DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,819,400

Giờ Thứ 25 - Phạm Bá Hoa

24 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 7068)
Giờ Thứ 25 - Phạm Bá Hoa
Giờ Thứ 25




Cựu Đại tá Phạm Bá Hoa là Tham Mưu Trưởng cuối cùng của Tổng Cục Tiếp Vận tại Bộ TTM. Ông là người đã làm việc gần gũi với các tướng lãnh cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh cho đến tướng Cao Văn Viên. Ông có cơ hội chứng kiến các buổi họp liên quan đến các kỳ đảo chánh và đặc biệt là người hiện diện tại Bộ Tổng Tham Mưu vào các giây phút cuối cùng. Đại tá Hoa đã trải qua trên 10 năm cải tạo và hiện cư ngụ tại Texas.
Bài viết sau đây ghi lại giờ thứ 25 tại cơ quan đầu não của QLVNCH. Trong đoạn văn sau đây phần vào truyện có đề cập dến việc Ngũ Giác Đài cho rằng tướng Khuyên là người của cộng sản.

Xin xem tiếp phần bình luận của chúng tôi ở đoạn cuối của bài viết về sự nghi ngờ kể trên.


(Giao Chỉ – San Jose)

* * *


Dẫn chuyện.


Ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản. Tổng Cục Tiếp Vận chỉ thị Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận hằng ngày vận chuyển hàng tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), và loại 5 (đạn dược chất nổ) từ Qui Nhơn lên Plei Ku, dự trữ cho khoảng 20.000 quân phòng thủ Plei Ku, nơi có bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Sư Đoàn 2 Không Quân, nhiều đơn vị tác chiến, và đơn vị yểm trợ tác chiến đồn trú.

Ngày 13 tháng 3 năm 1975, toàn tỉnh Darlac rơi vào tay quân cộng sản. Trong cuộc họp tối mật tại bán đảo Cam Ranh ngày 14 tháng 3 năm 1975, Tổng Thống Thiệu ra lệnh Quân Đoàn II rút bỏ Kon Tum, Plei Ku, và Phú Bổn, đem lực lượng xuống Nha Trang chuẩn bị tái chiếm Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac, vì không đủ lực lượng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên.

Ngày 17 tháng 3 năm 1975, cuộc rút quân khỏi Cao Nguyên theo đường liên tỉnh lộ 7 xuống Tuy Hòa bị thất bại nặng nề, đến mức không thể phản công vào Ban Mê Thuột nữa! Không biết có phải do sự thất bại chưa từng thấy này đã cuốn theo những cuộc rút quân từ Quảng trị , Huế, Đà Nẳng, và đến tận Hàm Tân hay không, nhưng có điều chắc chắn là các đại đơn vị và lực lượng địa phương đã rút bỏ những vùng lãnh thổ đó, mà không có một trận chiến nào xảy ra cả. Tại thủ đô Sài Gòn, ngày 21 tháng 4 năm 1975, TổngThống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức sau khi cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam. Theo Hiến Pháp, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương nhậm chức Tổng Thống, trong khi Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố tự nguyện nhận chức Tổng Thống, vì ông có khả năng thương lượng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để thành lập chánh phủ liên hiệp, được hiểu là chấm dứt chiến tranh trong hòa bình. Cuối cùng, Quốc Hội lưỡng viện, trong một phiên họp khẩn cấp đã quyết định Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền cho Đại Tướng hồi hưu Dương Văn Minh, và đã thực hiện cuộc trao quyền Tổng Thống vào chiều 28 tháng 4 năm 1975.

Vào chuyện.

Từ sau ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, hằng ngày, trước đầu giờ và sau cuối giờ làm việc, tôi thường lên văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên để theo dõi và trao đổi tình hình. Qua câu chuyện trao đổi mang tính cách tâm tình với nhau hơn là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu ra lệnh cho Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

Xin mời quí vị quí bạn vui lòng trở lại ngày 27 tháng 4 năm 1975 trước khi vào giờ thứ 25.

 Tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, đã hết giờ làm việc buổi chiều từ lâu, tôi vẫn còn ngồi trong văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, nghe ông tâm sự:

- Anh biết không, Thiếu Tướng Smith nói với tôi là cấp chỉ huy của ông ta từ Pentagon (lầu năm góc, tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) nói ổng đang ủng hộ một Trung Tướng cộng sản ngay tại Sài Gòn -

- Ông ta muốn ám chỉ Trung Tướng phải không? -

- Tôi cũng nghĩ vậy -

- Trung Tướng có nói gì không? -

- Không -

- Đến lúc này, Trung Tướng có quyết định ra đi chưa? -

Tôi hỏi như vậy là vì lúc sáng, Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y, lên hỏi thăm tình hình, Trung Tướng Khuyên yêu cầu Chuẩn Tướng Thanh cho ông 2 chai thuốc độc, và tôi cũng xin 2 chai (1 chai để trong túi và 1 chai trong cặp xách tay). Khi ông xin thuốc độc, điều đó cho thấy có thể là ông không bỏ chạy, hoặc xin thì xin nhưng vẫn chạy. Nhưng tôi nghĩ, ít ra thì Trung Tướng Khuyên đang có hai giải pháp trong đầu. Im lặng một lúc, chừng như ông đang xúc động nên lời nói của ông thật nhỏ:

- Tôi đã hứa với ổng (tức Thiếu Tướng Smith), vì tôi cảm thấy sẽ không an toàn nếu như tôi khước từ di tản.

- Thiếu Tướng Smith có nói bao giờ thì đi không, thưa Trung Tướng? -

- Ổng được lệnh từ Pentagon là sẽ đưa tôi đi -

- Thiếu Tướng Smith có nói là sẽ đi vào lúc nào không Trung Tướng? -

Trung Tướng khuyên buông thỏng:

- Giờ thứ 25 .

- Ổng có nói với Trung Tướng giờ đó là giờ nào không?

- Giờ đó sẽ được quyết định từ Pentagon.

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh cho phổ biến bản tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, theo đó thì Tổng Thống yêu cầu Hoa Kỳ lập tức rút toàn bộ các cơ quan và nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay sau bản tin ngắn ngủi nhưng rất quan trọng đó, từng đoàn trực thăng của Hải Quân Hoa Kỳ vào Sài Gòn, chuyên chở những người "di tản" ra Hạm Đội 7 ngoài khơi Vũng Tàu. Bãi đáp chính của trực thăng là khu vực Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ ở Tân Sơn Nhất, và bãi đáp trên sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ, tọa lạc trên đại lộ Thống Nhất.

Tôi xin dừng ở đây để thuật tiếp phần cuối của câu chuyện ngắn (phần đầu tôi đã thuật trong cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963) do cựu Đại Tá Nguyễn Linh Chiêu kể cho các bạn trong bữa ăn tại nhà ông ở Orange County, Nam California, vào giữa tháng 11 năm 1991. Hôm ấy, tôi là một trong các thực khách hiện diện. Chuyện mà cựu Đại Tá Chiêu kể lại là nhân chuyến ông sang Paris đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn dùng cơm, để giúp giải tỏa mối bất hòa giữa hai vị mà cả hai vị đều là bạn thâm giao của cựu Đại Tá Chiêu. Trong toàn bộ câu chuyện ngắn đó có đoạn cựu Đại Tá Chiêu hỏi cựu Tổng Thống Dương Văn Minh:

- Tại sao anh mới nhận chức Tổng Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về nước? 

- "Moa" không đuổi Mỹ. Bản văn đuổi Mỹ là do Đại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa cho "Moi" và yêu cầu "Moi" phổ biến.

Phần cuối câu chuyện chỉ có thế, nhưng nó cho thấy là Hoa Kỳ đã "an bài chiến tranh chống cộng của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta" đến tận cùng chi tiết. Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn "đuổi Mỹ" vừa phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn, thì từng đoàn trực thăng Hoa Kỳ từ Hạm Đội 7 của họ từ ngoài khơi Thái Bình Dương, ào ào vào Sài Gòn, cứ như các trực thăng đó túc trực ứng chiến trên đường bay của Hàng Không Mẫu Hạm vậy. Thậm chí đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất và tòa đại sứ từ nửa đêm 28 rạng 29 tháng 4 năm 1975, để bảo vệ cuộc vận chuyển di tản. Các sự kiện đó đã xác định rõ ràng chớ không phải ngẫu nhiên. Ngôn ngữ chính trị là như vậy mà. Nghe vậy, nhưng không phải vậy, mà đôi khi cũng có thể là như vậy.

Vẫn sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, như những ngày trước đó, tôi lên văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, để theo dõi tình hình, vẫn chưa nghe ông nói gì về giờ thứ 25 mặc dù Tổng Thống đã chánh thức yêu cầu Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 48 tiếng đồng hồ!

Trở về văn phòng, đứng ở lan can ngay trước văn phòng tôi, nhìn sang bãi đáp bên kia hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu với một góc của khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất. Từng chiếc trực thăng hạ cánh rồi cất cánh với đầy người chen chúc bên trong, một vài chiếc có cả người còn tòn teng ở càn chân trực thăng chớ chưa vào được bên trong. Lúc ấy tôi liên tưởng đến tấm ảnh với ghi chú ngắn trên những nhật báo phát hành ngày 18 và 19 tháng 4 năm 1975. Tấm ảnh đó chụp lúc những giới chức của quốc gia Cam Bốt, đang chen lấn lên trực thăng Hoa Kỳ để di tản khỏi quê hương của họ, vì quân cộng sản đang tiến chiếm thủ đô Nam Vang (Phnom Penh). Nghĩa là họ thua trận trước Việt Nam Cộng Hòa, nhưng họ hơn ta ở chỗ là họ còn chống giữ thủ đô Nam Vang được vài tuần. Câu ghi chú rằng: "Những người Cao Miên đứng bên ngoài rào, trông họ rất thản nhiên khi nhìn cái cảnh trốn chạy của những người từng lãnh đạo đất nước họ ...". Thật lòng mà nói, lúc ấy tôi không biết tôi đang nghĩ gì và phải làm gì khi trông thấy cảnh tượng như vậy diễn ra ngay trước mắt! Có vẻ như tôi chưa sẵn sàng chấp nhận hình ảnh đó là sự thật trong cuộc đời, mặc dù sự thật đó đang xảy ra trước mắt tôi!

Trong khi cảnh di tản bằng trực thăng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất ở phần đối diện với khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu vẫn diễn tiến, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên đẩy cửa vào phòng tôi, nhưng tôi bận điện thoại cung cấp nhiên liệu cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đã từ Biên Hòa rút về Gò Vấp. Thấy tôi bận, ông quay trở ra và sang phòng vệ sinh. Điện thoại xong, tôi ra đứng cạnh lan can chờ ông. Dĩ nhiên là khi trở ra, Trung Tướng Khuyên trông thấy tôi, ông đi ngang tôi, rồi đi thẳng đến xe Jeep cách tôi chừng 5 bước. Ông lên xe, nhìn thẳng phía trước, và im lặng. Chưa bao giờ tôi thấy thái độ của ông như vậy, do vậy mà tôi nghĩ: "Phải chăng giờ thứ 25 bắt đầu?".

Ông không nói một tiếng nào trong khoảng 5 phút. Ông ra hiệu bằng tay, anh Hạ Sĩ Quan tài xế cho xe lăn bánh. Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên trán, chào ông, rồi khoa tay từ biệt để ông hiểu là tôi đoán được chuyện gì đang xảy ra. Nếu tôi nhìn không lầm, thì Trung Tướng Khuyên sẽ rất xúc động nếu như ông nói với tôi bất cứ lời nào, vì vậy mà tôi không chút phiền muộn đối với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên cho dù ông đã không một lời từ biệt.


Ghi chú của Giao Chỉ – San Jose:

Ông Đồng Văn Khuyên, ngay từ lúc ở cấp bậc Thiếu Tá tại Bộ Tổng Tham Mưu đã bị nghi ngờ là có liên hệ với Việt cộng qua người bà con là Đồng Văn Cống. Trên thực tế dù là cùng họ và cùng quê quán nhưng hai bên không hề có liên hệ với nhau. Ông Khuyên bị An Ninh Quân Đội giữ để điều tra và được bạch hóa từ thời Tổng thống Diệm do lệnh của ông Ngô Đình Nhu. Về sau cả hai người cùng họ Đồng Văn đều lần lượt thăng tiến ở hai phía. Tướng Đồng Văn Khuyên lên đến Trung Tướng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và phía bên kia tướng Đồng Văn Cống cũng là người mang nhiều trọng trách trong hàng ngũ cộng sản.

Trên thực tế hai bên tuyệt đối không có liên lạc và không có liên hệ. Phía cộng sản cũng như Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh đều không có tài liệu gì về việc này. Tuy nhiên, vào ngày giờ cuối của Bộ Tổng Tham Mưu, khi mà Hoa Kỳ đã tìm cách đưa được Tổng thống Thiệu ra đi, đón được Đại tướng Cao Văn Viên lên đường, Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn cũng đã rời khỏi Sài Gòn, thì chỉ còn lại Trung tướng Khuyên là người ngồi ở Bộ Tổng Tham Mưu với các phương tiện liên lạc với Hải Lục Không Quân.

Mặc dù các nơi đã tan rã nhưng người Mỹ muốn ra đi cho êm đẹp rất cần cầm chân người lãnh đạo cuối cùng của Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vị tướng cuối cùng của Hoa Kỳ là ông Smith muốn mới tướng Khuyên qua bên DAO để chuẩn bị di tản thì ông Khuyên vẫn còn lần khân chưa quyết định.

Trước đó tướng Khuyên cũng chần chừ không muốn cho vợ con di tản. Đồng thời Trung tướng Đồng Văn Khuyên cũng là tướng lãnh duy nhất tại Bộ Tổng Tham Mưu dự lễ bàn giao chức vụ giữa cụ Trần Văn Hương và Đại tướng Dương Văn Minh. Thái độ băn khoăn, ra đi không đành của ông Khuyên bởi vì lúc đó các đơn vị vẫn còn tiếp tục liên lạc về Bộ Tổng Tham Mưu để xin các chỉ thị. Đặc biệt là các đơn vị ở mặt trận miền Đông sôi động và miền Tây hoàn toàn yên tĩnh. Chính lúc đó, Ngũ Giác Đài suy diễn rằng hay là tướng Khuyên muốn ở lại đón cộng sản vì chính ông là người liên hệ với tướng Đồng Văn Cống.

Tất cả các nghi ngờ này đều không có tài liệu mà chỉ là sự suy diễn vào giờ chót. Cho đến khi ông Khuyên vào DAO và được máy bay Hoa Kỳ chở ra hạm đội thì mối nghi ngờ mới được giải tỏa.


* * *


Giờ thứ 25 bắt đầu



Lời nói đầu: Trong bài trước, chúng tôi đã giới thiệu phần mở đầu của Đại tá Phạm Bá Hoa viết về giờ thứ 25 tại Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân dịp nhắc lại chuyện xưa, tôi có hỏi lại là vì sao ông có được sự bình tĩnh hiếm có để nhớ mà kể lại đầu đuôi trong lúc thiên hạ đã bỏ đi hầu hết. Ông Hoa có nói riêng là cũng dự trù một kế hoạch cùng nhóm thân hữu di tản vào giờ thứ 25 nếu quả thực tình hình hết phương cứu chữa. Ông tin tưởng vào chuyến bay giờ chót đã chuẩn bị chu đáo. Tuy nhiên không ngờ mọi diễn biến quá nhanh nên không trở tay kịp. Sau khi ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu thì lòng dạ tan nát chứ thực sự không còn bình tĩnh được. Tuy nhiên, tác giả cho rằng chuyện chuẩn bị là việc riêng nên không đề cập đến và cố giữ cho mọi chuyện được kể hết sức chung thực. Xin quý độc giả theo dõi giờ thứ 25 bắt đầu.

Giới thiệu của Giao Chỉ San Jose

* * *



Lúc đó là 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, và tôi xem đây là giây đầu tiên trong 3.600 giây của giờ thứ 25!

Khoảng hai tiếng đồng hồ sau đó, Thiếu Tá Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, điện thoại tôi:

- Trình Đại Tá, Trung Tướng đã vào gặp Thiếu Tướng Smith rồi.

- Anh đang ở đâu vậy? -

- Tôi đang ở nhà tôi.

- Ủa, anh không đi sao?

- Dạ không Đại Tá.

- Anh có thể cho tôi biết là sau khi rời Bộ Tổng Tham Mưu thì Trung Tướng đi những đâu không? 

- Rời văn phòng Đại Tá, Trung Tướng hướng dẫn tài xế lái xe trên nhiều con đường trong Tổng Tham Mưu, rồi ra cổng số 3 phía đường Võ Di Nguy và quanh vào cổng sau phi trường. Tại đây có sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Smith đón và hướng dẫn vào. Đi được một khoảng thì lính gác Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gọi tôi lại, bảo tôi tháo khẩu súng lục để lại cổng. Đi bộ vào đến Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng thì Thiếu Tướng Smith đứng chờ ở đó, cả hai ông vào văn phòng, tôi chào Trung Tướng rồi trở về nhà.

- Anh trông thấy nhiều người trong đó chớ? 

- Đông lắm Đại Tá ơi! Đông nghẹt người.

- Cám ơn anh nghe, và mong là anh em mình còn liên lạc nhau được ngày nào là mừng ngày ấy thôi. Chào anh nhé.

Vậy là, quí vị bàn giao chức vụ lãnh đạo quốc gia lẫn quí vị lãnh đạo quân đội, đã lần lượt "rời bỏ Việt Nam" gần như theo hệ thống quân giai.

- Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Rồi Đại Tướng Cao Văn Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 10 năm 1965, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Đầu giờ thứ 25, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, cũng lên phi cơ đi ngoại quốc!

Khi vị Tổng Tham Mưu Trưởng và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ chức vụ thì quí vị Tướng Lãnh cùng nhiều vị Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, cũng ra đi!

Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc 12 giờ trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, không còn một vị nào có thẩm quyền quyết định bất cứ một vấn đề gì hết, ngay cả công tác phòng thủ trại Trần Hưng Đạo - tức Bộ Tổng Tham Mưu - cũng không ai trách nhiệm nữa. Quân nhân và công chức quốc phòng của Bộ Tổng Tham Mưu trên dưới 2.000 người, nếu không còn cấp chỉ huy, họ sẽ phải quyết định: Tự động tan hàng!

Tôi điện thoại cho Đại Tá Nguyễn Hồng Đài (con rể của Tổng Thống Dương Văn Minh), nguyên là Chánh Sở Kế Hoạch/ Tổng Cục Tiếp Vận biệt phái về Phủ Tổng Thống:

- Anh Đài. Anh vui lòng trình với Tổng Thống là cho đến lúc này, trong Bộ Tổng Tham Mưu không còn vị Tướng Lãnh nào hết, cũng không ai trách nhiệm bảo vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi trình xin Tổng Thống cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm nay không có vị nào vào đây thì bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp Vận chúng tôi sẽ sang Biệt Khu Thủ Đô làm việc, vì khách hàng mà tôi yểm trợ chỉ còn Biệt Khu Thủ Đô và một phần lực lượng của Quân Đoàn III thôi.

- Được rồi, tôi trình "Ông Già" ngay và sau đó sẽ điện thoại anh.

Một lúc sau, Đại Tá Đài gọi tôi:

- "Ông Già" cho biết, lúc 3 giờ chiều nay sẽ có phái đoàn Tướng Lãnh vào nhận chức trong Bộ Tổng Tham Mưu. Anh yên tâm.

Lúc 2 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, tôi mời các vị Cục Trưởng, Cục Phó, Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân, Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận, Chỉ Huy Trưởng trường Tiếp Vận, đến họp gấp. Kiểm điểm lại chỉ còn Cục Trưởng Cục Quân Y (Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh), Cục Trưởng Cục Quân Vận (Đại Tá Nguyễn Tử Khanh), Cục Phó Cục Quân Nhu, Cục Phó Cục Công Binh, Cục Phó Cục Quân Cụ, Cục Phó Cục Truyền Tin, Cục Phó Cục Quân Tiếp Vụ, và Cục Phó Cục Mãi Dịch. Tôi vào đề ngay:

- Trong trách nhiệm Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận, tôi xin thông báo đến quí vị và các bạn về tình hình chung và tình hình nội bộ Tiếp Vận của mình. Về tình hình chung, hiện nay theo Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu thì có khoảng 10 sư đoàn quân cộng sản bao quanh Sài Gòn và chúng đang áp sát ven ngoại ô. Điều đó cho phép dự đoán là chúng có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào mà chúng cho là thuận lợi. Về lực lượng phòng thủ của ta thì không có đơn vị nào nguyên vẹn, kể cả Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Ngay cả Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân mới thành lập với Đại Tá Nguyễn Văn Lộc giữ chức Tư Lệnh, Đại Tá Vũ Phi Hùng làm Tư Lệnh Phó, và Đại Tá Cao Văn Ủy làm Tham Mưu Trưởng, cũng chỉ là sự kết hợp gấp rút các Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng với vài đơn vị Pháo Binh và Thiết Giáp còn lại thôi. Về nội bộ Tiếp Vận, thì Trung Tướng Tổng Cục Trưởng và gần hết các sĩ quan cao cấp trong Tổng Cục Tiếp Vận, đã rời khỏi nhiệm sở rồi. Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân và Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận, cũng thế. Còn tại các Cục thì tôi nghĩ là các bạn biết rõ hơn tôi. Thông báo một tình hình như vậy, tôi muốn quí vị và các bạn tùy nghi vì tôi không có thẩm quyền về bất cứ vấn đề gì vượt quá trách nhiệm và quyền hạn của Tham Mưu Trưởng Tổng Cục. Tôi có bấy nhiêu lời, và nếu không có điều gì cần hỏi, tôi xin chào quí vị, chào các bạn, vì trong chúng ta không ai biết được những gì sẽ chợt đến với mình trong những ngày tháng sắp tới -

Sở dĩ phải chấm dứt ngay vì tôi thấy Đại Tá Nguyễn Tử Khanh và nhiều anh em khác có vẻ như muốn rời phòng họp tức khắc.

Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vĩnh Lộc - đã một thời là Tư Lệnh Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng - vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Đại Tá nhận chức Trưởng Phòng. Đại Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.

Đại Tá Tuân gọi tôi lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng:

- Chào Trung tướng.

- Chào anh. Những vị Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau cố gắng nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc.

- Thưa Trung Tướng, giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ.

- Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh -

- Vâng. Tôi đang làm tất cả trong phạm vi trách nhiệm và sẽ tiếp tục. Xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẵn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung Tướng.

- Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng ngay hôm nay.

- Vâng. Chào Trung Tướng.

Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Một chức vụ mà Chuẩn Tướng Chức đã hơn một lần tự ông xin thẳng với Trung Tướng Khuyên đề nghị lên cấp trên bổ nhậm ông vào đó. Chuẩn Tướng Chức, trong thời gian sinh hoạt trong "Nhóm Đời Mới" - tôi cũng là một thành viên trong Nhóm - của cụ Trần văn Ân, có lần nói với tôi rằng "lên đến Tướng là phải hoạt động chính trị và ông cũng nói thẳng là ông muốn nắm giữ chức vụ cao hơn là Cục Trưởng nếu vẫn phục vụ trong quân đội, vì ông tự thấy khả năng của ông như vậy, và đó mới là tương lai sự nghiệp của ông. Chuẩn Tướng Chức là người rất hoạt động, khi ông tham gia công tác với đơn vị Công Binh của ông thì ông làm nhiệt tình như bất cứ người lính Công Binh nào, và trong những trường hợp như vậy ông rất thích được phóng viên báo chí tiếp xúc. Chuẩn Tướng Chức là mẫu người rất nhiệt tình trong trách nhiệm, và ông cũng rất muốn được xuất hiện trong sinh hoạt chính trường.

Tôi trình bày với ông Chức tình hình của ngành Tiếp Vận như đã thông tin cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ cho các đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Đại Tá Trần Văn Lễ (đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận) trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục phó giữ chức Quyền Cục Trưởng. Tôi nói với ông Chức:

- Bây giờ xin phép anh tôi về qua nhà rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi và tôi giải quyết.

- Được rồi, anh về đi. Anh có cần xe mở đường không vì đường phố đông nghẹt người?

- Cám ơn anh. Không cần đâu anh.

Không chỉ là đường phố đông nghẹt người mà là hỗn loạn chưa từng thấy! Áng chừng 6 cây số mà phải gần 2 tiếng đồng hồ tôi mới về đến nhà. Dọc đường, tiếng gọi nhau chạy loạn vang vang cả một quãng dài, đúng là "loạn thì lạc!". Trời tối hẳn, những chiếc trực thăng Hoa Kỳ thả "hỏa châu" chiếu sáng liên tục, để từng đoàn trực thăng phụ trách "di tản" thi hành nhiệm vụ. Nhiều phi tuần khu trục phản lực cũng của Hoa Kỳ, gào thét trên không phận thủ đô để sẳn sàng tấn công các đơn vị Cộng sản nếu như trực thăng vận tải của họ bị bắn hạ. Trong khi đạn phòng không của cộng sản tua tủa vọt lên khoảng không gian nhỏ bé vừa tối lại vừa sáng!

Trong những năm chiến tranh dữ dội, nhất là trong trận chiến "mùa hè đỏ lửa năm 1972", ngày cũng như đêm, người dân Sài Gòn rất quen với tiếng động cơ phản lực chiến đấu, từng chiếc, từng đoàn, xé không gian lên đường đánh địch bằng hỏa lực mãnh liệt mà nó được các nhà chế tạo Hoa Kỳ nghiên cứu trang bị, và quen đến mức nếu như vắng âm thanh đó thì họ cho là chuyện không bình thường. Bẵng đi một thời gian khá lâu, đêm nay, âm thanh đó trở lại, để đánh dấu một tình huống bi thảm của dân tộc Việt Nam sau hai thập niên chiến đấu vì Dân Chủ Tự Do!

Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi có hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy. Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là người, mới vào được trong khu cư xá do các thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận:

- Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi . Anh cho phép tôi ở nhà, tất cả điện thoại về nhu cầu Tiếp Vận anh chuyển sang cho tôi và tôi giải quyết ngay. Công việc bây giờ cũng không có gì. Hàng tiếp liệu cho các đơn vị chỉ gồm nhiên liệu và đạn dược, tôi cho lên xe sẵn sàng tại các kho để cung cấp thật nhanh theo yêu cầu. Anh an tâm.

- Được rồi. Có gì tôi gọi anh.

Vài trái đạn đại bác của quân cộng sản đã nổ bên ngoài khuôn viên cư xá nhưng chưa gây thiệt hại quan trọng nào. Phi trường Tân Sơn Nhất chắc là bị pháo kích nhiều, vì tôi nghe tiếng đại bác nổ liên hồi ở hướng đó. Trong cư xá có 1 đại đội Nhẩy Dù từ trên căn cứ Hoàng Hoa Thám (đầu phi trường Tân Sơn Nhất phía Hóc Môn) rút về đây, và cư dân an lòng đôi chút vì có lực lượng phòng thủ.

Gần nửa đêm, Đại Tá Trương Đình Liệu, Chỉ Huy Trưởng Tổng Kho Long Bình, điện thoại tôi:

- Trình với anh là tôi đã cho triệt thoái toàn bộ về đây rồi. Chờ lệnh Tổng Cục hoài không thấy, đến khi các đơn vị trong căn cứ Long Bình rút lui, tôi liền cho anh em theo họ.

- Anh hành động đúng thôi. Chuẩn Tướng Chức nhận chức Tổng Cục Trưởng lúc chiều, ông ấy không ra lệnh thì tôi làm gì được. Về yểm trợ thì tôi lo được, nhưng ra lệnh rút lui thì tôi đâu có thẩm quyền. Anh hiểu tôi rồi hén.

Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo:

- Đại Tá Hoa tôi nghe.

- Trung Tướng Vĩnh Lộc đây anh. Lúc nãy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết là họ liên lạc với anh chưa? 

- Chuẩn Tướng Lê Trung Tường Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng.

- Cố gắng nghe anh Hoa.

- Vâng. Tôi đã trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa Trung Tướng.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi:

- Thưa Đại Tá, Chuẩn Tướng Chức đã lên xe đi rồi.

- Chuẩn Tướng đi một mình hay đi với ai vậy anh? 

- Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng chỉ đi tay không chớ không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống, xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến.

- Thôi được. Sáng sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng Cục hẳn hay.

Như vậy là ông Tổng Cục Trưởng cuối cùng đã lên đường.

Tiếp đó điện thoại lại reo:

- Đại Tá Hoa tôi nghe.

- Đài đây anh (Đại Tá Nguyễn Hồng Đài). Lúc 10 giờ sáng nay (tức 30/4/1975) "Ông Già" sẽ công bố giải pháp chính trị, anh theo dõi trên đài phát thanh Sài Gòn nghe.

- Nhưng mà nội dung giải pháp là gì? 

- Trung lập, như tôi nói với anh đó.

- Vậy là đã đến lúc tôi chuẩn bị. Cám ơn anh.

Đến đây tôi xin mở ngoặc để nói đến 2 điều cho vấn đề được rõ thêm.

Điều thứ nhất: Khoảng năm 1998, tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Đài tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi nhau, anh xác nhận lời anh đã nói với tôi là đúng như trong quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ, nhưng về thời gian thì sai. Anh nói không phải rạng sáng 30 tháng 4 mà anh nói với tôi vào rạng sáng 29 tháng 4. Anh cho biết vì tối 29 tháng 4 thì anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi vẫn ghi nhận lời anh nói vào rạng sáng 30 tháng 4, vì đây là đêm đầu tiên tôi ngủ tại nhà sau 3 tuần cắm trại ngủ tại văn phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với anh lúc tôi từ cửa sổ nhà tôi nhìn lên bầu trời với những âm thanh gào thét của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng yểm trợ cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn viết lại đây theo trí nhớ của tôi.

Và điều thứ hai: Khi tôi nói "tôi chuẩn bị", tức là tôi chuẩn bị rời khỏi Việt Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố trung lập. Tôi và gia đình có dự trù sẽ rời khỏi Việt Nam nhưng không đi trước khi có giải pháp chính trị. Chúng tôi định ra đi trong lúc giao thời dù chỉ rất ngắn ngủi. Chúng tôi dự trù 6 gia đình, trong số này có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn C130, dùng chiếc C130 sang Singapore để đi Úc Đại Lợi, vì tôi được sự giúp đỡ của người bạn gốc Trung Hoa trong công ty INTRACO tại Singapore, nối liên lạc với tòa đại sứ Úc tại đó và đã được đồng ý. Nhưng tiếc thay đến lúc đó thì kế hoạch không thực hiện được. Xin đóng ngoặc.


* * *


Giờ Thứ 25 (Bài III)


N
gày cuối từ Tổng Tham Mưu đến Biệt Khu Thủ Đô


Lời nói đầu: Đây là bài thứ ba và là bài cuối của Đại tá Hoa viết về Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Sau khi đã chứng kiến giây phút cuối tại Sài gòn từ TTM đến Biệt Khu Thủ Đô, tác giả không thấy được giai đoạn chuyển tiếp bằng giải pháp chính trị như đã mong đợi. Việc chuẩn bị di tản giờ thứ 25 cũng không thành. Ông ở lại với hơn 13 năm tù cải tạo và hiện định cư tại Texas. Sau bài này, kỳ tới chúng tôi sẽ giới thiệu với quý vị bài viết của một hạ sĩ quan Quân Cảnh về cái chết bi hùng của người lính dưới chân cột cờ Bộ Tổng Tham Mưu vào trưa ngày 30 tháng 4-1975.

Giao Chỉ – San Jose

* * *



Vừa mờ sáng ngày 30 tháng 4-1975 tôi lên xe đến Tổng Tham Mưu. Hướng ngã tư Bảy Hiền - nơi trở thành tiền tuyến - có nhiều tiếng súng trường và tiểu liên, nên không có người đi lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài. Quân cộng sản chưa xuống đến ngã tư Bảy Hiền, và tôi an toàn đến Tổng Tham Mưu. Đến, nhưng không được phép vào.

Chuyện như thế này: "Trung Tá Tòng, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tham Mưu đã tháp tùng Đại Tướng Cao Văn Viên đi ngoại quốc từ mấy ngày trước, và Trung Tướng Vĩnh Lộc cử Đại Tá Trần Văn Thăng - sĩ quan An ninh quân đội - giữ chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đang khuyết. Đại Tá Thăng ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi có thẻ, nhưng không bao giờ mang trên túi áo mà là để trong cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng. Tôi làm như vậy là vì tất cả những quân nhân trách nhiệm ở cổng gác này, không ai là xa lạ với tôi cả.

Sĩ quan Quân Cảnh nói:

- Đại Tá thông cảm, vì lệnh của Đại Tá Thăng như vậy nên tôi phải thi hành.

- Tôi hiểu, và bây giờ Đại Tá Thăng ở đâu vậy anh?

- Dạ Đại Tá Thăng dường như lên văn phòng Trung Tướng rồi Đại Tá.

- Thôi được. Chốc nữa Đại Tá Thăng về lại văn phòng, anh nói là tôi không có mang theo thẻ an ninh nên không vào được, và tôi sang Biệt Khu Thủ Đô làm việc ở đó. Cám ơn anh nghe.

- Đại Tá thông cảm cho tôi nghe Đại Tá.

- Nếu tôi là anh, tôi cũng vậy thôi mà. Anh đừng bận tâm. Tôi đi đây.

Đạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ quan Quân Cảnh.

Sang trại Lê văn Duyệt, tôi ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Đô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi.

Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại cho tôi, ông đồng ý để tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Đô điều hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy như những vị Tướng đã bỏ chạy, mà chiều hôm qua, khi ông ra lệnh cho tôi ráng lo về Tiếp Vận, ông đã khá nặng lời đối với các vị ấy. Nhưng nghĩ cho cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày - tôi nghĩ - ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng có trách nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000 người!

Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (có biệt danh là Minh đờn), Tư Lệnh, đã bỏ đi rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát (người đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19/02/1965 thất bại) được Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn. Tôi không rõ kết quả ra sao vì Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân không có mặt tại văn phòng. Các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Tôi nói "các phi đoàn còn lại", là vì đã có nhiều phi công lái phi cơ các loại bay qua căn cứ Utapao của không quân Hoa Kỳ.

Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, thì Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Đại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và hướng dẫn các phi tuần khu trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi ngay:

- Chuẩn Tướng Thân đâu rồi? -

- Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi.

- Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng chạy rồi. Tôi nghĩ như vậy, nhưng không đúng.

Sáu tháng sau đó, tôi gặp lại Chuẩn Tướng Thân trong cùng trại tập trung Tân Hiệp, Biên Hoà, trại này người địa phương còn gọi là trại Suối Máu nữa.

Đại Tá Ngô Văn Minh từ trong Trung Tâm Hành Quân gọi tôi:

- Anh Hoa, anh nói chuyện với Lê Minh Đảo không? Hắn đang ở đầu máy bên kia nè.

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, mới thăng cấp chưa kịp tổ chức lễ gắn cấp hiệu 2 sao, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đã quần thảo với 2 sư đoàn quân cộng sản ở Xuân Lộc và gây cho chúng tổn thất rất nặng. Vì áp lực của chúng quá mạnh, nên Quân Đoàn III cho lệnh lui về căn cứ Long Bình.

- Chào anh Đảo, Hoa đây. Anh đang ở đâu vậy? 

- Tôi ở chổ "nhà máy xi măng Hà Tiên" và đang tìm xuồng qua sông. Tụi cộng sản nó đuổi theo sau lưng tôi nè. Hết rồi anh ơi!

- Dù gì thì anh cũng đã đánh nhau với tụi nó một trận ngon lành, anh oai hơn nhiều vị Tư Lệnh khác mà.

- Sao anh ở chỗ anh Minh? 

- (Tôi mượn câu của anh để trả lời anh) "Hết rồi anh ơi"! Chỉ còn yểm trợ cho Biệt Khu thôi, và giờ này thì còn đơn vị nào nữa đâu. Thôi, chúc anh may mắn nghe, và mong rằng chúng mình vẫn còn gặp lại nhau.

Sau đó - tức sau giờ Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố buông súng và bàn giao - Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dùng giấy tờ giả xuống Rạch Giá để hy vọng vượt thoát ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ, nhưng anh đã không thực hiện được và trở về nhà trong cùng cư xá với tôi. Sau này, có những năm chúng tôi ở tù chung trong một trại nhưng khác buồng giam.

Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, chúng tôi nghe thấy các âm thanh và tiếng nói lạ: Ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và tiếp theo là lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội ".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chổ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...". Đối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ súng và ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.

Đây là giây thứ 3.600, giây phút cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu cho tự do dân chủ!

Thế là hết !!!

Tôi lặng lẽ rời nơi đây, theo đường Lê Văn Duyệt, rồi rẽ sang đường Trần Quốc Toản, bên phải để ghé vào Cục Mãi Dịch, chào các cộng sự viên cũ của tôi. Trung Tá Nguyễn Văn Thình, Cục Phó, hỏi tôi cách bàn giao ra sao? Tôi bảo: Không bàn giao gì cả, các bạn nào muốn lấy gì thì lấy rồi thản nhiên ra về, ai muốn vào đây làm gì mặc họ.

Dọc đường về nhà, những nơi mà tôi vừa đi qua, có biết bao bộ đồ trận - những bộ quân phục từng là biểu tượng quân phong quân kỹ của quân nhân - những mũ những giày, vất vưỡng ngỗn ngang trên đường phố. Trong dòng người ngược xuôi vội vã, có rất nhiều người mặc quần đùi áo lót mà tôi tin đó là những đồng đội của tôi tạm thời lẩn tránh bọn cộng sản. (Hình ảnh này là một phần trong bản nhạc Như Lá Chết Cành Khô do cựu Đại Tá Phan Văn Minh - đã một thời là Đổng Lý Văn Phòng của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ - sáng tác trong thời gian bị giam ở trại tập trung Hà Tây, tỉnh Hà Sơn Bình).

Quân cộng sản chưa thật sự có mặt trong thành phố, nhưng những tốp thanh niên nam nữ đeo băng tay đỏ với súng M16 trên tay và ngồi xe jeep chạy lung tung. Đó là những bọn mà chúng tôi gọi là "cộng sản 30 tháng 4". Dù trong một tầm nhìn hạn hẹp đó, tưởng cũng đủ nói lên một góc cạnh trong biết bao cảnh tượng đau thương ngập tràn trái tim Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì không tròn trách nhiệm với dân với nước !

Chốc chốc tôi sờ vào chai độc dược trong túi, dự định của tôi khi xin Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh là tôi sẽ sử dụng nếu như tôi bị cộng sản bắt hoặc chưa bắt nhưng chúng sỉ nhục tôi. Nhưng, chiều hôm ấy, tôi đã ném nó cùng với khẩu súng lục 9 ly (do ông Johnson, trưởng toán tình báo vùng đồng bằng Cửu Long tặng tôi tại Cần Thơ năm 1968) vào cái giếng ngay sau nhà cô tôi ở đường Thành Thái, sau khi vợ tôi ngồi dưới chân tôi vừa khóc vừa nói như van lơn: "Anh ơi, trong mọi trường hợp, anh đừng bỏ em và các con nghe anh!". Chắc chắn là vợ tôi không biết gì về chai độc dược trong túi tôi, nhưng có lẽ do cảm giác đặc biệt của người vợ thấu hiểu tính chồng trong hoàn cảnh nghiệt ngã mà nói với chồng bằng cả tâm hồn người vợ người mẹ!

Hơn một tiếng đồng hồ sau lời đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh, đơn vị Thiết Giáp đầu tiên của cộng sản mới vào dinh Độc Lập. Và từ giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhà cầm quyền nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cai trị!

Trong lúc trên dưới 200.000 quân của Quân Đoàn IV, chưa một trận đánh quan trọng nào, đã phải buông súng đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương văn Minh!

Nhưng trong cảnh bại trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, xuất hiện Những Vị Tướng Thật Sự Là Những Anh Hùng không kém những vị Anh Hùng trong lịch sử đã tuẫn tiết khi thành thất thủ. Đó là hành động tự sát ngay nơi nhiệm sở chớ không chấp nhận đầu hàng, của:

- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV. (Cần Thơ)

- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc, tỉnh Bình Long.


- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)


- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)


- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II, tự tử tại nhà vì tên tuổi Quân Đoàn II đã bị chôn theo những nấm mồ vô danh trên đường liên tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm 1975 rồi.



Ngoài ra, còn biết bao Quân Nhân thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát, Viên Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Đó là "Những Anh Hùng Vô Danh" rất đáng cho chúng ta trân trọng.



Phạm Bá Hoa



Mời nghe nhạc:

 

Lục quân VN

Xuất quân. Nhạc: Phạm Duy. Asia



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 136)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 103)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 110)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 189)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…
25 Tháng Chín 201812:35 CH(Xem: 163)
Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường trung học Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha. Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam, và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của thầy gây chấn động văn đàn: bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu… (Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí). Một lần, thầy nói với học trò hôm nay giỗ đầu Trần Quang Long người bạn thiết, và hào sảng đọc thơ anh. Là lần đầu tôi tiếp xúc bài Thưa mẹ, trái tim. Lần khác, thầy khuyên chúng tôi tìm đọc bài Bài thơ của một người yêu nước mình. Cũng là lần đầu tôi biết đến Trần Vàng Sao.