DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,482,717

Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần

Tuesday, January 24, 201212:00 AM(View: 31490)
Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần
Họa sĩ Nguyễn Đình Thuần



Phỏng vấn họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, về “Ảnh hưởng của trường Cao đẳng Mỹ thuật trong 20 năm nghệ thuật miền Nam.”

 

blank


LNĐ: Nói tới sinh hoạt của 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam, từ 1955 tới 1975, chúng tôi nghĩ, ta không thể không nói tới vai trò hay, ảnh hưởng của các trường Cao đẳng Mỹ thuật ở thời điểm đó.

Vì thế, chúng tôi đã có cuộc nói chuyện với họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, tốt nghiệp khóa 14 (1974) trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Ông hiện đang cự ngụ tại miền nam tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Trân trọng kính mời quý bạn đọc, theo dõi cuộc nói chuyện của chúng tôi.

 

 

-Du Tử Lê (DTL): Thưa anh Nguyễn Đình Thuần, nếu không kể trường Mỹ Thuật Đông Dương thành lập tại Hà Nội năm 1925 bởi một họa sĩ người Pháp, tên Victor Tardieu thì, sự thành hình của những trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, ở miền Nam ra đời trong những hoàn cảnh và thời điểm nào? Học trình bao nhiêu năm?

 

-Nguyễn Đình Thuần (NĐT): Thưa anh, như tôi biết, sau khi đất nước bị chia đôi bởi Hiệp định Genève năm 1954 thì Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật (QG / CĐMT) được thành lập tại tỉnh Gia Định, thuộc miền Nam tự do. Vài năm sau, trường QG / CĐMT Huế cũng được thành lập. Đó là năm 1957. Trường này được đặt trực thuộc Viện Đại học Huế. Về sau, trườngCĐMT Huế lại tách rời Viện Đại học Huế để trực thuộc Nha Mỹ thuật – Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa. Đây là 2 trường Cao đẳng Mỹ thuật của miền nam VN thời trước tháng 4-1975; với học trình kéo dài 4 năm.

 

- DTL: Để được theo học một trong 2 trường QG / CĐMT như anh mới cho biết, sinh viên có phải trải qua một kỳ thi văn hóa nào không? Nếu có thì điều kiện văn hóa đòi hỏi trước khi được nhận cho thi tuyển là gì?


NĐT: Theo cuốn Kỷ Yếu của trường CĐMT Huế thì chúng ta có thể tóm tắt một số điều lệ liên quan tới điều kiện thi tuyển như sau:

a- Giai đoạn từ 1957 tới 1970:

Muốn được nhận đơn thi tuyển vào trường CĐMT, thí sinh phải có bằng Trung học Đệ nhất cấp, hoặc chứng chỉ tương đương. (Chứng chỉ đã học hết lớp Đệ Tứ.)

b- Giai đoạn từ 1970 đến 1975:

Căn cứ theo Nghị định số 273 / QVK/ VH / NĐ đề ngày 3 tháng 8 năm 1971 về việc tổ chức các trường cao đẳng Mỹ thuật thì: Để được thi nhập học năm thứ nhất, thí sinh phải có văn bằng Tú tài một, hoặc chứng chỉ tương đương, kèm theo Học Bạ lớp 11 hay lớp 12.

Về tuổi tác, Nam thí sinh phải hạn tuổi từ 18 tuổi (tính đến ngày 31 tháng 12 của năm nhập học,) trở xuống.


DTL: Xin anh cho một ví dụ?


NĐT: Tôi thí dụ Niên khóa 1974-1975, trường chỉ thu nhận đơn của những thí sinh nào có năm sinh từ 1956 trở xuống. Hạn tuổi này do Bộ Quốc Phòng ấn định. Ngoài ra, nam thí sinh còn phải có:

- Giấy chứng chỉ hợp lệ tình trạng quân dịch. 

- Giấy thỏa thuận cho phép của phụ huynh, nếu thí sinh dưới 21 tuổi.

Vẫn theo nghị định tôi vừa kể trên thì các trường CĐMT Huế và Saigon còn được mở thêm CĐMT Cấp 2. Học trình kéo dài 3 năm. Tổng cộng học trình là 7 năm cho cả hai cấp. Chương trình CĐMT cấp 2 bắt đầu có từ niên khóa 1970 -1971.

Đồng thời, trường CĐMT cũng mở thêm ngành Sư phạm Mỹ Thuật Trung cấp và Cao cấp nữa.


DTL: Mục đích của ngành sư phạm mỹ thuật là gì? Ai được phép ghi tên học?


NĐT: Thưa anh, mục đích cung cấp giáo sư Hội Họa cho các trường trung học. Để có thể tham dự những khóa Sư phạm Hội Họa này, học viên phải là các Họa sĩ tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật.


DTL: Với những điều kiện thi tuyển như anh kể, mỗi khóa của các trường CĐMT có nhiều sinh viên không anh?



blank















NĐT: Theo lời kể của họa sĩ Nguyễn Thị Thịnh, người tốt nghiệp thủ khoa khóa 1 CĐMT Gia Định thì, trung bình trường CĐMT Gia Định tuyển khoảng từ 20 tới 30 sinh viên. Riêng trường CĐMT Huế là trường mà tôi theo học khóa 14, ra trường năm 1974 thì, tương đối ít hơn. Do đó, căn cứ vào cuốn Kỷ Yếu của trường, tôi thấy số sinh viên ra trường không nhiều!

Tôi xin đưa một ví dụ như khóa 1 của trường CĐMT Huế, chỉ có 9 người. Khóa 2, có được 13 người, v.v… Ở đây, tôi cũng xin mở một dấu ngoặc rằng khóa 2 CĐMT Huế, chỉ có 1 sinh viên theo học ban Điêu khắc, đó là cố điêu khắc gia Mai Chửng.


DTL: Trải qua 20 năm, thời gian học của các trường CĐMT của chúng ta có thay đổi gì không anh?


NĐT: Thưa anh không. Căn bản vẫn là 4 năm như tôi đã nói. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ cũng nên thêm rằng, riêng giai đoạn từ 1957 tới 1970, sinh viên phải học qua lớp Dự Bị trước khi thi tuyển chính thức vào năm thứ nhất. Tuy nhiên, những sinh viên theo học lớp dự bị không chính thức (chỉ dự thính) cũng được phép thi vào năm thứ nhất. Tất nhiên, những sinh viên này ít có hy vọng thi đậu vì không nắm vững căn bản kỹ thuật!

Ví dụ trong các bài thi vào năm thứ nhất, có bài thi vẽ Khỏa Thân. Bài thi này có hệ số 10. Bỏi thế, nếu không biết cách đo đạc tỷ lệ về Anatomie thì rất khó được điểm cao. Tóm lại thưa anh, chương trình học chính thức khi ấy, chỉ còn có 3 năm mà thôi. Nhưng sau năm 1970 thì chương trình học không còn lớp dự bị nữa mà, vào năm thứ nhất ngay.


DTL: Với bốn năm học chính thức, chương trình được chia ra làm sao, thưa anh?


NĐT: Thưa anh, chúng tôi phải học khá nhiều môn khác nhau. Kể ra và nếu đi vào chi tiết thì rất dài dòng. Tôi chỉ xin tóm lược học trình đó như sau:

A - Về phương diện chuyên môn:

- Năm Thứ I và năm thứ II: Học Hội họa, Điêu khắc (vẽ khỏa thân là chính), Khảo cổ họa, Tốc họa, Thủy mặc, Cơ thể học, Phối cảnh học, Trang trí Tổng quát, Trang trí Nội ốc.

- Từ năm thứ II đến năm thứ IV có thêm môn Kiến trúc. 

B- Về phương diện văn hóa:

Về phương diện văn hóa, ngay từ đầu khóa học, sinh viên phải chọn lấy cho mình một trong hai sinh ngữ chính là Anh văn hoặc Pháp văn. Kế tiếp chương trình học văn hóa của từng năm, được phân chia như sau:

-Năm thứ I: Gồm những môn như Triết học đại cương, Sử Việt Nam và thế giới, Đại cương văn minh Việt Nam. Riêng môn Lịch sử Mỹ thuật thì năm nào cũng có trong chương trình học của chúng tôi. Nói cách khác là kéo dài từ năm thứ I tới năm thứ IV. 

-Năm thứ II: Sinh viên bắt đầu được học môn Thẩm mỹ học. Môn học này cũng kéo dài tới hết năm thứ IV. Đồng thời, chúng tôi cũng bắt đầu được học môn Văn học Nghệ thuật VN và, môn này cũng được dạy cho tới hết năm thứ IV.

- Qua năm thứ III: Sinh viên được chọn ban (chuyên môn.) Trường CĐMT có tất cả 4 ban là: Điêu khắc, Sơn dầu, Sơn mài, và Lụa.


DTL: Ban nào ít sinh viên theo học nhất thưa anh?


NĐT: Đó là ban Điêu khắc.


DTL: Còn ban được sinh viên chọn nhiều nhất?


NĐT: Là ban Sơn dầu.


DTL: Như vậy, phải chăng ở hai năm chót, sinh viên chỉ tập chú vào về ngành hay ban mà mình đã chọn?


NĐT: Vâng. Đúng vậy. Ở hai năm cuối, chúng tôi thực tập sáng tác theo thể loại mà mình đã chọn. Thí dụ, tôi chọn học ban Sơn dầu thì tôi chỉ học chuyên về tranh sơn dầu mà thôi


DTL: Có sinh viên nào bị loại khi đang học nửa chừng?


NĐT: Như tôi biết thì không thưa anh. Tuy nhiên, đôi khi cũng có một hai sinh viên xin nghỉ học vì lý do đau ốm, hoặc tới hạn tuổi phải thi hành quân dịch…


DTL: Còn lúc thi ra trường thì sao? Tôi muốn hỏi có ai bị đánh rớt?


NĐT: Cũng có chứ anh. Có người rớt vì lý do hạnh kiểm. Có người rớt vì học lực kém. Nghĩa là số anh em đó không có đủ điểm trong các học kỳ.


DTL: Họ có thể xin học lại?


NĐT: Thưa có. Nếu sinh viên ấy vẫn còn trong tình trạng hợp lệ quân dịch.


DTL: Thưa anh Nguyễn Đình Thuần, khi chúng ta gọi trường Cao Đẳng Mỹ Thuật thì, tôi có thể hiểu là chúng ta cũng có trường …Trung đẳng hay Trung cấp Mỹ thuật?



blank
















NĐT: Đúng vậy thưa anh. Miền Nam của chúng ta cũng có trường Trung Cấp Mỹ Thuật. Tôi thí dụ như trường Trung Cấp Mỹ Thuật Gia Định. Theo tác phẩm “Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” của tác giả Huỳnh Hữu Ủy thì trường Trung Cấp Mỹ Thuật Gia Định được thành lập từ năm 1913. Trường này cũng còn được gọi là trường Mỹ Thuật Trang Trí Gia Định. (1)

Vẫn theo tác giả Huỳnh Hữu Ủy trong tác phẩm vừa kể thì, thoạt tiên, trường đó có tên là Trường Nghệ Thuật Bản Xứ Gia Định (École d’Art Indigènes de Gia Định). Cứ sau mỗi lần cải tổ, tên trường lại thay đổi. Trường lần lượt có những tên khác như trường Hình Họa Chạm Khắc và Đồ Họa (École de Dessins et de Gravures.) Rồi trường Nghệ Thuật Thực Hành (École d’ Arts Appliqués). Và sau cùng thì trường mang tên là trường Nghệ Thuật Trang Trí và Đồ Họa Gia Định (École d’Arts Decoratif et de Gravures de Gia Định). 


DTL: Nhân tiện, nếu được, xin anh cho biết số năm học và chương trình học, tất nhiên, tổng quát thôi, của trường Trung cấp Mỹ Thuật Gia Định?


NĐT: Vâng thưa anh. Học trình của Trường Mỹ Thuật Trang Trí Gia Định kéo dài 4 năm. Sau khi tốt nghiệp trung cấp, nếu muốn tiếp tục, họ sẽ phải thi để lên Cao Đẳng Mỹ Thuật. Điển hình cho trường hợp này là Điêu khắc gia Dương Văn Hùng. Ông hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County.

Điêu khắc gia Dương Văn Hùng kể rằng, riêng ông, ông chỉ học có 3 năm trung cấp và đã thi đậu vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định.

 

DTL: Ngoài ra, tôi cũng được biết, dường như chúng ta còn có một trường gọi là trường Mỹ nghệ Thực Hành ở Bình Dương, phải không anh?


NĐT: Vâng. Chúng ta có đến hai trường Mỹ Nghệ đầu tiên được thành lập tại miền nam Việt Nam. Đó là trường Mỹ Nghệ Thủ Dầu Một, và trường Mỹ Nghệ Biên Hòa.

Theo cuốn “Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” của Huỳnh Hữu Ủy, cũng như căn cứ theo lời kể của điêu khắc gia Dương Văn Hùng thì năm 1901, trường Mỹ Nghệ ở Thủ Dầu Một được thành lập. Trường chuyên tâm vào việc tạo dựng những đồ trang trí bằng gỗ, như giường, tủ, bàn, ghế…

Ngay khi trường mới mở đã có 40 học viên ghi tên học và làm viêc. Một số ít đã có tay nghề trước đấy. Chương trình học gồm các môn như Gỗ (Ébénisterie), Điêu khắc (Sculture), Khảm xà cừ (Incrustation,) Đúc đồng (Fonderie de Bronze).

Còn trường Mỹ Nghệ Biên Hòa thì ra đời năm 1907. Khởi đầu có khoảng từ 40 đến 50 học viên. Trường đào tạo những nghệ nhân chuyên làm gốm, sứ, theo kỹ thuật và phương pháp giảng dạy cũ của lò Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây, Trung Hoa.


DTL: Nếu tính đến tháng 4-1975, anh có biết hai trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Saigon và Huế, mỗi nơi có được bao nhiêu khóa?


NĐT: Như tôi biết thì Gia Định có 17 khóa. (Riêng khóa 18 thuộc niên khóa 1974-1975, thì chỉ mới bắt đầu.) Huế có 14 khóa (và khóa 15 dang dở…)


DTL: Một cách chủ quan, xin anh cho biết tại sao số sinh viên tốt nghiệp CĐMT thì nhiều mà trở thành họa sĩ thì lại rất ít?


NĐT: Theo tôi thì trường CĐMT là nơi trang bị cho các họa sĩ những kiến thức căn bản về kỹ thuật và lý thuyết, để từ đó họ đi vào sáng tác. Nhưng khi tốt nghiệp rồi, một số không theo đuổi nghề nghiệp, hay phải bỏ cuộc vì nhiều lý do lắm!

Chẳng hạn như không còn đủ điều kiện miễn dịch. Họ phải gia nhập quân đội vì đất nước chiến tranh. Có người gặp hoàn cảnh gia đình không thuận lợi. Có người không còn hay giảm thiểu đam mê hội họa… Riêng phái nữ thì phải lo gia đình, con cái…

Nói chung, những người đó không có đủ thời giờ để ôn tập, chắt lọc, suy nghiệm về ngành nghệ thuật mà họ đã theo đuổi, nên đành buông xuôi.


DTL: Anh có thể cho biết một số tên tuổi họa sĩ tốt nghiệp ở cả hai trường CĐMT Saigon và Huế?



blank
















NĐT: Tôi xin kể một số tên tuổi mà tôi nhớ ra được ngay lúc này. Như họa sĩ Trương Thị Thịnh (tốt nghiệp thủ khoa khóa 1, Saigon 1954-1958). Họa sĩ Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Lâm, Đỗ Quang Em. Họa sĩ Nguyên Khai, học khóa 3, CĐMT Huế, nhưng tốt nghiệp CĐMT Gia Định. Điêu khắc gia Trương Đình Quế cũng vậy. Ông học khóa 1 ở Huế rồi chuyển vào Saigon và tốt nghiệp trường CĐMT Gia Định. Họa sĩ Hồ Hoàng Đài tốt nghiệp khóa 1 Gia Định, sau trở thành giáo sư CĐMT Huế. Các họa sĩ Tôn nữ Liên Tâm, Hồ thị Kim Quỳ đều tốt nghiệp trường CĐMT Gia Định. Tôi cũng chợt nhớ tới cố họa sĩ Hiếu Đệ (Nguyễn Tánh Đệ) tốt nghiệp khóa 1, CĐMT Gia Định…

Về những họa sĩ nổi tiếng, từng tốt nghiệp trường CĐMT Huế thì tôi xin tạm kể có các họa sĩ như họa sĩ Tôn Thất Văn, thủ khoa khóa 1 (1957-1961), họa sĩ Nguyễn Thanh Trí, tốt nghiệp ưu hạng, cũng khóa 1. Họa sĩ Trịnh Cung (Nguyễn văn Liễu) tốt nghiệp khóa 2, cố điêu khắc gia Mai Chửng tốt nghiệp khóa 2 (1961-1962). Họa sĩ Đinh Cường, tốt nghiệp khóa 3 (1962-1963). Họa sĩ Rừng (Nguyễn Tuấn Khanh) tốt nghiệp khóa 4 (1963-1964)….


DTL: Thưa anh, tôi muốn được biết anh nghĩ gì về một vài sinh viên bỏ ngang chương trình học, nhưng họ lại rất nổi tiếng sau này. Thí dụ, họa sĩ Nguyễn Trung. Có người còn cho rằng, có thể chúng ta đã có một Nguyễn Trung khác, nếu ông theo học một cách nghiêm chỉnh, cho tới khi tốt nghiệp!


NĐT: Theo tôi, cũng có vài trường hợp sinh viên đã không thể tiếp tục theo đuổi việc học, vì hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác. Nhưng nếu họ nắm vững được phần nào căn bản về kỹ thuật, cộng thêm khả năng thiên phú và, vẫn theo đuổi việc sáng tác rồi gây được tiếng vang hay nổi tiếng, thì cũng hiếm lắm anh ạ.

Trường hợp họa sĩ Nguyễn Trung, theo tôi là do tài năng hiếm có. Thêm nữa, anh ấy đã đoạt giải thưởng hội họa Quốc Gia trong lúc vẫn còn theo học tại trường CĐMT Gia Định.

Tôi nghĩ có lẽ tôi cũng nên nói thêm rằng, có một điều không thành luật lệ rõ ràng ở trường CĐMT là: Sinh viên đang theo học ở trường không được gửi họa phẩm của mình tham dự trong bất kỳ một cuộc triển lãm nào ngoài công chúng!

Có thể họa sĩ Nguyễn Trung bực bội về điều này, nên sau khi được trao giải thưởng, anh đã bỏ ngang, không tiếp tục việc học nữa? 


DTL: Nhân nói về những họa sĩ bỏ ngang việc học ở các trường CĐMT, tôi muốn hỏi ý kiến của anh về những họa sĩ nổi tiếng, nhưng họ không theo học, không tốt nghiệp một trường CĐMT nào? Tôi thí dụ trường hợp của Cao Bá Minh.


NĐT: Thưa anh theo tôi, đó là những họa sĩ tự học bằng cách tìm hiểu hội họa qua sách vở, qua bạn bè. Họ tự tìm tòi bằng vào niềm đam mê hội họa của họ. Họ nghiên cứu kỹ thuật kèm theo năng khiếu thiên bẩm. Nhưng những người này có thể phải trải nghiệm một thời gian dài hơn, vì kiến thức, chuyên môn không được hệ thống hóa, thiếu phương pháp từ trường ốc. Bù lại, vẫn theo tôi, họ được tự do, không bị ràng buộc bởi những ước lệ của trường ốc trong sáng tác.

Khi nói điều này, cũng là lúc tôi nghĩ tới một số họa sĩ được huấn luyện chính quy ở các trường ốc. Nhưng sáng tác của họ cho thấy, họ chỉ lập lại những gì đã học được. Với những người không may rơi vào trường hợp đó, thì có phải rõ ràng rằng, sự học lại là một rào cản khiến cho họ không thoát ra được?

Trở lại với những họa sĩ nổi tiếng dù không theo học một trường lớp nào, ngoài Cao Bá Minh, hiện cư ngụ tại Orange County, tôi còn biết một số họa sĩ nổi tiếng khác như cố họa sĩ Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn. Như các họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận, hiện ở Huế. Như họa sĩ Lê Thánh Thư, hiện ở Saigon v.v… 


DTL: Một cách thẳng thắn và công bình, theo anh thì đâu là những điểm được của các trường CĐMT?


NĐT: Thưa anh, câu hỏi của anh khiến tôi chợt nhớ tới câu châm ngôn: “Không thầy đố mày làm nên.” Ai cũng phải học cả. Theo tôi, như đã nói lúc nãy, trường là nơi nhằm đào tạo, trang bị cho ta kiến thức. Tôi nghĩ, chúng tôi may mắn có trường để học, tích lũy kiến thức, biết được căn bản để phát triển mọi mặt. Thử nhìn xem thưa anh, nếu không có trường Mỹ Thuật thì nền hội họa Việt Nam đến hôm nay sẽ như thế nào? Những thế hệ đi sau sẽ được đào tạo theo phương pháp nào?

Những họa sĩ tự học, họ chỉ lo vấn đề sáng tác của họ một “cách khác.” Nhưng muốn họ truyền đạt, hướng dẫn cho lớp đi sau thì bằng phương pháp nào? Có được hệ thống hóa không? Và như vậy, chúng ta đã thấy được trường ốc quan trọng như thế nào rồi!


DTL: Hội họa Việt Nam hiện đại là một bộ môn nghệ thuật tương đối trẻ so với một số bộ môn nghệ thuật khác. Nó được hình thành theo cung cách huấn luyện kỹ thuật Tây phương. Do đó, cho ta có thói quen chia trường phái. Tôi thí dụ như trường phái ấn tượng, trừu tượng, siêu thực, lập thể v.v… Câu hỏi của tôi là, anh có thấy sự phân chia đó là hợp lý? Chính xác? Thích ứng với hoàn cảnh thực tế của hội họa Việt Nam?

Không biết câu hỏi của tôi có rõ ràng không, anh Nguyễn Đình Thuần?


NĐT: Câu hỏi của anh rõ lắm. Tôi xin trả lời tóm tắt thế này:

Dựa theo quan điểm học thuật về kỹ thuật của Tây phương, tôi nghĩ có lẽ chúng ta khó tách rời sự phân loại các khuynh hướng hội họa của chúng ta khỏi những trường phái hội họa vốn đã thành hình lâu đời ở phương Tây. Như anh nói, nền hội họa đương đại của chúng ta sinh sau, đẻ muộn nên rất khó phủ nhận rằng chúng ta không bị ảnh hưởng. Vì vậy, sáng tác nào cũng mang hơi hướm của các trường phái ở Tây phương.

Tuy nhiên, họa sĩ Việt Nam thường biểu đạt tâm cảm, rung động của nội tâm Đông phương bằng kỹ thuật của Tây phương. Tôi muốn nói, dù bằng hay, dưới hình thức nào, thì các họa sĩ Việt Nam vẫn diễn đạt tình cảm, sự vật, con người qua tranh của họ một cách trung thực tính chất Việt Nam thưa anh.


DTL: Câu hỏi chót, thưa anh, theo tôi, vì các họa sĩ Việt Nam tự căn bản đã được trang bị kỹ thuật cũng như lý thuyết về hội họa của Tây phương, cho nên, có người cho rằng, các họa sĩ Việt Nam, ít hay nhiều đều bị ảnh hưởng bởi một hay nhiều họa sĩ Tây phương, trải qua từng thời kỳ hay từng giai đoạn sáng tác của mỗi họa sĩ. Cái nhìn riêng của anh về nhận xét này, như thế nào?


NĐT: Thưa anh, như tôi đã trả lời ở câu hỏi trên, tôi vẫn nghĩ không một họa sĩ nào của chúng ta mà không bị ảnh hưởng bởi những họa sĩ, họa phái của tây phương một cách tự nhiên, dọc theo từng thời kỳ sáng tác của họ. Tuy nhiên, sau những giai đoạn này, nếu người họa sĩ có tài năng thực sự, thì họ sẽ tách rời được, khỏi cái cũ để tự tìm cho mình một đường hướng mới mẻ hơn.


DTL: Trong tình thần của câu trả lời vừa xong của anh, tôi xin cầu chúc anh, cũng như các họa sĩ Việt Nam ngoài hay trong nước, tiếp tục tìm được cho mình những đường hướng sáng tác mới mẻ hơn, cho nền hội họa của chúng ta thêm phần rạng rỡ...


NĐT: Cám ơn anh về lời chúc đẹp đẽ ấy.

 

 

Chú thích:

(1) Tác phẩm này do Hội Vaala, California, xuất bản, năm 2008.

 (dutule.com)

Du Tử Lê ghi, thuật.




Trần Khải



Đinh Cường, Nguyễn Đình Thuần: Nét Thơ Mộng Cõi Nhân Gian


Hình 1:

blank










Hai họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, Đinh Cường.

 

Hình 2:

blank











Tranh sẽ triển lãm.



Họ đã từng triển lãm chung với nhau tại nhiều nơi ở Hoa Kỳ trong các năm qua. Như ở California, như ở Houston và một vài nơi khác. Mỗi nơi đều xuất hiện với những bức tranh mới, những khám phá mới về màu sắc, về đường nét, về các hình thể và trong đó là nhưng cảm xúc thâm trầm mới khi tuổi ngày càng lớn. Đặc biệt, họ đi song song nhau, sánh vai nhau, nhưng mỗi người là một họa pháp dị biệt. Lần này, hai họa sĩ Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần sẽ triển lãm tại Paris với những nét vẽ dị biệt, độc đáo của họ.
Theo chương trình, hai họa sĩ sẽ triển lãm tại phòng triển lãm Annam Heritage từ ngày 28-10-2010 cho tới ngày 6-11-2010. Tất cả gồm vài chục tấm tranh sơn dầu. Lần mới nhất họ triển lãm chung với nhau là ở Houston, Texas, theo tôi còn nhớ được. Lúc đó là tháng 1-2008, gọi là nhân dịp xuân về, tại phòng triển lãm Viet Art Gallery.
Cả Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần đều là các họa sĩ nổi tiếng từ trước 1975 của Miền Nam. Cả hai đều có những nét vẽ độc đáo riêng. Trong khi tranh Nguyễn Đình Thuần thường mang
gam màu nguội, với màu xanh da trời chiếm hầu hết không gian, thì tranh Đinh Cường thường mang gam màu ấm, với màu nâu bao phủ hầu hết khung vải bố. blankTrong khi tranh Nguyễn Đình



 


























Thuần thường nhiều nét cong, lượn hơn, thì tranh Đinh Cường thường nhiều đường thẳng. Và điểm chung là hai người vẽ hầu hết là trừu tượng, với cách riêng của mỗi người. Thực sự, ngay cả khi tranh của Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần vẽ những hình tượng chúng ta thường thấy, như thiếu nữ, hoa sen, tháp chuông nhà thờ, đỉnh núi tuyết… chính cách bố cục màu lại đẩy người xem vào một thế giới trừu tượng riêng của mỗi họa sĩ. 
Nếu nhìn về hình thể, tranh Nguyễn Đình Thuần tập trung thường vào trừu tượng, và cũng khi có khi bên cạnh các tảng màu trừu tượng là một nét chân dung thiếu nữ. Đặc biệt, tranh Nguyễn Đình Thuần khi vẽ thiếu nữ, luôn luôn là thiếu nữ nhìn nghiêng, có khi với mái tóc bay dài ra sau và phả vào những khối trừù tượng. Thấy rõ, Nguyễn Đình Thuần dị ứng với đàn ông, hay ít nhất, có vẻ như ông không muốn vẽ đàn ông, và phần nào cũng không muốn vẽ thiếu nữ nhìn thẳng.
Ngược lại, Đinh Cường tuy vẽ trừu tượng nhưng trên tranh vẫn có những hình thể khả nhận, như những góc phố, như các mảng tường nhà thờ và cây thánh giá vươn cao, và khi vẽ thiếu nữ lại thường vẽ ở tư thế thẳng. Một tấm nổi bật của Đinh Cường lần naỳ là tấm tranh thiếu nữ ngồi, tay cầm đàn với phía sau là một dãy phố; thiếu nữ quá mảnh mai và cây đàn lại lớn gấp đôi hay gấp ba lần thiếu nữ, tạo một không khí như mơ, như chỉ hiện hữu qua trí nhớ sương khói.
Theo ghi nhận của nhà phê bình Đặng Phú Phong trong bài "Thế Giới Của Những Hang Động Thạch Nhũ" đăng trên Việt Báo ngày Thứ Bảy 17-3-2007, trích:
"…Phải đến gần cuối thập niên 80 các họa sĩ Việt Nam, trong cũng như ngoài nước mới thật sự mặn mà với hội họa trừu tượng. Nguyễn Đình Thuần là một trong những họa sĩ ở trường họp này. Anh sinh năm 1948 tốt nghiệp Viện Mỹ Thuật Huế năm 1973 và triển lãm tranh cũng trong năm này tại Hội Việt Mỹ Đà Nẵng.



blank






















Sau khoảng 10 năm vẽ theo trường phái siêu thực (surrealism) anh đã chuyển hướng qua trừu tượng vào khoảng gần cuối thập niên 80 rồi sáng tác theo trường phái này cho đến nay và đã tạo dựng cho mình một bút pháp riêng biệt.
Có lần khi xem tranh của Nguyễn Đình Thuần sau khi uống vài ly rượu, tôi chợt nhận ra rằng sự thống khoái của mấy ly rượu cọng với không khí của những bức tranh làm cho tôi thích tranh của anh lạ lùng. Không gian trong tranh bây giờ là không gian của kính vạn hoa luôn luôn biến đổi. Sự sống của những bức tranh như đâm chồi, trổi dậy theo chiều cao, trườn chảy ra theo chiều sâu bằng những vết, mảng màu phi hình dạng sáng, tối, đậm đặc và sung mãn.
Cách xử lý màu của Nguyễn Đình Thuần rất mạnh mẽ, nhưng sự phát tiết ấy được kềm hãm lại để giữ thăng bằng cho không khí bức tranh bằng cái nền thường là màu xanh khi nhạt khi đậm. Những họa sĩ xử dụng màu xanh rất tài tình như Nghiêu Đề với màu xanh ngọc tỏa sáng, Đinh Cường với màu xanh thăm thẳm, miên viễn, Cao Bá Minh với màu xanh mơ mộng của ký ức và Nguyễn Đình Thuần với màu xanh đậm pha sắc xám ửng tím. Ở các họa sĩ non tay thì màu xanh này dễ dàng trở thành màu dơ, nhưng với Nguyễn Đình Thuần nó đã trở thành một màu đặc biệt của riêng anh. Biên độ tương phản giữa nóng là tím và lạnh là xanh được anh làm dịu đi bằng màu xám, đồng thời với sắc độ sáng láng của những màu sắc tình cờ bật lên vừa như riêng rẽ vừa như hòa nhập làm cho người ngắm tranh có cái cảm giác lạc vào khu hang động thạch nhủ có những tia nắng xuyên qua lung linh muôn sắc…"
Trong khi đó, chính họa sĩ Nguyễn Đình Thuần trong một bài viết vào tháng 4-2007 trên Việt Báo đã giới thiệu về họa sĩ Đinh Cường như sau:
"Họa sĩ Đinh Cường sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một, VN, sống ở Huế, Đà Lạt và Sài Gòn cho tới năm 1989. Hiện ông cư ngụ tại Burke, Virginia, Hoa Kỳ.
Ông là học sinh trường Pétrus Ký Sài Gòn, tốt nghiệp Trường Mỹ Thuật Huế năm 1963 và tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Quốc Gia, Sài Gòn năm 1964, từng giảng dạy tại trường Đồng Khánh, và sau đó là Trường Mỹ Thuật Huế. Ông đã 25 lần tổ chức triển lãm độc lập và 21 lần tham dự các cuộc triển lãm tập thể trong suốt thời gian từ năm 1965 tới 2006, từng đoạt huy chương bạc liên tiếp hai năm 1962, 1963 tại Triển Lãm Xuân, Sài Gòn và đoạt giải danh dự của Tòa Đại Sứ Trung Hoa tại Sài Gòn, VN.
Một nhà văn đã nhận định về họa phẩm của họa sĩ Đinh Cường như sau: "Đường bay nghệ thuật của Đinh Cường là đường bay của những cánh chim thơ mộng, và lãng mạn xóc, dằn nắng, gió, hương xa.
Bằng cả tâm cảm, người ta sẽ nhận ra, trong mỗi tác phẩm của Đinh Cường, đều thấp thoáng những cánh chim Hồng, chim Lạc. Cánh chim tha những hạt kinh Việt Nam, thả xuống cánh đồng nghệ thuật; để từ đấy, thắp lên những thân lúa biếc, xanh, lắng, nghiêm hồn dân tộc.
Trên nửa thế kỷ ăn ở toàn thời gian với hội họa, từ trong nước, tới hải ngoại, với những bức tranh từng được trưng bày giữa quảng trường tại hình thế giới, tôi nghĩ, đã đến lúc chúng ta nên nhìn Đinh Cường cùng sáng tác của ông, như một niềm hãnh diện chung - (Và,) do đó, như một thứ tài sản Việt Nam, vậy."
Dự đoán, cuộc triển lãm sắp tới ở Paris của hai họa sĩ cũng sẽ thành công lớn, như những lần trước.
Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần là những người không chỉ mang hồn của màu sắc, đường nét, nhưng ẩn tàng sau các nét đường, các sắc màu... vẫn là những mảnh hồn rất Việt Nam. Họ không chỉ vẽ lên những tấm tranh phả lên sương khói thơ mộng cho cuộc đời, mà bản thân họ ngaỳ đêm vẫn hít thở, vẫn bước đi trong không gian khung vải riêng của họ. Không như thế, họ sẽ không vẽ nổi.
Thực thế, Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần tự thân đã là những khối màu sắc độc đáo. Xin chúc lành cho cuộc triển lãm ở Paris của hai họa sĩ.



BVN-TH
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, April 16, 20217:27 AM(View: 9)
Nhà thơ Xuân Thao, một cây bút trước 75, đã in thơ trên nhiều tạp chí ở miền Nam và đã xuất bản hai tập thơ “Sống Mòn” (1969), “Ngập Ngừng” (2015), hiện thường trú tại Đà Nẵng.
Wednesday, April 14, 20219:16 AM(View: 153)
Tôi yêu những truyện của nhà văn Tô Hoài, tác giả truyện nhi đồng nổi tiếng viết từ hồi tiền chiến như “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký,” “Xóm Giếng Ngày Xưa,” “O Chuột”… Nhưng với tiểu thuyết “Ba Người Khác,”
Saturday, April 10, 20217:39 PM(View: 104)
Hoàng Anh Tuấn (7-5-1932 – 1-9-2006) là nhà thơ ca tụng tình-yêu và nhung nhớ về một Hà-Nội đã bỏ lại và đã đánh mất - ông được thương gọi là 'nhà thơ của Hà-Nội', cùng một số bài về nước Pháp nơi ông từng du học thời trẻ. Ngoài công việc chính về điện ảnh và truyền thông (quản đốc đài phát thanh Đà Lạt),
Tuesday, April 6, 20218:04 AM(View: 136)
Trong giai đoạn thời gian qua, lúc tôi chưa lần diện kiến cùng nhà văn Nguyễn Thị Hàm Anh, thì không phải là tôi chưa hề nghe và đọc tác phẩm của Cô. Hàm Anh đa dạng trên lối viết tạp ký,
Wednesday, March 31, 20216:22 PM(View: 249)
Tôi biết nhà văn Phạm Phú Minh trước khi biết anh là nhà văn Phạm Xuân Đài. Sau cuốn “Hà Nội Trong Mắt Tôi” thì 26 năm sau, tác giả Phạm Xuân Đài mới cho ra mắt tác phẩm thứ hai là “Đi, Đọc và Viết.” Hồi đó, khoảng những năm sau 2000,