DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,865,307

Nhớ Vũ Cao Hiến - T.Vấn

30 Tháng Năm 201212:00 SA(Xem: 18414)
Nhớ Vũ Cao Hiến - T.Vấn

Nhớ Vũ Cao Hiến



tu_khuc_t_van_net-content

 (Tranh : Trần Thanh Châu)



Quá khứ luôn luôn là một gánh nặng không dễ dàng rũ bỏ, dù người ta có cố gắng đến đâu. Nhất là thứ quá khứ dính liền với những chặng đường khổ nhục của một đời người, dính liền với những người một thời mình chia sẻ nhiều thứ. Quên không được thì đành phải nhớ. Mỗi khi có dịp, nỗi nhớ như vết thương chưa lành, lại tấy mủ, sưng mọng, làm đau nhức. Và mất ngủ.

Trong bóng tối của đêm, ngòai hồn ma bóng quế dật dờ, còn có những khuôn mặt người tình, bằng hữu, nhất là những người đã vội bỏ cuộc chơi lạc bước vào miền miên viễn chiêm bao. Một trong những khuôn mặt mà tôi nhớ nhất trong những đêm mất ngủ nghĩ về ngày tháng tù đày là Vũ Cao Hiến.

Thực ra, tôi biết Hiến (chứ không quen) từ trước khi đi tù. Năm 1972, lúc tôi còn thụ huấn tại trường ĐH/CTCT/Đà Lạt, Hiến là SVSQ khóa 23 Võ Bị. Anh qua trường tôi hát giúp vui trong một buổi nhạc hội . Đó là một giọng hát khiến tôi khó quên. Bài hát Hiến hát đêm đó cũng khó quên : Kỷ Vật Cho Em của Phạm Duy. Đời sinh viên sĩ quan với những kỷ luật khe khắt của quân trường, dù rất muốn nhưng tôi không có dịp để làm quen người sinh viên võ bị có giọng hát tuyệt vời ấy.

9 năm sau, tôi gặp lại Hiến trong nhà tù trại cải tạo Vĩnh Quang, thuộc tỉnh Vĩnh Phú, miền trung du Bắc Việt. Trại có hai khu : Vĩnh Quang A và Vình Quang B. Trại A gồm phần lớn an ninh tình báo, chiến tranh chính trị. Trại B gồm phần lớn các sĩ quan tác chiến ở các binh chủng dữ dằn : Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân. Tôi ( CTCT) ở A . Hiến ( BĐQ) ở B. Dịp Tết 1981, Ban văn nghệ trại VQ A thiếu người do một số đã được thả, nên bổ sung thêm một số có khả năng đàn hát ở trại VQ B. Khi ấy, Hiến đang bị biệt giam vì “ tội “ hát và phổ biến “ nhạc phản động “. Chúng tôi đề nghị ưu tiên Vũ Cao Hiến và một số anh em khác từ trại B ra trại A để bổ sung vào ban văn nghệ. Ra tới trại A, chàng sĩ quan BĐQ trắng trẻo thư sinh xanh như tàu lá vì nằm biệt giam lâu ngày và kiệt sức vì thiếu ăn. Nhưng điều đó cũng không ngăn cản được chàng nhanh chóng chinh phục anh em tù trại VQ A, như anh bạn tù Trần Lê Việt , một tác gỉa tù khúc đã viết “Trong nhóm tăng cường này, nổi bật là Vũ Cao Hiến. Cũng như Đào Đức Hùng tôi nhắc đến ở trên, Hiến là một giọng ca hay nhất tôi gặp trong tù, không điêu luyện như Hùng nhưng lại nhẹ nhàng đơn sơ dễ đến với người nghe. Anh cũng là tác giả của nhiều bài tù khúc được anh em ưa thích, lại được chuyển đến bằng giọng ca truyền cảm của chính tác gỉa, nên tác động của những bài nhạc ấy của Hiến rất lớn. Cuộc đời của Hiến kết thúc một cách buồn thảm. Sau khi ra tù một thời gian ngắn, anh vượt biên và bỏ xác trên đường, để lại bao thương cảm cho bạn bè.. . “ (Trần Lê Việt : Những hình bóng cũ).

Năm đó, chúng tôi đã thực hiện được một chương trình văn nghệ để đời trước khi chính thức rã đám kẻ lên tàu vào Nam , kẻ lên xe qua Nam Hà. Với chủ đề “ Mùa Xuân và Quê Hương “, chúng tôi lập lờ những bài hát cũ của miền Nam 1975 với những bài hát sau này phổ biến ở Sài Gòn của một số nhạc sĩ trẻ miền Nam qua những lời dẫn giải cũng lập lờ không kém. Cán bộ trại khen hay, nhưng “ cao quá, khó hiểu “, anh em tù thì hoàn tòan thỏa mãn. Vũ Cao Hiến góp phần mình thật xuất sắc với bài Tình Quê Hương của Đan Thọ phổ thơ Phan Lạc Tuyên. Anh hát hay đến độ cán bộ trại dù thắc mắc về nguồn gốc bài hát nhưng ngần ngừ không dám hỏi sợ Hiến không chịu hát nữa.


tu_khuc-content



Kể từ đó, ban ngày Vũ Cao Hiến “ phải “ xách đàn ( tự chế ) đi hát cho cán bộ nghe những bản nhạc vàng, ban đêm anh cũng lại ôm đàn hát tù khúc cho anh em chúng tôi gậm nhấm nỗi buồn, nỗi hận. Anh Đỗ Xuân Tê, một cựu tù Vĩnh Quang, đã viết về nhạc của Vũ Cao Hiến dòng sáng tác của VCH nặng về ngẫu hứng, anh tự để cho cảm xúc tuôn trào, không gò bó khuôn sáo theo ước lệ và nếu để ý lời nhạc gần như được ghi lại và chuyển tải dưới dạng như kể lể thở than về những hoài niệm một thời, những ước mơ một thuở, lòng có bi phẫn nhưng óc vẫn lạc quan, tình huống có đắng cay nhưng chí khí vẫn hào hùng, dù có đau thương nhưng sẵn sàng chấp nhận. Hình như trong tâm tư người lính trẻ có sự chuẩn bị đối diện với những rình rập không tên, những thách thức của số phận và bằng sức mạnh của tâm linh tôi phục anh ở chỗ trong lúc cố vượt thoát những oái oăm của một thời xã hội nhiễu nhương, quyết không sống chung (nhưng vẫn khoan nhượng thứ tha) cho những kẻ có tâm địa thù dai sau ngày tàn cuộc . . . “ (Đỗ Xuân Tê : Vũ Cao Hiến với 13 Tù khúc khó quên).

Tháng 5 năm 1981, tôi và Trần Lê Việt lên tàu vào Nam, tiếp tục đời tù đày ở trại Z30A, Xuân Lộc. Vũ Cao Hiến và một số anh em khác ở lại, tưởng sẽ được về. Một năm sau gặp lại Vũ Cao Hiến ở Z30A Xuân Lộc, chúng tôi mới biết chỉ có một số được thả, số còn lại bị đưa về Nam Hà, trong số đó có Hiến.

Gần cuối năm 1983, tôi có tên trong danh sách cho về. Trần Lê Việt và Vũ Cao Hiến phải chờ vài tháng sau nữa mới nối gót tôi. Vũ Cao Hiến có một người vợ . . . chưa cưới, sau 9 năm vẫn chung thủy chờ anh. Hiến nhờ tôi đến nhà tập cho nàng hát những tù khúc của chàng để thêm vững lòng chờ đợi. Tôi hoan hỉ làm tròn trách nhiệm với bạn, dù nhà nàng ở rất xa nhà tôi và tôi không có một phương tiện đi lại nào ngòai . . . đôi chân khẳng khiu của mình.

Ngày Vũ Cao Hiến được thả về, tôi không biết, cũng không được gặp. Cuộc sống sau tù đầy gian nan quá, bấp bênh quá, không có thì giờ cho những “ buổi chiều về hát tình ca buồn nhất “ . Vả lại, Sài Gòn mênh mông xô bồ xô bộn, bạn bè gặp nhau trên đường chỉ kịp nói câu chào hỏi rồi đường ai nấy hối hả đi. Tôi không biết sau ngày ra tù, Hiến có còn cầm đàn được không và những bài hát mà tôi tập cho người vợ chưa cưới của anh thuộc được đến đâu. Một lần, gặp Hiến và mấy người bạn ở một quán cà phê khu Ngã Ba Ông Tạ, chúng tôi chỉ có thể chào hỏi nhau vài câu vì không khí quán quá ồn ào để có thể nói được những chuyện tâm tình như ngày còn ở trong tù. Nhìn vẻ mặt hốc hác của Hiến, tôi biết rằng cuộc sống cũng chẳng ưu đãi anh hơn tôi là bao.

 

tu_4_0



Sau đó, qua vài người bạn, tôi biết tin Hiến đã vượt biên. Bẵng đi một thời gian sau nữa, nghe tin anh đã bị mất tích. Mất tích như thế nào, tôi không biết. Lúc ấy, Sài Gòn sôi động với chương trình HO, cựu tù cải tạo được đi định cư ở Mỹ. Vũ Cao Hiến đã không chờ đợi được, hay nói như anh Đỗ Xuân Tê “ quyết không sống chung với những kẻ có tâm địa thù dai “. Và tôi , mải mê với những dự định làm lại đời mình khi cầm được tờ giấy xuất cảnh trên tay, quên bẵng hết mọi sự, cả khuôn mặt người bạn tù xấu số vừa ra khỏi trần gian này trong lúc vượt biển tìm tự do.

Tháng 2 năm 2005, có dịp đi San Jose giới thiệu sách của một người bạn tù, tôi gặp lại Ngọc Phi , nhà thơ hiền lành , bạn tù nhiều năm tại Vĩnh Quang. Phi khoe tôi một đĩa nhạc 13 bài tù khúc của Vũ Cao Hiến, do Đinh Quốc Trực ở Pháp thực hiện để tưởng nhớ Vũ Cao Hiến. Sau khi làm xong, Đinh Quốc Trực cũng lặng lẽ ra đi. Khi trang T.Vấn & Bạn Hữu thực hiện chuyên mục Tù Khúc, tôi đã được Ngọc Phi gởi cho một bản sao nhạc Vũ Cao Hiến. Trần Lê Việt cũng đưa cho tôi hai CD nhạc tù khúc, trong đó có vài bài nhạc của Vũ Cao Hiến do Trần Gia Tỏan hát. Trần Gia Tỏan nay cũng đã là người thiên cổ.

Thế là những dấu vết cuối cùng liên quan đến những bài tù khúc của Vũ Cao Hiến đã biến mất khỏi trần gian buồn bã này. Có còn chăng là những hồi ức về anh, về Đinh Quốc Trực, về Trần Gia Tỏan đọng lại ở những trái tim gìa nua của những bạn bè còn sống. Tôi không biết, người vợ chưa cưới năm nào của Vũ Cao Hiến có còn sống ở đâu đó, một mình hay với một người nào, hạnh phúc hay sầu khổ, hay có thể “ may mắn hơn “ đã nắm tay cùng anh đi xuống biển trong cuộc chạy trốn tìm tự do năm xưa . Và những cô em gái trẻ trung xinh đẹp của Vũ Cao Hiến ngày tôi vừa ra khỏi trại tù được gặp gỡ, bây giờ họ ở đâu, làm gì, có còn nhớ chút nào đến những người bạn của anh mình nay đã trở thành những ông già nặng trĩu cặp kính lão không còn tương lai để tha thiết nên chỉ đêm đêm ôm quá khứ mà hỏi “ bạn bè ơi sao cứ bỏ ta đi “.

Biết làm sao khác hơn được. Tiếng vọng chiến tranh chưa mất hẳn mà tiếng vọng tù đày vẫn mãi âm u khiến cổ họng đắng ngắt mỗi khi nghe lại điệu nhạc tù năm xưa .

Vậy mà tôi lại lựa chọn chính mình làm công việc sưu tập, ghi chép , kiểm chứng những điệu nhạc buốt lòng ấy .

Liệu người chết có còn cảm giác để vui lòng ? hay cũng chỉ là an ủi người sống ?



T.Vấn

Lễ Chiến Sĩ Trận Vong 2012

 

Mời nghe nhạc:

Anh ở đây. Thục Vũ và Vũ Đức Nghiêm

http://www.youtube.com/watch?v=K66VwCYY-uc&feature=youtu.be

Việt Nam quê Hương Ngạo Nghễ. Nhạc: Nguyễn Đức Quang - Asia

http://www.youtube.com/watch?v=dXi3AXHT-kU&feature=relmfu

 

 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười Hai 20187:27 CH(Xem: 49)
Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới. Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích. Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!” Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà,
06 Tháng Mười Hai 20186:42 CH(Xem: 149)
Tôi gặp nhà văn Thụy Vũ lần đầu tại nhà riêng của nhà thơ Ý Nhi nhân một dịp bà ghé qua Sài Gòn. Cuộc gặp mặt có nhiều người tham dự, có đồng nghiệp và có cả người là học trò của bà trước kia. Hôm ấy, khoảng tháng 9 năm 2017, bà nói nhiều chuyện, từ chuyện viết lách cho đến những giai thoại trong giới văn chương trước 1975 rồi dẫn đến cả những kỷ niệm đời sống riêng tư. Bà nói chuyện vui vẻ, hóm hỉnh cho dù trong tất cả những điều bà kể đều có bóng dáng những nỗi thất vọng, buồn bã, bất lực mà người nghe không khỏi cảm thấy ái ngại. Nghe bà kể bằng một giọng diễu cợt về những nỗi đau và số phận hẩm hiu của chính bà cứ như đang nghe bà nói về nỗi đau và số phận của một ai khác. Tôi nghĩ không dễ gì có thể tự trào được như vậy nếu bà không có một nghị lực phi thường để vượt qua nghịch cảnh và vượt qua cả chính mình. Sau cuộc gặp gỡ lần đó, bà phát hiện mình ung thư, bị cắt 2/3 dạ dày. Tôi vẫn thường tự hỏi cái gì làm cho một người thấy mình có nhu cầu phải cầm bút.
03 Tháng Mười Hai 20189:59 CH(Xem: 146)
Du Tử Lê đến với thơ tình từ thập niên 60, và trở thành khuôn mặt tên tuổi nơi hải ngoại. Với Du Tử Lê, ngôn ngữ, tình yêu là lẽ sống mầu nhiệm trong sáng tạo nghệ thuật. Với Hiến Chương Tình Yêu, thơ Du Tử Lê, "còn lời đường mật nào hay hơn, quyến rũ hơn"? được Nguyên Bích viết thành nhạc phẩm: "Khi em lạnh tôi biến thành ngọn lửa. Đốt yêu thương than nóng hực ân tình. Cả nghìn chương chỉ chép chuyện đôi ta. Khi em viết tôi biến thành giấy bút". Chàng Du Tử nòi tình nầy ru tình nhân qua Một đời Để Nhớ, nhạc của Song Ngọc "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời. Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai. Em đi để lại hồn thơ dại. Tôi vó câu buồn sâu sớm mai" Bên cạnh Song Ngọc, Trần Duy Đức phổ thành ca khúc Chỉ Nhớ người Thôi Đủ hết Đời. Từ nơi xa xôi, Thái Tú Hạp ngỏ lời thăm hỏi qua Chiều Nhớ Hoàng Thành, Khúc Lan đem dòng thơ vào nét nhạc: "Em vẫn giữ bài thơ trong chiếc nón. Dù cho đời mưa nắng đuc Kim Luông. Mưa có buồn trên đôi bờ thương bạc. Em vẫn còn thắp lửa đợi
29 Tháng Mười Một 20186:59 CH(Xem: 430)
Tòa soạn nhận được email của một người ký tên là Hoàng Phương Nam, một cái tên lạ, chưa nghe trong giới Văn Học Nghệ Thuật, mà nội dung của email không phải là Thơ hay Văn, hay Phê Bình Văn Học. BBT định cho "qua phà" là xóa nó đi, nhưng khi đọc qua, chúng tôi thấy nội dung đề cập đến Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị/Đà Lạt, và một số tên quen thuộc của cựu SVSQ NT1 cũng như Sĩ quan cơ hữu. Nội dung xoay quanh vấn đề những sinh hoạt của một cá nhân, có liên quan đến một số cựu SVSQ/CTCT/ĐL. Vì thế chúng tôi xin đăng email này để rộng đường dư luận, và cho có cái nhìn chung, đừng để những con sâu làm rầu nồi canh...Chúng tôi cũng mạn phép xin edit lại email để độc giả đọc sẽ dễ hiểu hơn, nhưng không thêm, bớt, hoặc sửa một câu, chữ nào. Câu, đoạn nào quan trọng, chúng tôi sẽ dùng chữ in đậm hoặc chữ nghiêng.
26 Tháng Mười Một 201811:48 SA(Xem: 170)
Tôi nghĩ, nếu ai kia bảo Đinh Hùng đã lẩn trốn vào tháp ngà để tìm lấy cho mình những phút giây thần tiên, huy hoàng hoặc để đắm chìm linh hồn trong niềm hoan lạc hưởng thụ; trốn chạy những đau thương đổ vỡ của cuộc đời thì e có phần thiên lệch, bất công. Bởi, nếu chúng ta cảm thông được tiếng thơ của một Chế Lan Viên qua “Điêu Tàn” – một khoảng trời thâm u, thê thảm, một huyệt mộ vùi sâu cơ đồ của cả một dân tộc – ai dám bảo Chế Lan Viên lánh xa sự thực phũ phàng để tìm về cõi mộng hầu thỏa mãn nhưng khát thèm êm ái, ve vuốt tâm hồn? Trái lại, Chế Lan Viên đã đau khổ gấp trăm ngàn lần cái đau khổ mà thường nhân phải gánh chịu, trong thực thể xã hội đương thời! Cũng vậy, Đinh Hùng lẩn trốn thực trạng đau thương của thời thế bằng cách trầm mình trong thiên đường tình ái. Nhưng chính tại cõi trú thanh sắc nặng phần lãng mạn này, nhà thơ đã đau khổ thêm một lần nữa. Thế giới phấn hương, hoa bướm chẳng những không giúp nhà thơ quên bớt dằn vặt, vò xé mà nó còn tạo thêm hoàn cảnh để