DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,878

Nhất Linh, kẻ sĩ thời đại - Chu Nguyễn

04 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 11857)
Nhất Linh, kẻ sĩ thời đại - Chu Nguyễn
Nhất Linh, kẻ sĩ thời đại


alt












Nhất Linh tại Đà Lạt




Xây dựng nền tảng và kiến trúc sự thịnh vượng cho nền văn học chữ quốc ngữ không thể quên được công lao của hai nhóm nhà văn tiền phong: nhóm Nam Phong tạp chí (1917-1934) và Tự Lực văn đoàn (1932-1945).
Đề cập tới Nam Phong tạp chí là nhắc tới Phạm Quỳnh. Còn ghi công Tự Lực văn đoàn thì đứng đầu bảng vàng phải kể nhà văn Nhất Linh.


Nhất Linh tên thực là Nguyễn Tường Tam sinh năm 1906 (có tài liệu ghi 1905), ra đời ở Cầm Giàng, Hải Dương nhưng tổ quán ở Hội An: làng Cẩm Phổ, phủ Điện Bàn, Quảng Nam, xuất thân từ một gia đình có truyền thống Nho học nhưng bản thân ông được giáo dục theo Tây học: tốt nghiệp trường Bảo hộ, Hà Nội và sang Pháp du học đậu cử nhân khoa học (1927-1930).
Là một nhà khoa bảng nhưng Nhất Linh không theo con đường làm quan như đa số trí thức thời ông, mà chọn văn nghiệp và dự định đầu tiên của ông khi từ Pháp về là ra một tờ báo trào phúng nhưng không thành vì không xin được giấy phép.
Năm 1932 khi đang dạy ở trường tư Thăng Long, Hà Nội, ông mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh và tờ báo được cải tổ và canh tân, quy tụ được những cây viết trẻ thời đó (gồm hai em của Nhất Linh là Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long và Thạch Lam Nguyễn Tường Lân. Ngoài ra, còn có hai thân hữu của Nhất Linh là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu và Khái Hưng Trần Khánh Giư).
Phong Hóa bộ mới được đón nhận nồng nhiệt vì tiêu biểu cho một xu hướng và phong cách văn nghệ mới từ nội dung tới hình thức, từ hội họa cho tới thi ca và tiểu thuyết. Tờ báo cũng có sắc thái đặc biệt là trào phúng, không khô khan như phần đông các tờ báo trước nó hoặc đồng thời với nó.
Khí thế văn nghệ đang lên cao, Nhất Linh thành lập Tự Lực văn đoàn (1933). Buổi đầu văn đoàn gồm sáu cây viết: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ và Tú Mỡ. Sau thêm Xuân Diệu và Trầân Tiêu (em của Khái Hưng). Ngoài ra, còn có các họa sĩ tài danh như Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Cát Tường góp mặt.
Khuynh hướng tiến bộ và nụ cười sắc sảo châm biếm thực dân và phong kiến của Phong Hóa khiến chính quyền Pháp lo ngại nên ra lệnh đóng cửa. Nhất Linh cho ra đời tờ Ngày Nay (1936) và nhà xuất bản Đời Nay để thực hiện sứ mạng canh tân văn học.
Tự Lựïc văn đoàn đã góp công lớn xây dựng nền văn học chữ quốc ngữ, với nhiều tác phẩm thơ ca, tiểu thuyết giá trị, của văn đoàn và của những cây viết ngoài văn đoàn nhưng được văn đoàn giới thiệu như Đoàn Phú Tứ, Huy Cận và Vũ Đình Liên. Văn đoàn còn tổ chức giải thưởng văn chương hằng năm để khuyến khích sự sáng tác và giúp đỡ các cây bút có tài như Tế Hanh, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh và Bùi Hiển...
Trước 1945, trong vòng chưa đầy 10 năm (1932-1942), Nhất Linh tỏ ra là nhà tổ chức có tài, người chỉ huy khéo léo, đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng thời kỳ thịnh vượng của văn học chữ quốc ngữ giai đoạn 32-45, hay nói như linh mục Thanh Lãng: Nhất Linh “là thủ lãnh, là tổng thống trong cái nước cộâng hòa văn học từ 1932-1945”.
Cá nhân Nhất Linh còn là một nghệ sĩ đa tài, thổi saxophone rất hay, từng học Mỹ thuật, mẫn cảm nghệ thuật bén nhạy (khám phá ra tài năng Tú Mỡ và Huy Cận...), lại có suy tư thâm trầm của một triết nhân và lòng ưu thời mẫn thế. Nổi bật nhất, ông là cây viết tiểu thuyết hàng đầu trong nền văn học mới và gây ảnh hưởng cho nhiều thế hệ cầm bút ở Việt Nam.
Nhất Linh cũng như một vài trí thức tâm huyết hồi đầu thế kỷ XX, có chủ trương cải tạo xã hội và nuôi giấc mộng giải phóng dân tộc khỏi gông cùm ngoại bang và tệ đoan phong kiến.
Chí lớn của Nhất Linh đã được Thế Lữ ám chỉ trong bài Nhớ rừng trong tập Mấy vần thơ (Đời Nay xuất bản 1935) mà thi sĩ ghi rõ: “Tặng Nguyễn Tường Tam” và “Lời con hổ trong vườn bách thú”. Thế Lữ cũng đã dùng cả bài Giây phút chạnh lòng tặêng tác giả Đoạn Tuyệt với những lời ca ngợi nhân vật Dũng “đem chí bình sinh dãi nắng mưa”.
Con hổ Nhất Linh cuối cùng cũng ra khỏi vòng kiềm tỏa và bước vào lãnh vực chính trị từ đầu thập niên 1940. Ông đã từng tham gia chính phủ liên hiệp 1946 và giữ chức bộ trưởng ngoại giao. Nhưng vốn là người khẳng khái và nhiệt tình với lý tưởng quốc gia, nên khi nhận thấy hoàn cảnh “bó thân về với triều đình” không cho phép ông thực hiện tâm nguyện nên đã từ bỏ chức vụ và xuất ngoại.
1951 ông trở về Hà Nội và tuyên bố từ bỏ chính trị. Trong nhiều năm ông sống ẩn dật ở Đà Lạt làm bạn với suối Đa Mê và vui với lan rừng.
1958 trước nhu cầu của đất nước, Nhất Linh trở lại Sài Gòn ra tờ Văn Hóa ngày nay và từng làm chủ tịch của Văn Bút Việt Nam.
1963 Nhất Linh bị chính phủ Đệ nhất cộng hòa bắt giam vì bị nghi hoạt động lật đổ chính phủ. Nhất Linh vốn là người có tiết tháo của nhà nho, mang niềm tự hào của kẻ sĩ, của chí sĩ, nên đã uống thuốc độc tự tử vào ngày 07 tháng 07 năm 1963 như di ngôn: “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả”.
Cái chết của Nhất Linh là cái chết của một nghệ sĩ, một kẻ sĩ thời đại theo đúng tôn chỉ mà tinh hoa Nho giáo từng dạy đấng trượng phu: “bần tiện bất năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất” (nghèo không đổi chí, giàu không dâm dật, dùng võ lực không thể khuất phục nổi).

Nhất Linh là kẻ sĩ của thời đại


Đầu thế kỷ XX, Nho học suy tàn và bóng dáng kẻ sĩ hội đủ tính chất truyền thống của dân tộc và đạo lý của người xưa chỉ còn xuất hiện rải rác đó đây. Tuy nhiên, dáng dấp hiên ngang của họ ở Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế... đã nổi bật giữa lớp người thế tục tầm thường.
Thuở Nho học còn thịnh, Nguyễn Công Trứ đã viết bài Kẻ sĩ để vinh danh nhân vật tiêu biểu cho đời sống tinh thần của xã hội cũ. Chân dung kẻ sĩ được mô tả lúc xuất cũng như lúc xử như sau:
- Nếu gặp thời thì mang học thức và tài năng của mình (sở tồn) để dùng vào việc trị quốc bình thiên ha (sở dụng). Khi chưa gặp thời thì kẻ sĩ nuôi dưỡng “khí hạo nhiên”, vui với cảnh hàn vi, giữ tấm thân trong sáng làm gương cho xóm làng, chống cái sai trái, phù chính nghĩa theo tôn chỉ: “Chướng bách xuyên nhi đông lưu, hồi cuồng lan ư ký đảo” (khơi trăm sông cho chảy về đông, ngăn sóng dữ đang dội ngược chiều) hay gọi tắt như Nguyễn Công Trứ là làm công việc “hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên”.
Kẻ sĩ thời xưa thường trọng tiết tháo, và coi thường danh lợi như Chu Văn An, dâng sớ Thất trảm không được Trần Dụ Tông chuẩn tấu nên cáo quan về mở trường dạy học, Nguyễn Đình Chiểu cam phận làm cụ đồ ở Ba Tri, mang tài học ra dạy lớp hậu sinh và trứ tác các tác phẩm để nêu gương đạo lý.
Nhất Linh là một kẻ sĩ khá hiếm hoi trong giai đoạn giao thời những năm cuối của tiền bán thế kỷ XX. Dù học vấn cao, ôm chí lớn, con đường tiến thân làm một dân chi phụ mẫu quá dễ dàng nhưng ông đã cự tuyệt quan trường mà làm công việc “lập ngôn” nghĩa là hoạt động xây dựng văn hóa mới (về điểm này Vũ Hoàng Chương trong câu đối viếng Nhất Linh đã có nhận xét chính xác: “tiền Phong hóa, hậu Văn hóa ư trung lập ngôn”, nghĩa là trước ra tờ Phong hóa, sau ra tờ Văn hóa để làm việc lập ngôn).
Khi thời thế chuyển vần, Nhất Linh đã hy sinh sự nghiệp văn học để mưu đồ mục tiêu cấp thiết là giải phóng dân tộc. Nhưng thiếu thiên thời, địa lợi và nhân hòa nên 1946 ông phải rời đất nước ra đi. Tuy ra đi nhưng tấc lòng “vọng quốc” vẫn canh cánh trong tim và cho dù có lúc muốn gác bỏ việc thế nhân nhưng vì thời thế nên lại phải vì đời dấn thân cho tới lúc chết.
Nếu Khuất Nguyên khi xưa tự trầm ở sông Mịch La để tấm gương cho kẻ sĩ muôn đời, thì sự nghiệp và cuộc đời của một kẻ sĩ thời đại như Nhất Linh vĩnh viễn ở mãi trong lòng người và trong sử sách như Vũ Hoàng Chương nhận xét trong hai vế đối khóc nhà văn đàn anh như sau:

Sổ thập niên, bút mặc thành danh, nhất khả đoạn, nhị khả tuyệt nhi tam bất hủ.
Song thất dạ, vân tiêu, lạc phụng, tiền phong hóa, hậu văn hóa ư trung lập ngôn.

(Mấy chục năm bút mực thành danh, chữ “Nhất” có thể đứt, chữ “Nhị” có thể mất, nhưng chữ “Tam” thì trường tồn.
Đêm song thất (7 tháng 7) mây tan, phượng sa xuống đất, trước có tờ Phong hóa, sau có tờ Văn hóa làm việc dạy đời).

Câu đối khéo vì vế thứ nhất nhắc tới các bút hiệu của Nguyễn Tường Tam như Nhất Linh và Nhị Linh và tác phẩm Đoạn Tuyệt nổi tiếng của ông.
Còn vế thứ hai nhắc tới nhà xuất bản Phượng Giang (đúng là Phượng Giàng- Giàng là tên đất Cẩm Giàng) do Nhất Linh chủ trương sau 1950 và hai tờ Phong hóa (1932) và Văn hóa (1958) của nhà văn lỗi lạc.
Câu đối cũng nói rõ vai trò và sự nghiệp của Nhất Linh trong nền văn học mới.

Tác phẩm của Nhất Linh trong đó có một số chưa công bố và trước khi được xuất bản đã cho đăng từng kỳ trên Phong hóa hoặc Ngày nay, nên năm viết và năm in có chỗ khác biệt:
- Thôn dã (1922)
- Hai chị em (1923)
- Nho phong (1925)
- Hồng nương (1925)
- Người quay tơ (1927)
- Anh phải sống (viết chung với Khái Hưng 1933-1934)
- Gánh hàng hoa (viết chung với Khái Hưng 1933-1934)
- Đời mưa gió (viết chung với Khái Hưng 1934)
- Nắng thu (1934-1942)
- Đoạn tuyệt (1934-1935)
- Lạnh lùng (1936-1937)
- Tối tăm (1937)
- Hai buổi chiều vàng (1937)
- Đôi bạn (1938-1939)
- Bướm trắng (1939-1940)
- Viết và đọc tiểu thuyết (1952-1961)
- Xóm cầu mới (1958)
- Giòng sông Thanh thủy (1960-1961)
- Mối tình chân (1961)
- Thương chồng (1961)

-------------
* Tài liệu tham khảo chính:
Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên), Võ Phiến (Truyện Miền Nam), Hà Minh Đức (Tự lực văn đoàn-Trào lưu và Tác giả), Nhiều tác giả (Nhất Linh-Người nghệ sĩ-Người chiến sĩ) và bài của Phan Cự Đệ giới thiệu tác phẩm Đôi Bạn.

Chu Nguy
ễn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn