DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,422,128

Phạm Quốc Bảo

Tuesday, February 7, 201212:00 AM(View: 34102)
Phạm Quốc Bảo

Phạm Quốc Bảo



phamquocbao

nhà văn Phạm Quốc Bảo



Sinh năm 1943 tại Vĩnh Phúc Yên Bắc Việt. Các bút hiệu khác :Hà Quân, Hà Châu, Việt Linh, Người Quan sát,... Chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Đối Thoại (Văn Khoa 1966). Chủ biên nhật báo Người Việt, California (82-93). Hiện định cư tại Hoa Kỳ

Tác phẩm đã xuất bản :

  • Chiến Tranh Và Tuổi Trẻ Phương Tây (tuyển tập thư,dịch, Hồng Lĩnh, Sàigòn 1969)
  • Năm Dài Tình Yêu (truyện dài,dịch, Hồng Lĩnh 69)
  • Vực Hồng (truyện dài, Thoại Ngọc Hầu, Sàigòn 75)
  • Cùm Đỏ (truyện ký, Người Việt 1984)
  • Cõi Mộng Du (truyện dài, tập 1, Người Việt 1984)
  • Đời Từng Mảnh (tập 2 CMD Người Việt 1985)
  • Dâu Bể (truyện ngắn, Người Việt,1989)
  • Mười Ngày Du Ký (ký WashingtonDC 1987)
  • Gọi Bình Minh (truyện dài, Người Việt ,1989)
  • Người Tại Đông Âu Và Vấn Đề Việt Nam (biên khảo,Hưng Việt 1990)
  • Bây Giờ Nhật Bản Biết Nói Không (dịch,Khai Sáng 1992)
  • Dấu Vết Văn Hóa Việt Trên Đường Bắc Mỹ, tập 1 (biên khào, Việt Hưng 1995)
  • Dấu Vết Văn Hóa Việt Trên Đường Bắc Mỹ, tập 2 (biên khảo, Việt Hưng 1995)


Tri âm

truyện

 


blank

Shadow Man – Philip Saxon



Nhét miếng thẻ vào lại túi áo và như một phản xạ, tôi nói:

“9.2.4.5.3.8.”

“Thank you.”

Từ phòng kiểm soát cách đến cả 400 thước, tiếng trả lời phát ra và truyền qua máy phóng thanh nghe lơ đãng vật vờ. Đồng thời, cánh cửa sắt được điều khiển bằng vô tuyến điện tử tự động mở. Tôi bước ra khỏi cổng xưởng.

Gió ngoài bãi đậu xe ập lên người, tôi nhắm mắt lại để tận hưởng bầu không khí trống thoáng. Dường như những gai ốc đang nổi lên cùng người, tôi hứng trọn một khoái cảm gây gây. Trong khi tai tôi vẫn còn như nghe hàng dẫy máy tiện khổng lồ chạy suốt ngày đêm ầm ầm vẫn rung động cả không gian, nơi đó tôi đã chúi mũi trung bình mỗi ngày tám tiếng đồng hồ và mới rời khỏi cách chừng năm phút đây thôi. Vừa đi, tôi vung mạnh đôi tay, vặn mình trong gió, và cảm giác như mình vừa được hồi sinh.

“Làm sao đấy?”

Tôi quay sang. Cô Jane Bloomfield cũng thợ tiện, đứng cách tôi ba máy. Cô ta hỏi tôi, tay tra chìa khóa mở cửa xe. Nét mặt cô bình thản đến bất động.

“Tôi đang hạnh phúc.”

“Ồ. Chắc anh đã sẵn có chương trình giải trí cuối tuần?”

“Không hẳn.”

“Hay tối nay anh đi dự tiệc?”

“Cũng không.”

Chưa bước vào xe, cô ta nhìn sang tôi, ánh mắt chờ đợi một giải thích. Nụ cười nửa miệng của cô nhẹ nhàng cởi mở như sẵn sàng muốn cảm thông niềm hạnh phúc đó nơi tôi.

Tôi bối rối đáp cho qua:

“À… một thú nào đại khái như vậy.”

Jane nháy mắt tôi một cái, hóm hỉnh mỉm cười:

“Bí mật hả? Mong anh hưởng trọn vẹn. Cuối tuần vui nhá.”

Tôi cũng nháy mắt lại, giơ tay:

“Mong cô cũng thế.”

“Cảm ơn.”

Jane nổ máy, cho xe chồm tới vọt đi.

Tôi nhẩn nha quay kính cửa xe xuống cho thoáng. Tiếng máy nổ vẫn như xa xôi mơ hồ, lẫn trong tiếng rầm rập của dàn máy tiện còn âm hưởng bên tai. Nhìn quanh, công nhân vẫn rải rác ra khỏi cổng đến bãi đậu xe, rồi từng chiếc vội vã lăn bánh bỏ đi.

Tuần trước, một đợt không khí nóng bức tràn tới đây báo hiệu mùa hè đang đến gần. Đứng ngoài bãi còn đỡ, chui vào trong xe chỉ muốn đi ngay để gió lùa vào cho bớt thấy ngột ngạt. Nhất là bây giờ, đúng chiều Thứ Sáu nữa. Chắc chắn bờ biển đang lồng lộng gió. Hay những drive-in theater, những vũ trường, những nhà hàng…

Cho xe rời bãi đậu, tôi gia nhập vào dòng xe cộ cuồn cuộn không dứt trên đường phố. Tiếng máy nổ, tiếng còi thúc giục, những giọng nóng nảy chửi rủa tục tĩu hỗn độn quện vào nhau… nhưng trong lòng tôi vẫn hoàn toàn trống rỗng.

oOo

Về đến nhà, thằng con tôi cũng vừa từ phòng tắm bước ra. Mái tóc nó còn nhẫy nước ép xuống trán hợp với đôi mắt đen nhánh long lanh một niềm thích thú tươi mát.

Nỗi vui tự dưng của trẻ thơ bao giờ cũng nhẹ nhàng xoa dịu mọi bực bội không đâu đã thường quấn quít trong tôi.
Bỗng nhiên muốn nhẩy cẫng lên như nó… nhưng tôi chỉ nói lớn hơn bình thường, khi bước vụt qua mặt con:

“Đợi bố tí.”

Tôi vặn bông sen hết cỡ. Những tia nước phun mạnh xuống đầu cổ, ngực và lưng. Cách đấm bóp kiểu này khiến tôi đê mê sảng khoái. Sau đó, tấm khăn lông miết trên da mặt và toàn thân làm tôi có cảm tưởng thể xác mình hoàn toàn đổi mới.

Mặc quần áo bước ra, tôi rõ rệt đã trút bỏ được tất cả những gì gọi là vẩn đục trong người.

“Xin phép hai bác đi con.”

Đang ngồi ngoài trường kỷ xem ti-vi, nghe tiếng tôi dục, Hòa ngước mắt nhìn. Tôi gật đầu để khẳng định và mỉm miệng cười khuyến khích. Nó đứng dậy, đến gần người bạn ở chung nhà, khoanh tay lí nhí:

“Xin phép bác.”

“Ừ, ngoan lắm. Cháu đi chơi với bố hả?”

Miệng Hòa mở hững hờ nhưng tôi không nghe rõ được tiếng ”vâng” của nó phát ra.

“Còn bác gái dưới bếp, con.”

“Thôi, đủ rồi. Để cháu nó tự nhiên.”

Hòa vẫn đứng yên như chờ đợi ở tôi. Tuy nhiên, đã có lời của anh bạn rồi, tôi không muốn ép thêm nữa.

“Cám ơn bác đi con.”

“Cám ơn bác.”

Hòa nói câu này to nhất nhưng lại thật nhanh, rồi nó chạy biến ra cửa.

“Tôi đi, anh.”

“Vâng. Hai bố con vui nhá.”

“Cám ơn anh.”

Ngồi trong xe, Hòa dè dặt lên tiếng:

“Bố coi record của third quarter chưa?”

“Rồi. Một O ba A và hai B. Tạm được. Nhưng môn P.E. vẫn B. Con thấy thế nào?”

“Hôm chạy, con hụt hơi mà vẫn thua tụi nó.”

Hòa hậm hực ra mặt.

Tôi trấn an:

“Chẳng sao. Nhưng trước khi chạy, con nên chịu khó tập thở, thật sâu thật dài mươi cái như vậy xem sao. Rồi lúc chạy con cố giữ hơi thở thật điều hòa, đừng gấp gáp. Chắc sẽ khá hơn.” “Để con thử…”

Liếc sang thấy Hòa còn băn khoăn, tôi bảo:

“Bố con mình dạo phố trước nhá.” ” Dạ.”

Mắt Hòa đã ánh lên niềm vui thích. Chân tay nó bắt đầu chộn rộn. Cười thầm, tôi cho xe vào đậu trong một khu thương mại người Việt.

Năm giờ chiều Thứ Sáu, lác đác người đi mua sắm. Hai bố con tôi thả bộ, ngắm nghía các gian hàng. Những tiếng Việt lao xao chào hỏi, cười nói.

Tôi mua cho Hòa thêm một bộ quần áo thể thao, với đôi ba-ta mới khác. Hòa chọn cho Thu, em gái nó, một chiếc áo lụa, còn tôi mua thêm chiếc quần jean cho vợ tôi, tất cả để dành kỳ quà tới gửi về Việt Nam.

Từ tiệm này liên miên sang tiệm khác. Hết một khu đó cũng gần 7 giờ. Hòa đòi ăn phở.

Nó thích món tái gầu dòn như mẹ nó trước đây hồi 75 ở Sài Gòn.

Tám rưỡi, bố con tôi trở về nhà. Hòa hoàn toàn thỏa mãn với buổi chiều nay. Nó sửa soạn đi ngủ.

Tôi ngồi lại ngoài phòng khách, mắt xem một phim đang chiếu trong ti-vi, thỉnh thoảng nói vài câu với anh bạn cùng nhà.

Tự nhiên tôi lại rơi vào tình trạng trống rỗng buồn nản. Gọi điện thoại tới hai người bạn: Một đi chơi cả nhà chưa về, một đã đi ”xuê” tại nhà người bạn khác. Tôi có chợt nghĩ đến xoa mà-chược, chắc cũng vui thú anh em được đêm nay.

Nhưng khung cảnh chiếc bàn vuông với những tiếng lách cách của quân bài xem ra không quyến rũ tôi lúc này. Ngồi chết một chỗ, nghịch ngợm với những ”hoa” những ”chim”, chả giải tỏa được nỗi trống rỗng hiện giờ.

Vào phòng, nhìn Hòa ngủ say sưa, tôi lại càng cảm thấy buồn bã hơn nữa. Qua phòng khách, hững hờ chào vợ chồng anh bạn, tôi ra cửa.

Lái xe ngoài đường vắng, vẫn chưa biết mình đến một nơi nào. Bên đường, đèn màu nhấp nháy. Chính giờ này là lúc người ta mới bắt đầu đi giải trí.

Tôi tạt vào một quán bánh Pháp, nhâm nhi ly cà phê Espresso đặc quánh, mắt lơ đãng nhìn ra người lũ lượt diễu bên ngoài, tai nghe tiếng nói chuyện xôn xao quanh mình.

Một giờ ngồi gậm nhấm nỗi cô đơn mỗi lúc một mênh mang thêm, tôi bỏ đi.


oOo


Miên man lái xe vòng vòng, tôi mới chợt thấy là mình đã hết thuốc hút. Tạt qua tiệm Liquor, mua tạm một báo.

Lững thững đi ra, tôi chợt dừng lại nhìn kỹ: Một anh chàng Mỹ trắng râu tóc xồm xoàm, quần áo xốc xếch, trên lưng đeo mấy bao bị cái to cái nhỏ kềnh càng, chẳng biết từ lúc nào anh đã đứng chắn ngay trước cửa ra vào.

Chân vẫn tiếp tục đi, tôi tự nghĩ: Những trò của mấy anh loại này hiện nay xảy ra rẫy đầy khắp nơi trên nước Mỹ. Nhẹ ra thì xin điếu thuốc, nếu được cho lại xin thêm điếu nữa dắt tai để dành. Nặng hơn chút nữa là xin vài đồng bạc đổ xăng độ đường.

Thậm chí hồi tôi còn bán Donuts ở Chicago: Vừa đậu xe, một chú Mỹ đen bé con cầm ống xịt làm một đống sơn trên mặt kính chỗ ngồi lái. Còn loay hoay chưa biết tính sao thì có anh Mỹ khác lơn tơn đi lại, tay cầm giẻ và hộp acétone, hỏi liền:

“Mày có muốn mất đống sơn kia không? Hai mỹ kim. Ô kê?”

Biết làm sao khác được bấy giờ, tôi đành xùy tiền ra.

Lần khác, tôi bán trạm xăng ở Portland. Một thằng Mỹ to lớn dềnh dàng đi tới dí bó hoa héo quắt vào mũi tôi:

“Mày phải mua cái này.”

Tôi hiểu ý nghĩa ”phải mua” ở bộ mặt đe dọa với đôi mắt trợn trắng của hắn. Tự nhiên, máu ba gai lính tráng cũ nổi lên, tôi cung tay tính quại vỡ mặt hắn rồi ra sao thì ra… nhưng hình ảnh Hòa, lúc đó mới 7 tuổi, nét mặt vui tươi hớn hở hiện ra, khiến tôi cố nến giận. Ngó quanh, góc phố tấp nập người qua kẻ lại mà chả một ai thèm chú ý tới tình trạng của tôi, ngoài mấy tên đen khác đứng gần đó đang nhìn tôi cười nhăn nhở trêu ngươi. Xem cái điệu này cảnh sát có tới nơi thì tôi đã mềm xương mà tiền bạc lại bị lột sạch. Bóp bụng, tôi đành móc ra tờ năm mỹ kim đưa cho hắn.

“Chắc cái này mày cũng chả cần nữa, phải không?”

Nói xong, hắn tự động bỏ đi, tay quơ quơ bó hoa héo.

Sau lần đó, tôi thấm thía cái đơn độc của kẻ mất nước sống lang thang nơi xứ người.

Nỗi đơn độc bơ vơ này không giống với nỗi bùi ngùi cô đơn những buổi say rượu bí tỉ vì bạn bè bỏ xác sau các cuộc hành quân hồi 1975 trở về trước.

Và cuộc sống ở đây cứ đẩy tôi bước tới. Chính tôi cũng muốn luôn luôn lăn xả vào công việc mưu sinh túi bụi, hết thành phố này sang quận khác, hết tỉnh nọ sang đến tiểu bang kia để quên đi nỗi đơn độc của mình.

Có phải tôi nuối tiếc dĩ vãng không? Những năm mòn ghế học đường, những gót giầy đế vẹt biết bao nhiêu nơi trong đời lính hành quân khắp chốn? Quá khứ tôi vàng son gì đâu, với cái lon đại úy và hàng trăm đồng bạn thân cận đã ngã gục. Có chăng là hình ảnh quê hương ám ảnh với một niềm chua xót muốn chín cả tâm hồn…

Tất cả chỉ còn hình ảnh tươi mát ngây thơ của Hòa, con tôi, để tôi có một chút riêng tư níu kéo. Chứ ngoài ra, toàn là trạng thái vất vưởng trong nỗi đơn độc giữa xứ người, trống rỗng mênh mang…


oOo


Hình ảnh và tâm tư hiện ra trong chớp mắt. Tôi đã dừng trước anh chàng râu tóc xồm xoàm đeo vác luộm thuộm túi bị kia. Tôi chờ đợi với tư thế sẵn sàng phòng bị. Anh ta đang nhìn tôi, nhưng thấy tôi dừng lại thì lật đật nghiêng mình ép vào bên cửa để nhường chỗ.

Tưởng mình bị cản đường phiền nhiễu gì đây, tôi hơi khựng lại, rồi mới lách mình qua.

“Anh còn nhớ thơ Hài Cú không?”

Hỏi dứt, chẳng đợi trả lời anh ta liền đọc mấy câu bằng Anh ngữ.

Thú thực, tôi chỉ mang máng biết được Hài Cú là một thể thơ đặc biệt của người Nhật thôi chứ cái hay cái đẹp ở chỗ giản dị trong sáng nội dung phong phú chứa đựng tinh thần Zen gì đó thì tôi chưa thưởng thức được. Bây giờ, bất chợt nghe đọc loại thơ này lõng bõng bằng tiếng Anh bên tai, quả tôi chả hiểu được chút nào ý nhị của bài thơ mà anh ta muốn diễn tả. Bước xuống vỉa hè, tôi quay lại. Đôi mắt anh ta đang lóng lánh như thích thú, chờ đợi một lời ngợi khen. Tự nhiên tôi cảm thấy ngượng, gượng cười lã chã:

“Tôi là người Việt.”

“A. Việt Nam… Thơ Nguyễn Du.”

Tôi bắt đầu ngạc nhiên. Cũng không chờ phản ứng, anh ta nhíu mày như cố nhớ:

“Và cây đàn chỉ có một dây thôi. Đàn gì…”

“Đàn bầu. Độc huyền cầm.”

Buột miệng, tôi nói ngay.

“A. Đúng đấy. Duy nhất một dây. Độc đáo lắm.”

Tôi hứng thú thực sự.

“Anh có rảnh không?”

“Không bận bịu gì.”

“Anh có thể đến nhà hàng nào đó chứ?”

“Không.”

Tôi hiểu ngay: Với kinh nghiệm chín năm sống trên xứ sở này, mình còn sai lạc về anh chàng đang đứng trước mặt đây.

“Tha lỗi cho tôi.”

“Chẳng sao.”

Anh ta nở nụ cười hồn nhiên. Tôi nhìn quanh. Có một công viên bên kia đường.

“Chúng ta sang bên kia được chứ?”

“Sẵn sàng.”

Vào lại quán, mua một xách sáu hộp bia cùng vài thứ nhắm như đậu phọng rang với khoai chiên ròn, tôi qua đường… và thấy anh ta đã ngồi ngay ngắn trên tấm vải nhựa đang so lại dây đàn của chiếc Tây ban cầm.

“Không có cây đàn một dây của Việt Nam ở đây. Và tôi biết, tôi cũng không đủ khả năng chơi hay như tôi đã từng được nghe. Tuyệt lắm. Nó réo rắt… âm giai theo từng cách nhấn nặng nhẹ. Người nghệ sĩ phải có trình độ thẩm âm thật chính xác và điệu nghệ vô cùng thuần thục mới lột tả được cái diệu dụng của cây đàn độc đáo đó. Hôm nay, tôi muốn bày tỏ với anh sự khâm phục của tôi đối với những nghệ sĩ Việt Nam đã sáng tạo và sử dụng cây đàn một dây đó.”

Miệng anh ta từ tốn nói, mắt nhắm hờ và tay vẫn lướt những ngón trên năm dây đàn của chiếc Tây ban cầm đang ôm chênh chếch đứng trong lòng. Rồi đột nhiên anh gảy liên tiếp lên dây trầm nhất, ngón trỏ của bàn tay trái lướt nhấn trên suốt bậc cung. Mặc dù loại dây ni-lông pha thép âm vào thùng đàn đều khác với dây và thùng của cây độc huyền, điệu láy không được sâu như Độc huyền cầm nhưng tôi đã nghe mang máng như tiếng cây đàn một dây được bật lên. Mắt anh ta vẫn nhắm hờ. Cặp lông mày nhíu lại. Mấy âm thanh khác thoát ra. Cặp lông mày anh ta càng ngắn lại, nhăn nhúm một nỗi bực dọc. Rồi mấy âm thanh nữa bật tiếp. Anh lắc mạnh đầu bất mãn… và anh xổ toẹt một đường từ trên xuống dưới cả năm dây khiến tôi giật mình.

Trong khi tôi còn ngơ ngác, anh mở một lon bia, ngửa cổ ực trọn. Âm thanh xổ mạnh đột nhiên ngưng ngang. Anh biến sang điệu nhạc của xứ Tây Ban Nha. Một bên gảy một bên nhấn, hai bàn tay anh điêu luyện lướt lên khắp chiều ngang và dọc của năm dây chiếc Tây ban cầm. Âm thanh dồn dập miên man, sôi sục một sức sống cuồng nhiệt, lôi cuốn tâm hồn tôi cuồn cuộn theo.

Đoạn nhạc đó vừa chấm dứt, anh lại bước sang lãnh vực nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi mù tịt, không biết bài bản tên là gì và của ai nữa. Chỉ nghe thấy những âm thanh lúc thánh thót như tâm hồn mình rỏ xuống từng giọt buồn mênh mang gợi nhớ, lúc reo vui nhịp chân sáo của tuổi thơ, khi thì trầm lắng mênh mang tâm sự, khi thì rầm rập bước quân hành, ầm ầm tiếng bom đạn, sát khí tấn công, chém giết, u buồn, chết chóc… rồi vang tiếng kèn chiến thắng khải hoàn, sôi nổi xây dựng và thênh thang bước chân hướng về tương lai.

Đoạn nhạc chót trải rộng ra, âm hưởng kéo dài cho đến nét rung nhẹ cuối cùng lẫn vào tiếng côn trùng của công viên…
Tợp thêm một lon bia nữa, đưa cay một miếng khoai chiên, anh ta lên tiếng:

“Thấy thế nào?”

Cơn xúc động chưa dứt, tôi thổ lộ tâm sự luôn:

“Anh làm tôi nhớ đến cuộc sống hỗn độn vô vị của tôi bây giờ. Tôi luôn luôn bị bực dọc mơ tưởng về quá khứ của mình. Thuở nhỏ ấu thời vô tư lự xứ tôi. Những chốn thâm nghiêm lăng tẩm cung điện ở Huế, đền đài ở Hà Nội. Những hùng vĩ của Trường Sơn. Những bao la của suốt dọc dài biển Đông. Tôi còn nhớ đến thời lính tráng xô bồ chém giết đau thương… nhưng không sao, tôi vẫn vững lòng tin là một ngày nào đó tôi sẽ trở về lại xứ sở của tôi. Đó là mối hy vọng xác quyết trong lòng tôi lúc này.”

Anh ta ha hả cười. Cười rũ rượi. Nước mắt tràn trên má và lấp lánh đọng trên bộ râu xồm xoàm.

“Tôi có gì sái quấy phải không?”

Tôi lo ngại hỏi.

Anh ta lắc đầu, chiêu thêm một ngụm bia:

“Không. Không… Cuộc đời ở đây vô vị. Phải… Hay lắm.”

“Rồi sao?”

“Tôi muốn đề nghị điều này.”

“Nếu không ngoài khả năng tôi.”

“Chắc chắn. Nhưng anh không được chối từ.”

“Đồng ý.”

“Anh phải mua cây đàn này với giá năm đồng!”

Vừa nói, anh ta vừa trao cho tôi cây đàn bằng cả hai tay. Tôi nhìn kỹ cây đàn. Những phần lõm trên cung bậc và mặt thùng đàn nhiều chỗ đã tróc sơn, chứng tỏ đàn được sử dụng thường xuyên và lâu đời. Tôi ái ngại, ngập ngừng lên tiếng:

“Nhưng… tôi không biết chơi đàn.”

“Điều ấy không quan trọng. Anh phải mua với đúng 5 đồng chẵn. Không hơn không kém. Anh mua mấy thứ này bao nhiêu?”

“Tôi chẳng nhớ nữa.”

“Có biên lai đó chứ?”

“Vứt đi rồi.”

Bỏ tôi đứng lóng ngóng, anh ta qua đường, vào tiệm Liquor rồi trở lại:

“Tất cả 4 đồng 75. Anh phải trả thêm 25 xu nữa.”

Như người máy, tôi móc túi đưa 25 xu ra. Anh ta cuốn tấm bạt ni-lông lại cột vào cạnh một túi sách, đeo tất cả lên vai. Trên miệng nở một nụ cười thật tươi tắn và với ánh mắt long lanh thích thú, anh ta nói:

“Cảm ơn anh đã cho tôi một buổi tối cuối tuần thật vui, đầy ý nghĩa. Tạm biệt.”

Bắt tay tôi xong, anh ta bỏ đi.


Phạm Quốc Bảo


Đã vào thu chưa?


tu
ỳ bút


blank

Mùa Thu Thiếu Nữ – Tranh Dương Bích Liên



Đến khi ngồi yên vị trong máy bay Alaska chuyến lên Seattle, tôi mới có thời giờ thong thả nghĩ vẩn vơ.. và tự hỏi: Chuyến đi này do tình cờ hay là từ một dự tính có xếp đặt truớc?

Nhớ lại, tôi thấy rằng chuyến đi này dường như đã bắt đầu được muờng tượng hình thành kể từ khi nghe Hà Quốc Bảo gọi phôn xuống, đâu vào khoảng giữa tháng 8, và báo rằng cuối tháng Chín bạn ta sẽ về hưu, làm việc bán thời gian tại nhà cho những dự án do công ty xây cất tư nhân nhờ hoàn tất tài liệu chuyên môn dùm. Bảo Hà vào Tết nguyên đán vừa qua phải by-pass ba mạch máu, đến giờ coi như sức khoẻ đã gần như hồi phục hoàn toàn và bỏ hút thuốc lá rồi.. Ngay lúc nói chuyện trên phôn, tôi đã nghĩ là trong nhóm thân hữu lâu nay ở duới Nam Cali nàysẽ không một nguời bạn nào khác có thể sắp xếp ngay công việc để mà lên thăm Bảo Hà trước tôi được. Sau đấy một vài tuần, Phạm Kim của bán tuần báo Nguời Việt Tây Bắc cũng tâm sự qua điện thoại là cần tôi lên chia xẻ công việc, nhất là để ” giải toả bớt những tâm tư đang lấn bấn “, Kim thòng một câu đại khái là vậy.. Rồi giữa tháng Chín, Julie, con gái của Kim, gọi xuống lấy chi tiết để mua vé thì tôi đã nhân dịp bàn qua tán lại với Kim rằng tôi sẵn sàng lên và ở lại một tuần nhưng mà Kim có thuận lợi để lái xe cùng với tôi ba tiếng ruỡi vào Tri-cities, đến Richland thăm Bảo Hà độ hai ba ngày gì đo,ù vào thời gian giữa tuần được không? ” Không trở ngại lắm đâu!” Kim nói một cách chưa bao giờ khẳng định truớc như thế.. Nhưng dựa vào thói quen liên lạc giữa hai chúng tôi từ lâu nay, cũng chính nhờ lối trả lời này của Kim, tôi quyết định liền: Đồng ý lên!

Đấy, đại khái những chuyến đi xa của tôi mấy chục năm nay bao giờ cũng gồm hai ba mục đích cho một lần đi như thế, làm như không có nhiều thứ lôi kéo một lúc thì vẫn chẳng đủ sức ‘bẩy’ tôi ra khỏi cái ‘vỏ’ sinh hoạt thuờng nhật!.. Và cứ thế thì chính tôi cũng khó mà phân biệt dứt khoát được là hầu hết những chuyến đi của tôi xưa nay làdo động lực tình cờ hay thuần tuý do nhu cầu công việc thôi thúc.

Thế là cuối tuần đầu tháng Mười tôi lên Seattle, lên một thành phố xưa nay nổi tiếng là có cảnh trí vào thu rực rỡ nhất ở miền tây nước Mỹ.


*


Thu đến

Trong tĩnh mịch đêm trường sao quạnh quẽ
tiếng rì rầm trò chuyện cứ vây quanh
đưa người vào sâu giấc ngủ ấm lành
tự ta biết là gió thu đã dậy

Dậy từ đồng hoang sơ đầy cỏ dại
dậy từ biển xa xanh biếc một mầøu
hay núi cao sừng sững rõi đêm thâu
và châu thổ dạt dào thơm mùa gặt

Dậy từ lòng người bung đôi cánh bạc
xoá tan bóng tối chế ngự đêm trăng
trải mặt trời trên những nẻo miên man
đọng thành vì sao dẫn vào xa lộ

Tai ta nghe tiếng rì rào thổ lộ
dội âm vang nâng giấc ngủ lên cao
trong ấm êm còn hơi se lạnh ráo
quện không gian man mác nỗi u hoài

Ừ ta mộng giữa mơ thu mãi mãi
mặc dòng đời cứ mải miết trôi suôi
rồi mỗi năm ta một lần dừng lại
soi vào gương thấy mình vẫn tinh khôi.

1985
( trích THƠ, HAI MƯƠI NĂM, 2002)



Bài thơ trên tôi sáng tác cũng vào mùa thu trong một dịp lên nhà Phạm Kim ở Seattle này, chỉ có khác là đã cách nay những hai mươi bốn năm rồi. Và hồi ấy, ở vào lớp tuổi bốn mươi, tâm tư tôi mặc dù vẫn còn bị quấn quít nóng hôi hổi cái quá khứ bời bời của những tháng năm lăn lộn trong nuớc, nhưng thời tiết và cảnh sắc thu nơi đây đã là yếu tố ngoại cảnh kích thích tôi cố vươn lên khỏi môi sinh tù túng lúc bấy giờ, bằng những khát khao nhiệt thành tự thân để hướng tới tương lai dự ước đầy sôi nổi. Nghĩa là lúc ấy tôi còn đầy sức lực và nuôi nhiều ước mơ trong ý muốn tái tạo cuộc sống nơi mới định cư …

Còn bây giờ, mấy năm nữa là tôi bước vào tuổi bẩy mươi, trong tiềm thức tôi lại hiện ra một bài ngũ ngôn của Bạch Cư Dị ( 772- 846),


Vấn Hoài thủy:

Tự ta danh lợi khách,
Nhiễu nhiễu tại nhân gian.
Hà sự trường Hoài thủy,
Đông lưu diệc bất nhàn.

Tản Đà đã dịch và cho đăng ở báoNgày Nay số 92 ra ngày mùng 2-tháng1- năm 1938:

Hỏi nước sông Hoài.

Trong vòng danh lợi thương ta,
Cái thân nhăng nhít cho qua với đời.

Việc chi, hỡi nước sông Hoài?

 Cũng không thong thả, miệt mài về đông?(1)

Cách đây cả bốn chục năm, lúc đang tuổi phương cương mà luôn luôn có cảm giác tù túng, bực tức giữa một xã hội đảo điên vào những năm đầu thập niên 1970 ở miền Nam Việt Nam, tôi đã đọc đến bài thơ này và cảm ứng được cái thắc mắc tự hỏi mình, của nguời xưa lẫn của chính tôi, mà diễn ra thành hai cặp lục bát như sau:

Tự ta là khách lợi danh
suốt đời phiền nhiễu giành tranh với người.

Cũng như sông chảy khôn nguôi

bôn chôn chi mãi, hãy lơi nhã nhàn?

*

Trưa thứ ba, mùng 6 tháng Mười – 2009, cũng phải đến bốn giờ chiều Phạm Kim mới rứt ra khỏi công việc, lái xe cùng tôi bon bon đi về phía đông. Xa lộ 90 east mỗi chiều hai ba lằn xe chạy thưa thớt, giữa những thung lũng trùng điệp đồi núi và ngàn thông còn mướt xanh…

Nửa giờ sau, tâm trí Kim làm như đã thoát khỏi hẳn được những bấn bíu giằng níu của công việc làm báo hằng ngày, anh nói rằng một hai tuần nay anh đã nhận được những văn thơ gửi đến bảo rằng thu đã tới rồi. Tiện tay Kim chỉ cho tôi thấy rằng thực tế cảnh vật hiện đang còn hiếm có một cụm lá cây vàng đỏ trong vùng. Nghĩa là khí thu và sương thu thật sự chưa tới đủ để hợp với tia nắng hanh của thu mà bắt buộc lá cây phải đổi màu, từ xanh sang vàng đỏ đồng loạt một lượt, tạo nên sắc màu rực rỡ đặc biệt của thu.

Thế là hai chúng tôi sôi nổi bàn luận: Như vậy là thời kỳ cuối tháng Chín sang đầu tháng Mười mỗi năm đã ăn sâu vào tâm trí của chúng ta thành một cái nếp, để cứ đến giai đoạn này trong năm là trong tâm tưởng ta tự nhắc nhở rằng thu đã tới; nhưng kỳ thật, cảnh sắc ngoài trời hiện cho biết là thu chưa thực sự hiện diện.

Từ ý tưởng ấy, chúng tôi lại lan man phân tích tới ba chủ thể khi bàn về mùa thu: Chẳng hạn như khi ta nói,’ Thu đã về’, thì có nghĩa là cái mùa thu nó làm chủ từ, nó chủ động tới, chủ động hiện diện. Mà mùa thu nguyên chỉ là hình ảnh tượng trưng trong trí nhớ của chúng ta. Xem thế thì mùa thu không thôi, nó chỉ về ý niệm nhưng ý niệm mùa thu ở đây nó chỉ có thể một bước nhẩy vọt biến thành hiện thực sinh động là nhờ vào nhiều hiện tượng như gió heo may se sắt thổi tới, sương đêm dầy đặc, nhiệt độ giảm, nắng hanh vàng ..và lá cây đổi màu từ xanh sang vàng, vàng cam và đỏ, tím.

Còn nói rằng, ‘ Đã vào thu chưa?’ Câu thắc mắc tự hỏi này sẽ có ít nhất là hai cách hiểu: Một là chính cái cảnh vật và thời tiết ngoại giới quanh ta đã có sắc màu của thu hay chưa. Hai là câu này ám chỉ rằng tâm tưởng của chúng ta đang nghĩ về thu mà thôi, chứ chưa chắc gì khung cảnh bên ngoài đã thực sự là thu hoặc mùa thu chưa chắc gì đã hẳn trở về bằng khí hậu đã biến chuyển, bằng cảnh sắc thật tế thể hiện ra lồ lộ trước mắt chúng ta.

Đấy. Khi phân biệt thật chi tiết để tìm hiểu sát đến tận cùng vấn đề, chúng ta mới thấy được rằng sự sâu rộng phong phú tinh tế của ngôn ngữ ta vẫn thường sử dụng hằng ngày, nhưng lại hiếm khi chính chúng ta có dịp thực sự chú ý tới một cách cụ thể…

Tôi lại xin lan man liên tưởng một chút ở đây: Cũng như một tài liệu vừa đuợc phổ biến (2) cho biết riêng loài cây dương lá rung (aspen), một loại cây rừng sống dai, lá đổi ra màu vàng nhạt và mỗi lần gió thu thoảng qua thì tàng lá cây này đu đưa nghe văng vẳng tiếng xào xạc, và như là những cánh tay vẫy reo vui đón thu về. Ngoài hình dáng thơ mộng như vậy, cây dương lá rung này còn rất ích lợi thiết thực cho cỏ và thú hoang trong rừng. Nhưng hiện nay loại dương lá rung đang vì khí hậu biến đổi, nhiệt độ gia tăng và nạn hạn hán mà chết rụi đi hàng loạt ở các khu rừng công viên quốc gia thuộc miền tây Hoa kỳ, nhất là ở các tiểu bang Colorado, Nevada, Arizona, miền bắc và nam California. Trong lòng bỗng xót xa, tôi tửơng tượng đến khi nào trong tương lai mình sẽ không còn được nhìn thấy một cây dương lá rung nào nữa!..

Và tôi tiếp tục nhớ rằng khí hậu toàn cầu hiện nay đang thất thường biến đổi, phần lớn là do hậu quả loài nguời nói chung đã lạm dụng một cách vô trách nhiệm những phát kiến khoa học- kỹ thuật…Nhưng trong khi ấy thì ngược lại, nhờ những tiện nghi của khoa học- kỹ thuật mà con người ngày nay bình thường vẫn có thể sống đến 80, 90 tuổi, hơn hẳn tuổi thọ của tổ tiên ông cha chúng ta truớc đây chỉ ở mức 50, 60 là cùng.. Chúng ta phải biết rõ những mặt ứng dụng lợi hại như thế, để mà nỗ lực tự mình điều chỉnh thái độ sống của chính mình…


*

Vượt qua được rặng núi Rocky Mountains nằm giữa hai khu rừng quốc gia Snoqualmie & Wenatchee National Forest, ngồi trong xe chạy lên đồi xuống đèo và đi trên đường vòng vèo ven sườn núi trùng điệp vĩ đại, dài cả đến gần trăm dặm, hai chúng tôi vẫn cảm thấy nhẹ nhàng thư thái: Chẳng qua là nhờ nhiều yếu tố thuận tiện. Xa lộ hai ba lằn xe chạy mỗi chiều và những chỗ quẹo thông thoáng, không gắt, độ dốc lài và nhất là đúng lúc ít xe chạy trên đường. Cảnh sắc bên ngoài thay đổi thường trực, bắt mắt , không khiến chúng tôi cảm thấy nhàm chán, và nhất là giúp cho Kim dễ thư thả tâm tư, tự anh vượt thoát ra khỏi những bấn bíu của công việc thường ngày tại Seattle, những bận roan ấy hiện càng lúc càng lùi xa đi ở sau lưng chúng tôi. Kim tươi tắn buột miệng hát khe khẽ mấy đoạn của những ca khúc mùa thu có nội dung trong sáng mà chúng tôi đã từng được thưởng thức trong quá khứ [ Tôi đã quyết định không chép mấy đoạn của những ca khúc ấy ra, sợ.. tốn thì giờ của quí vị độc giả. Vì viết đến đây, chính trong thâm tâm tôi đã tự nhủ rằng độc giả nào mà chịu khó đọc đến đoạn này thì chắc là họ đủ thú vị tâm tình mà lẩm nhẩm hát lại mấy đoạn đắc ý của những ca khúc nổi tiếng và quá phổ biến ấy rồi. Tôi mà có chép ra đây thì thật ... quả có hơi vụng! Nhưng vài ông bạn tôi đọc trước được bài này, lại ' kháo': 'Cậu' muốn làm khó người ta sao? Phải biết mớm lời, gợi ý cho nguời đọc chứ! Nghe nói vậy, tôi hơi chột dạ. Thôi thì đành phải chép vài đoạn của mấy ca khúc ấy ra đây. Chẳng hạn như "Em không nghe mùa thu.. Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô"; "Em có nghe, nghe mùa thu tới? Hai chúng ta không còn chung lối... Em có nghe, nghe mùa thu tới, tình ta ngát hương"…và "Ngồi đây chớ vội, tình ơi hãy chờ..để thấy thu phai "…Đây chỉ là vài đoạn lời nhằm mục đích khêu gợi để quí vị độc giả vừa ngâm nga vừa nhớ lại toàn bài lẫn tựa đề và tác giả của các ca khúc này nhá…Và nếu quí vị nào có nhớ lại được thì cũng xin hãy tự khen mình đi là vừa! Bởi vì, thú thật với quí vị, lúc tôi và Kim hứng khởi tranh nhau hát hò thì chúng tôi đã đố khích nhau rồi cứ thế mà nhớ vanh vách, cười ha hả với nhau. Còn bây giờ, đang viết lại đây, xin thú thật là tôi chỉ còn nhớ được vài đoạn lời nêu trên mà thôi!]

Mấy ca khúc tiêu biểu ấy như những nhắc nhớ chúng tôi tới những mẩu kỷ niệm ngồ ngộ mà cả hai chúng tôi đều chia xẻ với nhau tại quân trường Thủ Đức, tại căn cứ Nhà Bè ‘ nước chảy chia hai’ nơi Kim có chừng nửa năm phục vụ…

Chuyển sang xa lộ 82 east, chạy trên đường vằn vèo lên xuống dốc của một vùng toàn đồi trọc, đá lởm chởm hỗn loạn thì Bảo Hà gọi vào phôn tay của Kim, thông báo rằng thế là chỉ còn độ trên dưới hai tiếng đồng hồ nữa sẽ đến nơi, vợ chồng hắn bắt đầu vào bếp chuẩn bị cho món chả cá Thăng Long để khi hai chúng tôi tới là liền ngồi vào tiệc một cách nóng sốt ! Nghe Bảo Hà khuyến khích, bọn tôi hứng khởi cứ thế mà xông xáo tới.. và xông bừa thế nào đi lố đến tận tờ mờ tối thì tới nơi có tấm bảng bên đường đề ” Welcome to Hanford”. Bảo Hà vội vàng can : Tốp ngay đi, quay ngược xe sang chiều bên kia liền, rồi đậu lại bên lề. 15 phút sau tôi sẽ ra đến nơi đón mấy ‘ bố’ !


*

Đấy là địa phận an ninh Hanford Reservation. “.. Richland là thành phố nằm trong địa phận quận hạt Benton, vùng đông nam của tiểu bang Washington ( tiểu bang tây bắc Hoa Kỳ), ở giữa hai dòng sông Yakima và Columbia. Thống kê năm 2000 cho biết dân số thành phố là 38,708 nguời. Vào mùng 1 tháng 4, 2007, theo văn phòng quản trị tài chánh của tiểu bang Washington, dân tại đây lại đã tăng lên đến 45,070. Richland hợp với Pasco và Kennewick thành một vùng đặc biệt gọi là Tri-Cities của tiểu bang Washington, nơi có khu kỹ nghệ nguyên tử Hanford…”, mở đầu trang Richland, Washington state của Wikipedia, the free encyclopedia, đã viết như trên, thì quí vị hiểu ngay là tại sao Bảo Hà phải la lên trong phôn bảo hai chúng tôi dừng và quay đầu xe ngay lại, chờ!..

Và dĩ nhiên là hai chúng tôi đuợc vợ chồng ông bạn Bảo Hà đãi đằng ăn uống hậu hĩ: Tối hôm ấy nhấm nháp chả cá với vang trắng- đỏ, lu xà bù. Sáng sau, bà vợ đi làm từ tờ mờ, Bảo Hà cũng lại dạy sớm sửa soạn công phu cho mỗi đứa một dĩa lớn thịt nguội- xúc xích – giò lụa- phô mát..và hành-dưa chua, ăn sáng với bánh mì nướng ròn. Đương nhiên là chủ nhân cũng một dĩa như thế, chẳng kém ai! Tôi vừa ăn vừa mừng thầm trong bụng: Bạn ta đã trở lại được khẩu phần sáng bình thường, như bất cứ lúc nào ở thời gian truớc đây.

Khi bụng dạ đều.. khá ổn định, Bảo Hà lái xe đưa hai chúng tôi đi thăm thú: ‘Chàng’ vừa cầm tay lái vừa thuyết trình liên tục, hai đứa tôi chỉ việc ngồi phễnh bụng nghe một cách lơ mơ. Nào là Tri-Cities gồm ba thành phố đấy nhưng Richland và Kennewick ở bên này, còn Pasco ở bên kia con sông Columbia. Nào là nguời gốc Việt ta ở vùng này chỉ có khoảng trên một ngàn dân mà có những bốn ngôi chợ (chẳng hạn Columbia Market..) và độ trên dưới mấy mươi tiệm nail – tóc ở ba thành phố , nhưng họ cũng nổi tiếng là khách hàng thường xuyên của cái thú vui – mê cờ bạc tại các casinos do người gốc da đỏ đứng tên chủ trong vùng! Nào là Kennewick thiên về thương mại và kỹ nghệ, Pasco thì nông nghiệp trội hơn cả. Riêng Richland từ thập niên 1940 đã bắt đầu là cái nôi sản xuất – nghiên cứu nguyên tử lực cùng kỹ thuật tân tiến liên hệ, mở đầu bằng Pacific Northwest National Laboratory kể từ năm 1965, rồi công ty năng lượng tây bắc Mỹ ( Energy Northwest Co. gồm nhiều nhà máy năng lượng từ thuỷ điện, sức gió.. đến nhà máy nguyên tử , nơi Bảo Hà đang phục vụ, nhằm cung cấp điện lực cho 5 tiểu bang miền tây bắc Mỹ, như Washington, Idaho, Montana, Oregon..). Tất cả nằm trong khu vực riêng biệt gọi là Hanford Reservation, với tổng cộng một ngàn chuyên viên tiến sĩ đủ loại, đủ hạng và đủ mọi chủng tộc khác nhau.

Cứ thế mà ba chúng tôi ngồi trên xe đi từ khu thương mại này đến mấy vùng nhà ở mới xây thêm quá tiện nghi kia, lang thang chơi ngoài công viên ngã ba sông Columbia giữa lòng thành phố Richland rồi đến nếm rượu tại mấy vườn nho bạt ngàn sản xuất rượu nổi tiếng nằm trong vùng sa mạc của thung lũng Columbia…

*

Cho đến mấy ngày sau, đã về lại dưới Little Sàigòn rồi, trong lòng còn vuơng vấn lâng lâng cái bầu không khí chơi vơi sắp sửa vào thu của Richland, tôi vẫn nhớ tới thơ Bạch Cư Dị của gần 12 thế kỷ trước, một bài thơ dẫn tôi vào thu ở trước mặt mình:

Thu san.

Cửu bệnh khoáng tâm thửơng.
Kim triêu nhất đăng san.
San thu vạn vật lãnh
Xứng ngã thanh luy nhan.
Bạch thạch ngọa khả trẫm.
Thanh la hành khả phan.
Ý trung như hữu đắc,
Tận nhật bất dục hoàn.
Nhân sinh vô kỷ hà,
Như ký thiên địa gian.
Tâm hữu thiên tải ưu.
Thân vô nhất nhật nhàn.
Hà thời giải trần võng,
Thử địa lai yểm quan.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã dịch đăng ở báo Ngày Nay số 126 (4-9-1938):

Núi mùa thu.

Ốm lâu, nằm mãi buồn sao!
Sáng nay ta mới lên cao hỡi lòng.

Màu thu, mây núi lạnh lùng,

Thanh hao nét mặt, ưa cùng ta đây.

Nằm gối đá, đi vịn dây

Dây xanh đá trắng đẹp thay cảnh tình!

Thú vui trong dạ một mình,

Thâu ngày quên tưởng cái hình về đâu.

Người ta sống được bao lâu,
Ở trong trời đất cùng nhau tạm thời.

Mối lo mang lấy nghìn đời,

Một ngày chẳng được hơi rồi tấm thân.

Bao giờ giũ sạch bụi trần?

Lại đây đóng cửa vui phần núi non. (
1)

Còn tôi , năm 1967, đọc được bài thơ Thu San (truớc khi lục ra bài dịch của Tản Đà) thì cũng nổi hứng diễn thơ theo tâm tình của mình bây giờ:

Núi thu.

Ốm lâu đâm ngại ra ngoài,
dịp may ta quyết sáng ngày dạo chơi.

Cảnh thu mây núi lạnh ngời

xanh gầy chẳng khác thân người ta đây.

Cần nằm, đầu gối đá cây.

Cần đi, tay vịn chắc dây leo rừng.

Lòng ta thích thú vô cùng,

suốt ngày vui quá mà không muốn về.

Đời người thoáng chốc rồi đi,
sống là tạm gửi thân kia đất trời

Thế mà lo nghĩ bời bời

cái thân không một ngày ngơi, nhã nhàn.

Bao giờ thoát được lưới trần

về đây đóng cửa riêng phần thảnh thơi./.


Phạm Quốc Bảo.


(1) Mục đích đăng lại bài dịch của Tản Đà ở đây là để chúng ta thấy rằng Việt ngữ là một sinh ngữ, nó có thể biến thái sinh động theo thời đại, vì tiến bộ và vì khác môi sinh: Cùng đọc một bài thơ xưa, nhưng cách nhau 8, 9 chục năm thì cảm nhận và ngôn ngữ diễn đạt của hai tác giả đã có thể khác nhau rồi.

xem vào chi tiết ở bài viết ” Golden fall treasure plundered” của Nicholas Riccardi, đăng trong nhật báo L.A. Times, chủ nhật 18 tháng Mười. 2009.


BVN-TH
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, November 28, 20209:46 AM(View: 93)
Tháng Mười Một, 2011, tôi in tập truyện dài “Đi Mỹ,” do nhà xuất bản Văn Mới phát hành. Trong dự định, tôi mời được nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà thơ Thành Tôn, nhạc sĩ Nhật Ngân
Thursday, November 19, 202010:18 AM(View: 121)
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh lìa đời khi mới hơn 50 tuổi, nhưng sẽ sống mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam với danh nghĩa mà làng báo đặt cho ông trong ngày 'đám tang toàn quốc trong làng báo ba miền' của ông: "ông tổ làng báo Việt Nam."
Sunday, November 15, 20208:35 AM(View: 287)
Tôi nhấn mạnh pê-đanh chiếc xe đạp cà tàng, cố đạp xe lên dốc cầu Trương Minh Giảng. Buổi trưa, đoạn đường này rất đông đúc người xe
Thursday, November 12, 20209:02 AM(View: 207)
(h. TDN) Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Lan sinh trưởng ở Huế, hiện sinh sống tại California. Đã từng cộng tác với Tuổi Hoa, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Làng Văn, Quán Văn.
Saturday, November 7, 20207:44 AM(View: 209)
Tên thật Cao Đình Vưu, sinh năm 1939 tại Nam Định. Dạy học, làm thơ từ năm 1963, thơ đăng trên các tạp chí Văn (bài đầu đăng là Chỗ Ngồi của Nhà Giáo Thời Chiến), Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Đất Nước, Thái Độ. ... Trước 1975, chưa xuất-bản