DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,418,911

Câu Nam Ai Thất Lạc - Hồ Minh Dũng

Friday, February 24, 201212:00 AM(View: 5288)
Câu Nam Ai Thất Lạc - Hồ Minh Dũng

Câu Nam Ai Thất Lạc



Đêm nội thành một mình em xõa tóc


Thương câu nam ai thất lạc bên đường


 


Thiều Dung và Thiều Hoa là hai chị em sinh đôi. Khi mới sinh, bà mụ gọi là hai hạt ngọc.


Ông Bửu Bình phải thuê người chèo thuyền lên tận đầu nguồn sông Bồ tìm cho được cây lồ ô già có sinh chín cây con (hoặc còn măng) mọc chung quanh về đan nôi cho con.


Lớn lên cả hai chị em đều xinh đẹp lạ thường.


Thiều Hoa có đôi mắt nhìn vào ai thì người đó phải bồn chồn, lo lắng như mình sắp bước vào đường lao đao. Các chàng thanh niên yếu bóng vía chỉ nhìn đôi mắt ấy một lần vội vã về nhà trùm chăn mơ tưởng tới, có khi cả mấy ngày không cần ăn. Còn Thiều Dung có mái tóc khác đời, nếu nàng đi một mình trên vệ cỏ ven sông Hương thì mây phủ trên dòng sông đó đều kéo dồn về phía nàng. Nơi có mái tóc chập chùng ảo ảnh.


Các cụ nhà nho thấy hai cô gái nhà tôn thất, nói với nhau:


- Tổ chim sinh một lần hai chim phượng quý, là điềm sắp đến ngày suy.


Mẹ nghe được câu đó, ghi lòng, chờ đến khi hai con tóc chớm ngang vai, cho trang hoàng hoa lá chiếc thuyền, ban đêm chở lên điện Hòn Chén cúng gửi cho nữ thần và múc nước khúc sông đó cho hai cô tắm gội trừ quỷ tà xâm nhập vào châu thân. Người nam chèo thuyền thấy được hai cô lúc tắm, về đến nhà nổi cơn sốt nằm liệt mấy ngày, người ta gọi là bệnh tương tư cấp tính. Một thanh niên khác nhà gần sông, trèo cây cao nhìn trộm, chân tay bủn rủn rớt xuống đất, may nhờ có lá vàng rụng trải dày phía dưới mà không hề gì. Đó là thời hai cô gái mới lớn, nhan sắc chưa đến hồi phát tiết toàn bích.


Khi hai cô ngồi bên nhau thì trời đất tụ lại thành một khối tinh anh muôn sợi nghìn nhánh vấn vít vào đời. Khi tách ra, tự mỗi cô là một cù lao vời vợi, mặt trời, mặt trăng, ngàn sao chỉ mọc, lặn ở đó.


Mẹ hai cô tên Ánh Thiều, quê ở làng Xuân Ổ thuộc huyện Phú Vang. Cả mấy trăm năm nhà Nguyễn, xứ nầy không ai được tuyển vào cung, nhờ thế mà dân tình yên vui trong những gì họ có. Đến khi Ánh Thiều sinh ra vì đẹp quá nên phải gửi cho bà ngoại ở làng Dương Nỗ nuôi, để tránh cái họa “một ngày dựa mạn thuyền rồng...”.


Từ khi có bé về, đội đua ghe làng phát triển. Bé càng lớn lên, tay đua càng khí thế. Lúa ngoài đồng năm nào cũng chĩu hạt. Cam quýt trong vườn không một trái sâu.


Về sau, ông Bửu Bình trong những buổi nhàn cư thường về cầm chầu cho đội ghe nầy. Nghe có người đẹp ẩn thân, tiếng trống ông vang lên rộn ràng như thúc quân khởi nghĩa. Hết đua, ông ngồi giữa sân đình làng đánh trống, tiếng trống vang như sấm rền, làm cho chim chóc không dám đến đậu chung quanh. Người hoàng phái, chẳng ai phàn nàn ông. Mỗi khi ông đến, đều có thắp nhang, cúng hoa quả trong đình như lời cầu xin trước với đấng thiêng liêng. Nhang ông thuộc loại quý dùng để thắp trong lăng miếu thơm bay phảng phất cả làng. Ông cũng không nói đụng đến ai. Có ông, mọi người đều vui. Đường làng, trường xuân hoa mọc đầy. Màu hồng thắm của hoa làm cho những buổi chiều tà bớt vàng vọt.


Đêm đêm ông trải chiếu dưới mái hiên đình uống rượu, rôm rả ngâm thơ, kể chuyện đời. Người già, con nít kéo đến vui vẻ với ông cho đến khuya. Các cụ già khoái ông vì có rượu ngon, đồ nhắm toàn là thịt bồ câu non nướng, tôm chua kẹp thịt heo cỏ Giạ Lê luộc, cá hấp sông Truồi đang lúc có trứng, chiều nào cũng có người từ Dinh ruổi ngựa mang về còn nóng hổi. Bọn trẻ không biết uống rượu thì nghe ông kể chuyện, chuyện ông kể toàn là trên trời dưới đất, nhưng đoạn kết lúc nào cũng vui, lạ, thấm. Ngoài kể chuyện, chúng còn được nhìn thấy nơi chiếc áo ông mặc in nhiều hình lạ, chuồn chuồn, bướm, mây bay và chi chít hình thạch nhũ treo. Ở ông, một con người gần với vua, thái tử hay hoàng tử mà dễ gì chúng thấy được. Ông rất tốt bụng, tôn trọng người già, thương yêu trẻ thơ, có khi gắp thức ăn đút cho các cụ già, trẻ con. Các cụ nhai lâu vì không còn răng, các em nhai lâu vì tiếc không chịu nuốt. Thấy hai thế hệ đều cơ cực, hồ hởi với miếng ăn cõi phàm, ông rơm rớm nước mắt.


Khi hết người đến, ông mới chịu gối lên mấy quyển sách thánh hiền ngủ. Còn một người cuộc vui vẫn chưa tàn.


Đến mùa đông, ông khăn gói lên. Mùa xuân, chờ nắng ấm lại về, như chim én.


Khi vắng ông, người ta không quét rác nơi chỗ ông nằm, cứ để thế cho gió lùa bay. Thằng mõ cùng đinh của làng đeo toòng teng chiếc mõ tre bụi bặm lảng vảng quanh chỗ ấy cũng không dám đuổi đàn ruồi hay xua lũ kiến đi.


Bỗng một năm, mùa xuân qua lâu không thấy ông trở lại. Vắng ông, không biết tai vạ từ đâu đổ lên đầu dân làng, mùa màng có trồng không có gặt, cây cối trong vườn và đường cái ủ rũ, buồn tênh. Đội ghe không có tiếng trống chầu, thua luôn mấy trận. Cây đa đầu làng chỉ một ngọn gió nhẹ lướt qua đã gẫy mất mấy nhánh to. Đám táo quân dưới gốc cây ấy chim chóc ỉa lên đầu trắng xóa. Trâu bò ra đến cổng làng cong đuôi chạy, lũ mục đồng đuổi theo nửa buổi mới ngồi được lên lưng. Gà nổi lên gáy trưa inh ỏi. Đình làng vắng hoe, hương khói ngày mỗi thưa. Cú đứng nóc đình gào lên từng cơn. Con hói chảy qua phía trước dâng nước lên cao, cóc nhái kêu vang.


Các vị bô lão trong làng họp nhau cố tìm nguyên do. Người nầy nói:


- Mạch đất làng ta xưa nay không có gái đẹp. Nay có, sinh họa chăng?


Người kia nói:


- Đàn bà đẹp như tiên như thánh, đi đến đâu ma quỷ lánh xa. Ngày xưa nhờ bắt được các nàng thục nữ nước Chàm dẫn về Thăng Long mà nhà Trần yên mấy chục năm liền. Tinh hoa các cô ấy còn xóa được uất khí loạn luân trong hoàng cung.


Lý trưởng nói:


- Hay là Bửu tiên sinh, giọt máu vua, bỏ làng ta mà đi?


Lời người chức sắc nói ra coi như kết luận. Họ xúm nhau bàn về vị hảo hán cầm chầu nầy:


- Đúng thế, bất luận giá nào cũng mời ông ấy về.


- Mời về không khó. Khó là cột chân ông ấy lại.


- Phải, tính chuyện cột chân.


- Người cột chân ông ấy không ai làm nổi, ngoài Hoàng Thị Ánh Thiều.


Mọi người thở ra nhẹ nhõm, về nhà. Hôm sau, làng mổ trâu, giết lợn mở tiệc lớn, cái đầu lợn to nhất mang tới nhà bà ngoại Ánh Thiều.


Ánh Thiều trở thành vợ Bửu Bình khó khăn đến thế. Người mai mối là cả làng, đưa dâu cũng cả làng. Sau khi Bửu Bình lập kế lấy được vợ đẹp, hằng tháng ông về thăm lại làng nầy, cúng tiền bạc cho họ làng, thăm hỏi người cao niên, thân mật vỗ vai trẻ con, nhưng thần sắc ông như lạc lõng vào chốn hoang tàn, chẳng bao giờ cầm chầu cho đội đua ghe nữa. Vợ ông nói:


“Đàn ông cầm chầu vừa tổn thọ, vừa tổn đức. Hai bàn tay con dòng của giống không phải để cầm dùi. Nay có tôi rồi, anh không nên cầm cái gì khác hơn.”


Ông cười, chỉ ngón tay vào ngực vợ:


“Khi xưa, cầm cái dùi là để giục vào lòng nầy. Nhờ tiếng giục động đến trời mà tôi có bà. Cả hai bàn tay tôi nắm chặt cái đang có, không nắm cái khác.”


Lấy nhau hơn ba năm, không có con. Ánh Thiều nói:


- Tuyệt tự là tội nặng, anh nên lấy thêm người vợ lẽ để kiếm mụn con.


Bửu Bình ngơ ngác:


- Biết lấy ai?


- Tôi có người em họ sinh bọc điều. Trên mặt có đến ba đồng tiền, hai ở má, một ở cằm.


- Đàn bà có đồng tiền là tướng quý, nhưng sinh trong bọc điều thì khôn, không nên cưới người quá khôn làm vợ. Người vừa phải ít phản bội nhau.


Bà Ánh Thiều nguýt chồng:


- Thế em hạng người nào?


Ông Bình cười tươi:


- Em dại ngoài đời, khôn trong anh. Người ta thường “khôn nhà dại chợ”, em ngược lại.


- Phải. Ở đời khôn quá thì dễ bị tai họa. Thói đời, ai cũng thích người khác ngù ngờ.


Thời gian sau, Ánh Thiều lại đề nghị:


- Hay là em ra ngoại ô tìm mối cho anh, nghe ở làng Kim thời nào cũng có gái đẹp.


Bửu Bình ngần ngừ chưa quyết thì Ánh Thiều đã mang mấy thoi bạc đi. Gái làng Kim có thói tục thích làm vợ bé người giàu hơn làm vợ chính kẻ nghèo. Chỉ đi một vòng có hơn mười người xin theo, bà Thiều chọn hai, đưa lên xe kéo về cho chồng chọn. Thấy người nào cũng cao to, nõn nà, thắt đáy lưng ong, lông mày rậm, mắt lá răm, da bánh mật, là hạng gái đa tình, dễ sinh con, ông muốn cả hai. Bà Thiều không chịu. Sợ vuột mất cái đã nắm được trong tay, ông nghe theo, lấy một.


Tục làng Kim, đêm tân hôn, cô dâu chú rể phải đem nhau lên một ngọn đồi nhỏ có cây cối rậm, cả hai cùng chỉ vào mặt trăng (nếu không có mặt trăng thì một vì sao lớn nhất) mà đọc lời khấn nguyện “ngọn đèn hoa chúc do trời thắp nầy cả đời không tắt”, rồi trải chiếu, làm việc gieo giống. Ông Bửu Bình không chịu vì dòng họ rồng mây, làm như vậy, nếu sinh con sẽ hóa rắn rết chui vào gia thế. Cơ đồ nhà Nguyễn không khéo lẫn lộn với đám lông đuôi của chúa Trịnh mất. Trên mái nhà lợp ngói lưu ly của ông cũng có trăng sao, cần thì chỉ lên đó. Thế là cô gái khóc đòi về. Cô về, bị bọn hào lý trong làng phạt vạ hai thùng rượu lớn, ba con lợn, một mâm trầu cau vì cái tội trở về tay không. Số tiền ấy gia đình ông Bình chịu hết.


Mùa đông năm đó lụt to, nước thượng nguồn đổ về lên đến kèo nhà, dân làng Kim chạy lên núi không kịp trôi mất tám mạng. Bọn hào lý lại đổ tội cho cô gái làm vợ hụt người khác xứ mang con ma ế về làm hại làng xóm. Chờ khi nước rút, họ nọc cô ra đánh đòn trên bãi đất bờ sông, nơi nhìn qua bên kia điện Hòn Chén, ngày đó cũng lắm người đến lên đồng, nhảy múa chầu văn để xin thánh nữ phù trì che chở. Tiếng khóc của cô gái chao trên mặt sông, có đến trộn vào đám thanh âm đó.


Số người làng Kim kéo đến xem trận đánh không nhiều, họ tin xem đàn bà trần truồng nơi thanh thiên bạch nhật là điều không phải. Đàn bà bị phơi bày ra đã đền tội rồi, cần gì phải đánh bằng đòn gánh củi, than.


Cọc gỗ trói cô gái sau không ai nhổ đi, không ai dám đến gần. Nghe đâu đêm khuya đom đóm tụ về trên vạt đất đó như bè lưỡi lửa và cọc trói cô có phát ra mùi thơm bồ kết và ánh lân tinh.


Mùa lụt năm sau, nước lên, cuốn cọc gỗ trôi ra giữa dòng. Trong làng có chàng đàn ông mạnh khỏe, góa vợ, chạy đuổi theo, nhưng nước lũ trôi nhanh, không tài nào đuổi kịp.


Chuyện ông Bửu Bình cưới vợ lẽ để sinh con nối dòng bất thành còn kéo theo nhiều hậu quả không hay. Ít năm sau, bà Ánh Thiều nghĩ ra kế khác:


- Anh để em về quê một thời gian, chúng ta tạm chia tay, rồi sẽ về làm vợ anh như lúc đầu, biết đâu mình lại có con với nhau. Sự đời xưa nay vẫn thế, lúc đầu tròn vẹn hơn.


Chí lý, ông Bình nghe. Vợ ông về làng Dương Nỗ một tuần, nhớ quá, ông mò về. Hai người đem nhau ra cồn cỏ ngồi dưới gốc vông vang.


Ông nói:


- Xa em, chẳng mấy ngày mà tôi thấy lâu. Đêm năm canh trằn trọc, nghe thằn lằn kêu trên mái nhà, buồn da diết.


Bà nói:


- Mình buồn một, em mười. Đêm khuya nghe tiếng dế kêu ngoài vườn, nước mắt chảy lúc nào không hay.


Rồi họ ân ái với nhau nồng nàn như ngày mới cưới. Lá hoa vông hình trái tim cùng với màu hoa vàng nhạt đang toát ra mùi xạ hương giúp họ chìm đắm. Ánh Thiều nhớ đến cô gái làng Kim, nhìn lên trăng mà xin lời cầu tự. Lâu lắm, ở quê bà mới có được một vầng trăng không mây che.


Bà mang thai, sinh ra hai chị em Thiều Dung, Thiều Hoa, một lần.


*


Hai chị em giống nhau như hai giọt nước. Chỉ khác nhau mái tóc và đôi mắt. Cả hai cô đều ít nói, khi nói ra toàn những lời không thừa. Càng lớn hai cô càng khác đời, từ lúc vào tiểu học đã có người lẽo đẽo dòm ngó. Đến tuổi dậy thì, cha mẹ phải nuôi một người đi theo gìn giữ, canh chừng. Người nầy không ai khác là người đàn ông làng Kim hồi trước chạy đuổi theo cột trên dòng nước lũ, tên Bùi Thìn.


Ngôi nhà hai cô ở không bao giờ được yên. Lúc nào cũng có đủ hạng người, đủ thành phần lai vãng. Ông bảo vệ hai cô buộc phải lên tiếng:


- Bọn ngươi nên ai về nhà nấy. Tao đây hồi xưa, cũng mê sắc, nhưng có mức độ, việc dòm ngó chẳng đem lợi ích chi. Nay mới biết mình làm như thế là ngu. Chỉ cái việc lũ chó trong xóm sủa ầm lên thì ai ngủ nghê gì được.


Có người cãi bướng:


- Ông sướng hơn chúng tôi, được thấy gần. Chúng tôi đây, thấy xa. Xa lúc nào cũng thua gần. Ai ngu chứ chúng tôi đây thì không. Còn cái bọn cẩu kia, chỉ quăng cho vắt cơm có trộn thuốc chuột là xong.


Bùi Thìn bặm môi trợn mắt:


- Không nghe lời tao thì có cái đòn gánh nầy.


Bọn người thấy đòn gánh ở cái thế trảm đao ngang mặt nên giải tán. Đòn gánh ấy là loại tre già lên nước bóng, ông mua lại của người ngày trước dùng để đánh cô gái làng Kim. Ông quý nó như gươm báu, dùng làm vật hộ thân, khi ngủ để sát bên mình.


Về già bà Ánh Thiều càng đẹp trong sự mệt mỏi bơ phờ níu kéo tuổi xuân. Cái đẹp của xế chiều lại lộng lẫy như ráng hoàng hôn. Có hôm chồng đi vắng, bà nói với người bảo vệ con:


- Ông là người hoài công chạy đuổi theo cọc gỗ trói người, thế có biết bây giờ cái cọc ấy ở đâu không?


Bùi Thìn trả lời:


- Có lẽ theo dòng nước trôi về biển đông.


Bà Thiều cười, hai hàm răng còn trắng đều, xinh như hồi con gái:


- Nó ở trong nhà nầy.


Bùi Thìn trố mắt ngạc nhiên:


- Bà không đùa?


- Không. Chồng tôi đẽo làm gối, gối đầu.


Bùi Thìn lặng người, nghe thêm:


- Số là nó tấp vô làng ngoại tôi. Có người vớt lên thấy gỗ cứng định đẽo làm mái dầm đua ghe, chồng tôi biết được gốc tích, mua lại với giá cao.


- Thì ra ông chủ cũng là người đa tình.


Bà Thiều cười:


- Không đa tình thì không lấy được tôi.


Thuận đà, Bùi Thìn hỏi:


- Bà là người đẹp không có tì vết mà tôi thấy được. Hai con bà không bằng, bằng chăng sau nầy có chồng, có con... may ra.


Bà Thiều sung sướng:


- Chồng tôi cũng có lần nói như ông. Có tôi, ông ấy trở thành người ích kỷ, vụng về khi đối phó với nghịch cảnh và sơ hở trong cách giao tiếp, kể cả những người mang nặng lễ giáo trong hoàng tộc. Ông ấy là người đàn ông hoàn hảo, chỉ có cái tội đeo dĩ vãng không chịu buông, mà suốt đời chẳng mấy yên vui. Lúc nào ông cũng nhớ đến người vợ hụt làng Kim. Gối cái gối ấy làm chi cho mỏi cổ. Gỗ vô hồn, có gì mà ôm ấp.


- Đàn ông ai cũng thế, bà câu chấp làm chi.


Xét về mặt nội dung thì Thiều Dung giống mẹ hơn. Cô cũng thích những gì viển vông. Mái tóc cô hằng chải chuốt không mong gì hơn là để cho người đời nhìn thấy. Khi mới lớn, cô đã biết con gái Huế có mái tóc thề thường gây cho lòng người bất an. Tóc không lạ, ai cũng có, từ cổ kim đã có, nhưng tóc nàng nhiều quá, mượt, từng sợi óng ánh, rực rỡ. Gió vi vu thổi vào, tức là làm cho lòng người lay động, cuốn theo.


Còn Thiều Hoa, giống cha, thích đi trên những con đường gập ghềnh. Sự chuyển động làm cho hai cha con thấy hiện diện trên cuộc đời phù du nầy có ý nghĩa. Mặt trời đứng yên một chỗ mà người ta vẫn cho là nó đi, bởi vì người ta thích nó đi hơn đứng một chỗ, cứ vận hành mãi trong cõi vô cùng thì mặt đất bớt phần tiêu điều.


Nhà của họ ở bên hồ trồng sen hái để cúng Phật. Sen bao lần mọc rồi tàn. Nơi nhà nàng ngó lên đền Xã Tắc thấy được cả những con cắc kè bò. Em nói với chị:


- Đền một khi hoang thì loài gì lên đó cũng được, không cứ là người.


Chị:


- Phải rồi, lòng em với chị cũng như đền.


Thiều Hoa bùi ngùi:


- Đền không người đến thì thành hoang. Em thương nhất là mấy cây mù u.


- Màu trắng của hoa đẹp quá em à.


Mùa thu năm Sửu, ông Bửu Bình lâm trọng bệnh. Lúc hấp hối ông chỉ trối lại với vợ con là khi tẩm liệm phải nhớ bỏ vào quan tài cho ông chiếc gối gỗ lúc sống kê đầu. Bà Ánh Thiều túc trực suốt ngày đêm bên cạnh chồng trong những ngày cuối, cố gợi cho ông nên xét lại việc làm không phải mà ông đã từng làm khi còn sống, nhưng không thấy chồng đả động đến, nên coi như ông không vướng mắc điều gì, được thong dong ra đi. Khi sờ hai chân chồng ít còn hơi ấm, bà hỏi:


- Mình đi, có cần gì nữa không?


Tiếng ông như từ cõi xa vọng về:


- Em cho ta xin mang theo vài sợi tóc.


Bà Thiều cầm tay chồng, nấc lên:


- Em sẽ cắt một lọn to gửi theo mình.


Đến khi sắp chia lìa, ông Bình ngỏng cổ cao nhìn quanh, thì thào:


- Chiếc nôi hai con treo ở đâu? Gìn giữ nó sau nầy ru cháu ngoại. Tre lồ ô sinh được chín con là thành quế trầm.


Rồi ông dồn hết sức bình sinh, rướn cong người, gào lên:


- Mở cửa trước ra cho ta đi.


Và ông đi.


Ông Bửu Bình chết không bao lâu thì Bùi Thìn xin nghỉ việc. Bà Thiều hỏi nguyên do, ông nói:


- Ngày còn sống, ông anh không hề nghi tấc lòng tôi, nay ông anh đi rồi, thiên hạ có thể nghi.


- Ông đừng ngại, không có ông ai đón đưa hai cháu đi về?


- Không cần đến tôi nữa, tuổi ấy không cần đến ai giữ gìn.


Biết không cầm chân được, bà Thiều nói:


- Tôi biếu ông một ít tiền để về quê bớt khổ.


Làng Kim với đây không xa, thỉnh thoảng ông nhớ đến thăm mẹ con tôi. Vắng chồng, vắng ông thì ngôi nhà nầy thành miếu.


Bùi Thìn buồn bã:


- Tôi đơn lẻ một đời, chịu đựng quen rồi. Nếu còn chân cứng đá mềm, tôi không quên ngôi nhà nầy. Tiền tôi xin gửi lại, chỉ cho tôi xin cái gối ông anh gối đầu.


Bà Thiều lấy dao rựa chặt đôi cái gối, gói một nửa vào tấm lụa điều đưa cho ông. Nửa còn lại, bà cũng bọc lụa điều, đặt lên bàn thờ chồng. Hôm liệm, bà không cho theo, sợ rằng có gối ấy, linh hồn chồng bị luẩn quẩn, khó siêu thoát. Đó là lần duy nhất trong đời làm vợ, bà không nghe lời chồng. Khi chặt đôi khúc gỗ, những đường vân sáng bừng, cựa quậy, muốn bay lên.


Ngày ông Thìn đi, hai cô gái khóc tiễn ra tận cửa Ngăn, Thiều Dung nói:


- Bác đi, hai cháu sợ gặp điều không may.


Ông Thìn bùi ngùi:


- Không sợ gì, cứ đường đường mà sống. Ngày nào hai cháu lấy chồng, bác về. Vườn nhà bác có nhiều thanh trà, đến mùa chín bác hái mang về thăm.


Thiều Hoa nói thêm:


- Nay mai hai cháu cũng lên thăm bác thôi.


Từ độ cha chết, không người đưa đón, hai chị em Công Tằng Tôn Nữ đi về một mình. Con đường nào ở nội thành cũng buồn bã, đầy lá vàng rơi.


Cả hai nàng trong tang chế càng đẹp hơn, không ai dám đến gần. Có trên đầu hai mảnh khăn tang, cả hai cô u tịch như tháp cổ.


Người bàng quan qua đường thấy hai cô chặc lưỡi: “Đẹp như trong tranh.” Người đứng trong cửa nhìn ra nói: “Hoa nầy bẻ cắm vào bình thì bình vỡ.” Ngày theo mẹ lên chùa, đại đức nói: “Lần sau nữ tín hữu không nên đem hai con gái theo.” Chủ Nhật hai cô đi dạo phố, có nhạc sĩ tài hoa xứ Huế, ngồi trong quán cà phê, bỏ uống, lên xe xích lô về căn gác nhỏ, đặt nhạc:


...


Chiều một mình qua phố.


Âm thầm nhớ, nhớ tên em


Có khi nắng khuya chưa lên


Mà một loài hoa chợt tím...


Lời ca nầy có một anh chàng sinh viên nắn nót chép lại, gửi qua đường dây bưu điện tặng Thiều Dung, kèm theo dòng chữ: “Tự thân, văn chương không đủ diễn đạt, mượn lời nầy để tặng người”.


Dung đưa cho em xem, em nói:


- Anh chàng nầy liều mạng.


Thiều Dung đùa vui:


- Thế là mình phải đương đầu, có khi cần phải mượn đòn gánh bác Thìn.


Một tháng sau, người gửi thư nầy đến nhà. Anh tên Hoài Khanh, đẹp trai, học giỏi, con nhà gia giáo. Luôn đeo lòng kiêu hãnh về dòng họ nhà mình có công nâng cao lịch sử dân gian lên một nấc. Ông cố anh, không sợ nguy hiểm tính mạng tự nguyện xin nhặt từng rẻo thịt của nữ tướng Bùi Thị Xuân bị Gia Long trả thù. Ông nội anh, trèo lên cây gạo lởm chởm gai, mở dây thòng lọng và dùng hết sức lực để bồng xác Hoàng Diệu xuống, khi thành Hà Nội thất thủ. Đến phiên cha anh, thời bình, cũng nhanh chóng giữ lại được một chàng công tử thất tình nhảy xuống sông An Cựu quyên sinh. Nương theo cơ nghiệp vẻ vang như thế, anh mạnh dạn đến thăm một người mà chưa ai dám đến.


Hoài Khanh dùng lời văn hoa nói với Thiều Dung:


- Tôi là kẻ chiều nào cũng đứng dưới gốc sung để nhìn trộm cô về trên con đò Thừa Phủ và phân biệt rất rõ giữa cô và người khác, ở xa. Khi đò chở cô qua bên kia bờ, tôi mới thấy phía bên nầy, cuộc đời chẳng có nghĩa gì nữa. Nếu cứ như vậy, năm tháng trôi qua, không chừng tôi trở thành kẻ hèn nhát mất. Nên tôi đường đột đến đây, mong cô giúp tôi làm người không hèn nhát.


Thiều Dung nghe không bỏ một lời nào, rồi nói:


- Tôi cũng như những người con gái Huế khác thôi, có gì phiền anh đến thế?


- Thời đại nào sản sinh được một mỹ nhân là cả thiên hạ đều mừng.


- Tôi không dám nhận điều ấy. Có thể là anh cố ý tô bồi thêm.


Hoài Khanh nói:


- Đến thăm cô, không có nghĩa là mong cho mình được tình yêu đáp lại. Nhưng tôi muốn, dù một lần gần để thấy được người đẹp mình thầm nhớ, xem nó động lòng như thế nào, chỉ mong chừng đó thôi.


Đăm chiêu giây lát, Thiều Dung hỏi:


- Giả dụ như tôi có được điều anh vừa nói. Nay thấy rồi, anh về đã yên lòng chưa?


- Yên rồi.


Tình yêu của họ đến với nhau như thế.


*


Hoài Khanh và Thiều Dung yêu nhau. Người bạn thân của Hoài Khanh biết được, nói:


- Người sinh đôi chỉ có một nửa, lênh đênh giữa đời một nửa. Trói người ấy tức là trói một nửa, nửa còn lại làm sao biết dạt trôi về đâu. Hai người sinh đôi ruột nối ruột, tim nối tim, đường nối ấy chạy dài xuyên trong cõi vô hình.


Khi đang yêu, Hoài Khanh thiết gì những lời như thế.


Hoài Khanh cưới được Thiều Dung, hai người đem nhau lên Đà Lạt, trốn xa cái thành phố mà lúc nào cũng có người tiếc rẻ một bóng hồng sa vào chốn cá chậu chim lồng.


Đêm tân hôn, Hoài Khanh vừa hôn lên mái tóc thì Thiều Dung kêu đau, ôm bụng la:


- Anh đem em đi bác sĩ ngay, đau không chịu nổi nữa rồi.


- Có thể là lạ nước. Em uống viên thuốc chống nước độc là êm.


Đưa thuốc cho vợ uống, anh ôm vợ. Thiều Dung lại oằn người lên kêu đau. Sau cùng phải gọi xe xích lô chở đi bác sĩ. Bằng phương pháp hiện đại khám nghiệm cũng không thấy gì. Bộ máy tiêu hóa hoàn chỉnh đang trên đà thuận lợi xay thức ăn. Bác sĩ chỉ cho thuốc an thần.


Về nhà uống thuốc thấy dịu, nhưng mỗi lần Hoài Khanh đụng đến nơi nào trên cơ thể, nàng cũng kêu đau. Mà nàng đau thật.


Sợ chết không gặp mẹ, sáng hôm sau, hai người phải tức tốc ra xe đò về Huế.


Đến nhà, Thiều Dung được mẹ báo cho biết Thiều Hoa mới xuống tóc, vào chùa.


Ngày xưa, vị đại đức khuyên mẹ không nên đem con gái đẹp vào chùa, thì nay chính vị ấy vui vẻ tiếp nhận cô gái nầy khi sa vào bước lỡ lầm. Thiều Hoa quyết tâm đi tu vì bị người tình lường. Cô là một trong nhiều người bị hắn xóa thời vàng son. Không ai xa lạ, chính là họa sĩ dạy vẽ cho cô ở trường trung học. Hắn đã bỏ ra hơn một năm trời để vẽ mấy trăm bức tranh thiếu nữ có tầm cỡ, vóc dáng, màu sắc khác nhau. Nhưng cô nào cũng có đôi mắt tuyệt đối giống Thiều Hoa. Phải công nhận hắn là một thiên tài. Đường vẽ hắn bao trùm mơ ước cấp bách của giới mày râu. Khi đem số tranh ấy ra bán, thiên hạ đến mua nườm nượp đắt hơn tôm tươi. Thiều Hoa yêu và thất thân vì nằm trong sự hâm mộ đó.


Khi thấy Thiều Dung thất thểu về, bà mẹ biết ngay sự việc xẩy ra, hỏi:


- Tuyệt vọng lắm phải không?


- Dạ.


- Mẹ ở đây cũng biết, khi em con xuống tóc thì gốc tóc con cũng không còn gốc dính đầu nữa. Lòng em quặn thắt thì con làm sao yên.


Thiều Dung đau đớn:


- Biết làm sao, hở mẹ?


Người mẹ không biết trả lời làm sao, lòng tan nát. Mấy ngày sau, ông Bùi Thìn nghe tin về thăm, gánh theo hai thúng thanh trà mới chín. Thiều Dung thấy đòn gánh ngày nào ông cầm để canh chừng chị em, nay bụi bặm bám đầy, òa lên khóc.


Trên đường về, ông Bùi Thìn tạt qua chùa thăm Thiều Hoa.


Chiều xuống, mây trên núi kéo về, sương dưới sông đùn lên nhiều quá làm cho ông đi chậm lại. Đến cổng chùa trời tối hẳn, ông chợt nhớ ra cửa thiền không nên cầm đòn gánh vào theo. Bỏ lại ở ngoài chắc chi không có người lấy, ông quay lại về nhà.


Mái chùa, nơi Thiều Hoa nương thân, ở bên con suối nhỏ, hai bên bờ thông già, thông non cùng với bòn bọt, bời lời chen nhau mọc đầy. Dòng suối xuất phát từ một khu rừng thấp tịch lặng quanh năm.


HỒ MINH DŨNG

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address