DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,818,546

Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

17 Tháng Mười Hai 201212:00 SA(Xem: 6021)
Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

Nét Buồn Thời Chiến




blank




Sau cuộc hành quân khai thông Quốc lộ 14 nối liền Pleiku và Kontum, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh về Kontum dưỡng quân. Vừa về đến hậu cứ, chưa kịp tháo dây ba chạc và bỏ chiếc mũ sắt,.tôi nhận được công điện khẩn goị lên trình diện Đại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân của Quân Đoàn II. Tôi được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 BĐQ, thay thế Đại úy Lê văn Dưỡng bị bệnh, đem quân về giải tỏa ngã ba Daksong đang bị cộng quân đóng chốt. Tôi họp các Đaị đội trưởng thông báo tin tức, ra lệnh cấm trại 100% chuẩn bị hành quân.


Được một phi đội A37 hộ tống và một phi cơ quan sát bao vùng trênquốc lộ 14, chúng tôi di chuyển từ Kontum về Ban Mê Thuột an toàn. Tôi vào Liên đoàn 21 BĐQ trình diện Trung tá Nguyễn văn Lang nhận lệnh chi tiết rồi đưa Tiểu đoàn thẳng đến Đức Lập.


Daksong là một ngọn đồi thấp, nằm trên quốc lộ 14, phiá bắc quận Đức Lập. Dưới chân đồi là một ngả ba nối liền Ban Mê Thuột, Quảng Đức và Đức Lập. Cộng quân chiếm cứ điểm chiến lược này để đặt chốt kiểm soát quốc lộ 14, cô lập tỉnh Quảng đức. Nhiếu xe quân đội và dân sự đi ngang qua đó bị bắn cháy nằm ngổn ngang dưới chân đồi.


Sau hiệp định đình chiến ngày 27 tháng 1 năm 1973, cộng quân vi phạm hiệp định liên miên. Đầu tháng 6/1973, chúng đưa sư đoàn 320 tấn công Kontum và cho một đơn vị đóng chốt tại núi Chư Pao, cạnh quốc lộ 14 ngăn chặn tiếp viện từ Pleiku lên. Sau gần hai tuần chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn chúng tôi mới chiếm được Chư Pao, mở đường cho các đơn vị bạn tiến vào Kontum. Ít lâu sau, cộng quân lại uy hiếp tỉnh Quảng Đức. Thiếu tá Quận trưởng quận Đúc Lập cho biết tỉnh Quảng Đức đã bị cô lập từ hai tháng nay, dân chúng rất khổ sở vì thiếu nhu yếu phẩm nhất là gạo.


Nhiệm vụ của chúng tôi là phải thanh toán ngay cái chốt Daksong. Nhiều đơn vị bạn trong hai tháng qua đã đổ nhiều máu mà cái chốt ấy vẫn còn nằm lù lù ở đó. Tôi biết đây là một nhiệm vụ khó khăn nên cẩn thận quan sát thật kỹ để xác định chính xác các vị trí và hỏa lực của địch. Tôi thận trọng di chuyển đơn vị đến gần mục tiêu. Đại đội 1 tiến bên trái, đại đội 2 bên phải, nương theo cây cối rậm rạp hai bên lộ, tiến sát chân đồi, đào hố cá nhân đợi lệnh. Tôi tìm được một vị trí khá an toàn, quan sát được ngã ba và con dốc. Một tiểu đội viễn thám được phái đi dọ thám mục tiêu. Tiểu đội này chia ra ba tổ, mỗi tổ ba người nương theo các mô đất từ từ bò lên sườn đồi. Cộng quân khai hỏa xối xả gây tử thương cho tổ bên phải. Tôi lập tức ra lệnh cho đại 1 và đại đội 2 vừa bắn lên đồi vừa hô xung phong nhưng không tiến lên. Trên sườn đồ cộng quân khạc đạn như mưa vào vị trí chúng tôi.

 

blank



Tôi quan sát trận địa và nhận ra ngay vị trí và hỏa lực của địch. Đây là loại chốt liên hợp gồm chốt chính ở giữa và hai chốt phụ ở hai bên. Tại chốt chính, cộng quân sử dụng đại liên 12 ly 7 và đại bác không giật 57 ly, hai chốt phụ có B4. Cả ba chốt đều có AK 47 hổ trợ. Tôi lập tức gọi liên đoàn BĐQ tăng phái cho chúng tôi 6 thiết vận xa M113, và xin pháo binh của Sư đoàn 23 BB bắn yểm trợ. Sau khi phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị cơ hữu và các đơn vị bạn, tôi ra lệnh chờ giờ tấn công.


Mờ sáng, tôi gọi pháo binh bắn TOT (Time On Target) đạn nổ vào các chốt của cộng quân trên sườn đồi trong 20 phút rồi bắn đạn khói che chở cho chúng tôi tấn công lên đồi. Lệnh xung phong ban ra.Toán cua sắt vừa bắn đại liên 12 ly 7 vừa bò lên đồi. BĐQ ào ạt dũng mãnh tiến lên, bắn xối xả vào các mục tiêu đã được chỉ định. Tôi và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng với đại đội 3 đánh thẳng vào chốt chính.


“Biệt Động Quân, Sát! Biệt Động Quân, Sát!” Tiếng hô xung phong dũng mãnh, và ác liệt của các cọp rừng hòa với tiếng réo của các loại đạn,và tiếng xích sắt nghiến ken két của M113 làm cho địch quân khiếp đảm. Chúng chống cự yếu dần rồi chém vè vào rừng. BĐQ làm chủ trận địa sau 30 phút tấn công, kêu gọi tàn quân địch đầu hàng. Xác cộng quân nằm ngổn ngang lẫn với nhiều vũ khí đủ loại. Xạ thủ đại liên 12.7 và đại bác 57 ly của cộng quân khi chết tay vẫn còn bị xích vào súng. Quân ta chịu tổn thất nhẹ. Tôi ra lệnh cho các đại đội phân tán mỏng chung quanh đồi đề phòng pháo 122 ly của địch.


Được tin chiến thắng,Trung tá Nguyễn văn Lang, Liên đoàn trưởng LĐ 21/BĐQ bay đến đồi Daksong uỷ lạo anh em binh sĩ và đem chiến lợi phẩm về BCH Tiền phương của Sư đoàn 23 BB. Tôi được lệnh chiếm đóng đồi Daksong giữ an ninh trục lộ 14 cho đoàn công voa tiếp tế đồng bào Quảng Đức.


blank


Hai hôm sau về họp tại BCH tiền phương của LĐ21/BĐQ, tôi gặp Lê văn Thại, bạn học cùng lớp đệ tam B1 ở Cường Để năm xưa. Bấy giờ Thại là Y sĩ trưởng của LĐ21/BĐQ. Tôi được bạn đãi một vò rượu cần và một đĩa cu đất rô ti thơm phức. Thại kể chuyện võ thuật, săn bắn và thú chơi súng. Thại cho biết có gặp Phan Thành Đôn ở Ban Mê Thuột. Tôi nhớ ngay ra Đôn nhỏ con, láu lỉnh, giỏi toán, trí nhớ tốt, yêu cô bé bắc kỳ trường Nhân Thảo và mê cô em của Từ Lương Mỹ mà không dám nói. Đôn tốt nghiệp công chánh, rồi nhập ngũ, lúc đó là đại đội trương ĐĐ651 Công Binh Kiến Tạo. Một tháng sau trên đường di quân về Kontum tôi gặp Đôn đang điều động binh sĩ sửa cầu đường trên quốc lộ 14. Đôn kể tôi nghe chuyện lấy vợ, chọc ghẹo các em nữ sinh BMT. Tôi kể cho Đôn nghe những vui buồn trong khi hành quân đây đó.


Chúng tôi thương xuyên đụng độ ác liệt với cộng quân, không nao núng đối diện với hiểm nguy. Tuy vậy cũng có lúc sau những giờ phút xông pha trong máu lửa, nhìn những vành khăn tang, những chiếc quan tài phủ quốc kỳ, những đồng đội thân yêu bị thương tích, lòng chúng tôi không khỏi chùng xuống. Những lúc được về thăm thành phố, nhìn đám học sinh vui tươi cắp sách đến trường,c húng tôi cũng cảm thấy phần nào an ủi rằng mình đã chiến đấu cho tự do và tương lai của đất nước.


Ba mươi lăm năm đã trôi qua nhưng ký ức vẫn còn in đậm nét cuộc đời quân ngũ trên một dải quê hương xinh đẹp với từng khuôn mặt thân yêu của đồng đội. Xin cho tôi gởi lời thăm Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, Daksong, Benhet, Dakto, Tân cảnh, Sài Gòn… và tất cả bạn bè, đồng đội còn kẹt lại ở quê nhà.


Quê hương ơi hỡi quê hương
Càng xa càng nhớ càng thương từng ngày


Mũ Nâu Lê Hùng

Việt Nam tôi đâu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 120)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 97)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 105)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 185)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…
25 Tháng Chín 201812:35 CH(Xem: 157)
Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường trung học Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha. Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam, và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của thầy gây chấn động văn đàn: bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu… (Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí). Một lần, thầy nói với học trò hôm nay giỗ đầu Trần Quang Long người bạn thiết, và hào sảng đọc thơ anh. Là lần đầu tôi tiếp xúc bài Thưa mẹ, trái tim. Lần khác, thầy khuyên chúng tôi tìm đọc bài Bài thơ của một người yêu nước mình. Cũng là lần đầu tôi biết đến Trần Vàng Sao.