DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,980,453

Người Lính Nghĩa Quân Trong Tim Tôi - Nguyễn Thanh Thủy

Wednesday, December 12, 201212:00 AM(View: 6227)
Người Lính Nghĩa Quân Trong Tim Tôi - Nguyễn Thanh Thủy




Năm tôi được 10 tuổi, gia dình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp chiến lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn Nghĩa Quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở.

Lúc nầy Việt Cộng bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát xã trưởng, ấp trưởng của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình. Họ bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội Nghĩa Quân, gồm có 3 tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông tiểu đội trưởng, tôi kêu là chú Tấn.

Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẽ. Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thomsomp, cây nào là cây súng phóng lựu.

Tôi biết tên hầu hết các chú lính Nghĩa Quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chổ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương Nghĩa Quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu. Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rãnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà để vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm.

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói. Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc. Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay. Chú thím Tấn có hai đứa con. Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi. Khi bận bán tương, chao, thím Tấn hay gởi 2 đứa nó nhờ tôi giử dùm. Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó rất cũng thương tôi.



blank



Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú Nghĩa Quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giử bí mật. Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ. Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy.

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ dòn giã. Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của Việt Cộng cùng với vài trái lựu đạn. Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán Việt Cộng băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp. Chúng tôi rủ nhau đi coi xác Việt Cộng. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng Việt Cộng đang băng qua sông. Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng. Sáng hôm sau ông quận trưởng bất ngờ đến đồn Nghĩa Quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn. Các chú được dịp ăn nhậu vui vẽ. Mấy đứa con các chú Nghĩa Quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay.

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt đoanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay trung đội Nghĩa Quân vừa bị tấn công và hai chú Nghĩa Quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn Việt Cộng gảy giò. Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi. Linh cửu của hai chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê. Đến chiều thì người ta chôn hai chú ngoài bờ rào ấp.

Một hàng sáu người lính Nghĩa Quân đứng chào trên bờ huyệt. Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai. Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy. Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng. Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dìu được họ về nhà. Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru. Tôi không biết Việt Cộng là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây. Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa?


o O o





blank



Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt. Việt Cộng bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ, họ giật xập cầu, bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy. Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò. Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung tóe. Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ. Trung đội Nghĩa Quân lập được nhiều chiến công. Nhưng các chú Nghĩa Quân mà tôi quen biết cũng vơi dần. Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh bọc thây da ngựa.

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và hai đứa con dại đã đến. Chú Tấn và một chú Nghĩa Quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với Việt Cộng năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú. Khi tôi đi học về, tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt. Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rĩ ra bên màng tang. Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến nắm tay hai đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi, "Bộ ba em chết rồi hả chị?", tôi chỉ "Ừ", không biết trả lời làm sao!

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà thật dài. Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối. Tôi phải dẩn con Lan và thằng Dũng về nhà...

Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hòa, thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì? Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt...

Năm sau, gia đình tôi dời đi chổ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan. Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và hai đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nữa.

Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú Nghĩa Quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào. Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi. Số còn lại có người gẫy chân, có người cụt tay, sống đời tàn phế...

Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hòa Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục. Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam.




blank




Thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính Nghĩa Quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm. Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình. Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu. Các chú đã nằm xuống bỏ lại con thơ, vợ dại, để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát. Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đọa cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hóa cũa nhân loại. Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn Cộng Sản Việt Nam chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng.

Hỡi cô, hỡi bác, hỡi anh, hỡi chị ơi ! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính Nghĩa Quân đang sống đời tàn phế. Xin đừng quên các chú Nghĩa Quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam. Xin đừng quên vợ con họ, bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.


Nguyễn Thanh Thủy


LỜI TÌNH BUỒN. Thơ Chu Trầm Nguyên Minh. Nhạc: Vũ Thành An. Tiếng hát: Thiên Kim, Quốc Bảo

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, May 20, 20199:44 AM(View: 66)
Từ ngày hai vợ chồng về hưu, thì giờ như nhiều ra. Mấy đứa con gắn cable, mua TV đời mới, màn ảnh rộng, gắn trên tường. Thường ngày, mỗi buổi sáng, sau khi đi bộ chừng nửa giờ quanh xóm, thầy bắt đầu theo dõi thị trường chứng khoán, mua bán cổ phần các công ty. Thầy ăn cũng nhiều, mà thua cũng lắm. Thầy coi đây như một thú vui, cũng là cách thử thách sự nhạy bén của trí tuệ. Thầy vẫn thường tự hào sau hơn hai mươi năm trong thị trường, thầy về hưu với tình trạng tài chánh tương đối khá, một phần nhờ vào đầu tư. Bà Hiên không hiểu nhiều về cái gì gọi là đầu tư, tiền kiếm được sau bao năm lăn lộn trong nghề nail, bà nhốt hết vào mấy cái CD và trương mục tiết kiệm của ngân hàng, tiền lời dư cho bà mua mấy băng hay dĩa phim truyện bà thích, hay thỉnh thoảng về Việt Nam thăm bạn bè và bà con. Thầy cũng chẳng phản đối gì việc làm của bà, vì thầy cho rằng, bà có quyền hưởng thụ thành quả công việc của bà sau hơn hai mươi năm nơi xứ người. Công bình mà nói, công sức của bà nhiều hơn của thầy,
Friday, May 17, 20196:27 PM(View: 49)
Những bản giao hưởng tuyệt vời của Berlioz, Schuber, Mendelssohn, Tchaikovsky, Dvorak… đã làm thăng hoa thể loại âm nhạc nầy. Sở dĩ thể loại nầy trước đây được “gán ghép” là nhạc bác học, nhạc hàn lâm, nhạc quý tộc vì thời đó khi trình diễn chỉ hạn chế cho số người quyến quý và giàu có. Ở VN trước đây và trước năm 1975 ở miền Nam VN quan niệm rằng thể loại nầy thuộc âm nhạc bác học (hàn lâm) nhưng thời gian gần đây ở trong nước lại phủ nhận. Nếu tranh cãi thì rất dài dòng văn tự và coi như “nói chuyện với đầu gối” nen miễn bàn! Thưởng thức nhạc cổ điến Tây phương cũng đòi hỏi thêm phần kiến thức về nhạc sử, tiểu sử nhà soạn nhạc mới cảm nhận được trường hợp và môi trường sáng tác. Bây giờ thì loại “trưởng giả học làm sang” tham dự các cuộc trình diễn âm nhạc cổ điển như “đàn gãy tau trâu” cũng nhan nhản! B: Âm nhạc dân gian, trong một bài viết ghi nhận: “Đây là một nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà soạn nhạc khác. Tại nước Anh, Vaughan Williams trộn lẫn những âm thanh của những bài
Wednesday, May 15, 20197:45 PM(View: 59)
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán. Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập gềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một cái bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường
Sunday, May 12, 201911:05 AM(View: 417)
Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua. Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một "phóng viên tại chỗ" chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị "phóng viên" này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những thông tin giật gân này lại còn có bài báo (vẫn trên mạng) mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm. Chúng tôi đến Nha Trang không phải để kiểm tra những "sự kiện" này, vì khi về Sài Gòn và xuống miền Tây đã tìm chả ra mống Tầu nào, muốn ăn cơm Tầu, cũng khó kiếm,
Wednesday, May 8, 20195:20 PM(View: 108)
Nói đến vị Hùng Vương thứ 19 tức là mặc nhiên chấp nhận có 18 vị Hùng Vương trước đó. Đây là nói về mặt logic chớ hầu như tất cả sử sách của ta đều dành chỗ trang trọng cho các vị hiền nhân minh triết này trong thời kỳ sơ khai khuyết sử của dân tộc. Trong Việt Nam Sử Lược (VNSL), học giả Trần Trọng Kim tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của thời đại Hùng Vương trải dài trong 2622 năm với 18 đời “Vua,” bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên (CN), tức cách đây (năm 2019) 4898 năm, và kết thúc sau khi Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18 để sáp nhập với nước Tây Âu hay nước Âu Việt lập ra nước Âu Lạc vào năm 258 trước CN. Có người, không biết dựa vào đâu, đã kể vanh vách tên của 18 vị “Vua” Hùng, như thể ngay từ thời khởi thủy xa xăm đó người Việt đã có tổ chức quốc gia chặt chẽ và đã có sách vở để ghi chép tên mỗi vị “Vua.” Thật ra, Vương không phải là vua. Hùng Vương không phải là “Vua” Hùng. VƯƠNG là một từ cổ có mặt và được dùng trong cả hai ngôn ngữ, Hán và Việt,