng Mỹ đã đuối sức. Vì vậy, ta thực hiện kế hoạch Tết Mậu Thân 1968 (theo dự thảo năm 1963, 1964). Thời kỳ đó ông Giáp nghỉ ở Mát-cơ-va gặp Khơ-Rút-Xốp thì làm gì có Giáp chỉ huy. Các điện ký đều do đồng chí Ba Duẩn ký, và Hoàng Văn Thái. Sau đó mới mọc thêm chữ Văn ra trước.

Tết Mậu Thân ta tập kích rồi rút chứ không giữ. Nhưng vì sai lầm của ông Giáp là trụ lại nên để mất đất, mất dân. Và sau Mậu Thân, Giáp mới bay về. Giáp rất sợ nguyên tử nên tránh qua Liên Xô, sau đó biết Mỹ không có khả năng sử dụng hạt nhân nên Giáp mới về.

Chiến thắng 1975:

Sau hiệp định Pari (1975) Lê Duẩn giao cho Bộ Tổng Tham Mưu chuẩn bị kế hoạch. Ông Giáp đề xuất kế hoạch 4 năm (1975 - 1979) ông Giáp chỉ đạo cho Hoàng Văn Thái làm, triển khai thông qua tại Đồ Sơn, ông Duẩn bảo: 'Nếu 4 năm thì đừng có đánh nữa ' nên không quyết định, sau đó ông Duẩn chỉ đạo ông Thái viết kế hoạch 1975 - 1976. Trong cuộc họp đó không có ông Giáp. Nhưng đến chiến thắng 1975 thì Giáp ôm thành tích về mình.

Suốt cả quá trình chống Mỹ, Giáp chỉ đạo bè lũ Đặng Kim Giang chống Đảng. Giáp thân Liên Xô, cung cấp tài liệu cho Liên Xô.

Bác Hồ dặn mọi việc không cho ông Giáp biết nên các cuộc họp Bộ Chính Trị chỉ có: ông Đồng, ông Duẩn, Trường Chinh và Bác Hồ (Loan đã nêu một ví dụ rất láo xược. Nó ví: Bác Hồ như Lê Lợi, còn Lê Duẩn như Nguyễn Trãi).

Loan nói: 'Tại sao thời kỳ đó ta không loại Giáp. Vì đó là vấn đề sách lược. Giáp thân Liên Xô, để Giáp lại, Liên Xô mới chi viện cho ta, nếu loại ra Liên Xô sẽ cắt viện trợ.

- Đến thời điểm Đại hội Đảng lần thứ 5, ta kiên quyết loại Giáp ra khỏi Trung Ương. Nhưng có một thế lực bảo vệ cho ông Giáp là Học Viện Quân Sự (ông Thảo, ông Trà kết bè với nhau bảo vệ cho được ông Giáp).

Ông Lê Đức Thọ kiên quyết loại bỏ ông Giáp, Thọ báo cáo với ông Duẩn: 'Để tôi loại bỏ Giáp ra cho rồi '. Nhưng ông Duẩn không đồng ý: 'Làm như thế là tồi tệ '.

Khi đó ông Chinh cũng chống ông Giáp. Đến khi ông Duẩn ốm nặng. Ông Thọ muốn ông Duẩn giao Tổng Bí Thư cho mình. Ông Duẩn không đồng ý nên Thọ bất mãn và cấu kết với ông Giáp. Ông Duẩn cũng không muốn giao cho ông Chinh nên ông Chinh cũng bất mãn cấu kết với ông Giáp.

Vì vậy, vụ án Đặng Kim Giang cứ kéo dài mãi vì có thế lực bảo vệ cho nó, ông Duẩn muốn giao Tổng Bí Thư cho ông Nguyễn Văn Linh nhưng ông này hữu khuynh. Khi ông Linh mới lên làm có mặt tích cực, nhưng vì có cái đám tiêu cực trên, nên ông Linh cũng không làm gì được. Cuối cùng ông Linh cùng vô một phe với ông Giáp, Chinh và Thọ.

Các đồng chí có nhớ không, Đại Hội 6 định đưa Trần Xuân Bách lên làm Tổng Bí Thư và nhóm Giáp, Thọ, Linh định đưa ông Giáp lên làm Tổng Bí Thư Đảng. Phát hiện vấn đề này, đồng chí Lê Đức Anh kiên quyết chống, nên nhiệm vụ đồng chí Anh rất nặng nề. Đồng chí Anh là trung tâm điều hòa nên hiện nay bị đau là điều đáng lo.

Đối với cựu chiến binh tại sao tôi phải nói chuyện này. Vì CCB (kể cả cán bộ cao cấp) từ trước đến nay đều ngộ nhận ông Giáp.

Chính tôi đã gặp ông Kiệt, ông Kiệt đánh giá ông Giáp là con số 0.

Cựu chiến binh đã xác nhận, chúng ta có nhiệm vụ làm rõ để con cháu ta khỏi ngộ nhận tập đoàn Thọ, Linh, Giáp cấu kết với nhau, phải làm rõ để thấy.

Lúc đầu Bộ Chính Trị định đưa đồng chí Lê Quang Đạo qua làm chủ tịch CCB. Nhưng vì MTTQ cần nên qua làm Chủ tịch MTTQ. Sau đó, Bộ Chính Trị định đưa ông Đồng Sĩ Nguyên làm Chủ tịch Hội CCBVN, vì ông Nguyên cũng chống ông Giáp. Nhưng Tổng Cục Chính Trị nói là: Ông Nguyên không được tín nhiệm trong CCB. Sau đó mới đưa ông Trần Văn Quang vì ông Quang thời kỳ Điện Biên Phủ làm cục trưởng cục tác chiến biết ông Giáp nhát gan nên cũng sẽ đấu tranh chống ông Giáp. Tiếc thay ông Quang lại đưa ông Giáp làm Chủ tịch danh dự Hội CCBVN. Vấn đề này Bộ Chính Trị không đồng ý.

Loan nói: 'Ông Linh cho thành lập Hội CCB là vội vàng'.

Loan nói: 'Năm nay tôi đã 53 tuổi, có chết cũng không sợ. Các anh cóc sợ gì nữa, phải đấu tranh với các sai trái'.

Loan còn nói: 'Tôi 53 tuổi, họ định bầu tôi làm Chủ tịch Hội liên lạc Quốc tế, nhưng đồng chí Anh nói tôi nên đứng lơ lửng có lợi hơn'.

Tuy thế, Hội Nghị Quốc Tế Pháp, Mỹ, Loan đều có tham gia. Bộ Chính Trị giao cho Loan gặp cựu chiến binh Mỹ.

- Các đồng chí nên nhớ gần đây Bùi Tín đã gửi thư về cho nhóm này (Giáp, Linh, Quang...) là một ngày gần đây Tín sẽ về gặp lại nhóm này.

Loan còn kể thêm vụ đoàn du lịch Anh, Pháp, Mỹ, Nhật gần 40 người nhảy dù du lịch xuống Hòa Bình. Sau đó Bộ Chính Trị mới biết, một số cán bộ cao cấp bị cách chức.

(Một số tư liệu trên do đ/c T.L.C. trực tiếp cung cấp).

(Hồi 8 giờ ngày 26/12/1996 và 14 giờ ngày 28/12/1996 cho Thường vụ Tỉnh Hội Cựu Chiến Binh).

Sau khi phát hiện nội dung nói chuyện trên của Loan, có nhiều điều nguy hại đến an ninh quốc gia. Bằng nhiều nguồn khác nhau, đã báo cáo ra Thường Trực Bộ Chính Trị do một số đồng chí có tâm huyết đã trực tiếp kiến nghị:

1- Bộ Chính Trị rà soát lại đội ngũ cán bộ cao cấp quân đội và kể cả các cơ quan chức năng cao cấp, tại sao những nguồn tin tày đình này mà Loan nắm được. Những tin tức đó dù sai hay đúng chưa rõ. Tại sao Loan lại biết. Loan vỗ ngực là chuyên viên cao cấp của TCCT. Đề nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương kiểm tra lại cho rõ.

2- Đề nghị Bộ Chính Trị trả lời cho biết: Đảng ta có đưa một đồng chí ra cân bằng các thế lực trong Đảng không?

3- Kiểm tra Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế tại sao cho Loan nói chuyện đó ? Tại sao không phản ánh ra Bộ Chính Trị. Có ý đồ gì không?

4- Kiểm tra ai cho phép nó đi nói chuyện như vậy ? Báo cáo Bộ như thế nào?

5- Anh em CCB nghe nói phản ứng rất gay gắt, Thường trực Bộ Chính Trị cho hướng giải quyết ra sao ?

Trong buổi tọa đàm ngày 25-12-1996, anh Bảy cung cấp cho một số ý kiến của Loan khi nó tìm gặp anh:

Cung cấp thêm chi tiết việc dưới gậy chỉ huy của V.F.T. thúc ép các cơ quan Đảng phục hồi Đảng tịch cho Loan. 17giờ 30 ngày 20/12 Loan có gặp anh Bảy tại nhà riêng. Nó nói: 'Tại sao em có nhờ Bạch Hiền (Phó giám đốc Công an Tỉnh) mời anh đi nghe mà anh không đi. Anh Mãn nói ở khách sạn Thắng Lợi không đảm bảo bí mật. 7giờ ngày 23/12 Loan lại đến gặp anh Bảy, hôm 20/12 nói thòm thèm quá nên có nhiều anh mời nói thêm. Nếu anh cần nghe cứ phôn cho anh Thi, anh Mãn, tôi sẽ ở lại nói cho các anh nghe. Loan nói: 'Nó có gặp Trung ương và đề nghị đưa số trí thức vào Trung ương như Lê Mai, Nguyễn Đình Tứ. Nên thay bộ mặt Bộ Chính Trị bằng số không tham gia kháng chiến. Nó nói 40 tên du lịch nhảy dù ở Hòa Bình. Bộ Nội vụ bây giờ bê bối lắm. Trước tiên là ông Kiệt. Nó tự xưng là cán bộ biệt phái: còn làm gì, ở cơ quan nào thì không nói, xe ô tô số 80C khi nó nói tự sắm, khi thì nói của cơ quan đặc biệt cho nó đi. (4, 5 chữ trong tài liệu không đọc được)..... cử đi tiếp trợ lý Ngoại trưởng Mỹ và nó vào Tổng cục Chính trị lâý 4 văn công cùng đi tiếp khách với nó.


***


Sau buổi nói chuyện của Loan có tổ chức ăn tiệc ở khách sạn Thắng Lợi (có 12 người dự). Sau khi ăn xong Loan nói: 'Nếu Tỉnh không thanh toán thì nó sẽ trả, có tin khá chính xác buổi tiệc đó chi phí hết 5.100.000 đ do cơ quan tỉnh ủy thanh toán.

Thái độ của số cán bộ được Loan mời nghe và phản ứng của cựu chiến binh:

- Tổng số trực tiếp nghe hôm 20/11/1996 có 12 cán bộ. Xong buổi nói chuyện của Loan không có ai công khai phản đối.

- Sau khi về có nhiều phản ứng khác nhau:

- Một số ít im lặng để theo dõi nó nói gì và sau đó ít nhất có 2 đ/c đã trực tiếp báo cáo với các cơ quan chức năng theo dõi điều tra nghiên cứu. Một số bảo cái thằng đó nói bậy nên ngồi đó nhưng không thèm nghe tiếp.

- Tâm (Điệm) nguyên là cán bộ tổ chức của tỉnh ủy, người đã xác nhận để Loan phục hồi đảng tịch nói: 'Hắn nói đúng nơi, chuyện lịch sử có như vậy, nó nói có tổ chức. Thường vụ Tỉnh ủy biết chứ không phải thằng tào lao. Loan chắc nó làm chuyên viên cho các đ/c cao cấp chứ làm gì nó dám nói. Loan nó có quyền lực và thế lực. Ta phải tìm cách để bảo vệ nó '.

Có người đã nói: 'Mãi lúc này mình không biết nên vẫn treo ảnh chụp chung với ông Giáp '. Có người đã gọi: 'Thằng Giáp ' (Phẩm).

- Một số đông anh em CCB được tin Loan nói bậy rất ức bảo rằng: 'Nếu thằng Loan vác mặt về Huế nữa sẽ đánh gãy chân '.

Đảng đoàn cựu chiến binh Tỉnh đã gửi kiến nghị lên Tỉnh ủy yêu cầu kiểm tra việc này.

__________________

(1) Vũ Thắng, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, Đại hội Đảng 8, Thắng bị thay thế.

Phụ lục 2: (Do bạn đọc bổ xung)

'Đại tướng Võ Nguyên Giáp, anh Văn của chúng ta.'
Tác giả: T.A.

Gửi người đảng viên không tên !

Ta thật không hiểu nổi tại sao chỉ trong một thời gian ngắn có đến ba tài liệu, một của Đặng Đình Loan, một của Trần Quỳnh, và tài liệu này của nhà ngươi cùng tập trung vào một chủ đề: Nói xấu Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Người ta định làm cái gì đây? Và những việc này được thực hiện theo một cái gậy chỉ huy của lực lượng nào?

Những sự việc xảy ra liên tục vừa qua buộc những người trung thực phải đặt câu hỏi như vậy. Đặng Đình Loan được bật đèn xanh đi nói chuyện khắp nơi, hồi ký của Trần Quỳnh được tự do trôi nổi, trong khi thư của Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị thì bị công an lùng bắt ráo riết. Về Đặng Đình Loan, Trần Quỳnh đã có Đại tá, nhà văn, nhà báo Nguyễn Trần Thiết và Cựu chiến binh Trần Bá vạch mặt chỉ tên tưởng cũng khá đầy đủ rồi. Thực ra chẳng khó khăn lắm mới có thể vạch rõ chân tướng của hai vị này là kẻ làm theo lệnh của ai, để đề cao ai, hạ thấp ai và nhằm mục đích gì. Bởi vì hai vị này ăn nói lộ liễu quá, do chủ quan cho rằng mình có sự bao che của một số vị lãnh đạo cấp cao nhất nên nói xằng nói bậy thế nào cũng được, chẳng ai dám làm gì mình. Như Đặng Đình Loan dám nói chỉ huy Điện Biên Phủ là Nguyễn Chí Thanh chứ không phải là Võ Nguyên Giáp. Như Trần Quỳnh nói Võ Nguyên Giáp khéo nịnh Bác nên được Bác ưu ái. Không hiểu Trần Quỳnh có biết nói thế là đã hạ thấp Bác, xúc phạm Bác hay không? Điều này là do Trần Quỳnh ngu dốt hay là cố ý. Theo ta đó là cả hai. Bởi toát lên toàn bộ 58 trang hồi ký Trần Quỳnh thì chỉ có Lê Duẩn là nhất, còn tất cả, cả Bác Hồ, cả Trường Chinh... đều thua Lê Duẩn cả, Đặng Đình Loan cũng thế, nhưng trong những người nhất của Loan có thêm Lê Đức Anh, trong đó có chi tiết Lê Đức Anh bảo Loan 'đứng lơ lửng có lợi hơn'. Thì ra Loan đã lộ mặt là con bài của Lê Đức Anh, người có quyền hành nhất nước hiện nay, người được Loan cho là 'có vai trò giữ thế cân bằng trong Bộ Chính trị'.

Theo Bộ luật hình sự hiện nay thì Trần Quỳnh, Đặng Đình Loan phải ra trước vành móng ngựa vì tội đặt điều, vu khống nói xấu một trong những người có công lao nhất trong việc xây dựng nên nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa là Võ Nguyên Giáp, nguyên Uỷ viên BCT, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư Lệnh. Hiện là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Sao Vàng.

Và cùng ra tòa với Đặng Đình Loan không ai khác phải là Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Nam Khánh, những kẻ tòng phạm với bị cáo. Thực ra phải nói ngược lại chính Lê Đức Anh mới là bị cáo chính, còn Đặng Đình Loan chỉ là kẻ tòng phạm.

Bởi mấy năm gần đây, đi đâu nói xấu Võ Nguyên Giáp, Loan đều dùng xe 'xịn' do Lê Đức Anh cấp và trong túi bao giờ cũng có những tấm ảnh chụp chung với Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu thay giấy giới thiệu. Đi đâu Loan cũng nói Loan là chuyên viên cao cấp của Bộ Chính trị, là người giúp việc thân cận của 'các anh Bộ Chính trị'.

Việc Loan, Quỳnh còn đang gây dư luận phẫn uất trong Đảng, trong Quân đội, đặc biệt là trong hàng ngũ Cựu chiến binh, thậm chí nhiều nơi đã nói: 'Thằng loan mà còn dám vác mặt đến đây chúng tao sẽ đánh cho què chân' thì lại xuất hiện thêm tài liệu này của 'nhà ngươi'. Xét về góc độ văn hóa, tài liệu này còn xấu xa, bỉ ổi hơn hai tài liệu kia gấp nhiều lần, tuy đọc lên thì đứa trẻ con nó cũng nhận ra cả ba thằng này đều là một duộc, và như trên ta đã nói là theo một cái gậy chỉ huy thống nhất... Ta muốn nói đến chi tiết nêu trong tài liệu về quan hệ giữa anh Văn và vợ nhà văn Đào Vũ. Chính khi nhà ngươi nêu chuyện này là nhà ngươi đã tự vả vào mồm mình, bởi ở trang đầu tài liệu nhà ngươi viết: 'Nhiều đêm tôi cũng suy nghĩ day dứt vì những lời khen chê quá đáng, đúng sai không rõ ràng, thậm chí bới lông tìm vết, dùng văn chương để hạ thấp uy tín cá nhân của nhau, dùng dây dợ để chửi bới móc moi từ những chuyện dĩ vãng...'

Mồm thì nói thế nhưng chính nhà ngươi lại đi móc cái chuyện quan hệ riêng tư của anh Văn với vợ Đào Vũ. Nhà ngươi căn cứ vào đâu mà móc moi chuyện đó, và ai người ta lại tin vào những điều nhà ngươi nói cơ chứ. Nhà ngươi biết rằng móc moi chuyện này ra không những xúc phạm đến anh Văn mà còn gây nên chuyện không có lợi đối với hai gia đình này. Hay đây là một trong những mục đích xấu xa của nhà ngươi chăng?

Nhưng trong lĩnh vực quan hệ này thì nhà ngưoi không thể lấy tay che mặt trời được. Bởi ai cũng biết trong số các nhà lãnh đạo của ta ít người có cuộc sống mẫu mực, trong sáng như anh Văn. Một gia đình hạnh phúc trọn vẹn. Và chính điều này là một trong những lý do làm cho một số kẻ phải ghen tị, đố kỵ, tìm mọi cách để hạ bệ anh. Cuộc sống riêng tư trong sáng của anh Văn càng làm nổi bật sự xấu xa đê tiện trong cuộc sống của một số kẻ khác.

Một con người mẫu mực trong sáng như anh Văn thì nhà ngươi moi móc ra để nói xấu như thế, còn những chuyện xấu xa có thật 100% của các quan thầy của nhà ngươi thì nhà ngươi ém nhẹm đi không dám nhắc đến. Ví như ở miền Nam những năm 47,48 đã lan truyền câu chuyện 'Trung ương cục cướp vợ của học sinh'. Đó là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, một ông Bí thư, một ông Phó bí thư, có vợ con đàng hoàng ở miền Bắc rồi, vào trong đó thấy mấy cô học sinh kháu khỉnh ở trong thành ra học ở một trường vùng kháng chiến, liền sinh lòng ham muốn. Mặc dù hai cô này đã sắp là vợ của hai cán bộ, nhưng hai vị vẫn cố tình dùng áp lực cấp trên cướp cho bằng được. Những chuyện đó vẫn không xấu xa bằng chuyện Lê Duẩn sau toàn thắng 75, hiện nguyên hình là một Tần Thủy Hoàng hoang dâm vô độ, trắng trợn đến mức chẳng còn nghĩ gì đến đạo đức cách mạng của một người cộng sản, chưa nói đến là người đứng đầu của một Đảng. Tự cho mình là người 'khai quốc công thần', Lê Duẩn đã tạo cho mình một cuộc sống như vua chúa đời xưa, với hàng chục 'cung tần mỹ nữ' thường xuyên vây quanh, giả danh là mát xa, đấm bóp. Nghe kể rằng một lần trong lúc đê mê sung sướng, Lê Duẩn đã ra lệnh cấp cho cô Hồng một lúc hai căn hộ liền, một ở Kim Liên, một ở Bách Khoa, mặc dầu cô này chưa chồng con gì, trong lúc hàng vạn cán bộ kể cả cán bộ lão thành cách mạng chưa được phân một mét vuông nhà ở nào. Nhưng điển hình nhất là vụ quan hệ với nữ Bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con gái Hồ Viết Thắng. Thực ra Hồ Thị Nghĩa chỉ là của thừa của Lê Quang Hòa, nguyên Chính uỷ Quân khu 4, nhưng Lê Duẩn có sá gì là của thừa hay không phải là của thừa, miễn là có cái mà giải trí sau khi đã được Lê Đức Thọ 'duyệt'. Xin nói thêm đây là một âm mưu thâm độc của Lê Đức Thọ.

Chính mục đích của Lê Đức Thọ là giăng bẫy đưa các cụ vào tròng để dễ dàng bịt mồm, bịt miệng các cụ lại, tha hồ cho mình lộng hành. Đến nổi Lê Duẩn phải than vãn 'Nhân sự Trung ương khóa 4, khóa 5 tôi chỉ biết 1/3 còn 2/3 ở đâu ra tôi chẳng biết gì'. Có nghĩa là tất cả quyền hành trong Đảng về tay Lê Đức Thọ cả. Để đổi lại Lê Đức Thọ tạo cho các cụ đê mê trong chốn hành lạc, chẳng còn biết trời đất là gì nữa. Mà có biết cũng chẳng dám nói, vì đã bị Lê Đức Thọ 'yểm bằng gái' hết cả rồi.

Khi Hồ Thị Nghĩa có thai với Lê Duẩn, Ban Bí thư gặp riêng Nghĩa khuyên nạo thai. Hồ Thị Nghĩa kiên quyết không nghe, nói: 'Đây là con của Tổng Bí thư, rõ ràng thế, làm sao tôi phải nạo?'. Do đó, trong đám tang Lê Duẩn người ta thấy một thiếu phụ trẻ và đứa con trai chít khăn. Đó chính là Hồ Thị Nghĩa và đứa con trai, kết quả mối quan hệ bất chính của Tổng Bí thư Lê Duẩn với cô bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho mình.

Đó là chuyện đời xưa, còn hiện nay, ba trong số năm đồng chí Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị cũng có biết bao nhiêu chuyện xấu xa. Lê Đức Anh thì bỏ vợ cũ, một nữ cán bộ cách mạng trung kiên lấy vợ mới. Chuyện này trước đây coi như là một tội tày đình phải kiểm điểm, phải khai trừ khỏi Đảng. Còn vị đương kim Thường trực Bộ Chính trị hiện nay thì còn xấu xa hơn nhiều. Năm 1974, Thượng tá Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2 Lê Khả Phiêu quan hệ bất chính với một nữ nhân viên dưới quyền, việc vở lở ra, may mà Cục trưởng Cục cán bộ lúc bấy giờ là Nguyễn Trọng Hợp, cùng quê Thanh Hóa, ém nhẹm đi cho Phiêu và điều Phiêu vào Quân khu 9 để phi tang. Có ai ngờ sự chuyển dịch ấy dẫn đến cuộc gặp gỡ giữa hai thầy trò họ Lê, Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu, tạo nên một 'cặp bài trùng' cực kỳ nguy hiểm, thao túng toàn bộ nền chính trị nước nhà trong suốt ba đại hội: Đại hội 7, 8 vừa qua và Đại hội 9 sắp tới. Khi Lê Đức Anh sang làm Tổng Tư lệnh Cămpuchia, kéo Lê Khả Phiêu sang giúp việc về công tác chính trị, và thế là bắt đầu một 'liên minh ma quỷ'. Khi Lê Đức Anh về Hà Nội lại kéo Lê Khả Phiêu về để một thời gian ngắn sau đó giao cho chức Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, vượt mặt cả Đặng Vũ Hiệp, Nguyễn Nam Khánh, Lê Hai nguyên là những thủ trưởng của Phiêu trước đây. Và cứ thế lần lượt leo lên nhanh hơn cả tên lửa: Bí thư Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị, và bây giờ là Phó tổng bí thư, đang ấp ủ mưu đồ một ngày không xa lên chức Tổng Bí thư. Tất cả những điều này đều do Lê Đức Anh đạo diễn hết, chứ đức tài như Phiêu thì làm sao đảm đương được chức trách quan trọng đó. Nếu như không có cú hủ hóa ở Quân đoàn 2 thì Phiêu cũng đã về hưu như bao nhiêu đại tá khác. Nghĩ cũng thật ngược đời, người ta phạm khuyết điểm thì xuống đất đen, Phiêu phạm khuyết điểm thì được bay lên trời.

Như trên đã nói, cái 'liên minh ma quỷ' này, ngoài Anh, Phiêu còn thêm Khuê và tên bồi bút giáo sư dởm Nguyễn Đức Bình, đã tạo nên một tập đoàn quyền lực ghê gớm. Chẳng thế mà Hội nghị Trung ương 11 Khóa 7 vừa có Nghị quyết về nhân sự Đại hội 8, trong đó một loạt Uỷ viên Bộ Chính trị như Anh, Kiệt, Khuê, Bình... đều phải nghỉ để nhường chỗ cho lớp trẻ, thì lập tức chỉ mấy hôm sau, chúng nó phản công ngay, bất chấp cả nguyên tắc tổ chức Đảng, nghĩa là bất chấp cả Nghị quyết Trung ương vừa được thông qua. Nửa đêm, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu kéo đến gặp Đỗ Mười, rút trong cặp ra khoảng 20 kiến nghị của cán bộ quân đội, trong đó có một số vị tướng từng được Anh, Phiêu nâng đỡ, yêu cầu Lê Đức Anh, Đoàn Khuê ở lại Bộ Chính trị và giữ nguyên chức cũ. Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu dọa Đỗ Mười:

- Nếu không chấp nhận phương án này thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về tình hình quân đội đang xao xuyến hiện nay.

Đỗ Mười nghe xong phân vân hỏi lại:

- Nhưng bây giờ đã có Nghị quyết Trung ương rồi, đã phổ biến rồi, làm sao mà thay đổi được. Nghị quyết là trí tuệ của tập thể, là mệnh lệnh của Đảng, buộc mọi Đảng viên phải tuân theo.

Lê Đức Anh nheo nheo cặp mắt chột:

- Đảng là chúng ta đây cả thôi. Ta thay đổi tức là Đảng thay đổi.

Lê Khả Phiêu đế thêm vào:

- Chúng tôi đã có kế hoạch. Trước ngày khai mạc Đại hội ta lại họp Trung ương lần nữa, coi như Trung ương lần thứ 11B. Họp nhanh thôi. Tổng Bí thư nói vài lời là sau khi cân nhắc lại mọi mặt, Bộ Chính trị quyết định giữ nguyên cơ quan lãnh đạo cao nhất. Tiếp đó chỉ cần hỏi một câu lấy lệ:

- Ai có ý kiến gì không?

Nhớ đừng để cho ai kịp phát biểu mà cần tuyên bố giải tán ngay. Thế là xong. Rồi Lê Khả Phiêu nhắc lại ý của Lê Đức Anh một cách hợm hĩnh, tự nhiên:

- Đảng là ta cả thôi mà!

Cuộc họp Trung ương lần thứ 11B diễn ra đúng như kịch bản của hai thầy trò họ Lê. Đa số Đảng viên và một bộ phận nhân dân biết rõ chuyện này nhưng cũng đành phải làm ngơ. Vì ai cũng biết rằng, Đảng nắm trong tay quân đội, công an và cả một bộ máy mật vụ, ai dám ngo ngoe sẽ bị vào nhà giam ngay. Đất nước gọi là đổi mới nhưng về phương diện này thì vẫn như 30 năm về trước, khi xảy ra vụ chống Đảng tưởng tượng. Người ta không những bắt bớ những người dân bình thường, các cán bộ cỡ nhỏ như Trần Thư, Vũ Thư Hiên... mà còng tay cả Uỷ viên Trung ương, cả Bộ trưởng, Thứ trưởng, cả các tướng lĩnh.

Có một điều đáng chú ý là dự kiến khi Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Đoàn Khuê... ở lại thì tất cả các vị khác cũng đều ở lại kể cả Nguyễn Đức Bình, Phạm Thế Duyệt... Nghĩa là không ai mất gì, lợi lộc cùng chia, vui vẻ cả làng. Nhưng không ngờ Vũ Oanh, Bùi Thiện Ngộ, Lê Phước Thọ... lại từ chối. Họ bảo:

- Nghị quyết đã thông qua. Chúng tôi phải chấp hành nghị quyết.

Đây là một cử chỉ đẹp và là một cái tát vào mặt bọn tham quyền cố vị vô liêm sỉ. Nhưng nói thế thôi chứ bọn này làm gì có liêm sỉ. Ngay cả nhân cách làm người, làm chồng bọn chúng cũng không có. Chúng phản bội vợ đi hủ hóa lung tung thì còn biết xấu hổ là gì. Chỉ thương cho Mai Chí Thọ, sau khi được thông tin về Nghị quyết 11A đã viết bài ca ngợi trên báo Công an thành phố HCM, nói rõ sự thay đổi nhân sự đã được thông qua và đánh giá đó là một tín hiệu đáng mừng của công cuộc đổi mới.

Té ra chẳng có đổi mới gì cả. Chỉ có cái mới là tham nhũng ngày càng tăng một cách nghiêm trọng mà thủ phạm toàn là quan chức của Đảng và Nhà nước. Cái mới rất rõ nữa là nhà hàng, khách sạn, tệ nạn mại dâm... mọc lên như nấm làm cho cán bộ Đảng viên tha hóa đến mức Đại biểu đi dự Đại hội Đảng ra Hà Nội còn tìm cách đi hoang và bị bắt quả tang. Thực ra chẳng có gì lạ. Thượng bất chính hạ tác loạn.

Thế đấy, những chuyện bê bối thối tha như vậy mà nhà ngươi không nói, lại đi bới móc cái chuyện quan hệ anh Văn với vợ Đào Vũ cách đây đã hơn 30 năm. Mà chuyện có gì bảo đảm là đúng, hay lại vẫn là chuyện vu cáo như chuyện anh Văn nhát gan, sợ Mỹ, con nuôi tên chánh mật thám... Mà không hiểu tại sao cái chuyện lý lịch của anh Văn người ta nói dai đến thế. Trong lúc ai cũng biết từ Mác, Angghen, Lênin,... đến Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ... đều xuất thân từ thành phần lớp trên, tư sản, địa chủ, quan lại, trí thức... thì giả như Võ Nguyên Giáp là con nuôi tên chánh mật thám thật (Một chuyện không thể có) thì đã sao? Một con người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng từ lúc 14 tuổi cho đến nay đã gần 90, đã 30 năm liền giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh, gần 40 năm liên tục là Uỷ viên chính thức Bộ Chính trị, đã góp phần quan trọng cùng tập thể Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thắng lợi, mà nhà ngươi lại cứ đi bới móc cái lý lịch là con nuôi tên chánh mật thám ra để tìm cách hạ uy tín anh Văn xuống nhằm mục đích gì?

Chúng ta biết dưới thời Lênin-Stalin, vấn đề giai cấp còn hết sức nặng nề, thế mà có đến 4 vị anh hùng nguyên soái Liên xô được đào tạo đề bạt từ những sĩ quan Nga Hoàng hẳn hoi. Thậm chí như Giucốp đã từng được trao tặng hai huân chương vì thành tích trong những năm phục vụ trong quân đội Nga Hoàng.

Nguyên soái Tukhasépxki thuộc dòng dõi quý tộc, tốt nghiệp trường võ bị Alêchxăngđrôp, trường giành cho các con cái tầng lớp trên. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đồng chí bị quân Đức bắt làm tù binh. Sau 3 năm bị giam giữ, Tukhasépxki đã vượt ngục qua đường Thụy sĩ, trở về Nga vào tháng 9 năm 1917, kịp tham gia Cách Mạng Tháng Mười. Mặc dầu là dòng dõi quý tộc, tốt nghiệp trường võ bị Nga Hoàng, đã chiến đấu trong hàng ngũ quân đội tư sản lên đến chức đại uý, rồi lại bị Đức bắt làm tù binh đến 3 năm, thế mà chỉ sau chưa đầy một năm thử thách chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân, đích thân Lênin đã chọn Tukhasépxki làm Tư lệnh Tập đoàn quân thứ nhất. Năm 1931, lúc 38 tuổi, đồng chí được bổ nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Và 4 năm sau, năm 1935, được phong hàm Nguyên soái, được bầu vào Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Liên xô.

Vaxilépxki, Nguyên soái Liên xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, lại là một trường hợp đặc biệt nữa. Ông sinh năm 1895, là con một linh mục, được đào tạo trong trường dòng, vào quân đội Nga Hoàng, tốt nghiệp trường võ bị năm 1915. Sau Cách Mạng Tháng Mười, Vaxilépxki về làng dạy học. Tháng 4 năm 1919, ông được nhà nước công nông gọi vào nhập ngũ, làm Tiểu đoàn trưởng, rồi Trung đoàn trưởng. Năm 1935, Vaxilépki là đại tá duy nhất không phải là Đảng viên. Năm 1938 được kết nạp vào Đảng, và với 4 tuổi Đảng, đồng chí đã được giao trọng trách Tổng tham mưu trưởng Hồng Quân Liên xô trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại.

Trường hợp Nguyên soái Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Malinốpxki cũng tương tự. Ông sinh năm 1898, đi lính Nga Hoàng lúc 16 tuổi, được điều sang Pháp tham gia đánh Đức. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, bị điều vào đội quân lê dương, quay lại chống Tổ quốc. Khi đội quân lê dương này đổ bộ vào Vlađivôtốc, Malinốpxki chạy sang hàng ngũ Hồng Quân. Năm 1926, đồng chí gia nhập Đảng Cộng sản, lần lượt được cử các chức vụ Tư lệnh Tập đoàn quân, Tư lệnh Phương diện quân và được phong hàm Nguyên soái.

Lưót qua một cách sơ lược về bốn vị Nguyên soái anh hùng Liên xô trên đây chúng ta thấy điều gì? Cả bốn đều là 'ngụy quân', hơn nữa là 'sĩ quan ngụy', trong đó một có lý lịch là quý tộc, một là con linh mục đạo cơ đốc chính thống, và một trong quân đội lê dương. Thế nhưng Lênin và những người làm công tác tổ chức nhân sự của Đảng Cộng sản Liên xô lúc bấy giờ, một thời do Xvéclôp phụ trách, đã nhìn nhận đúng bản chất con người để sử dụng đúng con người, nếu không thì đã mất đi bốn vị Nguyên soái tài ba, bốn vị anh hùng trong đó có người được phong bốn lần anh hùng như Nguyên soái Giucốp.

Trong việc này rõ ràng là có sự đóng góp to lớn của Lênin. Người cực lực lên án và phỉ báng mọi định kiến về quá khứ của con người. Cũng như Bác Hồ của chúng ta, người có con mắt tinh đời cộng với lòng nhân ái vĩ đại, xem xét đánh giá con người một cách chính xác, đã vượt qua cách nhìn nhận tầm thường, nên đã thu phục được nhân tâm của nhiều tầng lớp phục vụ cho đất nước, những nhân tài rất cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đó là các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo, Phạm Huy Thông... các kỹ sư, bác sĩ tài ba Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước, Đặng Văn Ngữ... Đại tướng tài ba Lê Trọng Tấn từng là lính khố đỏ một thời... Thế thì Võ Nguyên Giáp có là con nuôi tên chánh mật thám thì đã sao mà liên tiếp trong ba Đại hội 5,6,7 Đại hội nào cũng tìm cách bới móc chuyện này ra... Và cả nhà ngươi nữa, nhà ngươi đã nghe theo lệnh ai mà lại tiếp tục đi làm cái chuyện xấu xa đê tiện đó?

Hỡi tên Đảng viên nặc danh!

Lẽ ra ta không muốn mất thời gian để viết những dòng này cho nhà ngươi, bởi nhà ngươi không xứng đáng để ta đối thoại. Nhưng nghĩ lại nếu không nói thì nhiều người sẽ không hiểu đúng sai ra sao. Như Gơben, Bộ trưởng Tuyên truyền của Hít-le nói: 'Nói dối một lần không ai tin, nói dối một triệu lần sẽ thành sự thật.'

Ta lo điều đó sẽ xẩy ra nên đành phải bớt một ít thời gian đang hết sức bận rộn để dạy cho nhà ngươi một bài học về nhân cách làm người chưa nói đến nhân cách người Đảng viên. Bởi thực ra qua tài liệu này của nhà ngươi, nhà ngươi đã tự tước bỏ danh hiệu Đảng viên của mình rồi.

Nhưng ta không đủ thời gian và cũng không cần thiết phải chỉ rõ cho nhà ngươi từng điểm sai trái với những dụng ý xấu xa trong 7 điểm nhà ngươi nêu ra. Bởi vì tất cả 7 điểm đều tự ý nhà ngươi nêu ra theo chủ quan của mình, rồi gán ghép cho anh Văn, tiếp đó lại phê phán ngay những sự việc mà nhà ngươi vu cáo.

Ví dụ quan hệ giữa anh Văn với Bác Hồ, với anh Trường Chinh là một mối quan hệ thiêng liêng, đẹp đẽ, đặc biệt là mối quan hệ với Bác có thể ghi vào lịch sử nghìn đời là một mối quan hệ mẫu mực về tất cả mọi phương diện, thì dù nhà ngươi có tốn bao nhiêu giấy mực cũng không thể đối trắng thay đen được. Ngược lại nhà ngươi càng viết thì càng bị người đời phỉ nhổ, và sau này nhất định sẽ bị lịch sử lên án như một tên phản tặc.

Cũng như thế, việc nhà ngươi gán cho anh Văn tội thích đề cao mình, hạ thấp công lao của người khác, của tập thể, là một sự vu cáo bỉ ổi. Nhà ngươi hãy đọc lại những tập sách, những bài viết của anh Văn thì sẽ thấy rất rõ điều này. Ví dụ đọc hồi ký: 'Những năm tháng không thể nào quên' thì chỉ thằng ngu mới không thấy tác giả đã giấu mình khiêm tốn đến mức nào. Là người trong cuộc, nhưng toàn bộ tập sách hầu như chỉ nói đến Bác, đến Thường vụ, và bao trùm lên tất cả là vai trò của nhân dân. Ngay cả từng bài báo, bao giờ anh Văn cũng nhắc người giúp việc phải nói đến tập thể, đến quần chúng nhân dân. Tất nhiên những việc rõ ràng là có sự đóng góp của bản thân mà lịch sử đã công nhận thì anh Văn cũng phải trung thành với lịch sử như quyết định khó khăn nhất ở Điện Biên Phủ, hoặc việc tự mình đi trinh sát trận địa sau đó quyết định chọn Đông Khê làm trận đánh mở màn thay cho Cao Bằng ở chiến dịch Biên giới.

Cuối cùng ta muốn nói với nhà ngươi một ý như sau:

Đúng là trong lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam hiện nay, có những sự kiện, có những cá nhân đang còn phải đứng trước nhiều sự đánh giá khác nhau. Không phải chỉ những người đã chết như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ... mà cả những người đang còn sống như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Võ Chí Công, Đào Duy Tùng, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu... cũng có nhiều dấu hỏi trong lịch sử.

Ví dụ: Tại sao cùng là Uỷ viên Trung ương, cùng bị bắt, mà Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai... thì bị tử hình còn Lê Duẩn chỉ có 5 năm tù.

Có phải Võ Chí Công huy động cả xe tải của văn phòng trung ương sang tận sân bay để đón con trai và chở của cải về. Có phải vì Võ Chí Công là bố vợ của Thân Trung Hiếu mà Thân Trung Hiếu mặc dù làm thất thoát 47 tỉ đồng vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Có phải Lê Đức Thọ là con quan tuần phủ nên tuy ở nhà tù Sơn La vẫn ăn sung mặc sướng như một công chức, suốt ngày hầu hạ tên giám ngục. Sau khi ra tù thì chạy dài về nằm ôm váy vợ, quên cả sự nghiệp cách mạng, để đến nỗi Nguyễn Lương Bằng phải bảo Vũ Đình Huỳnh về tận Nam Định, hỏi thằng Khải (tên cúng cơm của Lê Đức Thọ) rằng có còn ý chí cách mạng nữa không? Nếu còn thì để đoàn thể giao nhiệm vụ.

Có phải Đào Duy Tùng là con tên lý trưởng cường hào, đã từng lùng bắt, bắn hụt đồng chí Trường Chinh.

Có phải Lê Khả Phiêu là một tên bất tài, sa đọa về đạo đức. Không những đã tằng tịu với nữ nhân viên cấp dưới của mình khi làm Chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2 như trên đã nói, mà khi sang làm người giúp việc đắc lực cho Lê Đức Anh ở Cămpuchia Phiêu còn tằng tịu với một cô bồ ở Hà Nội, hàng tuần đi máy bay không vé Hà Nội - Nông Pênh, có ô tô đưa đón vào tận hoàng cung ăn ngủ như vợ chồng, rồi cho xe cùng với của cải đưa bồ ra sân bay về Hà Nội.

Có phải Lê Đức Anh xuất thân là một tên cai phu đồn điền, từng gây nợ máu với nhiều công nhân, hiện có những công nhân còn sống, còn nhớ rõ mặt 'tên cai Anh' nhưng lại khai man lý lịch là thành phần công nhân. Còn việc vào Đảng của Lê Đức Anh cũng lắm chuyện mờ ám. Nghe đâu cho đến nay vẫn không tìm ra được người giới thiệu? Đại tá Nguyễn Văn Hội, nguyên Chủ nhiệm Phòng không Quân khu Thủ đô từng kể chuyện với mọi người trong đó có ta, trước khi làm đại đội trưởng thì Lê Đức Anh là chính trị viên. Nhưng sau đó, vì Lê Đức Anh không phải là Đảng viên nên phải chuyển sang làm đại đội trưởng. Thế mà sau này lại khai lý lịch là vào Đảng năm 1936.

Có phải Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã cưỡng hiếp cô Xuân ở 66 Hàng Bông Nhuộm?

Có phải Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đã chết bất đắc kỳ tử trên bụng Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh Trần Thị Trung Chiến (nay là Uỷ viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Y tế)?

Cũng như thế có phải Võ Nguyên Giáp còn tồn tại nhiều vấn đề thuộc về lịch sử như nhà ngươi đã nêu ra không?

Tất cả những vấn đề đó, ngoài những vấn đề đã rõ như những chuyện bê bối của bè lũ 4 tên họ Lê: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu (chắc là con cháu của tên Tể tướng gian thần Lê Văn Thịnh thời Lý) thì nhiều việc khác còn phải chờ lịch sử phán xét.

Nhưng lịch sử căn cứ vào đâu để phán xét. Theo ta, đối với lịch sử Việt Nam hiện nay có thể căn cứ vào hai tiêu chuẩn để đánh giá một con người. Đó là Bác Hồ và Nhân Dân. Chắc rằng nhà ngươi cũng đồng tình với ta lấy hai tiêu chuẩn này như là một chất thuốc thử màu nhiệm nhất để đánh giá các nhân vật trên đây, vì trong tài liệu ta thấy nhà ngươi vẫn luôn nhắc đến Bác Hồ, luôn nhắc đến nhân dân. Vậy trước hết ta hãy lấy hai tiêu chuẩn này để đánh giá về anh Văn.

Một là Bác Hồ đối với anh Văn như thế nào.

Chắc nhà ngươi cũng biết chính Bác Hồ là người đã giới thiệu anh Văn vào Đảng. Chính Bác Hồ là người đã giao cho anh Văn cùng với một số đồng chí khác mở lớp huấn luyện chính trị cho hơn 40 đồng chí ở Nậm Quang (Quảng Tây) năm 1941. Đây là vốn liếng cán bộ đầu tiên của thời kỳ cách mạng mới.

Chính Bác Hồ đã giao cho anh Văn đứng ra thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng hiện nay.

Chính Bác Hồ đã bổ nhiệm anh Văn giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và uỷ nhiệm cho anh Văn ký nhiều sắc lệnh thời kỳ đầu của chính quyền cách mạng.

Chính Bác Hồ đã bổ nhiệm anh Văn làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và anh Văn đã giữ chức này cho tới ngày toàn thắng.

Chính Bác Hồ đã ký lệnh phong hàm Đại tướng cho anh Văn từ năm 1948 và là vị Đại tướng đầu tiên của quân đội ta.

Chính Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Đảng đã cử anh Văn làm Bí thư Đảng uỷ kiêm Tư Lệnh Chiến dịch Biên giới. Chiến dịch đã thắng lợi vẻ vang và ngày 19 tháng 12 năm 1950, Bác Hồ đã ký sắc lệnh số 447/SL tặng thưởng anh Văn Huân chương Hồ Chí Minh, và anh Văn đã trở thành người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương cao quý này. Sắc lệnh ghi rõ: 'Tặng thưởng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam Huân chương Hồ Chí Minh về thành tích: Đã chỉ huy Quân đội và Dân quân chiến thắng giặc trong năm năm kháng chiến trên các chiến trường, đặc biệt trong trận bảo vệ Việt Bắc Thu đông 1947 và trong Chiến dịch giải phóng Biên giới mùa thu 1950.'

Chính Bác Hồ đã đề cử anh Văn làm Tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận, và giao cho quyền: 'Tướng quân tại ngoại'. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng, trong đó có công lao đóng góp to lớn của anh Văn với quyết định thay đổi cách đánh mà lịch sử đã công nhận như trên đã nói. Chỉ riêng quyết định này thôi Đại tướng Võ Nguyên Giáp xứng đáng được ghi nhận là một danh tướng của các thời đại.

Cho đến khi Lê Duẩn, Lê Đức Thọ dựng lên vụ án chống Đảng, vu cho anh Văn là người cầm đầu và đề nghị thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Bác Hồ đã kiên quyết gạt đi. Bác nói: 'Cứ để đồng chí Văn tiếp tục làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh cho đến ngày toàn thắng.'

Bấy nhiêu sự kiện lẽ nào chưa đủ để nói lên sự tin tưởng tuyệt đối của Bác Hồ đối với anh Văn hay sao? Chính nhà ngươi cũng đã nói Bác Hồ là vị lãnh tụ vĩ đại, vô cùng sáng suốt, biết nhìn người chọn người một cách chính xác. Vậy thì những tội trạng mà nhà ngươi theo lệnh của ai đó, gán ghép cho anh Văn thì hóa ra là Bác Hồ sai ư? Chọn nhầm người ư? Xin nhà ngươi hãy trả lời cho ta điều đó!

Trong bản tài liệu vu khống của nhà ngươi ta còn đọc thấy ở trang 13, dòng 4, dòng 5 nhà ngươi viết như sau: 'Nhận xét các đồng chí lãnh đạo phải do Trung ương, Bộ Chính trị và quần chúng nhân dân'. Ta đồng ý với nhà ngươi như thế và hãy xem xét, ngoài tiêu chuẩn Bác Hồ ra thì hai tiêu chuẩn nhà ngươi đề ra này đối với anh Văn như thế nào?

Ai cũng biết Huân chương Sao Vàng là Huân chương cao quí nhất của Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng cho những đồng chí có công lao to lớn và đặc biệt xuất sắc. Do đó khi quyết định, Bộ Chính trị cần phải xem xét rất cẩn thận kỹ càng. Kết quả là Bộ Chính trị đã nhất trí tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Vậy nếu như tội trạng mà nhà ngươi nêu ra trong tài liệu là đúng thì làm sao Bộ Chính trị lại đi đến quyết định như thế. Bộ Chính trị quyết định tặng thưởng anh Văn Huân chương Sao Vàng chính là minh chứng hùng hồn nhất, là sự ghi nhận công lao to lớn của anh Văn đối với sự nghiệp Cách mạng của Đảng và của Dân tộc.

Còn nếu như anh Văn là phần tử chống Đảng với 7 tội như nhà ngươi nêu ra, (chọn đúng 7 tội chắc định bắt chước Chu Văn An ngày xưa dâng sớ Thất Trảm chăng?) trong đó có tội móc nối với nước ngoài, mà lại vẫn được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng thì Bộ Chính trị là một tập thể bậy bạ hay sao? Nhà ngươi hãy trả lời ta điều này.

Cuối cùng, điều quan trọng nhất là Nhân dân. Đây là liều thuốc thử mầu nhiệm về một con người, về một sự kiện. Rất tiếc ở ta không có cơ quan thăm dò dư luận công khai như một số nước. Nếu có thì số phiếu về uy tín của Võ Nguyên Giáp chắc chắn lúc nào cũng trên 95%, nếu không nói là 100%. Ta không nói là 100% bởi vì còn một số người bán rẻ nhân phẩm như nhà ngươi, tự nguyện làm tay sai cho một bọn người có chức có quyền tồi tệ hiện nay. Cho đến thời điểm này bọn chúng đã hiện nguyên hình là một băng nhóm Mafia cực kỳ nguy hiểm, nhưng ném đá dấu tay. Hồi Đại hội 7, chính Lê Đức Anh là tác giả của kịch bản Sáu Xứ, Năm Châu để vu cáo anh Văn là người cầm đầu nhóm bè phái trong Đảng. Có thể nói đây là vụ án chính trị xấu xa nhất, bỉ ổi nhất mà thủ phạm không ai khác chính là Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, giao cho Đoàn Khuê, Tổng tham mưu trưởng và Hai Văn, Cục trưởng Cục tình báo thực hiện, còn chính mình thì giả vờ ra Đồ Sơn nghỉ mát, giả câm giả điếc coi như không hay biết gì. Bây giờ lại thêm vụ Đặng Đình Loan mà kịch bản và đạo diễn vẫn chính là Lê Đức Anh. Có thể nói Đặng Đình Loan là một trong những ung nhọt tồi tệ nhất trong lịch sử Đảng ta, lịch sử đất nước ta. Làm thế nào mà một thằng B quay, bị khai trừ khỏi Đảng trở thành một 'cố vấn đặc biệt' của Bộ Chính trị như thế. Một ban lãnh đạo Đảng, một Nhà nước, một Chủ tịch nước mà lại đi sử dụng một thằng cha căng chú kiết như vậy làm người phát ngôn cho mình thì chẳng còn trời đất nào nữa. Nguyễn Nam Khánh vào Trung ương, Trần Hoàn được ở lại Trung ương hai khóa liền đều có bàn tay của mưu sĩ Đặng Đình Loan cả. Nó chỉ cần rỉ tai Lê Đức Anh thì một tên tướng cướp cũng có thể vào Trung ương. Đau đớn thay cho Dân tộc ta, cho Đảng ta. Và nhục nữa. Đất nước nghìn năm văn hiến mà phải chịu một nỗi nhục thế này mà chúng ta chịu im tiếng hay sao? Lẽ ra phải nói rõ sự thật này để Quốc hội cách chức Chủ tịch nước Lê Đức Anh chứ không thể để hạ cánh an toàn như thế. Mà lại còn tuyên dương công trạng mới thực là khôi hài. Rõ ràng cả đất nước đang sống trong vở 'Bi hài kịch lớn'. Nguyễn Nam Khánh ký cho Loan 200 triệu, Trần Hoàn ký cho Loan 500 triệu để in tiểu thuyết 'Đường thời đại'. Thế mà cả hai được vào Trung ương, được ở lại Trung ương thêm nhiệm kỳ nữa. Than ôi! Liệu trên trái đất này còn nơi nào như thế này nữa không?

Nhưng cho dù thế nào đi nữa, các người cũng không thể che hết cả trời xanh. Dù cho các người có giở mọi thủ đoạn, mọi mưu ma chước quỷ, hòng bôi nhọ Võ Nguyên Giáp, thì hình ảnh cao đẹp của vị tướng tài ba ấy, một vị tướng mà trước hết là một người lính cụ Hồ, là người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, vẫn sẽ mãi mãi đậm nét trong triệu triệu trái tim, khối óc người dân Việt Nam. Tên tuổi và công lao của ông cũng sẽ sống mãi với sự phán xét công bằng của nhân dân, của lịch sử. Còn lũ các người sẽ nhận được một kết quả ngược lại: Càng bôi nhọ Võ Nguyên Giáp bao nhiêu thì hình ảnh Võ Nguyên Giáp càng sáng chói bấy nhiêu, với khẩu hiệu từ lâu đã trở thành ngôn ngữ thế giới: 'Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ - Võ Nguyên Giáp.'

Cuối cùng, ta có một lời khuyên chân thành với các người. Hãy mau mau tu tỉnh, tuy muộn nhưng vẫn còn kịp, sống cho trung thực, cho có đạo lý, để xứng với người dân của đất nước Việt Nam, con Rồng cháu Lạc, đừng làm tay sai, bám đít mãi bọn có chức có quyền nhưng đã mất hết nhân cách hiện nay. Lịch sử sẽ tha thứ cho các người nếu các người chịu 'cải tà quy chính'. Các người hãy lấy sự nghiệp đoàn kết dân tộc làm trọng. Đối với kẻ thù, Đảng ta còn gọi: 'Khép lại quá khứ, nhìn tới tương lai'. Thế mà các người lại tốn bao nhiêu thời gian đi bới móc chuyện cũ nội bộ trong Đảng ra. Ta thực không muốn nói ra những chuyện trên đây. Đọc những lời bịa đặt của Đặng Đình Loan, ta đã nín nhịn, cho đó chỉ là một con chó cắn càn, không cần chấp. Đến hồi ký của Trần Quỳnh ta cũng chẳng cần chấp vì không ngờ nó vô liêm sỉ và trắng trợn đến thế. Thế mà cũng đã từng là Uỷ viên TƯ, đã từng là Phó Thủ tướng. Ta không lên tiếng vì đoan chắc Trần Quỳnh nhất định sẽ bị Bộ Chính trị, hoặc chí ít là Ban Tổ chức TƯ hoặc Bộ Nội vụ sẽ có biện pháp nghiêm khắc với Quỳnh. Bởi rõ ràng Trần Quỳnh đã vi phạm nguyên tắc Đảng, tiết lộ cả những chuyện cơ mật trong BCT, dám xúc phạm đến cả Bác Hồ, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng... Bây giờ lại đến lượt nhà ngươi. Đọc 7 điểm nhà ngươi vu khống anh Văn ta không thể nào ngồi yên được. Nhà ngươi đã buộc ta phải nói lên những điều ta không muốn nói và cũng không nên nói. Nhưng một tội ác không được ngăn chặn thì nó sẽ càng lấn tới. Các cơ quan chức năng không ngăn chặn thì quần chúng phải ngăn chặn. Đó chính là mục đích bài viết của ta. Ta và các bạn hữu Cựu chiến binh của ta chỉ có một mong muốn các ngươi hãy chấm dứt ngay cái trò vu khống đê tiện bỉ ổi này. Hãy để lịch sử và nhân dân phán xét. Còn lúc này, hãy cùng nhau đoàn kết xung quanh Ban Chấp hành TƯ Đảng, đứng đầu là Tổng bí thư Đỗ Mười, tranh thủ thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, đưa công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đến thắng lợi hoàn toàn, tiến tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa, dân giàu nước mạnh, xã công bằng, văn minh.

Chúc sức khỏe.

T.A.

Ai là tác giả bài viết


'Về Tài Liệu Đại Tướng Võ Nguyên Giáp - Anh Văn Của Chúng Ta'?

Vừa qua rất nhiều người trong giới cán bộ lão thành nghỉ hưu đã được đọc một bài viết mang tựa đề 'Về tài liệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp - anh Văn của chúng ta'. Bài viết với nhiều tư liệu đã vén lên bức màn che đậy nhiều chuyện 'thâm cung bí sử' của những vua chúa thời nay đã xảy ra trong các vương triều cộng sản từ hơn nửa thế kỷ qua ở Việt Nam.

Sự hấp dẫn của những tư liệu trong bài viết đã khiến nhiều tờ báo của ngoại quốc và Việt kiều đăng tải lại nguyên văn hoặc trích đoạn. Đặc biệt, khoảng trung tuần tháng 2/1998 đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đã trích đọc nhiều đoạn quan trọng của bản tài liệu này. Do đó, ảnh hưởng vang dội của bản tài liệu đối với thính giả ở trong và ngoài nước càng thêm mạnh mẽ. Nhưng, có một điều mà tất cả mọi người quan tâm đến sự kiện trên đều băn khoăn tự hỏi: người mang bút danh T.A - tác giả thật của bài viết là ai vậy? Sự quan tâm đó là chính đáng bởi nó liên quan đến độ tin cậy của tài liệu.

Xin giới thiệu bài viết của một cựu chiến binh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông không chỉ là người biết tường tận những sự việc đã diễn tiến xung quanh bản tài liệu, mà còn cho chúng ta thấy rộng hơn, sâu hơn một số chi tiết của tài liệu nói trên. Bởi vậy bài viết của ông sẽ giải đáp câu hỏi trên cho bạn đọc. Dưới đây là nguyên văn bài viết đó.

Đọc xong bài viết 'Về tài liệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp - anh Văn của chúng ta' hẳn mọi người đều muốn biết tác giả là ai mà biết tường tận nhiều chuyện cơ mật trong nội bộ giới cầm quyền chóp bu đến như vậy?

Khác với những bài viết nặc danh từ trước đến nay, thường có một cái gì khuất tất, mờ ám và khó tin. Ngược hẳn lại, ở bài viết này tác giả đã gây một ấn tượng thật sửng sốt cho người đọc bởi tính thuyết phục và độ tin cậy rất cao của những tư liệu có một không hai từ trước tới nay ở chốn 'Cung đình'.

Cũng chính vì vậy mà người đọc càng muốn được biết cái người xưng 'TA' trong bài viết đích thực là ai vậy? Xin được bật mí mà nói ngay rằng: Người đó chẳng phải ai xa lạ mà chính là vị Đại tướng lừng danh của hai cuộc kháng chiến, thần tượng của biết bao cựu chiến binh vẫn thường được gọi một cách trìu mến bằng cái tên giản dị là 'Anh Văn' vậỵ Chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng: bản tính của tướng Giáp vốn điềm tĩnh, ôn hòa, thậm chí nhẫn nhục nữa. Từ trước đến nay ông vẫn thường giữ im lặng trước những sự công kích của các đối thủ chính trị của mình. Vậy tại sao lần này ông lại phản kích với một thái độ quyết liệt đến như vậy?

Xin thưa, một người thông minh như tướng Giáp, ông thừa hiểu rằng mọi chiến dịch vu cáo, chụp mũ cho ông từ trước tới nay chẳng những không làm hại được thanh danh của ông, mà ngược lại, chỉ khiến ông càng thêm nổi tiếng. Chẳng hạn, người ta đặt điều nói rằng chính ông mới là người đứng đầu nhóm chống Đảng động trời vào năm 1967. Điều này thật ra ngay những người trong vụ đó như các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hay Trần Thư đều đã cho mọi người biết rằng, đó chỉ là một vụ án tưởng tượng mà tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ dựng lên để thanh toán những người ngoài phe cánh. Như vậy vụ đó nếu có thì phải gọi là vụ án chống tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ. Vậy mà ông Giáp lại được suy tôn làm lãnh tụ tinh thần của nhóm thì rõ ràng thì càng làm ông thêm nổi tiếng. Thử hỏi như vậy ông cần gì phải lên tiếng?

Xét đến cùng, ngay cả 7 điểm chụp mũ để lên án ông trong cái tài liệu gọi là: ''Tâm sự một đảng viên' chẳng qua cũng chỉ là nhai lại những luận điệu mà trước đây Lê Đức Thọ, hiện nay là Trần Quỳnh và Đặng Đình Loan đã từng vu cáo cho ông mà thôi.

Và có lẽ ông cũng chẳng thèm chấp một kẻ nặc danh hèn hạ đến như vậy làm gì! Nếu như cái kẻ đó không sử dụng đến cái ngón võ thâm hiểm mà những người cộng sản vẫn thường dùng để hạ độc thủ đối với những đối thủ chính trị của họ. Ngón võ đó một số những nhân vật trong vụ Nhân văn - Giai phẩm đã từng là nạn nhân. Nên người ta đã hóm hỉnh gọi đó là miếng võ 'Bóp hạ bộ'. Â'y là chuyện vu cáo về mối quan hệ bất chính của ông đối với cô giáo dạy đàn piano Hồng Hạnh, vợ nhà văn Đào Vũ, đã được viết bằng những lời lẽ thật bỉ ổi trong: 'Tâm sự một đảng viên' (trang 12). Xin trích nguyên văn:

'.... Về đời tư (tức là tướng Giáp) đây là con người rất 'trong sạch'. Nhưng đồng chí Chấn, bác sĩ đã từng kể: 'Ông Văn nhờ vợ Đào Vũ dạy piano, nhưng không thấy dạy gì mà lại xơi tái vợ Đào Vũ. Như vậy thì có phải là 'đứng đắn, trong sạch không?'

Thật ra, chuyện ông học nhạc, học đàn hơn 30 năm về trước là có thật. Nhiều người còn biết ông học nhạc lý với nhạc sĩ Tô Vũ và học dương cầm với Hồng Hạnh, và ngay từ hồi đó đã có những tin đồn về mối quan hệ bất chính của ông với Hồng Hạnh. Song chẳng mấy ai tin bởi họ đều biết nguồn gốc của tin đó là do bộ phận 'thả vịt' của ngài Lê Đức Thọ tung ra để bêu xấu ông.

Điều trớ trêu là ngày nay đám hậu duệ của Lê Đức Thọ dám cả gan sử dụng chính cái gã 'chăn vịt' đểu cáng trước kia - mà ông và nhiều người trong vụ án 'xét lại chống Đảng' trong quân đội còn nhớ tên hắn là K.CHI - một cái tên mà chỉ nghe nhắc đến đã đủ làm ông sôi máu. Huống hồ chính hắn lại là kẻ ngang nhiên viết lại trên giấy trắng mực đen những điều cực kỳ bỉ ổi để bôi nhọ thanh danh ông một lần nữa. Thử hỏi làm sao ông có thể dung thứ?

Hơn ai hết, ông vốn cho rằng hủ hóa là điều dị ứng nhất - theo quan điểm về đạo đức của những người cộng sản - mà ông vẫn tự xem mình như một người Cộng sản chân chính. Ngoài ra, trong chuyện này đâu phải chỉ có vấn đề danh dự của riêng ông bị xúc phạm, mà hiển nhiên còn liên quan đến danh dự của gia đình Hồng Hạnh và Đào Vũ.

Bởi vậy chẳng phải ngẫu nhiên trên tạp chí Thế Giới Mới số 274, ra ngày thứ hai 23.02.1998 - chắc rằng có sự vận động tế nhị của ai đó - đã cho đăng bài báo với tựa đề: 'Chuyện người nhạc sinh đại tướng' của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung kể lại câu chuyện học đàn nghiêm túc với cô giáo Hồng Hạnh hơn 30 năm về trước nhằm thanh minh trước dự luận. Chỉ riêng chuyện này đã chứng tỏ ông quan tâm tới vấn đề danh dự đến mức nào! (Xin đăng kèm bài đó ở trang phụ bản để bạn đọc tiện tham khảo).

Và đây chính là lý do khiến ông phản ứng với một thái độ quyết liệt thường không có trong bản tính của ông - một trí thức rất mực điềm tĩnh, thâm trầm và kiềm chế.

Và chúng ta cũng hiểu vì sao 'Vị Đại tướng lừng danh, nhà quân sự lỗi lạc của mọi thời đại 'đã hạ cố cúi nhặt chiếc găng thách đấu của một kẻ vô lại nặc danh, theo đúng luật giang hồ mà ông vốn khinh miệt. Nên ông đã gọi kẻ đó là 'Ngươi' và xưng TA. Đến đây xin trích nguyên văn đoạn cuối cùng trong tài liệu kể trên để các bạn tự mình suy đoán xem 'TA' là ai?

'Đọc những lời bịa đặt của Đặng Đình Loan TA đã nín chịu, cho nó chỉ là một con chó cắn càn, không thèm chấp. Đến hồi ký Trần Quỳnh TA cũng chẳng cần chấp vì không ngờ nó vô liêm sĩ và trắng trợn đến thế. Thế mà cũng đã từng là Uỷ viên Trung ương, đã từng là Phó Thủ tướng. TA không lên tiếng vì đoan chắc Trần Quỳnh nhất định sẽ bị Bộ Chính trị hoặc chí ít Ban Tổ chức Trung ương hoặc Bộ Nội vụ sẽ có biện pháp nghiêm khắc với Trần Quỳnh. Bởi rõ ràng Trần Quỳnh đã vi phạm những nguyên tắc của Đảng, tiết lộ cả những chuyện cơ mật trong Bộ Chính trị (*), dám xúc phạm đến cả Bác Hồ, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng... Bây giờ đến lượt nhà ngươi. Đọc 7 điểm của nhà ngươi vu khống anh Văn. TA không thể nào ngồi yên được. Nhà ngươi buộc TA phải nói lên những điều TA không muốn nói, và cũng không nên nói. Nhưng một tội ác không được ngăn chặn thì nó sẽ càng lấn tới. Các cơ quan chức năng không ngăn chặn thì quần chúng phải ngăn chặn. Đó chính là mục đích bài viết của TA (trang 13 'Về tài liệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp - anh Văn của chúng ta'.

Và cũng chính vì vậy mà chúng ta đã được chứng kiến một trận đấu thật ngoạn mục, theo đúng luật 'ăn miếng trả miếng', một trận thư hùng của hai kỳ phùng địch thủ mà một bên là đích thân tướng Giáp - người anh hùng chống thực dân xâm lược của Điện Biên năm xưa, và một bên là những 'người hùng' tàn bạo, từng chỉ huy đội quân viễn chinh xâm lược từ Căm phu chia trở về, nay nắm trọn quyền hành đất nước.

Tóm lại, những gì mà các đối thủ của ông đã hèn hạ vu cáo để nhục mạ ông, thì ông đã vạch ra những xấu xa, bỉ ổi đến tột cùng - hoàn toàn có thực trong đời tư của chúng.

Một loạt những vụ scandal về tình ái, về hủ hóa, về cưỡng dâm... về thủ đoạn man trá... đủ loại đã được ông phanh phui trước dư luận. Mở đầu là câu chuyện 'Trung ương Cục cướp vợ của học sinh'. Đó chính là hai ông họ Lê: Lê Duẩn - Lê Đức Thọ, nguyên Bí thư và phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam thời kháng chiến chống Pháp đều đã có vợ con đàng hoàng. Vậy mà vẫn cố tình dùng quyền lực cấp trên để 'chôm' cho bằng được hai cô vợ sắp cưới khá xinh đẹp của hai cán bộ dưới quyền làm 'bà hai' cho các vị. Rồi những cuộc tình sau này của Tổng Bí thư Lê Duẩn mà tiêu biểu là cuộc tình với bác sĩ riêng Hồ Thị Nghĩa - con gái Hồ Viết Thắng. Và kết quả cuộc tình này, vị Tổng Bí thư lừng danh đã tặng cho ngài cựu uỷ viên khét tiếng là tàn bạo trong Cải Cách Ruộng Đất một đứa cháu ngoại.

Tác giả TA cho biết; đây chính là âm mưu thâm độc của Lê Đức Thọ 'yểm' các cụ bằng gái để bịt mồm bịt miệng các cụ, mặc sức cho mình lộng hành. Xin lưu ý bạn đọc từ 'các cụ' mà tác giả dùng trong bài viết đắt giá của mình với hàm ý: ngoài Lê Duẩn còn nhiều cụ khác mà vì tế nhị ông không muốn nói ra.

Đọc đến đấy chắc hẳn nhiều vị cách mạng lão thành đã vỡ lẽ vì sao có những cán bộ lãnh đạo ở ngôi thứ cao hơn Lê Đức Thọ trong Bộ Chính trị vẫn không dám trái ý ông ta nửa lời. Xin đơn cử trường hợp của cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng chẳng hạn. Vì sao một vị thủ tướng khả kính đến như vậy lại tổng kết cuộc đời làm thủ tướng của mình đầy chua chát như sau:

'Tôi là vị thủ tướng lâu nhất thế giới mà cũng khổ nhất thế giới. Là thủ tướng thật, nhưng tôi chẳng có quyền hành gì hết. Các thứ trưởng, bộ trưởng trong chính phủ - tôi đâu có quyền lựa chọn...'

Thật ra, về việc này nhiều cán bộ cấp cao trong thủ tướng phủ khi đó đều biết rõ như sau:

Lê Đức Thọ biết Thủ tướng Phạm Văn Đồng rơi vào tình trạng khủng hoảng cao độ trong đời sống tình cảm riêng tự Do bà Cúc - phu nhân của thủ tướng hoàn toàn mất trí vì bệnh tâm thần. Vờ tỏ ra thông cảm - sau khi gợi ý thủ tướng cần được chăm sóc chu đáo về sức khỏe cũng như tinh thần để cân bằng lại đời sống tình cảm, có vậy mới phục vụ tốt cho cách mạng! - chính Lê Đức Thọ đã bật đèn xanh cho nguyên thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp giới thiệu cho thủ tướng một nữ diễn viên văn công khá xinh đẹp đã nghỉ hưu tên là Trúc được đặc cách là người trực tiếp phục vụ và 'săn sóc sức khỏe' cho thủ tướng. Và, thế là việc phải xảy ra đã xảy ra theo đúng kịch bản của ông 'trưởng ban Tổ chức thiên tài'. Lê Đức Thọ chỉ còn việc cho tay chân lén lút ghi lại cuộc tình mùi mẫn của vị thủ tướng tình cảm và người phục vụ xinh đẹp của ông bằng âm thanh và hình ảnh!....

Đến đây, hẳn chúng ta đã hiểu vì sao vị thủ tướng tội nghiệp đã không dám trái lệnh ông trưởng Ban tổ chức Trung ương đầy quyền uy đến nửa lời.

Rồi đến chuyện những vụ hủ hóa của tân Tổng Bí thư - tướng bao sao Lê Khả Phiêu - từ khi còn là Chính uỷ Quân đoàn 2 năm 1974. Chẳng những đã không bị đào thải bởi 'kỷ luật sắt' trong Đảng, mà còn được thăng tiến lên bậc thang cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Rồi chuyện ngài nguyên Chủ tịch nước 'Thái Thượng Hoàng' Lê Đức Anh - vốn xuất thân là một tên cai phu đồn điền chuyên nghề đàn áp, bóc lột công nhân tàn nhẫn, nhưng lại khai man lý lịch là 'thành phần công nhân'. Chuyện vào đảng của Lê Đức Anh lại càng mờ ám. Đến nay vẫn chưa tìm ra người giới thiệu 'Thái Thượng Hoàng' vào Đảng (?!). Vậy mà, cùng với Lê Khả Phiêu khi đến gây sức ép với Tổng Bí thư Đỗ Mười về vấn đề nhân sự chủ chốt của Đại hội 8 đã vỗ ngực đe nẹt: 'Đảng là chúng ta cả thôi mà'.

Rồi vụ cưỡng hiếp cô Xuân ở 66 Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội của cố Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc Hoàn.

Và ấn tượng nhất vẫn là cái chết trong tư thế 'thượng mã phong' ở ngay trên bụng một nữ Uỷ viên Trung ương Đảng xinh gái Trần Thị Trung Chiến của ngài cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đáng kính! v.v.....

Đọc xong bài viết đấy tính chiến đấu của ông, hầu hết mọi người đều bàng hoàng, sửng sốt. Bởi họ không thể ngờ giới cầm quyền cộng sản chóp bu từ mấy chục năm qua ở trên đất nước này lại man trá, trắng trợn, nham hiểm và tha hóa tột cùng về đạo đức đến như vậy. Cho nên, cũng thật chí lý khi ông đưa ra nhận xét về giới cầm quyền hiện nay rằng: 'Cho đến thời điểm này, bọn chúng đã hiện nguyên hình thành những băng nhóm Maphia cực kỳ nguy hiểm'.

Sau hết, chúng ta thấy chiến dịch vu cáo những người trung thực có công lao trong hai cuộc kháng chiến, đứng đầu là tướng Giáp, nhằm mục đích đen tối của giới đương quyền đã hoàn toàn phá sản. Bởi lẽ những kẻ chủ mưu vốn thừa xảo quyệt, nhưng lại thiếu thông minh để hiểu ra rằng, khi mở một chiến dịch như vậy, chúng đã sa vào cái 'thung lũng chết Điện Biên' do chính chúng tạo ra. Và chính sai lầm chết người này đã tạo điều kiện cho tướng Giáp cùng với các chiến hữu cựu chiến binh trung kiên của ông thừa cơ phản pháo không thương tiếc vào những cái đầu đen tối của chúng. Và cuối cùng, điều mà giới cầm quyền sợ nhất đã xảy ra. ấy là chính tướng Giáp chứ không phải ai khác đã chôn vùi uy tín của chúng. Cũng như ông đã chôn vùi biết bao tướng ta nổi tiếng của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ hơn 40 năm về trước.

Đến đây, hẳn là các cựu chiến binh trung thực của hai cuộc kháng chiến đều hởi lòng, hởi dạ khi thấy anh Văn thần tượng của họ ở tuổi 87 vẫn còn làm nên một 'Điện Biên Phủ thứ hai' lừng lẫy đời đời!

Bắc Hà

Cựu chiến binh

 




Hết

BT


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address