DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,533,482

Cái Thẻ Bài - Phi Ngọc Hùng

Friday, March 30, 201212:00 AM(View: 9472)
Cái Thẻ Bài - Phi Ngọc Hùng
Cái Thẻ Bài



the_bai-content


 


Trời sui đất khiến, bỗng dưng không đâu tôi hỏi: “Mày có mối tình lớn nào không?”. Nó nhướng mắt nhìn tôi từ trên xuống dưới, như nhìn người hành tinh. Lừ lừ nốc hết ly rượu mầu hổ phách, ra cái điều tửu phùng tri kỷ thiên bôi tửu. Xong nó lặng lờ như gió thoảng mây bay:


 - Văn sĩ Nga Tourgueien, trong ngày ra mắt quyển “Mối Tình Lớn”, ông được độc giả và giới văn học ca ngợi như một tác phẩm của thế kỷ. Nhưng bị văn hào Dostoiewsky phê bình: “Nếu tôi có mối tình lớn như vậy, tôi sẽ chẳng bao giờ dại dột kể cho ai nghe hết”.


 Nó đặt cái ly xuống…Bố khỉ, tôi ngọng trông thấy!



 

 ***


 Bạn bè có nhiều thằng tôi phục sát đất thì thằng này là một, mở miệng ra với một mớ kiến thức đóng hộp từ thập niên 60 qua André Camus, Jean Paul Sarte, John Steinbeck. Nhưng ấn tượng mà tôi ghi nhận được là nó có trí nhớ thần sầu và nói thao thao bất tuyệt, nếu cần là nó…bấm cò đi một tràng “ra-phan”.


 Đi một tràng…”ra phan” là có dây dưa đến chuyện súng đạn, truyện xưa tích cũ thì nó cũng một thời khóac áo trây di, lại khóai mầu áo hoa rừng, chỉ vì cái mặc cảm “sữa” từ những ngày còn đi học. Về phép, việc đầu tiên là lên khung bộ quần áo ủi hồ cứng ngắc để bát phố. Nhưng nó chỉ là thằng bám đuôi, cùng lắm là một cái húyt gió bâng quơ. Không sơ múi gì bèn ngồi đồng ở La Pagode nhìn theo tiếc nuối. Khổ một nỗi, nó cũng chỉ nhìn từ đằng sau, một tà áo mờ nhân ảnh nào đó.


 Rồi những mùa thu đi, nó vẫn là con bà cả đọi. Lại nữa, có một số các cô các bà tính khí cũng khác người. Một là chỉ thích kết mái tóc muối tiêu đầy…phong trần tiến để “chú chú, cháu cháu”. Hai là nhúm mấy đấng nhi đồng mặt búng ra sữa để “thấy anh nhỏ xíu em thương”. Và nó. Thằng bạn mà tôi mới gặp lại đây…trong một mùa thu chết có lá vàng rơi, nguyên đại úy mũ nâu biệt động quân, với số ruồi nên nằm chết dí không ngóc đầu lên được ở cái khỏan…thứ hai khốn khổ khốn nạn này. Thế nên mới thành chuyện…


 Ngày ấy, nó mới chỉ là thiếu úy.


 Một lần, nó kể chuyện tình quán cóc bên đường của nó cho tôi thưởng lãm, chuyện “thiếu úy” đang uống bia tới bến, nhậu tới khuya…Thấy tôi cười tình, nó chửi đổng: Sư mày, mày biết đíu gì chuyện lính tráng. Rồi nó lên giọng dậy đời: Không uống rượu như máy, chửi thề như đĩ thì chỉ huy chó gì lính, thằng nhà quê. Và nó nheo mắt hỏi tôi: Mày có hiểu tao nói gì không. Tôi chưa kịp hiểu gì thì nó đã sàng sê là nó không cải lương. Chuyện sao kể vậy là nó đang đánh vật với chai bia, nó được mợ chủ quán nháy nhó lên lầu để ngắm “mây bay gió thổi”. Mặc dù “quan” mới ra trường, nhưng nó không đến nỗi chậm tiêu cho lắm, lại vừa mới hành quân về thế nên nó lóc cóc bò lên. Trong khi mợ yêu đời ca ong ỏng “Tưởng giếng sâu em nối sợi dây dài, ai ngờ giếng cạn em tiếc gòai sợi dây”, vừa xuống sáu câu xong, đang sửa sọan lâm chiến, bỗng nó nhìn thấy tấm ảnh treo trên tường, một hảo hán đang…tập tạ vai u thịt bắp như Hercule thời La Mã. Hỏi ai? Mới hay là chồng mợ chủ, trung sĩ nhẩy dù. Hỏi chồng đâu? Nó chớ phở, hóa ra đang ở trại Hòang Hoa Thám, chẳng xa cái quán ở Hóc Môn này cho lắm, bắt cái xe lam cũng khỏang mươi phút phù du vì vậy nó…dọt lẹ.


 Nhưng không quên vật bất ly thân là: Cái thẻ bài.


 Lên trung úy vẫn số con rệp, tiểu đòan nó đụng trận ở Đông Hà. Thua banh càng, nó chạy chết bỏ, lết tới trước cửa nhà dân thì lăn đùng ra…chết giấc. Nó được chị chiến sĩ gái hương đồng cỏ nội vực vào nhà, tắm rửa, lại còn hiếu khách, nấu cháo gà cho nó bồi dưỡng. Nó kể, tắm táp cũng có chút đỉnh sào khô sào nước, qua chiếc áo ẩm ướt, bộ ngực trời cho nổi cộm như cái cù lao ông Đạo Dừa. Quất xong tô cháo. Nó sắp tính chuyện phải quấy với chị chiến sĩ giải phóng. Nhìn qua cửa sổ, nó tá hỏa tam tinh vì thấy một thằng huyện ủy hay K- trưởng gì đó, ngang hông là khẩu K 54 đang lò dò đi tới. Nó lại thêm một lần…”vượt thóat”. Tôi bật cười khan vì nghĩ chắc cung mệnh nó như có sao thiên di với tả phù hữu bật, nên chuyện lính tráng của nó, láo liên mắt trước mắt sau là chạy vắt giò lên cổ, sau này có thêm màn…cháo gà nữa.


 Như đóan được ý nghĩ của tôi, nó lại lầu bầu: Sư mày, tao cũng bắt được cái bằng “Rừng núi sình lầy” chứ bộ. Rồi nó huyếch: Mưu sinh thóat hiểm tao là bậc thầy, nghề của tao mà mày, nhờ đó tao nắm đại đội trinh sát là vậy. Và vẫn chứng nào tật ấy: Mày có hiểu tao nói gì không. Nó cũng không quên nổ như tạc đạn: Cọp ba đầu rằn mà mày.


 
 ***

 

 

 

Khôn nhà dại chợ, tôi lại dại dột hỏi chuyện mưu sinh thóat hiểm của nó mới chết một cửa tứ. Mà hình như từ nẫy đến giờ, nó rình rình mãi cái cơ hội trời cho một thưở, một cõi này.


 Nhấc ly rượu lên, rất ư từ tốn và chẳng thể thiếu phần chậm rãi:


 “…Tao không nhớ ngày nào trước 30 tháng Tư, ngay sau khi ông Thiệu từ chức. Liên đòan 32 BĐQ của tao đang đóng quân ở quận Chân Thành, được lệnh rút về Lai Khê thế chỗ cho Sư Đòan 5 lui về tỉnh Bình Dương. Tao nghĩ chỉ là cuộc chuyển quân bình thường, nhưng khi nghe được khẩu lệnh phá hủy mọi vũ khí nặng, thì tao hơi rét. Vì nhớ lại, tao sém được “Tổ quốc ghi ơn” trong cuộc triệt thóai thê thảm của Chiến Đòan 5 BĐQ năm 71, trong trận Kratie ở Cao Miên. Ngay sau đó là lệnh mới, có thể phối hợp với Sư Đòan 5 tử thủ Bình Dương. Mẹ kiếp, nghe hai chữ “tử thủ”, sao tao hãi quá thể.


 Lủng củng lỉnh kỉnh đập với phá, tháo với gỡ từ sáng đến chiều, lại phải đợi một tiểu đòan nằm kích ở suối Tầu Ô về, tụi tao mới lục đục rời quận lỵ. Như có linh tính, hồi trưa trong lúc họp hành quân bỏ túi, dục tất bất đạt, tao đã nói tại sao không để đến sáng mai hãy rút, vì ban đêm là trận địa của tụi nó, bị phục kích là bỏ mạng sa trường. Sư tụi nó, đíu thằng nào chịu nghe. Y như rằng, trời mới sập tối, đi được gần mười cây số thì vướng mấy cái mô và tụi tao bị tụi nó dằn mặt ngay tức thì. Từ mấy cái dạt làng, phía rừng cao su Dầu Tiếng, tụi nó bắn ra sối xả, đòan quân xa ngừng lại trong rối lọan, thay vì bung ra lọan cào cào như …đàn vịt thì đã đỡ khổ. Tụi tao, quan cũng như lính, co cúm lại chịu trận, dính chùm sau mấy chiếc quân xa, đạn bác 82 ly rơi vãi tứ tung. Tao dùng ống nhòm thấy rõ như ban ngày cái đế súng sơn pháo, tụi nó đặt trong sân nhà dân, từ hướng bắc quốc lộ rót qua. Tụi nó nhởn nhơ thụt từng trái một, còn chỉ chỏ nữa mới tức điên người, tao mà còn cối 57 ly không giật đặt trên xe díp là tụi nó kể như thác”.


 Nghe đến vịt…Ắt hẳn là mặt tôi đang đực ra như vịt đực vì uýnh nhau gì mà lạ vậy cà. Như đoán được ý tôi, nó bèn vén môi lên chửi đổng: “Sư mày thằng nhà quê, mày cứ tưởng gặp cọp ba đầu rằn là Việt Cộng dạt ra đứng ngó chơi gãi háng cho đỡ buồn chắc. Tao báo đời cho mày biết, ngòa trận địa bên nào nhiều tay súng hơn là chiếm thế thượng phong. Giản dị và dễ hiểu vậy thôi, thằng con”. Thấy mình ngồi đồng đã lâu, tôi hỏi cho phải phép: Mày gặp tụi chính quy ?


 Nó lại ngóac mồm lên chửi thề: “Sư nó, đụng tụi Mặt Trận Giải Phóng mới đau. Gặp công trường 5, 7 hay 9 thì tao đâu có ngồi đây với mày. Dám leo lên…”


 Nó khựng lại như suy nghĩ, giọng nhát gừng:


 - Tao đã leo lên bàn thờ ngồi một lần rồi…


 Tôi ngớ người ra, láo ngáo hỏi:


 - Mày nói gì…Bàn thờ…?


 Nó gật đầu: “Ừ, chuyện đó để tao kể sau cho mà nghe, thằng khỉ…”


 “…Vì mấy cái mô lù lù như cái mả Đạm Tiên, tụi tao lại được lệnh tiêu hủy nốt mấy cái xe cơ giới còn lại, ngay cả GMC…Lệnh với lạc, đã bị cụt tay, nay còn cái chân cũng bị chặt nốt. Tao nói với thằng trung tá liên đòan trưởng, để tao dẫn đại đội trinh sát của tao lên quét dọn, là đường ta, ta cứ đi, dễ ợt, có mẹ gì đâu. Thằng gà chết chỉ cho tao hai mươi thằng em, vừa quay lưng đi thì cái thằng tối dạ này ra lệnh đốt ngay đòan quân xa, trong đó có xe díp của tao với lương khô đầy mì gói. Khốn nạn, cứ ngao ngáo nghe lệnh “đại bàng” sỉa xuống, gọi dạ bảo vâng, nói sao làm vậy, tự dưng vạch áo cho người xem lưng. Mẹ, chán gì đâu mấy bố văn phòng nhẩy bổ xuống ruộng cầm quân, cầm đến cái ống liên hợp hết “Dạ…Đại bàng” đến “Vâng…Đại bàng”. Vâng với dạ mãi bộ Việt Cộng nó tha tào sao.


 Y trang, nhân bảo như thần bảo, lửa vừa bùng lên là trung liên RPD của tụi nó quạt như điên. Và tao biết, tụi nó cũng đã gần lắm rồi, có cả đại bác bắn thẳng 75 ly, hỏa tiễn 107, đại pháo 130 .Và tao nghĩ, cú này mà đụng tụi trung đòan tân lập Lộc Ninh, trang bị vũ khí cận đại ngập răng, thì từ chết đến bị thương, chắc thân bại danh liệt quá. Để tránh tên bay đạn lạc, tao dẫn lính lên phía trên quốc lộ, kệ thằng trung tá gà mờ đang hò hét ầm ĩ như gà mắc đẻ. Tao vừa tiến được mấy trăm thước thì nghe tiếng AK “chóc chóc” ròn rã. Nhào xuống lề cỏ tụi tao bắn trả, bắn hỏang bắn tiều vậy thôi, vì đâu biết tụi nó nấp ở đâu. Đến lọat đạn kế, qua ánh lửa của đoàn quân xa bị đốt cháy sáng rực như rừng. Tao thấy một chùm ba thằng đang đong đưa ở trên cây như…khỉ đeo cây, chí chát một hồi thì…Mẹ, hai thằng rụng cái độp như sung rụng. Với thằng còn lại. Tao sẽ tính chuyện phải quấy với nó nên tao tao ra hiệu cho mấy thằng em ngưng bắn để tao hành sử”.


 Nó lhóng mỏ: “Mày có hiểu tao nói gì không?”. Vẫn chưa kịp hiểu. Nó tồ tồ tiếp:


 “….Thực tình lúc ấy, không hiểu tại sao cái đầu tao lại có ý nghĩ cùng hình ảnh những ngày còn bé, tay cầm khẩu súng cao su, con chim đang đậu trên cành…Thấy thằng xạ thủ súng cối đang cầm khẩu Carbine M2 xớ rớ gần đấy. Thế là….thế là tao luận về vũ khí căn bản nhập môn cho mày nghe ti nhá, thằng con: Súng trường để bắn xa như mày biết đấy, nhưng trong tất cả đạn đạo của súng không phải đường thẳng mà là…đường cong. Trừ khẩu Carbine M2 có đạn đạo thẳng. Rồi, nhìn cái bản mặt nhà quê của mày tao biết mày đíu hiểu gì cả. Nghe cho kỹ nha: khẩu Garant M1 và M16 bắn xa nên đường bắn nó…cong. Khẩu Carbine M2 bắn ngắn nên đạn đạo nó…thẳng. Nói cho mày hay, những ngày ở sân bắn, tao bắn Carbine M2 như để. Cách 50 thước tao bắn cái loong bia bung lên từng phát một. Loong bia vưa rơi xuống đất chưa kịp thở, bụp thêm phát nữa là lại nhẩy dựng đứng lên. Mười phát như một. Như Dăng-gô vậy mày.


 Vô tình thấy thằng lính đang xớ rớ cầm khẩu Carbine M2 đúng ý tao. Hỏi thì nó cho biết xách cối 57 ly ê càng, được lệnh xếp lớn bỏ lại vũ khí nặng, nó mượn đỡ nhân dân tự vệ khẩu Carbine cho…nhẹ hều. Tao quơ khẩu súng của nó. Trong vòng 50 thước. Nheo mắt nhắm một đạn đạo…”


 - “Mày biết không?”. Nhấp ly rượu, nó nheo mắt nhìn tôi cười cười:


 “…Đột nhiên từ trên chạc cây, tiếng nó vọng xuống, giọng giá sống miệt vườn pha giọng đặc Bắc kỳ rau muống: “Ông tha cho con...Ông tha cho con“. Tao đâm chưng hửng và bật cười nền đành buông súng. Nó leo xuống. Tao chưa biết tính gì với thằng du kíck chết tiệt này thì vừa đến trước mặt tao, nó nói: “Ông cho con ăn…cháo gà đi ông ”.


 Tôi nhìn nó. Nó nhìn tôi lừ đừ: Sư mày nghĩ tao ”chế” hả. Mà mày biết đếch gì thằng nhà quê, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, chưa gần giữa cái sống và cái chết. Để thấy những ý tưởng lạ kỳ, khôi hài và bi thảm. Từ từ tao kể cho mà nghe…Khỉ thật, lâu ngày không gặp. Bây giờ thằng mũ nâu này ngầu và hung khiếp, lại còn hung hãn bốc nhằng, bầy đặt triết lý nhân sinh với nhân bản này nọ. Nó lại lều bều:


 “…Sau tao mới ngộ ra: Nó nằm trong ban đặc công, vẫn rình mò tụi tao hay tụ họp ngòai quán và thấy tụi tao hay…ăn cháo gà nên nó…nhập tâm. Nay gặp lại cố nhân trong tiếng súng, cái bao tử nó đòi hỏi theo…quán tính vậy thôi. Nghĩ cũng may. May mà nó chưa quẳng vào chỗ tụi tao đàn đúm một trái lựu đạn ắt hẳn chạy trời không khỏi nắng là nhờ…bát cháo gà. “Ăn mày…” chẳng hẳn lúc nào cũng “…đánh đổ cầu ao” là thế đấy. Mày có hiểu tao nói gì không? Hiểu hay không kệ tía mày. Tao chẳng biết làm gì hơn với nó là tao trói nó vào gốc cây để nhìn tụi tao bắn nhau, để nó quên đi…cái đói của nó. Từ đó tao tìm ra một chân lý bất biến muôn đời là úynh cho lắm cũng vậy thôi, cả hai bên, quan cũng như lính đều…đói cả. Chả được cái nước mẹ gì sất”.


 Triết lý củ khoai xong, nó lại lâm trận:


 “…Quay lại đằng sau…khói lửa kinh thành rực một góc trời, pháo nổ ì ầm. Cờ đang dở cuộc, bạc chửa thâu canh, chắc phải tính quá. Tình hình lúc này coi mòi không xong, mà tương lai thì cũng chẳng sáng sủa gì cho lắm và tao nghĩ đến chuyện tam thập lục kế tẩu vi thượng sách. Thân thằng nào thằng ấy lo, tao cóc ngán thằng trung tá văn phòng bửu giám này, vì tao cứu nó mấy lần rồi. Cú chót nó bị thương bên kia cầu, đạn vẩy như chấu, tao vẫn tỉnh bơ bay qua vác nó về, đạn đuổi theo “chóc chóc”. Và tao nghĩ dọt đã, sau này gặp lại nó cứ giả ngu giả điếc như…lạc đường vào lịch sử là êm, trên răng dưới lựu đạn, mửng này tao làm hòai, mày có hiểu tao nói gì không....”


 Giọng nó nghiêm và buồn:


 - Và tao lùi lũi xách hai mươi tay súng “xuống núi” trong đêm. Để rồi mày sẽ thấy, “mảnh đời rách nát” sau của tao được quẹo ở “khúc quanh” đẹp như mơ này.


 Tôi đang nghĩ : Vừa phải thôi chứ, làm gì mà chơi khó với nhau quá vậy, hết “mảnh đời…” đến “ khúc quanh…”, chữ nghĩa gì mà rắc rối, tối mù mù như đêm củ mật vậy…Nó lại báng bổ tiếp:


 “..Tụi tao lầm lũi đi trong đêm về hướng đông nam. Vì theo kinh nghiệm “đào thóat” của tao, địch đang dồn quân về phía đông, thì hướng nam đương nhiên được bỏ ngỏ. Tao cứ nhắm hướng Lai Khê mà đi, khi nào thấy cái bồn nước là gặp bộ chỉ huy sư đòan 5. Đến rạng sáng thì tao dừng quân ở giữa một cánh đồng, xa xa là là một dạt làng. Không một tiếng gà gáy, không một tiếng chó sủa , tứ bề vắng ngắt, lúa non cao cả thước xanh rì, cao hơn cả đầu người. Tao thấy nằm ngủ rải rác ở đây chẳng ai thấy và đợi tối đến đi tiếp, chấm tọa độ trên bản đồ cũng chẳng còn bao xa, ăn uống qua loa, tao yên chí làm một giấc. Tỉnh dậy thì cũng quá trưa và thấy thiếu ba, bốn thằng con. Hỏi ra thì tụi nó dắt díu nhau vào xóm làng đằng kia để kiếm chút cháo. Giữa cái êm ả, chỉ có tiếng sào sạc của cánh lúa. Bỗng tao nghe thấy tiếng gào, tiếng hét từ dạt làng vọng lại. Lúc dài rên rỉ, lúc tắc nghẹn…”


 Cúi đầu nhấp ly rượu, nó hỏi tôi, giọng ngậm ngùi đâu đâu:


 - Có bao giờ mày nghe tiếng tru ằng ặc của một người bị cắt cổ chưa?


 Tôi lạnh người, không trả lời…Âm hưởng của nó trầm trầm:


 - Không một tiếng súng nổ, im ắng, tao biết ngay là đám con tao đang bị tụi nó làm thịt. Từng thằng. Từng đứa. Bằng mã tấu. Bằng dao rừng…


 “…Tao biết bị động nên âm thầm dọn dẹp, gom mấy thằng còn lại đi về hướng khác. Vừa lầm lũi cúi đầu bước, tao vừa giận mấy thằng con vừa ứa nước mắt…


 Cho đến sẩm tối tụi tao táp vào một con rạch cuối bãi, sát một cái cầu gỗ lửng lơ giữa ánh trăng cuối tháng. Nhưng tao vẫn nhìn thấy mờ mờ mấy thằng du kích lóng ngóng đứng trên cầu, thỉnh thỏang bắn bâng quơ xuống mấy đám lục bình, đang bồng bềnh nổi trôi trên mặt nước. Trong cái tĩnh mịch, ắng lặng đến són đái này, đang nằm sát bên tao, đột nhiên gã thượng sĩ già chết bầm tuổi bằng bố tao, bung ra một tràng ho rũ rượi. Tao sợ muốn thọt dái lên cổ, vội bịt miệng gã lại, nhưng gã húng hắng như như người bị lên cơn suyễn. Như John Wayne, tao rút cái lưỡi lê ra cái rẹc và kê ngay vào cổ để hù gã: “Ông không câm, tôi cho ông …đi”.


 Tôi hồi hộp chết người, nó nhếch mép “Mày biết không? Tao lỡ làm người hùng ci-né, không lẽ lại nhét cái lưỡi lê vào bao cũng chuế, bỗng dưng gã buông một câu làm tao cũng muốn bật cười, gã hổn hển hỏi tao: “Làm sao hết ho hả ông thầy ?”.


 “…Lõm bõm đến sáng hôm sau thì tụi tao lạ vào một cánh đồng, tứ bề ngập nước. Ngơ ngáo chưa biết tính sao, thằng nào thằng nấy mờ người, lờ đờ như cá gặp nắng. Vất vưởng đi thêm một khúc nữa, gặp mấy cồn đất lấp sấp những nước là nước, nằm lăn quay ra nhưng cái lưng ướt nhẹp, loay hoay mãi không ngủ nghê gì được. Đứng dậy nhìn vẩn vơ, bỗng tao thấy một chiếc thuyền câu đi lại. Trên có một lão nông dân ngồi thu lu và một thằng bé vừa chèo vừa nhai nhóp nhép gì đó. Thuyền bơi nhẹ lướt ngang qua tao, cũng bình thường thôi.


 Cả giờ sau, cái đầu củ chuối của tao mới chịu ngọ nguậy…Như có giác quan thứ sáu, tao chột dạ và thuỗn mặt ra ngẫm nghĩ. Lão nông dân này như cố tình, tảng lờ không nhìn thấy tao. Trong khi tao đứng như trời chồng giữa trời và nước, con cái tao thì lổn nhổn, đứa ngồi bó gối, đứa nằm la liệt như chết rồi. Cớ sao mắt lão cứ nhìn thẳng và ngó lơ. Ba giây sau, tao mới ngã ngửa người ra. “Bỏ mẹ…”


 Tao hối đàn em sửa sọan “zulu”, nhưng không còn kịp nữa, tao hồn vía lên mây, ngực đánh trống ngũ liên. Sư chúng nó, người ngợm ở cái lỗ nẻ nào chui ra mà tụi nó đông quá thể, đông như đỉa đói. Từ đằng xa, cả hơn chục chiếc thuyền kéo tới, mỗi chiếc năm, sáu thằng súng ốc trang bị ngập đầu. Gần hơn một chút nữa, hai khẩu RPD đen thui đặt ngạo nghễ trên mui, như hai ông thần mặt sắt đen sì, dương mắt nhe răng, lầm lì cầm thanh xà mâu giữ đền. Đứng trên đầu mũi thuyền, một thằng cầm loa hét: Hàng sống chống chết…Hàng sống chống chết…”.


 Tôi ngứa mồm, hỏi một câu ngớ ngẩn: Dọt…Nghề của mày mà!


 Nó hơi cáu: Mày ngu như lợn. Ruộng nước mênh mông, mày bảo tao chạy đi đâu? Rót thêm chút rượu, nó kể lể giọng nghiêm và buồn:


 “…Tao cho lính dàn hàng ngang. Vừa xong thì tụi nó ập lên như đĩ, la lối vang trời: “Hàng sống chống chết…Hàng sống chống chết”. Tiếng hò hét, tiếng đạn “chíu, chíu” sát mang tai, nghe rợn tóc gáy, RPD khạc đạn 7.6 ly thì còn đíu gì là người với ngợm nữa. Sau nghĩ lại, tụi tao thua, một phần vì quân số như tao vừa nói ở trên. Một phần có mấy thằng con mất tinh thần, dại dột lăn qua nằm sau mấy cồn đất, đạn hai khẩu trung liên bắn chéo rơi lỗ chỗ, đất cát bay tứ tung. Đồng thời tụi nó đạp nước nhào tới, nước bắn tung tóe, vuốt mặt không kịp…không thấy trời trăng mây nước gì nữa, thì còn đứa nào yểm trợ cho đứa nào”.


 Đặt cái ly xuống, nó ngần ngừ: “Lần đầu tiên trong đời, tụi tao đánh cận chiến! “.


 Và giọng nó trầm trầm:


 “….Lâu lắm rồi tao mới thấy ớn lạnh của khẩu “Garant” gắn lưỡi lê…Sư chúng nó, giờ phút thứ hai mươi lăm này chúng còn chơi đồ cổ mới chết người, khẩu M-1 nặng bốn, năm kí lô, nòng dài ngoằng, cái bá súng gỗ to bự sự, nhìn phát khiếp. Lưỡi lê đâm sồn sột vào người như đâm vào thân chuối, máu phọt ra có vòi... Tiếng vũ khí chạm nhau..Tiếng nước văng tung tóe… Tiếng vật nhau hùynh hụych…”


 Nó ngậm nhấm, như không có tôi ngồi đấy:


 - Tao nghe thấy cả tiếng lưỡi lê phập lút cán vào da thịt, hòa lẫn với tiếng rú thất thanh, rên la. Nghe rợn người, không chữ nghĩa nào diễn tả nổi. Tôi không biết nói sao, hỏi cho có chuyện: “Mày bị…”


 “…Không…Trong lúc hỗn quân hỗn quan, có thằng em bị đánh văng bật vào người tao. Tao cờ quạng ngã chúi xuống sát mặt đất, bấy giờ tao mới thấy máu loang và lan rộng trên mặt nước. Cũng vừa lúc tao nhìn thấy bàn tay của thằng em, tay nắm lấy ống quần tao, đôi mắt trắng dã, như tức tưởi trối chăn, như oán hờn trách móc Mặc dù đang bấn lọan, như có cái gì chắn ngang cổ họng, tao muốn ói, muốn ọe, muốn khóc. Cũng vừa lúc gã thượng sĩ già, mở chốt trái lựu đạn, dúi vào tay tao và cả hai cắm đầu chạy thục mạng, bất kể phương hướng…


 Lấy ngày làm đêm, lấy đêm làm ngày. Cuối cùng thì hai thằng tao lạc vào một rặng cây dầy đặc khá rộng, như một cánh rừng nhỏ, mặc dù tối khuya, cũng không đi nổi nữa. Hai đứa chui vào cái bụi dầy nằm vật ra đấy và lăn ra ngủ như chết, gần như bất tỉnh nhân sự…”


 - “Có kể cũng không ai tin…”. Nó lắc đầu:


 “…Như trong phim ci-né nào đó, tao không nhớ: Nửa đêm hôm ấy, tao đang mơ mơ màng màng thì có thằng của nợ nào đang bắc cầu vồng đái tồ tồ cả vũng, bụi nước đái rơi lấm tấm ngay sát mặt tao. Sư nó, không hiểu nó ăn uống cái đíu gì mà mùi nước đái khai nồng nặc, tao muốn cho nó một phát nhưng sợ bứt dây động rừng. Thấy không xong, đợi thằng du kích biến một lúc lâu. Hai thằng tao lồm cồm dậy đi tiếp, cho đến lúc mặt trời vừa mới nhú lên, cứ hướng đông mà tiến, cho đến khi thấy nhà dân và quốc lộ 13 trước mặt. Trông thì gần, gần tới nơi thì…


 Thì để rồi hỡi ơi, khuất sau căn nhà ngay bìa đường, là hai thằng mặc quần xà lỏn tay lăm lăm khẩu AK, bên cạnh là chiếc xe díp, hai đứa đứng gác chiếc xe của phe ta như gác mả tổ nhà chúng nó. Trong khi tao có mỗi khẩu Colt 45, gã thượng sĩ già thủ cây M16 còn vài viên đạn. Gã bạn đời tao bò tới, men tới, lẽ dĩ nhiên không một tiếng động. Còn tao tụt hậu, khư khư ôm khẩu súng lục, sửa sọan…chém vè. Thì như tao đã kể lể, nhìn thấy cái xe díp tao lại nhớ đến mấy gói mì ăn liền. Tao lại thấy…đói. Thì “bụp”. Thêm một tiếng “bụp” nữa. Mẹ, chỉ hai tiếng “bụp, bụp” thân thương ấy thôi. Mắt tao mở thao láo nhìn hai cái thân người đổ xuống, như hai thằng say rượu. Chưa bao giờ gã thương sĩ già của tao “chặt” đẹp đến như vậy, bắn đíu gì như bắn bia ấy mới cha đời…Thóat cú này, chắc như bắp, tao phải đưa gã đến quán mợ Tư Ngựa, vợ thằng trung sĩ nhẩy dù, nhậu một trận guắc cần câu cho hết…cơn suyễn. Rồi đến đâu thì đến…hồn ai nấy giữ”.


 “Súp-păng” quá mạng. Hồi hộp cứ như “xi-nê-ma” và tôi hỏi nó:


 - Thế là mày thóat?


 Nó hít một hơi thuốc rồi nhấm nhẳng:


 “…Thóat đíu gì…Buổi sáng đầy nắng ấm, vừa vào đến cửa ngõ thị trấn, tao vừa đang đảo mắt đi tìm cái bồn nước của thị trấn Lai Khê. Chó dại từng mùa, người dại quanh năm vì tao vừa nhận ra mình đang…dại dột thật, đang phạm một lỗi lầm chết người. Ấy là: Gã thượng sĩ lái xe díp. Tao đứng trên xe như đang duyệt binh và tay cầm khẩu AK. Thế là “ầm” một tiếng long trời lở đất, viên đạn B40 thổi ngay vào xe và tao bung lên trời cũng cỡ cả một, hai thước và rớt bịch xuống đất…nằm thẳng cẳng”.


 - Mày biết không, Sư Đòan 5 rút đi từ đời tám hóanh nào rồi. Bố ai mà biết!


 “…Không biết bao lâu thì tao tỉnh dậy, nhưng vẫn nằm quay đơ. Gọi là tỉnh dậy thì không đúng lắm, chỉ nửa mơ nửa tỉnh biết mình nằm đấy và trên mặt được phủ mấy tờ lá chuối. Mắt tao như bị bầm sưng nên chỉ mở he hé, nhưng vẫn thấy lóa tia nắng sáng ban mai, lọt qua vết rách mảng lá. Chân tay cứng ngắc, không cục cựa được. Nhưng tao vẫn có cảm giác hình như bị thương ở đâu đó. Mấy con ruồi, con nhặng vo ve quanh vết thương, bò bò, liếm láp, vừa nhột nhạt, vừa xót tê tê, hình như ở dưới ống chân quyển thì phải. Để rồi tao tái người đi, khi ngửi thấy mùi thơm của ba nén nhang cắm ngay sát đầu tao. Tao liên tưởng ngay đến bát cơm với quả trứng gà luộc, để bỗng dưng thấy bụng nôn nao cồn cào, vì mấy ngày nay chỉ lo chạy, chưa có gì trong bụng. Tao suýt bật cười nhưng cười không nổi vì xém nữa mình là…con ma đói.


 Tỉnh dậy lần thứ hai, và lơ mơ nghe có tiếng ai đang quỳ bên tao đang lâm râm đọc kinh. Tao lờ mờ thấy bóng người ấy, chỉ ẩn hiện một mầu đen và trắng hòa nhập. Rồi lom khom lôi cái ví trong túi quần tao ra để sang một bên và lui cui dở tờ lá chuối, rồi tất cả với những động tác thật nhẹ nhàng và cũng thật khoan thai cúi xuống tháo cái thẻ bài. Qua đôi bàn tay, có một chút ấm êm lướt qua bên má, tao ngửi thấy mùi gì khác lạ, không phải là mùi nhang mà thoang thoảng mùi hoa nhài.


 Một lát sau người ấy đứng dậy, qua khe lá, qua ánh nắng chói chang hắt vào của mặt trời. Tao chỉ thấy lung linh mờ nhân ảo đằng sau lưng với một dáng đi nghiêng ngả cùng hai mầu trắng, đen nhạt nhòa trên nẻo xa, đường vắng…”.


 Nó đứng dậy lấy thêm ít đá lạnh, bỏ vào cái ly lắc nhẹ, rồi tiếp:


 “…Tao chỉ bị thương nhẹ hều, chắc bị kích ngất đi vì tiếng nổ. Nên sau đó, tụi nó nhúm tao làm tù binh, đưa tao qua tận Snoul bên kia biên giới, vùng căn cứ chiến lược của “Mặt trận giải phóng miền Nam”. Mấy tháng sau mới đưa tao về, tụi nó tống tiễn tao thẳng vào trại cải tạo. Hơn một năm sau, tao mới liên lạc được với nhà.


 Nhà tao đi thăm và kể chuyện. Chuyện kể sau này cứ như truyện “Nấm Mồ Hoang” của Jean Fougère”.


 “Mồ mả gì mà nghe khiếp quá vậy mày?”. Tôi vừa buột miệng ra hỏi là đã thấy hố. Như ếch vồ hoa mướp, như lúc này nó chỉ đợi có vậy:


 “…Jean Fougère được giải Courteline năm 1957 về truyện ngắn của hàn lâm viện Pháp. Viết về hai vợ chồng đi hưởng tuần trăng mật ở Châteaudun, miền Normandie. Hai người bị hư xe ngay tại thị trấn Chartres và ngồi đợi ở lữ quán Grand Monarque. Mãi đến tận chiều, ngồi đợi mà xe vẫn chưa sửa xong. Cô vợ mới cưới thấy một nữ tu còn trẻ ở tu viện bên cạnh, tay cầm giỏ hoa băng qua nghĩa trang bên kia đường. Vì ngồi đã lâu nên cô đi theo cho khuây khỏa, thấy người nữ tu đặt bó hoa lên một nấm mồ gần như bị bỏ hoang. Tò mò cô đọc dòng chữ khắc trên tảng đá thô, nằm sô lệch trên nấm mộ:


 - “Thiếu úy Robert Fontant đã hy sinh tại đây để giải phóng thị trấn Chatres”.


 Cô lặng người đi và chỉ mình cô hiểu: Chàng sĩ quan này là người yêu của cô, bị mất tích mới đây năm 54 của Đệ Nhị Thế Chiến”.


 Mân mê cái ly, gịong nó rù rì như tụng kinh:


 “…Ấy đấy, chuyện người nữ tu và nấm mồ hoang với người đi tìm kiếm như vận vào tao. Sau ngày sập tiệm, gia đình tao dọ hỏi khắp nơi nhưng chẳng có tin tức gì, nên nghĩ tao tử trận mất xác ở tận đâu đâu. Một hôm, có một nữ tu còn trẻ, đến gõ cửa và báo tin tao được “Chúa gọi” và đã “về chầu nước Chúa” ngày đó tháng đó và để lại giấy tờ tùy thân của tao. Cả nhà bò lê bò càng ra khóc lóc như mưa như gió, còn sùi bọt mép cầu khẩn có sống khôn chết thiêng thì về phù hộ cho gia đình. Thế là tao được rửa chân nhẩy tót lên bàn thờ ngồi chễm chệ như ông phỗng đá, đâu có ngo ngoe gì được để phù với phép. Chỉ tội nghiệp ông bà cụ tao, cơm nước nhang đèn, sì sụp khấn vái quá thể. Nhưng tao đâu dám hó hé, lỡ dại mồm dại miệng “lầu bầu” rồi hai cụ nghe được…lăn đùng ra tay bắt chuồn chuồn thì khốn!


 Bà cụ tao Công giáo nhưng lại tin bói tóan. Tuần sau bà mò đến cô Tư Ma Gà ở dưới Hàng Xanh xem một quẻ, quẻ dậy tao vẫn còn sống nhăn răng và sẽ “đòan tụ” một ngày không xa. Gia đình tao bán tín bán nghi, bàn nhau đi xuống dòng tu Lai Khê của tòa giám mục Pháp cũ, nhờ người nữ tu đi tìm mộ tao. Đến nơi dòng tu đã bị tụi nó “phẹc-mê-bu-tích”, nên tất cả đều phải cởi áo nhà dòng. Riêng vị ân nhân của gia đình tao nghe đâu buôn thúng bán mẹt ở vùng Hóc Môn rất ư là nghèo túng nhưng hai cụ kiếm mãi không ra. Nhớ lại lời kể của người nữ tu, ông bà cụ tao trở ra đầu cửa ngõ của thị trấn và hỏi mấy nhà quanh đấy và họ chỉ đến nấm mộ chôn tập thể ngay sát quốc lộ 13. Sau này theo tao dò la thì trong nấm mộ ấy có thân xác gã thượng già của tao. Để rồi chẳng biết làm sao hơn, ông bà cụ tao đang loay hoay cầm bó nhang, nhìn quanh quất thì có bà hàng nước bên kia ven đường tới gặp và kể lể: Người nũ tu ấy trước đây vẫn thường ghé thăm mộ, lần nào cũng có một chậu hoa. Bị cởi áo nhà dòng thì để lại chuỗi thánh giá. Bà hàng nước sợ ai lấy mất nên giữ dùm, nhưng bà cũng chẳng biết đưa cho ai. Bà cụ tao Công giáo thuần thành, sợ phải tội nên cụ mang về.


 Ra khỏi trại cải tạo, về đến nhà hình ảnh “lộng kiếng” tao đã được …liệng cống đi từ khuya. Trên bàn thờ, tao vẫn thấy còn cái ví, chuỗi thánh giá.


 Nhưng không có…cái thẻ bài.


 Tôi nghĩ thầm “Gì nữa với cái thẻ bài”. Như tiếc hùi hụi và nó phân bua:


 “…Mày biết không, đi lính thằng nào cũng mắc một cái tật, không thế này thì thế kia, thằng đeo chân thỏ, thằng đeo nanh lợn rừng. Riêng tao thì đeo tấm thẻ bài nó quen rồi, không có thì ngứa ngáy, khó chịu, như thiêu thiếu một cái gì. Thấy chuỗi hạt tiện tay tao đeo vào cổ thế thôi. Như mày biết đấy: Tao đạo gốc, vì tao chưa ở cái tuổi gần đất xa trời mon men đến làm quen với Chúa để cầu cạnh một chỗ trên thiên đàng. Nói dại chứ gặp ngày đẹp trời lớ quớ leo lên cõi trên gặp ông thánh Phê-rô thì ông ấy cũng cấm cửa vì tội lỗi ngặp đầu. Rửa tội chẳng hết mà…tắm cũng không xong. Vì mấy em đầy ra đấy, theo đuôi cũng hết hai ngày cuối tuần nên còn thi giờ đâu dành cho Chúa. Nhưng vì bà cụ cằn nhằn mãi, tao đeo chuỗi hạt cho cụ vui vậy thôi, sau này tao mới thấy như “Chúa đã định…”. Khi không lại đâm đầu chui vào…cái thòng lọng”.


 Lằng nhằng quá thể, ấy vậy mà vẫn chứng nào tật ấy. Nó lại câu giờ vào thăm bác Hồ một phùa nữa cho phải đạo. Về lại để “tọa đàm”, nó khật khừ với câu chuyện đang hương tàn khói lạnh và nó phe phẩy:


 “…Lại chuyện bói toán nữa, kể cho mày nghe khùng luôn, thằng con. Nằm không trong trại cải tạo đuổi ruồi búng ghét mãi cũng khô người. Tao bèn nhờ vả một khứa bạn tù bấm cho một quả bói cho đời lên hương, cho có tí ti le lói cuối đường hầm. Bố khỉ, khứa hươu vượn thế này mới cha đời, khứa dậy số tao thân cư thê và được vợ nuôi báo cô. Ít nữa có quý nhân phù trợ nên mặc sức thong dong vì ngày về cũng chẳng xa là mấy. Thế nên đíu dấu gì mày, tao cũng có ý đợi…Mẹ, quý nhân đâu chẳng thấy, lớ quớ thế nào tao…đợi một quả chín năm chẵn trong tù mới điên người. Và thêm một lần, sau quả B40, tao nghĩ mình…dại dột thật, vì đi nghe thằng bói rùa. Bản mệnh khứa: Vào đây khứa không hay. Ra tù khứa chẳng biết. Huống chi cái thân…tao.


 Hồi cố quận, trên răng dưới dế, tao múa bút để nín thở qua sông, vẽ riết quen tay nên bắt được tí danh còm. Chẳng hẳn là vua biết mặt chúa biết tên, nhưng một ngày cũng có người giới thiệu qua Hóc Môn trang trí một phòng họp một xưởng dệt mới mở. Trời xanh mây tím nắng vàng, qua cái cửa sắt là con đường lát sỏi, tao lững thững thả rong. Để rồi, không hẹn mà gặp, trước mặt tao là một tà áo lụa phất phơ trước gió qua một dáng đi thật thanh thản, một thứ rất hiếm hoi trong khỏang đất trời sô bụi này. Nhưng tao thấy quen quen, chẳng nhớ gặp ở đâu. Nghĩ mãi mới ra mảnh áo lụa ấy có điểm dăm đóa hoa huệ đầy rẫy trong nhà thờ. Chưa hết chuyện, tao lại lãng đãng thả hồn về “giữa đám đông, trong đám đông”, rồi “em có nhớ anh không” của những ngày bát phố Lê Lợi, Tự Do. Bỗng dưng tao chu mỏ…húyt sáo bâng quơ. Người đẹp quay lại, ngúyt tao một cái đến…tái tê”.


 - “Rồi sao nữa”. Tôi hỏi:


 “…Ông sao trên trời thì có…Tao đang ngồi đợi và ngộp thở vì “Lạy Chúa tôi” hình của Đức Mẹ và Chúa sao mà nhiều quá đỗi, chỗ đâu để treo tranh. Đang ngó tới ngó lui, tao quay lại thì ngã ngửa người ra vì người đẹp bước vào lại là…cô chủ hãng. Khi không chỉ vì cái húyt sáo, để bây giờ lấn cấn với hạt sạn vướng mắc trong đôi giầy. Vào chuyện, tao hươu vượn về trường phái ấn tượng, siêu thực qua dao, cọ và mầu sắc. Như đụng vào cái nút máy hát cũ rỉ, tao nói như…“hát”. Tao lan man về nghệ sĩ gắn liền với sáng tạo, với nhân sinh vị nghệ thuật này kia. Với yên sĩ phi lý thuần qua tà áo tung bay cùng gió và mây, tao nói với người đẹp, tao đang nhen nhúm…một sáng tác để đời cho mai hậu.


 Vì bức tranh khổ lớn nên một tháng mới hòan tất. Như một tuyệt tác, tao vẽ trong mộng và mơ, tao chưa bao giờ đam mê cọ và dao đến như vậy, đường nét, mầu sắc như quấn qúyt và quyện vào nhau, từng mảng từng lớp, trải dầy trên khung vải. Tất cả những cảm hứng này, tao gửi gấm qua ánh mắt, nụ cuời đầy thánh thiện của cô ta. Nhưng cũng chỉ luyến lưu, mong với nhớ vậy thôi, để rồi tao chẳng dám nghĩ gì xa hơn. Nhưng hãng xưởng không phải là nơi chốn cho nghệ thuật, cho cái đẹp. Chẳng nói mày cũng thông, mỗi tác phẩm như có định mệnh của riêng nó, nếu được đặt đúng chỗ. Như dưới mái ấm gia đình căn nhà chẳng hạn. Rồi bức tranh cũng được mang về nhà cô ấy. Trong khi đứng ngắm tác phẩm thật hài hòa, trong tao chợt nao nao bứt rứt thấy thiếu thốn một cái gì, như một tách trà chẳng hạn.


 Thế là tao đi lục lọi, mò mẫm tìm cái ấm để pha trà.


 Ngay lúc ấy, qua khe hở của cánh tủ trà, dường như có bóng người đi lại. Như buổi sáng hôm nào, qua vết rách của tầu lá chuối, tao bắt gặp những tia nắng lung linh, hòa nhập cùng hai mầu đen trắng, và thoang thoảng đâu đầy có mùi hoa nhài. Nhưng tất cả những hình bóng và mùi hương ấy chỉ thoáng qua như áng mây trôi mà thôi. Vì lúc ấy tao đang loay hoay tìm thêm cái tao muốn tìm thì…hộp trà ướp hoa nhài có ngay đây. Ắt hẳn là tao bị tự kỷ ám thị nên chẳng gửi gió cho mây ngàn bay gì thêm. Thêm nữa, cũng có thể tao hoa mắt vì ánh nắng hắt qua khung cửa sổ. Thế nhưng cũng nhờ vệt nắng heo hắt này…thì.. ngay góc tủ, tao lặng người đến thẫn thờ, vì đập chát vào mặt tao là một vật rất gần gũi và cũng rất thân quen. Một vật đã vắng mặt lâu ngày nhưng vẫn vấn vương mong có ngày gặp lại như mong gặp lại người tình cũ. Tình cũ không hẹn mà tới khiến tao ngẩn ngơ cả một lúc lâu, vừa suy nghĩ mông lung vừa mân mê cái vật làm bằng thiếc mỏng …mang tên tao.


 Đó là`: Tấm thẻ bài.

 


 ***

 

Chó ngáp phải ruồi thế nào chẳng biết nữa, thằng bạn tù trong trại cải tạo bói rùa lạng quạng trúng phóc mới lạ.. Cũng chẳng lạ gì, từ dạo ấy cuối tuần nào tao cũng bám đuôi theo “thân cư thê” của tao đi lễ nhà thờ, cũng quỳ gối chí chát nát người, cũng đấm ngực bình bịch mới …đau. Nói thật với mày nói dối phải tội chứ, chứ tao hiếm khi vác xác hẻo lánh tới sân nhà thờ, nhà chùa…Có Chúa, có Phật ngự ở cõi trên hay không? Tao trèo không lên nên với không tới. Với nhang đèn hương khói, tao đã leo lên bàn thờ ngồi một lần rồi, rõ ra tao hiểu ra cái nhẽ của trời đất với gần đất xa trời là như thế này: Mặc dù ông trời ở xa, nhưng ông đã sắp sẵn cho mỗi người một cái số. Như số vợ chồng tao bây giờ chẳng hạn…


 Như định mệnh đã an bài.




Phi Ngọc Hùng


Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, July 30, 202112:23 PM(View: 80)
Phật dạy rằng có vô số lượng kiếp, và tôi đang sống đây là kiếp người, lẽ ra cũng đáng mừng, nhưng lại là người dưới thời “chưa bao giờ tốt đẹp như bây giờ”, nghe ra thật mỉa mai nếu không muốn nói là rất đắng cay. Sau 1975, các xe xích lô ở Nha Trang phải vào hợp tác xã, có ghi biển viết tắt XLNT. Hỏi bác xích lô nghĩa là gì, bác tỉnh bơ: Xin Làm Ngựa Trâu! Ôi chao, người miền Nam và tiếng Việt Nam! Hay thấm thía! Thì đúng là gần nửa thế kỷ rồi làm kiếp ngựa trâu, giờ sắp vào lò luyện ngục, quỷ sẽ dắt đưa đi đầu thai. Chẳng biết sẽ thành chó, mèo, heo, gà hay giun dế… Thành kiếp gì cũng không bằng kiếp người. Ngẫm ra, cái hay của kiếp người là giàu nghèo sang hèn đều có quyền ước mơ. Có anh mơ làm tổng thống, có chị mơ làm hoa hậu, mơ tột đỉnh dù chẳng bao giờ thành sự thực. Nhưng vẫn cứ mơ, vì chẳng có điều 5, điều 7 nào trong hiến pháp cấm kỵ công dân cho dù hạng bét được quyền ước mơ cả. Vậy thì, tôi cũng có quyền mơ viển vông như thế này: mơ làm Chử Đồng Tử, một
Saturday, July 24, 20218:33 PM(View: 289)
Những ông nhà báo có tên tuổi thường cuộc đời thế nào cũng kèm theo một huyền thoại. Khi thấy tên ông là Thái Lân thì nghĩ chắc ông có dính dáng gì đến Duy Dân vì đảng viên Duy Dân hay có bí danh bắt đầu bằng chữ Thái nên tôi hỏi : - Xếp có dính dáng đến Duy Dân không? Ông nhìn tôi ngạc nhiên rồi nói : - Không. Tôi xuất thân là nông dân không dính gì đến đảng phái. - Xếp là nhà báo. - Tôi là nhà báo vì thời cuộc đưa đẩy nhưng bản chất tôi là một anh nông dân. Tôi im lặng lòng đầy nghi ngờ vì ngay trong tòa soạn Chính Luận đã có các ông Nguyễn Tú và ông Sung là Đại Việt, ông Trần Việt Sơn là Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Thái Linh được coi là Đệ Tứ, ông Lê Văn Anh là một nhà nho thứ thiệt thuộc làu làu cả nghìn bài thơ Đường hay ông Đậu Phí Lục theo học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Tông, ông Võ Xuân Đình là một bộ đội chính qui Việt Minh. Quanh tôi là những huyền thoại như ông Phạm Duy Nhượng, anh của nhạc sĩ Phạm Duy em của ông Phạm Duy Khiêm từng nói với tôi “Tôi giỏi
Wednesday, July 21, 20214:14 PM(View: 178)
Nghe tôi nói đến "Hiếu nhà băng", thiếu tướng Thạc nhướng lông mày, ngạc nhiên: – "Hiếu nhà băng" ở Zurich? Ông quen hắn à? Tôi gật: – Quen. Chưa lâu lắm. Ông biết ông ấy à? – Biết. Từ hồi kháng chiến chống Pháp kìa. Lúc ấy chúng tôi đặt cho hắn biệt danh "Hiếu tồ". – Trái đất tròn thật. Hoá ra hai ông quen nhau – tôi nói – Tôi gặp ông Hiếu trong chuyến du lịch Ai Cập. Lâu rồi, dễ đến ba hoặc bốn năm. Quen loáng thoáng thôi. Mãi đến năm ngoái gặp lại ở Genève mới có dịp tâm sự. – Ông thấy hắn ta thế nào? – Tính tình cởi mở, quả có hơi tồ một chút. – Nghe nói bây giờ hắn giàu. Giàu lắm ấy. Ông thiếu tướng liếm đôi môi khô. Trong giọng ông có một chút khó chịu, một chút ghen tị, hoặc cả hai. – Trông ông ấy bề ngoài thì cũng bình bình, vầy vậy, không có dáng giàu có – tôi nói nhận xét của mình – Ăn vận xuềnh xoàng, xe không sang – một cái BMW đời cũ. Đại khái là làng nhàng, không có gì nổi bật. Trước khi về hưu ông ấy làm việc ở một ngân hàng. Phó giám đốc
Thursday, July 15, 202110:51 AM(View: 188)
rong tháng Tám vừa qua, ông Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm tại Paris, Pháp Quốc, đã đột ngột qua đời tại Quận Cam, Nam California, khi ông từ Pháp sang đây để lo việc ấn hành sách cho nhà xuất bản của ông. Ông là một người của sách vở, tuy không phải là một người sáng tác hay biên khảo nhưng những tác phẩm ông để lại cho đời thật là nhiều. Từ bốn mươi năm qua, ông chính là người phát hiện ra những giá trị của sáng tác và biên khảo của biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, đưa chúng đến với người đọc với một tấm lòng trân trọng và trìu mến. Chính công việc và cung cách xuất bản sách của ông đã cho thấy ông là một người nghệ sĩ thứ thiệt, một nhà văn hóa nhiệt tình với đất nước. Có thể nói Thanh Tuệ là sách, sách là Thanh Tuệ, và chữ sách ở đây phải được hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất, thanh tao nhất mà từ xưa đến nay nhân loại đã dành cho thứ sản phẩm văn hóa này. Một người thích sách vở sống vào giữa thập niên 1960 tại Sài Gòn thì không thể không để ý đến một
Wednesday, July 7, 202112:00 PM(View: 238)
Cha tôi, nhà văn Nhất Linh, cho ra đời hơn mười tác phẩm. Mẹ tôi sinh đẻ hơn mười người con. Bà thường nói đùa với chúng tôi: “Cứ mỗi lần Mợ có mang thì Cậu lại thai nghén một quyển truyện”. Những đứa con của mẹ tôi khi chào đời thường song hành với một tác phẩm mới của cha tôi được xuất bản. Chẳng hạn như anh Thạch tôi sinh năm 1935 ứng với năm tác phẩm Đoạn Tuyệt ra đời. Nhưng khi cha tôi bắt đầu thai nghén và khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940, trong khi mẹ tôi cuối năm đó sinh đẻ ra tôi, thì tác phẩm này vẫn chưa chịu ra đời. Lần này khi khởi viết Xóm Cầu Mới Nhất Linh mang hoài bão quá lớn, “cái thai” quá to, nên tác phẩm không chịu xuất hiện trên đời cho mãi đến ba mươi ba năm sau. Kỳ diệu thay chính tôi lại là người “đỡ đẻ” cho tác phẩm ra đời khi tôi cho xuất bản cuốn Xóm Cầu Mới lần đầu tiên vào năm 1973. Hoài bão của Nhất Linh khi khởi viết Xóm Cầu Mới vào năm 1940 là mong muốn thực hiện một bộ trường giang tiểu thuyết đồ sộ dài gần mười ngàn trang mà theo ông mới đủ để