DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,494,578

KỊCH CHIẾN TRÊN QUỐC LỘ 1, HUẾ-ĐÀ NẴNG-QUẢNG NAM - BVN sưu tầm

Friday, November 9, 201212:00 AM(View: 15554)
KỊCH CHIẾN TRÊN QUỐC LỘ 1, HUẾ-ĐÀ NẴNG-QUẢNG NAM - BVN sưu tầm



* Trận chiến tại Thừa Thiên:

Kịch chiến trên Quốc lộ 1 đoạn từ Huế đi Đà Nẵng từ 21 đến 23/3/1975:



Ngày 21 tháng 3/1975, Cộng quân tung một trung đoàn đánh vào một số xã thuộc quận Phú Lộc, một quận ở cực Nam Thừa Thiên, có địa hình dọc theo Quốc lộ 1. Để ngăn chận cuộc tấn công của Cộng quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh đã điều động Trung đoàn 1 Bộ Binh đang
gần đó đến giải tỏa áp lực của địch quân. Trong ngày này, với sự yểm trợ tối đa của Pháo binh và Không quân, Cộng quân bị đẩy lùi ra khỏi một số vị trí trong một thời gian ngắn, sau đó Cộng quân lại tăng cường lực lượng và tổ chức đợt tấn công thứ hai vào tuyến phòng ngự của ba tiểu đoàn của Trung đoàn Bộ binh này.

Trước tình hình mới, Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 đã điều động thêm Liên đoàn 15 Biệt động quân vào trận địa. Giao tranh kéo dài từ chiều ngày 21 đến trưa ngày 22/3/1975. Trong suốt thời gian này Cộng quân đã mở thêm nhiều đợt tấn công lớn vào các tuyến phòng ngự của Trung đoàn 1 Bộ Binh và Liên đoàn 15 Biệt động quân nhưng đã bị thất bại. 1 giờ chiều ngày 22/3/1975, địch quân điều động thêm 2 trung đoàn tung vào trận chiến và gia tăng pháo kích. Pháo Cộng quân bắn tới tấp vào khu vực của quân trú phòng và sau đó là các đợt xung phong biển người. Đến 2 giờ chiều cùng ngày, Liên đoàn 15 Biệt động quân và các tiểu đoàn của trung đoàn 1 Bộ binh đã phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Đoạn đường Huế-Đà Nẵng trên Quốc lộ 1 bị cắt đứt, Cộng quân lập chốt chận tại Đá Bạc cách Huế hơn 30 km về phía Nam và cách Đà Nẵng hơn 70 km.


* Cộng quân pháo kích Huế:





vnch




Sáng ngày 23 tháng 3/1975, trong khi Trung đoàn 1 Bộ binh và Liên đoàn 15 BĐQ kịch chiến với CQ trên Quốc lộ 1, thì tại Huế, địch quân bắt đầu tấn công vào một số vị trí trong thành phố và vòng đai phụ cận. Các đợt pháo kích tiếp diễn suốt ngày nhưng không có hiệu quả, các quả pháo không rơi trúng vào các vị trí quân sự.Chiều 23 tháng 3/1975, Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quânđoàn 1, gọi Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm, Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh vào Đà Nẳng để duyệt xét lại tình hình phòng thủ Huế. Tướng Điềm đã báo cho Trung tướng Trưởng biết là Sư đoàn 1 Bộ binh đang đối đầu với 3 sư đoàn chủ lực và 1 sư đoàn Pháo của Cộng quân. Cuối cùng,Trung tướng Trưởng buồn bã nói với Tướng Điềm:"Thôi đành phải cho rút khỏi Huế vậy".

Từ ngày 13 đến 23/3/1975, Trung tướng Trưởng tìm mọi cách để giữ Huế nhưng cuối cùng thì tình thế không cho phép ông thực hiện điều ông mong muốn. Chiều hôm đó, ông lặng lẽ nhìn tướng Điềm, người bạn cùng khóa 4 Sĩ quan trừ bị Thủ đức với ông, người đã được ông tin tưởng ở khả năng chỉ huy và đã được ông bổ nhiệm giữ những chức vụ quan trọng từ trung đoàn phó rồi lên trung đoàn trưởng trung đoàn 1 bộ binh khi ông là Tư lệnh Sư đoàn này. Tháng 11/1973, chính ông đã đề nghị cho Đại tá Điềm làm tư lệnh Sư đoàn 1BB và 5 tháng sau đó, ông lại đề nghị với Tổng thống Thiệu thăng cấp chuẩn tướng cho vị đại tá này.

Tướng Điềm trở lại Huế ngay chiều 23/3/1975. Khi vừa ra khỏi văn phòng Trung tướng Trưởng để ra trực thăng, ông gặp Tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh Thủy Quân Lục chiến. Tướng Lân cũng được Trung tướng Trưởng mời đến để thông báo về việc rút quân khỏi Huế (Theo lời một số cựu đại tá xuất thân khóa 4 trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thì tướng Lân, tướng Lưỡng - Tư lệnh Sư đoàn Dù - cùng khóa với Tướng Trưởng, tướng Điềm). Thấy tướng Điềm đi ra với nét mặt buồn, tướng Lân nói với tướng Điềm: "Điềm ơi, rán lo đi, tình hình bây giờ ở đâu cũng khó khăn cả".

Theo lời Tướng Lân kể lại thì khi vào gặp Trung tướng Trưởng, vị tư lệnh Quân đoàn 1 đã nói ngay cho Tướng Lân biết là ông đã cho lệnh bỏ Huế theo chỉ thị của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Tướng Lân bàng hoàng khi nghe tin này và hỏi lại Trung tướng Trưởng: "Khi nào chúng ta sẽ rút khỏi Huế?". Tướng Trưởng nghẹn ngào nói: "Đêm nay". Rồi thôi, hai vị tướng nhìn nhau...



* Nam-Tín-Ngãi sôi động:




hoi_an_2
 


Trong khi Huế đang ở vào cao độ của cuộc chiến thì tại Quảng Nam và Quảng Tín, ngày 16/3/1975 đến ngày 21/3/1975 Cộng quân tung 1 trung đoàn thuộc tỉnh đội Quảng Nam đánh chiếm vùng Bình Tú, quậnThăng Bình, Quảng Tín. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh đã điều động tiểu đoàn 3/ Trung đoàn 2 và hai tiểu đoàn 2 và 3/ Trung đoàn 56 Bộ binh cùng với 2 chi đoàn thuộc Thiết đoàn 11 Kỵ binh (đơn vị thống thuộc Sư đoàn 3 bộ binh) giải tỏa áp lực của Cộng quân.
Ngày 22 tháng 3/1975, Cộng quân đưa thêm quân vào khu vực Tây NamThăng Bình (tỉnh Quảng Tín), Quế Sơn (Quảng Nam). Trước tình hình đó, Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư l
nh Sư đoàn 3 Bộ binh, đã họp với Tiểu khu trưởng kiêm Tỉnh trưởng Quảng Nam, và Tiểu khu trưởng kiêm Tỉnh trưởng Quảng Tín, để bàn kế hoạch chống trả các đợt tấn công của Cộng quân tại các khu vực nói trên.

Tại Quảng Ngãi, trong thời gian từ ngày 15 đến ngày 23/3/1975, Cộng quân gia tăng áp lực. Để bảo toàn lực lượng và để có quân số phòng thủ tại những nơi trọng yếu hơn, ngày 16/3/1975, Trung tướng Trưởng đã cho lệnh rút quân khỏi quận lỵ Sơn Trà và Trà Bồng. Các đồn xa trong vùng thâm sơn cũng được lệnh phải rút đi. Các đơn vị rút khỏi các vị trí trên được tái bố trí để lập vành đai phòng thủ tại các quận cận sơn và những khu vực hiểm yếu.


BVN
(s
ưu tầm)


Con Đường Cái Quan. Phạm Duy

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 14, 20214:16 PM(View: 11)
Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)... Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yều cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng. Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca. * Ngược Dòng Thời Gian Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926
Monday, May 10, 20216:27 AM(View: 89)
Tháng 12 năm 2017, sách “Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Theo Dòng Lịch sử” được xuất bản. Đây là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (TVBQGVN), do chính các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan (CSVSQ) của TVBQGVN thực hiện. (link: “giới thiệu sách TVBQGVN – TDLS”). Sau quyển sách trên, rất nhiều CSVSQ của TVBQGVN bày tỏ ước mong được nhìn thấy một tác phẩm viết về TVBQGVN và về Chiến Tranh Việt Nam bằng Anh Ngữ, để giúp cho các thế hệ người Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại, hiểu biết về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng trước năm 1975. Lý do chiến đấu và hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại sự xâm lăng tàn bạo của Cộng Sản để bảo vệ nền Dân Chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam, đồng thời bảo vệ lý tưởng Tự Do cho người dân miền Nam Việt Nam. Bên cạnh đó là lịch sử của TVBQGVN và sứ mệnh của người sĩ quan xuất thân từ ngôi trường này trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam. Để đáp lại niềm mong ước đó, tháng 8 năm 2018,
Sunday, May 9, 20217:22 AM(View: 82)
Từ nghìn xưa cho đến nay – trên quê hương chúng ta – hình ảnh người mẹ là hình bóng thiêng liêng, cao quý nhất… không hết lời ngưỡng mộ trong dòng văn học nghệ thuật. Mẹ từ khi “mang nặng đẻ đau”, cưu mang, nuôi nấng, dạy dỗ khi con chào đời cho đến khi trưởng thành, xa cách và khi về già. Nói đến mẹ là nói đến trái tim nhân bản, hy sinh và thương yêu vô bờ bến cả cuộc đời cho con đến khi nhắm mắt. Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại. Trước năm 1975, ở miền Nam VN không có Ngày Hiền Mẫu, Ngày Của Mẹ… để nhắc đến, để vinh danh, để nhớ vì với người con, hình bóng đó gắn liền với ngày tháng cuộc đời. Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ. Gởi đến mọi người những ca khúc tiêu biểu. Và, thân tặng với những ai không còn mẹ
Tuesday, May 4, 202111:46 AM(View: 133)
Trong bất cứ xã hội nào, thì bộ phận có học vấn luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với mọi lĩnh vực. Điều đơn giản này thiết tưởng chẳng cần phải nhắc lại. Nhưng thực tế lịch sử luôn khiến chúng ta không được yên lòng, chủ quan với bất cứ nhận định nào. Số phận của trí thức luôn gắn liền với số phận của những cộng đồng, quốc gia cụ thể, nơi anh ta là thành viên. Trong những xã hội lạc hậu, bảo thủ, trí thức luôn bị dị nghị, bị nghi ngờ, bị lánh xa, thậm chí bị coi thường, bị biến thành kẻ thù nguy hiểm, như chúng ta từng thấy, đang thấy và chắc chắn sẽ còn thấy. Các đấng quân vương, những kẻ độc tài thường đòi hỏi mọi thần dân đều phải nhất nhất tin theo ông bà ta, cấm bàn cãi. Mọi lời ông bà ta ban ra là chân lý cuối cùng, bất khả tư nghị, không ai có quyền nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của nó. Trí thức trong những xã hội ấy thường đóng vai trò làm vật trang trí, không có tiếng nói, hoặc quay sang quy phục quyền lực để vinh thân phì gia, chấp nhận làm cái loa cho nó,
Friday, April 30, 20213:56 PM(View: 231)
Cứ mỗi lần nghe những câu hát này là tôi lại nhớ đến vở kịch ấy, có lẽ vì trong kịch bản cũng có nhân vật “đứa con da vàng của Mẹ” đi tập kết ra Bắc, xa Mẹ mãi đến hai mươi năm. Có khác chăng, đứa con ấy sau cùng đã tìm về căn nhà của Mẹ vào đúng cái ngày oan nghiệt ấy, ngày 30 tháng Tư. Các con tôi đã về, tên vở kịch ba màn, nhà văn Trùng Dương khởi viết năm 1978, có hiệu đính những năm gần đây. Câu chuyện khoanh tròn trong một gia đình sinh sống ở miền Nam Việt Nam trong một khu đông dân cư và bình dân với các diễn biến dồn dập, các tình tiết gay cấn, bất ngờ vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975. “Các con tui… đã về!” Thoạt nghe dễ tưởng là tiếng reo vui, vỡ òa hạnh phúc cho cuộc trùng phùng sau nhiều năm dài chia phôi và nhung nhớ. Thế nhưng mọi chuyện diễn ra theo cách khác. Nhân vật chính, bà mẹ miền Nam, thều thào thốt ra câu ấy trong màn cuối, cảnh cuối, là cảnh nhiều kịch tính nhất trong suốt chiều dài vở kịch. Bà mẹ nở nụ cười rạng rỡ, âu yếm gọi tên thằng con