DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,533,486

Mấy ngày ở Đà Lạt - Hồ Phú Bông

Sunday, March 4, 201212:00 AM(View: 11027)
Mấy ngày ở Đà Lạt - Hồ Phú Bông

Mấy ngày ở Đà Lạt

 

Xe đi trong đêm, đến Đà Lạt gần bốn giờ sáng. Trong tranh tối tranh sáng, thấy đèo Prenn đẹp huyền ảo như xưa. Mù sương và hoang dã. Khi khung cảnh hai bên đường nhòa nhạt, im lìm thì ký ức lại dậy sóng. Văn căng mắt giữ tay lái. Tôi cũng căng mắt nhưng lại đi tìm kiếm dấu vết nào đó của mơ hồ kỷ niệm. Góc quẹo gấp nhất và nguy hiểm nhất của Prenn là nơi miếu Ba Cô gần như vẫn còn giữ được nguyên vẹn. Cua thật gấp. Bên tay phải là dốc đá gần như dựng đứng, phía trái là vực sâu hun hút. Tôi đã từng dừng xe máy ở đó mấy mươi năm trước, đứng nhìn ngọn cây thông phía dưới chỉ ngang hàng với giữa cây thông kế tiếp bên trên để ớn lạnh về độ dốc. Ngày xưa một tai nạn đã xảy ra tại đây làm ba cô gái trẻ chết thảm nên người ta lập miếu thờ. Những cây thông vẫn còn đứng đó, phía trên dốc đá hay dưới triền sâu như nhân chứng cho mọi đổi thay. Trở về Đà Lạt trong đêm, trong cái còn thanh vắng như ngày xưa là cơ hội hiếm hoi, khó thể có hai lần!


blank



Tìm lại được nét hoang sơ của Đà Lạt thật bất ngờ, như nhìn được một thiếu nữ say ngủ, nằm hớ hênh, đâu dễ gì!
Đã bốn giờ sáng 28 Tết mà Đà Lạt vẫn còn say ngủ! Rất lác đác người trong phố sớm. Năm nay tháng Chạp thiếu nên thành 29, khuya mai là giao thừa!
Bài “Xuân nầy con không về” của Trịnh Lâm Ngân là nỗi lòng của anh lính trẻ trong thời chiến, còn tôi, anh lính già khập khiễng đang trở về, giữa thời bình, sao cũng hoang vắng mênh mông?
Cây xăng Kim Cúc, cửa vô Đà Lạt còn nguyên đó, nhưng lạ. Lạ hẳn. Cái lạ là con đường bốn làn xe, có con lươn (divide) thật hẹp được trang trí hoa ở giữa, bắt đầu từ bót Nguyễn Tri Phương cũ. Ở đó, rẽ trái là vô bến xe chính của Đà Lạt. Đi thẳng là vô thành phố. Trước kia hai bên là thông, là cây cỏ thiên nhiên, còn bây giờ thì nhà cửa san sát, lố nhố. Đủ kiểu, đủ màu sắc. Khuôn mặt thơ ngây, hồn nhiên của Đà Lạt đã bị một tay trang điểm thật tồi! Ngập ngụa màu sắc phấn son, với bê tông cốt sắt!
Quẹo trái Yersin cũ, khu vực hành chánh trước kia, cũng đầy ắp biệt thự, nhà. Không biết đâu là đâu. Tòa Hành chánh Tỉnh tựa lưng vào ngọn đồi, ngày đó khá đồ sộ, bây giờ như nhỏ lại trước dinh thự chung quanh. Nét cổ kính của tòa nhà cũng mất. Palace vẫn chiếm nguyên ngọn đồi nhưng không phô ra trần trụi như trước, đang ẩn mình ngủ trong vòm cây dưới ánh đèn đêm. Trước kia trơ trụi hơn, bây giờ kín đáo hơn! Đến khu vực Bưu điện, nhà thờ Con gà thì cứ như lạc vào một khu phố nào đó, lạ hoắc, sáng trưng! Khuôn viên tượng Thánh Giu Se (?) trước nhà thờ, nơi chia hai lối lên và xuống, có cái dốc khá nguy hiểm để xuống cầu Ông Đạo sang khu Hòa Bình, bây giờ như nhỏ hẳn lại. Nhà thờ y nguyên nhưng nhìn cũng nhỏ lại! Ngày trước tháp chuông là đỉnh điểm cao nhất toàn thành phố, từ rất xa vẫn thấy cây thánh giá nổi lẻ loi trên táng lá thông xanh, cứ ngờ ngợ như đang ở một nơi nào đó của phương Tây bây giờ lùn tịt bên cái tháp Bưu điện sơn trắng đỏ bằng sắt, nhại theo hình tháp Eiffel thật đồ sộ. Trên đỉnh có đèn nhấp nháy với lá cờ đỏ. Chiều cao tháp (có thể) gấp đôi tháp chuông nhà thờ. Nếu loại bỏ ý đồ chính trị là nhà nước đang dần dần tìm cách triệt tiêu biểu tượng của Thiên Chúa giáo thì hình ảnh nầy cũng nói lên sự dốt nát thẩm mĩ về thắng cảnh thành phố Đà Lạt.
Lo lắng quang cảnh thiên nhiên của Đà Lạt bị tàn phá, thì đây có thể là biểu trưng!



blank




Quăng người lên giường, cứ tưởng là dễ ngủ, vì hành trình mệt mỏi và khí hậu Đà Lạt lại mát lạnh với chăn ấm nệm êm, ai ngờ mắt cứ ráo hoảnh! Khoát cái áo lạnh ra sân thượng, khách sạn nằm trên lưng chừng đồi cao, nên toàn cảnh Đà Lạt mờ sương hiện ra trong tầm mắt. Sương mỏng và yên vắng từng lúc, từng lúc bị phá vỡ. Tiếng máy xe, ánh đèn xe càng lúc càng nhiều, rồi mọi thứ ánh sáng điện nhạt dần, nhạt dần chỉ còn lại đủ loại âm thanh của một ngày mới. Thành phố đang thức giấc! Bình minh và nắng sớm đẹp như giải lụa tơ vàng trùm lên. Cơ man là mái nhà, đủ màu sắc, đủ cao độ, đủ kiểu cọ, đủ kích cỡ như hàm răng lởm chởm của bầy quái vật đang ngoạm nuốt từng ngọn đồi, từng ngọn thông xanh. Nó đang nuốt dở dang một ngọn đồi khác, kế cận thác Cam Ly, mà thịt da đất bazan đang bày ra toang hoác, như ửng máu! Tôi cũng đã từng đi trong sương sớm Đà Lạt. Cái jacket nhà binh, cài một đóa hồng mới hái còn mọng sương đêm nơi túi áo, đem đến trao cho người yêu trước khi ra dãy Domino bụi đời tìm cốc cà phê sáng. Bây giờ đứng chơ vơ ở đây. Cà phê Domino cũng đã mất. Nghe nói quán của chị Năm-Huệ cũng còn nhưng đã dời về một ngóc ngách nào đó. Chỉ may mắn, người yêu ngày trước thì đang ngủ vùi trong chăn nên có lẻ loi trên sân thượng cũng ấm áp đôi chút trong lòng.
Về Đà Lạt lần nầy, ngoài gặp lại những thân thương, chúng tôi chưa biết sẽ làm gì, vì hình ảnh Đà Lạt cũ đâu còn. Hương xưa Đà Lạt đã mất. Hay làm khách lạ? Một chừng mực nào đó, từ đáy tim, như không muốn chấp nhận sự thật nầy!
Chiều cuối năm anh chị em, con, cháu từ bốn phương gom về nhà cha mẹ sau mấy mươi năm tản lạc. Đứa góc bể, đứa chân trời theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Câu ca dao “mẹ già như chuối ba hương” để chỉ chuối được giú đã đến lúc chín mùi, nhưng cha mẹ chúng tôi đã “chín” hơn thế nữa. Cả hai người đã quá chín mươi! Vài anh, chị cũng đã hơn 70. Đứa út ít cũng trên 50. Thế đấy, đất nước đã “thống nhất” từ hơn 35 năm mà đây là lần đầu hội ngộ! Anh Ba ngày trước lái chiếc jeep có cần câu, bây giờ nghễnh ngãng, nói cứ như bị cà lăm. Anh kể về chuyện đi bán dạo vé số ở An Giang. Mấy đứa út cười cười khoe răng sún, chỉ vào mặt nhau, nói nói: “Anh nhìn anh nhìn kìa.. thấy sân bay của tụi em không?” Thì ra, trán đứa nào cũng hói họi rộng như “sân bay”!
Cũng may là anh chị em chúng tôi không có ai khác giới tuyến, cái giới tuyến do một thứ chủ nghĩa gây hận thù làm chia rẽ từ gia đình đến dân tộc mà không biết cho đến bao giờ mới có cơ may hàn gắn lại được!
Còn cháu thì đủ loại, có đứa đã 40 lại thêm con cái nữa. Chào chào hỏi hỏi cứ ngớ ra!
Anh em con cháu cũng khó nhận diện nhau ngay cả trong một gia đình!
Tất cả cũng trên dưới 50 người gồm ba, bốn thế hệ gom lại trong một căn nhà cấp 4, nhỏ bé tuềnh toàng ở vùng quê, thay vì trước kia là một ngôi nhà bề thế giữa một khu vườn vuông vức mà mỗi cạnh dài đến một km cách đây không xa! Khu vườn cà phê đó còn có mít, có chuối, có ao cá, có con suối thiên nhiên phía sau, là công sức khai khẩn từ rừng hoang, là tích lũy tình yêu và của cải cả một đời cha mẹ chúng tôi. Thế mà, chỉ sau ngày 30-4-1975 không lâu, các quan chức từ huyện đến xã dùng đủ cách uy hiếp, cướp trắng! Họ đày ải cả gia đình tản lạc khắp nơi. Người xuống tận kinh rạch Châu Phú, kẻ vào rừng sâu Long Khánh. Cha mẹ chúng tôi lúc đó cũng đã gần 60, lại thêm một lần nữa đi khai hoang đất rừng! Chỉ năm bảy năm sau, sức đã cùng, lực đã tận nên con cái gom góp chút tiền, quay về mua lại một thẻo đất cất căn nhà nầy.
Có thứ “độc lập, tự do, hạnh phúc” nào như vậy không?
Từ lâu lắm tôi mất cái thú “đi đón giao thừa”. Nào là hái lộc đầu Xuân, nào là tay trong tay vào giáo đường dự thánh lễ. Nào là nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ đỗ với ước nguyện đầu năm. Tất cả đều trang trọng và đẹp như một bài thơ. Đêm nay Bảo rủ tôi ra bờ hồ Xuân Hương. Chúng tôi muốn hòa vào dòng người, thử đi tìm cái rạng rỡ trong đêm giao thừa. Trang bị khăn quàng cổ, áo ấm, máy ảnh, chúng tôi cuốc bộ. Càng gần đến khu Hòa Bình, bỗng nhớ câu Kiều của cụ Nguyễn Du. “Dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm” Rất thành thật, người đông đang trẩy hội nhưng không thể nào tìm thấy được một nụ cười rạng rỡ! Tôi không thể hiểu được. Vì sao? Vừa xuống lưng chừng dốc Hòa Bình thì gặp ngay hơn mười em nhỏ khoảng 8-10 tuổi (người Thượng?) chia làm ba nhóm. Các em ngồi sát vào nhau tìm ấm, lưng tựa vào vách đá, đầu trần vì mũ đã được lật ngữa để trên vỉa hè. Đôi mắt các em như trơ ra (stare) trước dòng người. Tất cả các mũ đều trống trơn! Những hình ảnh tưởng tượng của Tố Hữu trong các câu thơ xách động ngày trước “đứa sung sướng là đứa con nhà chủ, còn đứa nghèo con mụ ở làm thuê” có minh họa rõ ràng như hình ảnh đang xảy ra trước mắt hàng ngàn người đêm nay?
Chen lấn đến quán Thủy Trang bên bờ hồ thì đã nghẹt người. Quán khép hờ cổng, để bảng “hết chỗ”. Chúng tôi bước qua vì Bảo có hẹn ở đây. Hầu hết là giới trẻ. Mặc đẹp, fashion cùng với đèn màu. Tôi nói Bảo ở lại, còn tôi quay ra, lang thang tìm cái lạ. Cái lạ của sự cách biệt giàu nghèo, của rạng rỡ và tăm tối. Và, đặc biệt, cái lạ đến ngớ ngẩn của người từ xa về. Còn khoảng 5 phút trước giao thừa, pháo bông từng đợt cả hai bên bờ hồ được bắn lên. Nghe bùùmm bùùmm rồi bụụụpp bụụụpp thì hàng ngàn tia sáng với màu sắc lung linh tỏa ra rồi tan biến. Từng cụm màu sắc đó bung ra như những thoáng sao băng muôn màu, muôn vẻ. Rồi tắt ngúm trả lại bóng đêm! Bài Ký “Đôi chút mông lung sau một chuyến về” [1] tôi đã chợt nghĩ về sự bùng nổ nầy như sự bùng nổ của trí thức cả nước biểu tình chống Tàu cộng xâm chiếm hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa suốt mùa hè năm ngoái, mà nay đã bị nhà nước dẹp tan. Không lẽ những hành động bày tỏ lòng yêu nước từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh rồi cũng bị tắt lịm nhanh chóng như pháo bông đêm nay?
Sáng mồng Một chúng tôi lại ra phố tìm cốc cà phê. Cửa cà phê Tùng đóng im ỉm. Không biết là đóng vĩnh viễn hay chỉ đóng trong mấy ngày nầy (?) Khung cảnh chung quanh đã đổi thay đến độ như không thể nhận diện ra được thì chỉ có cà phê Tùng, vâng, chỉ duy nhất cà phê Tùng vẫn y nguyên hình dáng cũ. Mái tôn đã gỉ sét chịu sự thách đố của thời gian! Cà phê Tùng bỗng chốc như cô tình nhân chung thủy, âm thầm khép kín cửa để ngóng đợi người xưa! Có biết đâu, chúng tôi là một trong vô số tình nhân ngày ấy đang đứng lặng, cố ghìm lại cơn tim.
Chúng tôi đến một tiệm khác trên dãy phố dốc Hòa Bình, gần Ciné Ngọc Lan cũ. Cốc cappuccino đậm đặc nhưng sao uống cứ nhạt thếch! Ngồi đó, ngó tới ngó lui. Ngó gần ngó xa. Ngó người lên dốc, xuống dốc mới chợt nhận biết mình thật sự đã là người xa lạ! “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, hạnh phúc trăm năm một cõi đi về”(!) giọng ai đó hát nhạc Trịnh Công Sơn trong nắng sớm nghe thật buồn.
“Anh có tưởng tượng được là bây giờ đồn công an cũng cúng kiến đầu năm không?” “Đồn công an?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại. “Vâng, họ bày bàn thờ rồi rước thầy đến cúng!” Thế mà báo chí nói về chuyện thờ cúng ngay tại các cơ quan, tôi cứ tưởng là chuyện hiếm! Lễ cúng đầu năm là truyền thống trong từng gia đình người Việt nhưng cúng tại cơ quan, mà ở đồn công an, thì quả là lạ thật! Tại sao một thứ chủ nghĩa vô thần, một chế độ bất chấp sinh mạng con người bây giờ quay ra cúng bái? Tín ngưỡng là khía cạnh tâm linh, thiêng liêng và sâu thẳm nhất của người Việt Nam sao ra nông nỗi nầy? Có phải đây là niềm tin tôn giáo đang phục hồi hay chỉ là sự trắc ẩn lương tâm cần phải hối lộ thần linh?
“Bảy tám năm trước công an giết một em học sinh trong đồn. Chỉ là chuyện hát hò cãi vả gì đó ở quán k-aroke nên họ gọi công an. Công an bắt thằng nhỏ về đồn. Khoảng nửa đêm, bà hàng xóm ở cạnh đồn nghe nhiều tiếng động lạ, dòm qua cửa thì thấy mấy công an kéo lê một người bỏ dưới đường. Không biết có phải họ có ý định dàn cảnh như thằng nhỏ bị xe cán chết hay không (?) Khi họ vô rồi bà mở cửa ra chứng kiến, rồi kêu cứu. Cũng toán người đó ra làm bổn phận công an, mau mắn tiếp tay đưa nạn nhân đi bệnh viện. Cả thành phố đều biết ai giết nhưng không dám lên tiếng. Người thân quen lắm mới dám đến viếng tang. Cũng chỉ lặng lẽ thắp nén hương giữa không khí bao trùm đe dọa vì có nhiều công an mặc thường phục ngồi ngay trong nhà theo dõi! Giết thằng nhỏ chỉ vì họ bảo kê cái quán k-aroke đó! Chỉ có thế!” Giọng kể bị lạc đi, như nghẹn: “Thằng Hải, nó là bạn học của con em! Nhà ở phường 5, đường Hoàng Diệu gần đây.” Rồi trở lại trầm trầm, đều đều: “Thế mà báo chí im re, không có lấy một dòng! Cùng thời điểm đó có một anh tài xế chỉ vì không chịu nổi sự nhũng nhiễu hằng ngày nên đâm xe thẳng vào viên công an thì họ khai thác, đăng cả mấy tuần liền!”.


blank
tr
ẻ em xin ăn đêm giao thừa



Ghé thăm người bạn cũ thích nghiên cứu bói toán gặp lúc khá đông khách, tôi muốn rút lui nhưng hắn giữ lại: “Đầu năm nên khách đông hơn chút đỉnh nhưng ngày thường cũng có. Xã hội càng ngày càng bất ổn nên người ta phải bám vào tướng số, thần linh.. như một điểm tựa. Đây là hiện tượng của xã hội.” “Cho nên việc nghiên cứu tướng số bây giờ thành cái nghề?” Tôi cười. “Không, mình chỉ giúp họ và chẳng đòi hỏi gì.” Hắn tiếp: “Mà đôi lúc cũng vui. Mình có cơ hội tiếp xúc đủ giới, đủ thành phần. Trước đây không lâu có một vị Đại tá, giáo sư bên Học viện Quân sự, tức liên trường Võ Bị và Chiến Tranh Chính Trị ngày trước, đến nhờ xem phương hướng để xây cất nhà ở. Vừa mới nhìn thấy mình vẽ hai trục thẳng góc, ghi Bắc đối với Nam, Đông đối với Tây thì ông ta cãi ngay. Cãi hùng hổ! Theo ông thì phải ghi liên tục Đông-Tây-Nam-Bắc, như vậy thì Đông đối với Nam, còn Tây đối với Bắc (!) Mình khéo léo hỏi ông dạy gì. “Tôi tốt nghiệp Tiến sĩ ở Nga. Đang dạy về Mác và Lenin.” (!)
Rời Đà Lạt bằng xe bus Phương Trang vào giữa trưa. Bỏ lại thành phố sau lưng nhưng không thể bỏ được cảm giác bùi ngùi. Đèo Prenn dưới nắng trưa đã mất hết vẻ huyền ảo như trong đêm tôi trở về! Prenn đang trần trụi. Đang phô ra những vết lở lói trên da thịt. Người ta đã khai thác du lịch tối đa trên đoạn đường đèo 8 cây số nầy như khai thác thân xác một cô gái điếm chỉ vì tiền! Người lên kẻ xuống. Xe hơi, xe máy chen nhau trên con đường hẹp, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu. Các tụ điểm nhếch nhác và rác rưởi. Rất nhiều khúc quành có người nghỉ chân, có nhiều người đang đứng đái rất tự nhiên.
Đà Lạt bây giờ mới thực sự đã rớt lại sau lưng. Chỉ có Đà Lạt ngày xưa, Đà Lạt còn trong ký ức.



(Feb. 24th, 2012)
Hồ Phú Bông
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 80)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 291)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 178)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 189)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 238)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để