DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,422,394

Lưu Nguyễn

Sunday, February 26, 201212:00 AM(View: 38189)
Lưu Nguyễn

Lưu Nguyễn


luunguyen


Tên thật Nguyễn Thế Nghiệp sinh ngày 5.8.1947 Quế Sơn Quảng Nam. Tốt nghiệp đại học Sư Phạm Sài Gòn. Cùng Vũ Ngọc Hiến và một số bạn hữu điều hành tạp chí Nắng Mới tại Canada đã nhiều năm (đã đình bản). Cư ngụ tại Canada từ cuối năm 1980. Chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Quebec (1991-1993)

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Tri Âm (thơ Sông Thu 1990)
  • Ngày Qua Rất Vội (thơ Nắng Mới 1993)

rulec.gif (325 bytes)

sao ta bỗng chốc điên cuồng
bỗng say ngây ngất, bỗng buồn rứt ray
xứ người tay vẫn trắng tay
ngày qua ngày lại kéo cày nuôi thân
nuôi cho mập cái si sân
một đời như thể phù vân mây trời

Lưu Nguyễn


(từ VC Luân Hoán)




VÀI NÉT LẠ TRONG THƠ LƯU NGUYỄN

Võ Kỳ Điền






Chiều nay, tôi lại được cái hân hạnh hầu chuyện thơ văn cùng quí vị và quí bạn. Đó là giới thiệu tập thơ Tri Âm của Lưu Nguyễn vừa mới được nhà Sông Thu bên Mỹ xuất bản....Trong niềm sung sướng có chứa nỗi lo âu. Tôi lo vì làm việc quá khó. Tôi nhớ vào thế kỷ thứ sáu, Lưu Hiệp tác giả quyển phê bình văn học đầu tiên của Trung Hoa, quyển Văn Tâm Điêu Long, đã từng ví von - làm thơ khó như chuyện vẽ rồng.


Tại sao khó? Vì rồng là một con vật của trí tưởng tượng, không có thiệt. Vậy làm sao để vẽ cho đúng. Chuyện làm thơ đã khó rồi, việc phê bình thơ lại khó hơn nữa. Phê bình thơ như cầm dao mỗ bụng rồng để coi trái tim của nó. Quí vị thử tưởng tượng coi, tôi phải làm sao đây?


Ngoài cái khó đó ra còn thêm một nỗi nữa, hồi nào tới giờ tôi chưa làm được một câu thơ, nói chi tới một bài. Chưa từng làm thơ mà lại đi nhận định thơ người, có khác nào câu tục ngữ Trung Hoa từng phen đã nói -vị tha nhân, tác giá y thường. Có nghiã là một cô gái già, vì người khác mà may áo cưới. Trong đời cổ có bận áo cưới lần nào đâu, tuy áo may vừa, may đẹp, may khéo, nhưng cái cảm giác sung sướng, bồi hồi, rạo rực của cô dâu bận áo mới súng sính bước lên xe hoa về nhà chồng (ở bên Tàu thời trước, chồng là một người lạ hoắc), làm sao mà cô ta cảm nhận cho được!


Thiệt tình tôi đã làm chuyện tréo cẳng ngổng. Cô dâu Lưu Nguyễn thấy tôi thường khoe dao, khoe kéo, kim chỉ vá may, cầm cáo áo Tri Âm đưa cho nhờ coi khéo hay vụng. Tôi đành nhận lời không dám từ chối vì sợ lộ cái dốt của mình Thôi thì biết bao nhiêu, nói bấy nhiêu để tạ lòng bạn tri âm.
***


Điều làm tôi ngạc nhiên đầu tiên là thơ Lưu Nguyễn phảng phất cái không khí ngày xưa. Cái thời của kẻ sĩ, của nhà nho. Đọc hai câu nầy tôi chợt sững sờ:

Khi im lặng, người với ta là bạn
Bỡi vô ngôn, tự nó đã nhiệm mầu

(Cuộc rong chơi, trg 30)


Cái không khí đời Đường, đời Tống bàng bạc! Thế nào là mối tình cao quí? Tình vua tôi, tình cha con, tình vợ chồng, tình bè bạn... Giữa hai người khi thương mến nhau, diễn tả tình thương bằng ngôn ngữ với thái độ ồn ào, hay ngồi im bên nhau để nghe tiếng lòng của nhau? Người quân tử xưa kia hằng mấy năm không gặp, khi gặp nhau ngồi im lặng bên nhau cả giờ không nói, hoặc nói rất ít. Đức Khổng Tử nhấn mạnh điều đó "quân tử đàm giao, đạm nhược thuỷ" -người quân tử nói chuyện với nhau, lạt như nước lạnh. Vì nước êm ả nhẹ nhàng, không hương, không vị. Ông Đào Tiềm đời Tấn yêu hoa cúc vì hoa cúc màu vàng nhạt không le lói, sặc sở và hương chỉ thoáng nhẹ, hầu như không có.


Người quân tử không ưa hoa lan vì lan là vương giả chi hoa, không ưa mẫu đơn vì mẫu đơn là phú quí chi hoa. Đã là bạn thâm tình thì cần gì phải nói nhiều. Và cái mầu nhiệm cao quí ở chỗ không nói đó. Chữ hay nhứt trong câu thơ là chữ "tự nó"


Lưu Nguyễn cũng bộc lộ nét nghệ sĩ tài hoa trong cái nhìn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên với những cảm xúc của nội tâm đơn thuần. Cảnh thiên nhiên hiện ra với cái vẻ đẹp tự nhiên của nó mà không có một gắng sức sửa đổi nào của thi nhân:


Kìa thu có phải là thu
sao ta cứ ngỡ mây mù cuối đông
rằng như có, rằng như không,
cho ta một chút bềnh bồng lãng quên

(Bềnh Bồng, trang 85)


Đó là đặc tánh của thơ Đường. Cái man mác của khí vị của thơ Đường lãng đãng ở mỗi chữ mỗi câu. Thơ Đường thường nhắc đến ánh trăng. Như trong bài Thiên Thai Tống Biệt lúc Lưu Nguyễn về trần, Tào Đường đã làm hai câu kết như sau:


Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài

(đầu suối bâng khuâng tình cách biệt
Núi xanh rêu biếc ánh trăng đi)


Lưu Nguyễn đời nay cũng nhắc đến ánh trăng:


thu xứ người ngập lá,
kỷ vật chiếc thuyền con,
bàng hoàng như khách lạ,
trăng sáng chiếu đầu non.

(chiếc lá vàng rơi, trang 73)


Lưu Nguyễn nhìn thu quê người, cảm khái thân phận tỵ nạn, chàng đã từng lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ vượt đại dương, rối sống lưu lạc nơi xứ người. Nhưng cái hay ở đây, không phãi là cách làm thơ giống thơ Đường (vì có rất nhiều người cũng làm thơ Đường, mà không hay! )

Tôi muốn nói đến cái khí vị của thơ Đường ở câu "bàng hoàng như khách lạ". Cái hay ở chữ "khách lạ" Người tỵ nạn ở xa quê thì tự nhiên đã là người khách lạ nơi mình cư ngụ. Làm sao là khách quen được khi mình khác màu da, màu tóc, khác tiếng nói, kề cận không người thân thích, ruột rà... Nhưng cuộc sống mới không vui, nên tác giả đâm quên mất không gian, quên mất thời gian, ngay cả tự bản thân cũng quên lững không biết mình là ai nữa. Bất chợt trong một đêm trăng sáng, nhìn thấy được lá vàng rơi ngập lối đi, mới chợt tĩnh ra nhớ lại, mình đã là người khách lạ từ lâu lắm, đang sống xa quê hương nửa vòng trái đất, đâm sảng sốt, bàng hoàng.. Cái cảm giác trống vắng bơ vơ. Toàn cảnh thiên nhiên cũng như trong lòng, chỉ còn trơ ra ánh trăng sáng, lạnh ngắt, trên đầu núi.


Hai chữ khách lạ đã khéo, nhưng chữ ‘như’ lại càng khéo hơn. Nếu không đặt được chữ ‘như’ ở đây thì chữ ‘khách lạ’ trở nên bình thường, đục mờ, lu câm... Lưu Nguyễn đã tìm ra chữ ‘như’ đặt vào đúng chỗ, hai chữ ‘khách lạ’ sáng lên, lấp lánh khiến toàn bài rực rỡ, trong suốt.


Nhưng nghệ thuật của Lưu Nguyễn còn nổi bật hơn trong những đọan thơ với những tiết điệu kỳ lạ. Thơ khác hơn văn xuôi ở chỗ đặt cơ sở trên cảm giác về âm vận, tiết điệu. Cũng thời bao nhiêu chữ, bao nhiêu câu đó, phải lựa chỗ, lựa nơi, thêm chữ nầy, bớt chữ kia, cố sắp xếp làm sao tạo được cái cảm giác bồi hồi cho người đọc. Mỗi chữ, mỗi lời phải xôn xao, nhảy múa, linh động... Từ cái tính chất xao xuyến, chơi vơi đó, nhà thơ dẫn dắt độc giả vào cõi mông lung của cảm giác, chuyện khó như nhảy xuống nước mò trăng.

Vậy mà Lưu Nguyễn có lần làm được. Chúng ta cùng nhau đọc thử đoạn nầy:


vẫn có chút ngập ngừng trong ánh mắt
tay run run rượu sánh đổ tràn ly
trong hạnh phúc giữa đất trời quay quắt
thẹn thùng em khép bờ mi.


muốn là gió len qua vài sợi tóc
nhè nhẹ mơn man phiến má hồng
mỗi bận vui tan em có khóc
hong khô những giọt lệ nồng

(bài thơ cho em, trg 54)


Chúng ta đừng quá chú ý nhiều đến ý nghiã của đoạn thơ, vì chuyện hai người yêu nhau, chuyện khóc lóc, chuyện uống rượu, thi nhân nào cũng thường nói tới. Cái mà chúng ta để ý là tiết điệu của câu thơ.

Đoạn bốn câu trên, ba câu đầu mỗi câu tám chữ, câu cuối sáu. Đoạn dưới câu đầu tám chữ, hai câu kế bảy chữ, và câu cuối cùng sáu chữ. Điều đó nói lên được cái tuyệt diệu của nghệ thuật bỏ lững. Đương nói dài dòng, bỏ lững nửa vời, để tạo cái cảm giác chơi vơi của người đọc, người nghe, là một nghệ thuật rất cao.


Cần gì phải nói nhiều, nói thêm, nửa câu đã đủ ý... Cái phần còn lại để dành cho độc giả tưởng tượng thêm. Cái tưởng tượng bao giờ cũng hay hơn cái có thật, cái chưa có bao giờ cũng hấp dẫn hơn cái đã có. Như vậy cái chữ mình tưởng thiếu đó, tự nó đã đủ và quá hay. Nếu một người mới tham gia vào làng thơ, sẽ rán mà kiếm thêm một chữ nào đó để thêm vô cho đủ. Các bạn thử tưởng tượng mà coi, câu thơ đó sẽ trở thành ra cái gì!


***

Nhưng cái tuyệt vời nhứt của nghệ thuật thi ca là sáng tạo. Sáng tạo ra ý, ra ngôn ngữ, ra vần điệu... Tôi thường để ý thơ hay là thơ thường không nói thẳng vào ý chánh, mà nói quanh co mơ hồ, người nghe vẫn cảm nhận được ý mà thi nhân muốn nói. Điều nầy khá lạ lùng và tuyệt vời lắm. Nếu nói quá một chút thì thơ hay thường là những câu không nghiã hoặc những câu không rõ nghiã, chỉ có âm thanh trầm bổng... Vậy mà người nghe cứ tưởng mình hiểu được cái ý, cái tình mà thi nhân gởi gắm.


Trong đêm từ giả nhà để theo Mã Giám Sinh, Kiều đã nói:

Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy so tơ phiếm nầy.

Câu thơ đọc lên, ai cũng đều hiểu rõ - mai nầy, chẳng may chị có mệnh hệ nào, thì em hãy đốt lò trầm, ôm lấy đàn gảy lại bản nầy là nhớ đến chị

Thử phân tích, ta thấy là lạ ‘dầu có bao giờ’ là sao? Câu nầy không có nghiã gì hết. Chữ ‘mai sau’ và ‘bao giờ’ là hai từ dùng để chỉ thời gian, chữ ‘dầu có’ đứng ở giữa lạc lõng. Đáng lẽ phải nói - mai sau dầu có ra sao, mới đúng. Vì chữ ‘ra sao’ được hiểu là sẽ chết chóc, đổ vỡ, tan nát như thế nào đó. Nhưng nếu viết như vậy thì quá kém. Nhà thơ phải nắm bắt bất cứ chữ nào đó, uốn nắn theo ý mình muốn.


Nguyễn Du thường làm điều nầy, chữ ‘bao giờ’ ở đây có nghiã là ‘ra sao’. Cái thần tình của câu thơ là ở chỗ đó. Thi sĩ sử dụng âm thanh phải như phù thuỷ sử dụng âm binh.

Ta thử đọc:

phương ấy có người lận đận
mấy năm thơ chẳng về nhà.

(Phương Âý Có Người Lận Đận trang 15)

Phương ấy là phương nào ? Chỉ đọc câu trên, ta nghĩ là ở Việt Nam. Phương ấy là ở bên ấy, ở bên kia chớ không phải bên nầy. Nhưng đọc tới câu dưới - mấy năm thư chẳng về nhà, thì ta hiểu ngược lại liền. Phương ấy là khung trời Canada, một nơi xa vắng mà tác giả hiện cư ngụ, vì lận đận nợ áo cơm nơi quê người, nên không viết thư.


Cái chữ ‘ấy’ khiến câu thơ tuyệt vời. Người Trung Hoa gọi những chữ như vậy là nhãn tự. Chữ đó là con mắt, nó khiến cho toàn thể gương mặt sáng long lanh.


Cũng vậy chúng ta ngây ngất khi đọc tới câu:


mai em ở lại trường làm thầy dạy học
mai anh về như thể về không

(Như Thể Về Không, trang 46)

‘Như thể về không’ là như thế nào ? Về không là ra về tay không, không có cái gì hết. Công danh, sự nghiệp, tiền bạc, tình yêu... tất cả đều không. Nhưng tại sao tác giả dùng chữ ‘như thể’" ? Đọc ngang đây, chúng ta hiểu ngược lại - hình như chưa phải là không tất cả. Vậy thì còn có một thứ mơ hồ nhè nhẹ, thoáng mang theo. Ta phải hiểu là nhà thơ không phải ra về tay không đâu. Có một thứ gì lưu luyến đẹp lắm, quấn quít, vương vấn theo mãi đó... Tôi cảm thấy như vậy và tôi tin rằng các bạn đây đều cảm thấy như vậy.

***

Người thi sĩ như con tằm phải biết cách bắt lá dâu xanh biến thành tơ nõn. Chỉ có thi sĩ mới làm được điều đó và chỉ có thi sĩ mà thôi. Tôi đọc hết tập Tri Âm trong niềm cảm xúc chơi vơi, quả thật tôi đã tìm được dáng rồng, tôi cũng chụp bắt được một vài nét lạ.


Phải bao nhiêu năm Lưu Nguyễn mới làm được tập Tri Âm ? Năm năm, mười năm? Có người cho rằng làm thơ như vậy là quá lâu. Tôi thì không lưu ý đến thời gian dài hay ngắn, bao lâu cũng được, miễn là thơ phải hay. Có nhiều thi sĩ nổi tiếng chỉ làm một bài trong đời. Huống chi Lưu Nguyễn có cả một tập thơ. Tôi xin kết luận bằng bài thơ của Giả Đảo đời Đường:


Nhị cú tam niên đắc
Nhất ngâm song lệ lưu
Tri âm như bất thưởng
Qui ngoạ cố sơn thu.


Tạm dịch:

hai câu làm trong ba năm
khi ngâm lên hai dòng lệ chảy
nếu bạn tri âm không khen được
thì ta về nằm lỳ trong núi mùa thu

Thành thật cám ơn quí vị và các bạn.


Võ Kỳ Điền

Lưu Nguyễn và cõi Thiên Thai giữa đời thường

Luân Hoán

 

Những năm lên bốn, lên năm sống tại núi rừng Tiên Phước, tôi rất thích ngày lễ cúng Mùng Năm. Vào những ngày cúng lễ này, má chúng tôi thường ở nhà cả ngày, còn tôi, chị Kim Anh và em Hân thường được đi lang thang để hái đủ mọi thứ lá tùy thích mang về nhà. Đúng vào lúc mặt trời đứng bóng, giữa trưa, một thau nước sạch, được đặt nghiêm chỉnh ngoài sân, một nơi thật thích hợp, thu trọn vẹn ánh nắng chiếu xuống mặt nước trong thau. Sau đó chúng tôi được rửa mặt với nước trong thau này. Dĩ nhiên chỉ rửa ‘làm phép’ cho ‘sáng mắt’ thôi. Thời bấy giờ tôi chưa được biết danh xưng Tết Đoan Ngọ. Một ngày Tết còn được gọi là Tết Đoan Dương, hay Tết Trùng Ngũ, Đoan Ngũ, vốn xuất xứ từ bên nước Trung Hoa. Đó là ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch.


Tuy không biết rõ nguồn gốc và đầy đủ các tên gọi cho một ngày được cúng lễ, nhưng ngày Mùng Năm (tháng năm) vẫn theo tôi đến bây giờ. Tôi đã đọc một vài mẩu chuyện liên quan đến ngày Tết đặc biệt này, như chuyện nhà thơ Khuất Nguyên. Ông thuộc dòng họ Tam Lư, giữ chức Tả Đô nước Sở dưới triều Hoài Vương thời Thất Quốc (307 – 246 trước Tây lịch) bên Tàu. Tuy là người liêm chính và tài giỏi nhưng không được vua tin dùng, ông đã viết nên bài Ly Tao để than oán thân phận. Chưa hết, vào đời vua Tương Vương kế tiếp, ông còn bị bắt đi đày nên lại viết thêm bài Hoài Sa, rồi tự cột đá vào thân thể trầm mình tại sông Mịch La. Cái chết của ông vào ngày mùng năm tháng năm, đã đánh thức sự hối hận của nhà vua. Dân chúng được phép cúng tế ông, lễ vật được thả xuống dòng sông rất cung kính. Cùng với chuyện Khuất Nguyên, một câu chuyện phổ biến dân giả hơn là chuyện Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai.


Chuyện này khá giản dị nhưng rất thơ mộng. Vào một ngày Tết Đoan Ngọ. Hai người bạn Nguyễn Triệu và Lưu Thần đã rủ nhau đi vào núi Thiên Thai để hái lá làm thuốc. Trên đường đi hai ông Triệu và Thần đã gặp được các nàng tiên. Say mê cảnh trí cùng nhan sắc, hai ông phó thường dân đã kết duyên cùng hai nàng tiên. Tuy nhiên cuộc sống hạnh phúc thanh nhàn đã không giúp hai ông giàu diễm phúc quên được nếp nhà cũ, con đường xưa, nên xin phép vợ hồi hương thăm viếng. Rất đáng tiếc, khi trở về đến quê hương thì cảnh cũ đã đổi thay. Chán nản hai ông tìm về với vợ. Chuyện kể tiếp, hai ông không được gặp lại những người vợ tiên nữ nữa, và mất hút vĩnh viễn trong rừng. Nhưng theo tôi nghĩ, có thể hai ông đã được toại ý và đang chung sống rất hạnh với gia đình riêng của mình ở chốn có tên gọi bồng lai tiên cảnh. Câu chuyện thật hay này sống trong trí nhớ tôi một thời gian dài, rồi bỗng lắng chìm đâu mất. Cho mãi đến năm 1985, tôi chợt nhớ khi không ăn lễ cúng mùng năm như thường lệ, mà khi gặp một người bạn mới, trẻ tuổi hơn mình tại Montréal Canada.


 Người bạn mới của tôi là một nhà thơ, một nhà sinh hoạt xã hội năng động và đang tạo được thanh danh trong cộng đồng người Việt tại thành phố Montréal. Có lẽ không riêng gì tôi, khi được giới thiệu danh xưng Lưu Nguyễn, thì đa số nhớ đến chuyện Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai. Nhạc sĩ Văn Cao, nhạc sĩ Phạm Duy đã từng mang câu chuyện lý thú này vào trong nhạc qua vài ca khúc để đời. Ngày đầu tiên tôi gặp Lưu Nguyễn của thế kỷ 20, do nhà thơ Phạm Nhuận giới thiệu trong một quán ăn để mừng sau một buổi ra mắt sách một bạn văn nào đó, tôi quên tên. Tôi nghĩ ngay anh chàng này tên Lưu, họ Nguyễn. Đảo ngược tên, họ ở cái xứ Canada này không thông dụng như bên Mỹ quốc, để đến thành thơ như ông Cao Tần Lê Tất Điều. Nhưng cũng không hiếm lắm. Tên Nguyễn Lưu thành bút hiệu Lưu Nguyễn thật giản dị. Nhưng cái tiên đoán của tôi trật đường rầy. Nhà thơ Lưu Nguyễn có cái tên rất đẹp, dù hình như trùng một cái tên đã có: Nguyễn Thế Nghiệp.


 Tôi kết thân với Lưu Nguyễn Nguyễn Thế Nghiệp khá nhanh vì anh là một người đồng hương của tôi. Cái giọng nói Quảng Nam thường được đem lên sân khấu làm trò cười công cộng, nhiều lúc nghe thật thân thương, ấm lòng. Nghiệp phát âm lớn và rõ đó là thói quen rất đặc biệt của anh. Xuất thân từ làng Đông Phú thuộc quận Quế Sơn, một địa danh không lạ với người Quảng Nam như tôi. Đông Phú là một làng nhỏ trù phú dù nằm trong màu xanh trùng điệp của núi rừng. Từ ngày 05 (lại ngày mùng năm) tháng 8 năm 1947, Nghiệp bắt đầu hít thở hương đồi, hương đá, cỏ hoang dã, nên tích tụ được một tấm lòng yêu thiên nhiên. Thời niên thiếu, anh đã từng một mình, một xe đạp lang thang rong chơi qua nhiều thôn làng, ruộng đồng, đình chùa. Anh có cơ duyên tốt nghiệp tiểu học trường làng là một thú vị đáng kể của thời trẻ thơ. Hơn thế nữa anh học Đệ thất đến Đệ tứ tại ngay quận Quế Sơn. Lên bậc đệ nhị cấp, Đệ tam đến Đệ nhất anh mới làm một cậu học sinh của trường trung học Trần Qúy Cáp Hội An. Con đường học vấn của anh bằng phẳng, suông sẻ. Sau một năm học môn Triết ở Văn Khoa Sài Gòn, Nguyễn Thế Nghiệp vào Đại học Sư phạm Sài Gòn rồi tốt nghiệp, được bổ về dạy tại Phước Tuy đồng thời dạy tại một số trường tư thục ngay trong địa bàn Sài Gòn. Là một nhà giáo hiếu học, nên anh có thêm được văn bằng Cử Nhân Giáo khoa Triết Đông của Đại học Văn khoa Sài Gòn cấp. Vững vàng với trình độ học vấn, Nguyễn Thế Nghiệp bắt đầu tham gia sinh hoạt văn học. Anh có tên trong nhóm Nghiên Cứu Triết Học tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Những đoản văn, những bài thơ của anh khởi đi từ thời trung học đã được phổ biến trên một số báo chí. Nhưng chưa kịp hoàn hảo, Nguyễn Thế Nghiệp đã phải thi hành nghĩa vụ quân sự, qua ngả Bộ Binh Thủ Đức. Khóa 2/72 là chặng đầu đến với đời lính của anh. Dù là phó thường dân, hiền lành hơn bạn Tưởng Năng Tiến, sau 1975 nhiều ngưòi còn bị lùa vào trại cải tạo, huống chi đã làm duyên với quân đội, nên Nghiệp được cho vào K4 Long Khánh vài năm để hưởng cái ơn chiêu đãi của chính thể mới. Anh ra trại vào năm 1977, về Sài Gòn sống không có hộ khẩu vì bất tuân lệnh đi kinh tế mới. “Nhàn cư vi bất thiện” mà cái bất thiện dễ thương, hấp dẫn là chuyện vượt biên, nên Nghiệp tích cực tham gia vào đại phong trào này. Kỷ niệm khó quên trên đường đi tìm tự do của Nghiệp là 16 ngày trôi lênh đênh trên biển, cuối cùng tấp được vào Hòn Cau để đi vào nhà tù Côn Đảo hơn một năm dài. Cái vinh hạnh được làm tù nhân Côn Đảo của Nguyễn Thế Nghiệp chấm dứt vào tháng 4 năm 1980. Lòng vòng ba tháng ngồi không trong tư cách một người công dân không giấy tờ, anh được một người bạn tốt bụng, nhà văn Phan Tấn Hải, nhường chỗ trong một chuyến vượt biên. Thế chỗ của một người có tâm Phật, Nguyễn Thế Nghiệp được tàu Cap d’Anamour vớt sau ba ngày vật vã với sóng gió. Anh được đưa đến tị nạn tại Singapore, rồi được định cư tại thành phố Montréal vào cuối năm 1980, do bảo lãnh của người em ruột, Nguyễn Văn Nhi, đã đi du học từ trước 1975.


 Với 5 năm định cư trước tôi, khi tôi gặp Nguyễn Thế Nghiệp, anh đã là một ông Lưu Nguyễn rồi. Cõi Thiên Thai của anh hình như cũng đã có, và do chính anh tạo nên ngay giữa đời thường trên xứ người. Từ năm 1982 anh đã cùng một số bạn, sinh hoạt trong một hội đoàn chính trị, điều hành một cơ sở ngôn luận, mang màu sắc tranh đấu với tên Vượt Biển. Để hiểu rõ về sự trưởng thành của Vượt Biển, tôi xin trích lại bài giới thiệu của chính tôi viết mấy năm trước đây, dưới tên Lê Bảo Hoàng:


  “Năm 1979, tại quốc nội phong trào vượt biển tìm tự do càng ngày càng lên cao. Mặc dù những quốc gia Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi...mở rộng cửa đón người tị nạn trong tinh thần ưu ái nhân đạo. Nhưng với hai bàn tay trắng đối diện với cuộc sống mới vô cùng xa lạ, người Việt trên đất người, không thể tránh khỏi những lo sợ, cô đơn. Để lấp bớt phần nào lỗ hổng tinh thần mà người ngoại quốc khó giúp đỡ được, một số người Việt ở khắp mọi nơi đã tìm lại với nhau, thành lập những hội đoàn. Và để việc kết nạp, sinh hoạt chóng có kết quả tốt, một số đoàn thể đã sớm phát triển những cơ quan thông tin, liên lạc. Những bản tin thực hiện đơn sơ nhưng quí báu được tung đi. Đó là bước đầu cho sự hình thành những đặc san, nguyệt san, tạp chí về sau.


 Cũng như nhiều hội đoàn khác, Hội Ái hữu người Việt Nam tại Montréal đã bắt đầu biếu không những Bản Tin từ năm 1980. Với 12 trang khổ 22x28 cm, giấy trắng, Bản Tin của tổ chức này gói ghém những tin tức liên quan đến người Việt ở khắp nơi, cộng thêm những bài nhận định thời cuộc, được in dưới hình thức quay ronéo không mấy sáng sủa. Theo thời gian, cùng với mức ổn định cuộc sống, Bản Tin 12 trang, đã vươn mình để trở thành một đặc san, dưới một cái tên mới: Vượt Biển.


 Vượt Biển có mặt tại Montréal từ năm 1981. Vẫn giữ hình dạng cũ, 22x28; vẫn thực hiện bằng quay ronéo trong nhiều số đầu. Nhưng số trang đã được tăng lên đến con số 44. Nội dung nhờ đó cũng dồi dào hơn. Ngoài xã luận, tin tức còn có thơ, truyện cùng những minh họa. Những người góp bài trong giai đoạn này gồm: Lưu Nguyễn, Lê Nghĩa, Hồng Nguyên, Trầm Nguyên, ...


 Bước tiến mới của Vượt Biển có lẽ bắt đầu trong năm 1982, Từ đặc san, tiến lên nguyệt san, từ ronéo chuyển qua in typo, bìa trắng láng. Và có đến 80 trang với khổ cũ. Điểm đặc biệt trong giai đoạn này là có ghi rõ danh tánh của những người đại diện tại nhiều thành phố. Ở Montréal liên lạc với ông Vũ Ngọc Hiến, ở Ottawa qua Nguyễn thành Danh, và Ông Nguyễn Huy Tâm phụ trách tại Toronto. Tòa soạn không thay đổi, hộp thư vẫn ở: CP 40 Succ Côte Des Neiges Montréal, PQ, H3S 2S4. Những người đóng góp bài viết có thêm những: Nguyễn Minh, Bình Ca, Mạc Vũ, Nguyễn Kỳ Tú, Gát Ca, Võ Văn Quân, ... Ngoài những mục đã có từ Bản Tin, Đặc San, Vượt Biển còn in những tin sinh hoạt dưới dạng hình ảnh.


 Cùng với sự gia tăng dân số Việt Nam tại Montréal, cũng như không ngừng canh tân, vào mùa xuân năm Mậu Thìn, 1988, Vượt Biển vươn mình thêm lần nữa với một danh xưng nhẹ nhàng và có màu sắc văn nghệ hơn: Nắng Mới. Nắng Mới, tự xếp mình là một Tạp Chí thông tin, chính trị, văn học, nghệ thuật. Số 1 dành cho tháng 2 và tháng 3-1988. Trong số này lá thư ngỏ của ban biên tập ghi rõ:


 ...''Kể từ số Xuân Vượt Biển 59, Ban biên tập xin được đổi tên Vượt Biển thành Nắng Mới cho phù hợp với nhu cầu cần có những con người mới cho hoàn cảnh đấu tranh mới, cho việc cứu nước và dựng nước sau này...'' Ngoài những tay viết quen thuộc Nắng Mới có thêm những Trình Chung, Bình Minh, Trung Hiếu, Trần Tiêu, Nam Hà, Nguyễn Việt Phục,Trần Văn Hội, Đại Ngu, Hồ Mộng Thiệp, Phương Việt, Hoài Nam, Thiên Phúc, Song Hát, Lê thị Bạch Nga, Nguyễn Bá Tứ, Nguyễn Thanh, Sông Trà, ... Dĩ nhiên đây không phải chủ lực nòng cốt của Nắng Mới. Nhưng sự gởi bài đóng góp đông đảo, nói lên được tính cách phổ biến khá rộng của tờ báo. Tuy vậy, Nắng Mới vẫn chưa phải là một tạp chí vượt quá lãnh thổ Montréal, trong tầm vóc văn hoá, nghệ thuật.


 Với quyết tâm cộng theo lòng yêu văn nghệ tha thiết của những người chủ trương, Nắng Mới bước thêm một giai đoạn thay đổi. Ngay trang đầu độc giả đã được giới thiệu thành phần cốt cán của tờ báo. Chủ nhiệm Nguyễn Đăng, chủ bút Vũ Ngọc Hiến. Ban chủ trương, ngoài hai ông Đăng và Hiến còn có qúi ông: Lưu Nguyễn, Lê Quang Xuân, Biên Cương, Đỗ An. Một danh sách về những người cộng tác cũng được nêu rõ. Điểm này, có lẽ đã giúp tờ báo trở nên trang trọng, có tính cách chuyên nghiệp hơn.


 Sáng tác của những cây bút thành danh quen thuộc tại hải ngoại như Hồ Trường An, Hoàng xuân Sơn, Phan Ni Tấn ND, Vũ Kiện, Võ Kỳ Điền, Song Thao, Nguyễn Mạnh Trinh, Triều Hoa Đại, Luân Hoán, Hoàng Lộc, Thái Tú Hạp, Nguyễn Tấn Hưng, Trang Châu, Nguyễn Đông Ngạc, Hoàng Chính, Hồ Đình Nghiêm, Hứa Hoành, Kiệt Tấn, Lê Tấn Lộc, Nguyễn Thị Vinh, Song Hồ, Trần Hoài Thư, Xuân Vũ, Nguyễn Đức Lập, Phạm Thăng, Nguyễn Văn Ba, Phan Tấn Hải, Nguyễn Hữu Nhật, Thụy Khanh, ... đã thường xuyên xuất hiện trên tạp chí, nói lên sự trưởng thành của Nắng Mới.


 Nắng Mới đã là một tạp chí được đón nhận tại nhiều quốc gia có người Việt sinh sống. Tiếc thay tuổi thọ của tạp chí đang lên này, vội kết thúc vào năm 1994, sau khi gắng trở mình một lần nữa: ra khổ lớn và thất bại. Có lẽ điều kiện tài chánh đã buộc những người có lòng phải xuôi tay.” (LBH).


 Xin nói thêm, sở dĩ tôi trích lại bài giới thiệu này, vì theo tôi nghĩ, công sức, tâm nguyện của Lưu Nguyễn “đầu tư” vào tờ báo này không nhỏ, vượt hẳn những người đứng tên chịu trách nhiệm. Khi đã quen biết, dĩ nhiên Lưu Nguyễn có mời tôi góp tay cho tờ báo. Sau nhiều lần cho đăng thơ lẻ tẻ, tôi có chút đóng góp thật sự trong số 32, xuân Tân Mùi. Trong số phát hành vào tháng 2-1991 này, tôi dùng bút hiệu Lê Ngọc Thạch Bích để giới thiệu “Những Khuôn Mặt Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Hiện Cư Ngụ Tại Montréal”. Tôi đã nhờ họa sĩ Vivi phác họa đầy đủ chân dung những người tôi chọn giới thiệu, đăng kèm. Đội ngũ này gồm: nhà thơ Bắc Phong, nhà thơ Đỗ Quý Toàn,nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà văn Hồ Đình Nghiêm, nhà biên khảo Lê Hữu Mục, nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân, nhạc sĩ Lê Dinh, nhà thơ Lưu Nguyễn, Luân Hoán, nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, nhà văn Nguyễn Hữu Chung, nhà thơ Phạm Nhuận, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, nhà văn Song Thao, nhà văn Trang Châu, nhà báo Trần Nhã Nguyên, nhà văn Trương Bảo Sơn, nhà văn Võ Kỳ Điền, sử gia Nguyễn Khắc Ngữ, nhà biên khảo Vũ Tiến Phúc, họa sĩ Vivi, ca sĩ Đoàn Chính, ca sĩ Hoàng Phúc, ca sĩ Hương Bình, ca sĩ Hoàng Kim Uyên (á hậu VN), ca sĩ Kim Tuấn, ca sĩ Lê Duy, ca sĩ Lê Phan Lân, vũ sư Lưu Bình, ca sĩ Mỹ Dung, ca sĩ Mỹ Lan (vợ Nhật Trường sau này), ca sĩ Nguyên Ngọc, nhạc sĩ cổ nhạc Nguyễn Chí Hòa, ca sĩ Thanh Hằng, ca sĩ Thanh Hà, nhà báo Vũ Ngọc Hiến. Trong những số kế tiếp, ngoài góp thơ với bút hiệu Luân Hoán, tôi còn dùng tên Lý Phước Ninh, để viết những bài tổng kết văn học hằng năm. Vì có tật xấu thường góp ý cả vào phần hình thức, nên tôi không được Lưu Nguyễn cũng như nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân vừa lòng lắm. Điều này tôi được biết qua một người bạn họa sĩ, thực hư thế nào không rõ, nhưng tôi cũng đã sớm dừng lại những tích cực hơi quá tay với Nắng Mới.


 Trước thời gian dan díu với Nắng Mới, nhờ quen Lưu Nguyễn, tôi quen thêm được họa sĩ Vivi và nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân. Lúc bấy giờ Lưu Nguyễn thường sử dụng chiếc xe cũ, hình như hiệu Ford, màu mỡ gà, hai cửa. Anh thường đóng vai người dẫn đường cho tôi đến những cuộc sinh hoạt do chính anh giới thiệu. Ngồi bên anh, tôi thấy anh điều khiển xe chạy rất cẩn thận, nhưng nghe tin anh đã bị trừ gần đến số điểm mất bằng lái, kể cũng lạ. Trong mọi thứ tiêu khiển, có lẽ Lưu Nguyễn thích chơi domino nhất, thứ đến là uống ruợu mạnh cùng bè bạn. Thuốc lá cũng là một người bạn của anh. Với một cơ thể giàu có da thịt, Lưu Nguyễn hình như không ngại dính vào mọi cuộc vui.


Anh là người đứng đầu cù rũ chúng tôi uống cà phê cuối tuần. Cứ chiều thứ năm là anh phone cho chúng tôi. Những chỗ ngồi của chúng tôi thường là Harvey’s, McDonald,....và đặc biệt một chỗ, nhà văn Song Thao đã ghi lại tỉ mỉ:


 “Không hiểu sao mấy ông bạn tôi lại thích ngồi tụ tập ở quán cà phê này. Có lẽ vì cái chữ M nằm đỏ chót trên tấm bảng hiệu chăng? Ôm M bao giờ mà chẳng gợi nên những êm đềm, lả lướt, mang mang một vị ngọt ngào đằm thắm. Mà chẳng phải chỉ có một M đâu nhé. Tới ba M lận. Một M nồng nàn đỏ chót nằm đầu, rồi tới một M tươi mát màu da cam, một M kiêu sa vàng chói. Quanh bàn cà phê là những khuôn mặt thường xuyên lui tới. Lưu Nguyễn chẳng bao giờ để quên nụ cười ở chốn thiên thai, Lê Quang Xuân kính trắng trễ xuống mũi nhẩn nha góp chuyện, Trang Châu dí dỏm ứng biến và Hồ Đình Nghiêm là người bỏ rất nhiều gia vị vào câu nói. Thỉnh thoảng xẹt tới với "anh em" là Luân Hoán tứ thời bát tiết không nhức đầu thì cũng sổ mũi ho hen, Nguyễn Đông Ngạc trầm mặc chế tạo khói thơm cho chiếc tẩu luôn luôn nóng ấm, Vũ Ngọc Hiến không vợ con mà lúc nào cũng bận bịu như có cả chục đứa con nít nằm trong máy điện toán, Phạm Nhuận ngất ngưởng duyên dáng và Nguyên Ngọc, bóng hồng duy nhất mà chẳng lạc lõng một chút nào trong những câu chuyện khi đông khi tây quanh bàn cà phê...”


 Lưu Nguyễn cũng là người thường tổ chức gặp mặt bè bạn, khi có một bạn văn từ phương xa đến thăm Montréal. Đi và gặp bè bạn là hai việc không thể thiếu mỗi ngày của Lưu Nguyễn. Thật khó điện thoại gặp anh ở nhà. Những năm về sau, khi chiếc xe cũ đã an nghỉ, Lưu Nguyễn vẫn không ngớt lang thang bằng chính đôi chân của anh. Tài xế cho anh mãi đến bây giờ (2006) vẫn là những người ăn lương của sở giao thông vận tải công cộng. Vui tính, nói nhiều, mau ngủ và có tiếng ngáy như sấm, không rõ Lưu Nguyễn có vô tư hay không, nhưng đúng là một người thong dong, hạnh phúc


 Với một bản tính thích hoạt động, Lưu Nguyễn có mặt trong nhiều tổ chức như hội Vượt Biển, hội Nhà giáo, hội Cựu quân nhân, hội Văn bút, hội Quảng Đà, Cộng Đồng Người Việt... 


Anh từng giữ những chức Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam tại Québec nhiệm kỳ 1991-1993. Sau nhiệm kỳ này, anh đóng đô trong vai phó chủ tịch cho đến ngày nay, không có đối thủ. Dĩ nhiên còn nhiều chức vụ quan trọng khác trong các sinh hoạt chính trị, nhưng tôi chỉ biết lờ mờ không dám viết bừa bãi.


 Về sinh hoạt văn học, Lưu Nguyễn đăng thơ trên các tạp chí Văn, Văn Học, Làng Văn, Vượt biển, Sóng, Thời Tập, Canh Tân, Hợp Lưu, Nắng Mới, Khởi Hành, Tạp chí Thơ, Thế Kỷ 21... Tuy mỗi nơi không nhiều, không đều, nhưng đã có thơ anh


góp mặt. Năm 1990, khi thân tình giữa hai chúng tôi đã có chút ít trọng lượng, tôi không ngại cù rủ Lưu Nguyễn in thơ. Cái tật xấu khó chữa của tôi đã hại tôi không ít. Với Lưu Nguyễn, tôi phải thu xếp, giới thiệu nhà xuất bản cho anh, cộng thêm một việc làm quá sức mình: viết tựa. Đã lên lưng cọp, tôi tiến tới luôn. Một tựa nhỏ cho tập thơ Tri Âm của Lưu nguyễn do Sông Thu của Thái Tú Hạp bên Hoa kỳ ấn hành, là bài tựa đầu tiên tôi viết tại hải ngoại. Bài tựa không có gì xuất sắc, có trích 4 câu thơ của Lưu nguyễn, tôi xin trích lại ít dòng:


 ... “Khi được Lưu Nguyễn dành cho cái vinh dự viết lời bạt hay lời tựa, tôi đã hí hửng nhận lời và vẽ ngay trong đầu những lời lẽ óng mượt để được đứng ké trên da thịt đứa con tinh thần đầu tiên của anh. Nhưng bây giờ, trước những trang thơ ấm áp tình người, tôi chỉ muốn ngồi yên cảm nhận hơn là vẽ vời bừa bãi những lời vô bổ. Và thấm thía nhận cái khả năng hạn hẹp của mình. Viết gì cho một tập thơ tự nó đã dẫn dắt những đọc giả của nó đến gặp được tác giả ? Cố tình nhặt một vài hạt sạn trong nguồn nhạc điệu điều hòa để chỉ trích ? Hay nức lời bốc thơm, coi thường những bạn đọc khác ? Không. Tôi không dám....


 ...Tuy vậy, tôi đã được nghe và bây giờ xin phép lặp lại chung chung một số nhận xét của bè bạn tác giả Tri Âm: ‘ Thơ Lưu Nguyễn bình dị, nhẹ nhàng. Cảm xúc của anh chan hòa trong mỗi dòng thơ thật gần với đại đa số quần chúng. Đẹp nhất là những bài 7 chữ hay 8 chữ:


 Bởi là ta nên suốt đời lẩn thẩn / trong mênh mông cứ đuổi bắt mệt nhoài/ tìm trở lại chính mình, mình ngơ ngẩn/ đêm buông rồi bóng tối phủ hai vai ...” (Lưu Nguyễn – Tri Âm)


 Năm 1993, Lưu Nguyễn cho ấn hành thi phẩm thứ hai của anh, tập Ngày Qua Rất Vội, do chính tạp chí Nắng Mới đứng tên xuất bản. Tập thơ này in đẹp, bìa của họa sĩ Đinh Cường. Các phụ bản thực hiện bởi các họa sĩ Võ Đình, nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật, họa sĩ Đinh Cường.


 Nếu tập Tri Âm được tổ chức ra mắt tại trụ sở Cộng Đồng Người Việt trên đường Victoria, thì tập Ngày Qua Rất Vội cũng được tổ chức trình làng cùng với tác phẩm đầu tay của nhà văn Song Thao. Ra mắt sách, có thể nói là một sinh hoạt văn học đã đem lại một đôi chút tự hào của người Việt tại thành phố lớn Montréal. Cũng trình diện những tác phẩm, cũng giới thiệu đôi chút thân thế sự nghiệp cầm bút của tác giả, nhưng không khí sinh hoạt này tại Montréal khác hẳn với những buổi tổ chức tương tự tại các thành phố lớn khác như Washington DC, Toronto, Boston... Những buổi ra mắt sách tại Montréal thường được tổ chức trong một thính đường trang nghiêm, rộng rãi, thoáng mát, âm thanh, ánh sáng chuyên nghiệp, và nhất là số lượng tham gia của người đọc bao giờ cũng rất đông. Con số tối thiểu 200 người có mặt là chuyện bình thường. Để có thể hình dung, tôi, một lần nữa, xin được lược trích bài của chính tôi viết, dưới tên Nguyễn Minh Dũng, về cuộc ra mắt Ngày Qua Rất Vội của Lưu Nguyễn, và Bỏ Chốn Mù Sương của Song Thao, đã in trên tạp chí Nắng Mới, số 21 tháng 6 năm 1993:


 “ Thông thường tin sinh hoạt đó đây được nhặt nhanh nhất tại các quán cà phê. Và những nguồn tin bay từ hương khói thơm lừng đó, thường đạt được trên 50% xác thực. Năm 1993, hình như văn giới Việt Nam tại Montréal , Canada, đã hẹn nhau để in ấn, phát hành tác phẩm. Những đứa con cùng mang tuổi Quý Dậu sẽ ra đời: Thơ Ở Làng Cây Phong (Đỗ Quý Toàn), Huế Buồn Chi và Thơ Quỳnh (Hoàng Xuân Sơn), Truyện Ngắn (Hồ Đình Nghiêm), Việt Nam Quê Hương Tôi (nhiếp ảnh , và thơ nhạc của Lê Quang Xuân và bạn văn), Ngày Qua Rất Vội (Lưu Nguyễn), Chữ Nghĩa (Nguyễn Đông Ngạc), Về Biển Đông (Trang Châu), Bỏ Chốn Mù Sương (Song Thao)...


 Hình thành nhanh nhất là nhịp thở ngậm ngùi của Lưu Nguyễn trước tốc độ ngày tháng lưu lạc "Ngày Qua Rất Vội" và hình ảnh trĩu nặng tâm sự của Song Thao khi phải "Bỏ Chốn Mù Sương ". Một tập thơ một tập truyện, cả hai tác phẩm đã trình làng trong vóc dáng lộng lẫy, dưới hai ngọn cọ tài hoa Đình Cường, Nghiêu Đề, phối hợp cùng những bàn tay trang điểm: Võ Đình, Lê Quang Xuân, Nguyễn Hữu Nhật, Thái Tuấn, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Vũ Ngọc Hiến. Chào mừng bước đầu của cuộc chơi nghệ thuật in ấn, các bạn văn Nguyễn Tấn Khang, Nguyễn Đông ngạc, Trang Châu, Hồ Đình Nghiêm, Trương Văn Tuyên, Đào Trọng Quyền, Hoàng Kim Uyên, Hoàng xuân Sơn, Lê Phan Lân, Nguyên Ngọc, Phạm Đình Cường, Phan Ni Tấn, Tiểu Thu, Tuyết Anh, Xuân Thảo, Luân Hoán, Lý Phước Ninh, ... đã nồng nhiệt giới thiệu "Ngày Qua Rất Vội" và " Bỏ Chốn Mù Sương" đến giới yêu sách, yêu chữ nghĩa Việt Nam hiện có mặt tại Montréal Canada đêm 22 tháng 5 năm 1993....


 ... Trước khán giả tràn ngập thính đường Trung tâm sinh hoạt De La Peltrie, Côte Des Neiges, giáo sư Nguyễn Tấn Khang, chào mừng quan khách, trình bày lý do đêm sinh hoạt. Nhà văn Nguyễn Đông Ngạc mở đầu phần một của chương trình trong đề tài " Tấm lòng của văn giới đối với tiếng mẹ đẻ". Bằng một giọng đặc biệt Hà Nội, người chủ trương nhà xuất bản Sóng trước 1975, đã bày tỏ trung trực tâm tư, tình cảm của những cây bút chân chính, dù phải rơi vào nghịch cảnh khó khăn về tinh thần hoặc vật chất, vẫn không ngừng nghỉ sáng tác, để nuôi dưỡng, bồi bổ cho ngôn ngữ, chữ nghĩa dân tộc. Viết, sáng tác luôn luôn là trách nhiệm, là bổn phận và cũng là vinh dự của một người đã tự nguyện cầm bút. Chức năng khiêm nhường và cao quí đó, Lưu Nguyễn, Song Thao đã và đang thực hiện.


 Sau hơn bảy phút tâm sự của Nguyễn Đông Ngạc, nói riêng, của văn giới nói chung, không rõ vì đứa con tinh thần của Lưu Nguyễn có già ngày tháng hơn chút đỉnh, hoặc vì thơ chỉ là một loại tác phẩm dành để trang điểm hơn tiêu thụ, nên được ưu ái giới thiệu trước, qua những cảm nhận của đương kim Chủ tịch Văn bút Việt Nam Hải Ngoại, nhà văn Trang Châu.


 Theo Trang Châu, ngay cái tựa sách "Ngày Qua Rất Vội" đã nói lên nỗi ray rứt của con người trước tốc độ thời gian. Trong cuộc sống xa xứ, buồn chán, ngày ngày quẩn quanh, ao ước từng giờ lao động chóng qua, càng trông đợi cái chi phiếu mỗi cuối tuần, càng thấy rõ bước đi của ngày tháng và chợt lo sợ. Trong cái lo sợ vừa đích thực vừa vu vơ đó, thi sĩ đã vì mình sống lại thời đã qua. Đã cho phép mình nâng niu những kỷ niệm đã giàu có bụi đời. Hãnh diện có, xót xa có. Tình trai gái có, tình quê hương, tình bằng hữu chất ngất trong thơ Lưu Nguyễn. Và Trang Châu đã tinh mắt nhìn ra, ở tập Ngày Qua Rất Vội , Lưu Nguyễn đã tiêu xài chữ nghĩa, vần điệu cho tình lứa đôi nhiều hơn tập Tri Âm, thi phẩm đầu tay của ông. Trang Châu còn tế nhị nhận xét : "thơ tình của Lưu Nguyễn chừng mực, kín đáo từ tốn đến gần như lễ độ" và ông không quên bào chữa cho thái độ thiếu tích cực khi yêu của tác giả: ‘yêu là một cái thú riêng cho mình, có được ai yêu lại cũng tốt, không được yêu lại cũng chẳng sao’ Phải chăng thi sĩ là như thế? Đều là như thế? Đẹp vô cùng và cũng thảm quá chừng !!!


 Về bút pháp, Trang Châu đặc biệt thưởng thức thể lục bát của Lưu Nguyễn sử dụng. Cuối cùng ông đã mượn lời phê bình gia Nguyễn Hưng Quốc để gởi đến người đọc một đề nghị đọc thơ. Trang Châu không quên : ‘Ước mong quí vị khi đọc Ngày Qua Rất Vội mỗi vị sẽ có một giải thích mới làm cho tác phẩm phong phú hơn...’ Chúng ta tin rằng điều ước mong của Trang Châu sẽ được nhiều người tán đồng. Riêng cá nhân tôi, xin ăn ké bản tin này một câu trong dấu ngoặc : ‘Thơ Lưu Nguyễn thành công ở sứ mệnh truyền đạt khá trọn vẹn tình cảm từ người đến người’


 Sau những nhận xét của nhà văn Trang Châu, nhà thơ Lưu Nguyễn, chủ tịch trung tâm văn bút Québec với bộ cánh lịch sự: áo sọc trắng, quần đen, vét xám, cà vạt xanh lên trình diện quan khách, khán thính giả. Với thói quen chân chất "ăn to nói lớn" của người Quảng Nam, ông đã sang sảng ngỏ lời cảm ơn khán thính giả, ban tổ chức cùng tất cả các bạn văn xa gần đã về cùng ông để mừng ngày sinh thứ nhất của đứa con tinh thần thứ hai của ông. Mặc dù từng xuất hiện trước đám đông nhiều lần trong mấy năm qua, nhà thơ cũng không giấu được những thoáng lúng túng có lẽ đã khởi từ những cảm động chân thật trước sự ngưỡng mộ, ưu ái của khán thính giả....”


 Bài tường thuật tại chỗ còn dài trong phần nhà văn Hồ Đình Nghiêm giới thiệu tác phẩm Bỏ Chốn Mù Sương cùng tác giả Song Thao, nhưng tôi xin ngừng trích ở đây.


 Một kỷ niệm khó quên, sau những buổi ra mắt sách, chúng tôi thường có một cuộc cụng ly rất ‘hoành tráng’, Lưu Nguyễn thường là người đảm nhiệm phần việc này. Anh chọn nhà hàng, đặt món ăn. Mời rủ thêm một số thân hữu. Tài tình nhất là cách bố trí cách đưa rượu mạnh lên bàn tiệc, tại những nơi không có môn bài dành cho chất đưa cay. Lưu Nguyễn tỉ mỉ và tế nhị, gần như không bao giờ làm mất lòng ai, dù anh rất thẳng thắn, thường phát biểu bộc trực.


 Trong hai tập thơ, Lưu Nguyễn có một số bài đề tặng bạn anh như Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Phạm Việt Cường, Phan Tấn Hải, Quang Ngọc, Phan Quốc Cường...Dĩ nhiên tôi không có cái hân hạnh này. Tôi với anh luôn luôn đứng vững trong tình đồng hương. Chúng tôi cũng từng góp tay cùng vài bạn văn khác, dựng lên cái tên Việt Thường, để in tuyển tập thơ Bùi Giáng, thực hiện tuyển tập 20 Người Viết Tại Canada và Tuyển Tập Thơ Văn Hải Ngoại Năm 2000. Riêng Lưu Nguyễn, đã có mặt trong một số tuyển tập được phổ biến rộng rãi: Ngọn Cỏ Khô Trên Thung Lũng Mùa Xuân (Làng Văn, 1986), Chân Dung Thơ Luân Hoán (Kinh Đô, 1991), Tuyển Tập Thơ Văn Phật Giáo (Sông Thu, 1993), Việt Nam Quê Hương Tôi (tuyển tập nhiếp ảnh Lê Quang Xuân, 1993), Quê Hương Ngàn Dặm 2 (Người Việt Lưu Vong, 1995), Ngày Xưa Hoàng Thị (Văn Nghệ, thành phố HCM,1995), 20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (Đại Nam, 1999), Những Cây Bút Quảng Nam Đà Nẵng (Sông Thu, 1999), Luân Hoán Một Đời Thơ (Lê Hân chủ biên, Sông Thu, 2005).


 Có một điều cần ghi nhận, sau khi tạp chí Nắng Mới đình bản, sinh hoạt văn học của Lưu Nguyễn hình như chậm lại. Anh ít gặp bạn văn và rất ít có bài trên các tạp chí bốn phương. Nhưng anh vẫn sinh hoạt đều đặn trong tổ chức Văn bút cùng nhà văn Trang Châu. Tôi vẫn thỉnh thoảng gọi thăm anh. Và sẽ có mặt trong cuộc vui anh đón dâu vào tháng 8 tới đây. Lưu Nguyễn và Thanh Hoa có hai cháu, một trai, một gái đều đã thành đạt, nhất là cô con gái bác sĩ chuyên khoa làm anh càng yên trí thong dong. Tuy nhỏ tuổi hơn tôi, nhưng Lưu Nguyễn tỏ ra hiểu biết hơn tôi về những tục lệ hành lễ dân tộc. Anh là người hướng dẫn tôi khi cử hành hôn lễ của trưởng nữ tôi. Thậm chí còn cho tôi biết phải vái mấy cái, vái như thế nào trong nhiều dịp cùng đi tiễn chân những người bạn chung qua đời.


 Chẳng phải để cảm cái tình anh đóng góp cho Chân Dung Thơ Luân Hoán,Luân Hoán, Một Đời Thơ, tôi cũng đã viết tặng anh mấy câu lục bát: “Bỏ thiên thai để trở về ? / cụng vài xị đủ nằm kề với thơ/ nghe mùi râu tóc phất phơ/ tôi ngồi xuống chiếu anh chờ Tri Âm”. Thơ dở, Chỉ quí ở kỷ niệm.


 Lưu Nguyễn hôm nay, 2006, nhân dạng có thể không khác bao nhiêu với ảnh chụp trên. Nhưng chắc không còn thư sinh như thuở cùng tôi đi thăm Làng Cây Phong, dự đại hội Văn bút tại Toronto ngày nào. Gần cả năm nay chúng tôi không gặp nhau, chỉ thỉnh thoảng nói chuyện qua điện thoại. Thật mừng được biết anh vẫn thảnh thơi vui thú với những quân cờ domino, với những lá bài banco, cùng những ly cognac nồng ấm. Cõi Thiên Thai giữa đời thường của Lưu Nguyễn không mất. Anh không có cái hậu không vui của Lưu Thần, Nguyễn Triệu, có lẽ vì anh biết làm thơ, biết yêu đời.


 ... “Hình như hoa có nỗi buồn


 hình như ta có nỗi buồn như hoa


 Thanh Hoa Thanh Hoa Thanh Hoa


 ngàn lời thương nhớ vẫn là nhớ thương”


(Thơ Lưu Nguyễn).


Luân Hoán

(Dựa Hơi Bè Bạn 1)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Saturday, November 28, 20209:46 AM(View: 96)
Tháng Mười Một, 2011, tôi in tập truyện dài “Đi Mỹ,” do nhà xuất bản Văn Mới phát hành. Trong dự định, tôi mời được nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà thơ Thành Tôn, nhạc sĩ Nhật Ngân
Thursday, November 19, 202010:18 AM(View: 122)
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh lìa đời khi mới hơn 50 tuổi, nhưng sẽ sống mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam với danh nghĩa mà làng báo đặt cho ông trong ngày 'đám tang toàn quốc trong làng báo ba miền' của ông: "ông tổ làng báo Việt Nam."
Sunday, November 15, 20208:35 AM(View: 290)
Tôi nhấn mạnh pê-đanh chiếc xe đạp cà tàng, cố đạp xe lên dốc cầu Trương Minh Giảng. Buổi trưa, đoạn đường này rất đông đúc người xe
Thursday, November 12, 20209:02 AM(View: 210)
(h. TDN) Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Lan sinh trưởng ở Huế, hiện sinh sống tại California. Đã từng cộng tác với Tuổi Hoa, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Làng Văn, Quán Văn.
Saturday, November 7, 20207:44 AM(View: 212)
Tên thật Cao Đình Vưu, sinh năm 1939 tại Nam Định. Dạy học, làm thơ từ năm 1963, thơ đăng trên các tạp chí Văn (bài đầu đăng là Chỗ Ngồi của Nhà Giáo Thời Chiến), Nghệ Thuật, Khởi Hành, Văn Học, Đất Nước, Thái Độ. ... Trước 1975, chưa xuất-bản