DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,978,700

Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

Monday, December 17, 201212:00 AM(View: 6505)
Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

Nét Buồn Thời Chiến




blank




Sau cuộc hành quân khai thông Quốc lộ 14 nối liền Pleiku và Kontum, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh về Kontum dưỡng quân. Vừa về đến hậu cứ, chưa kịp tháo dây ba chạc và bỏ chiếc mũ sắt,.tôi nhận được công điện khẩn goị lên trình diện Đại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân của Quân Đoàn II. Tôi được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 BĐQ, thay thế Đại úy Lê văn Dưỡng bị bệnh, đem quân về giải tỏa ngã ba Daksong đang bị cộng quân đóng chốt. Tôi họp các Đaị đội trưởng thông báo tin tức, ra lệnh cấm trại 100% chuẩn bị hành quân.


Được một phi đội A37 hộ tống và một phi cơ quan sát bao vùng trênquốc lộ 14, chúng tôi di chuyển từ Kontum về Ban Mê Thuột an toàn. Tôi vào Liên đoàn 21 BĐQ trình diện Trung tá Nguyễn văn Lang nhận lệnh chi tiết rồi đưa Tiểu đoàn thẳng đến Đức Lập.


Daksong là một ngọn đồi thấp, nằm trên quốc lộ 14, phiá bắc quận Đức Lập. Dưới chân đồi là một ngả ba nối liền Ban Mê Thuột, Quảng Đức và Đức Lập. Cộng quân chiếm cứ điểm chiến lược này để đặt chốt kiểm soát quốc lộ 14, cô lập tỉnh Quảng đức. Nhiếu xe quân đội và dân sự đi ngang qua đó bị bắn cháy nằm ngổn ngang dưới chân đồi.


Sau hiệp định đình chiến ngày 27 tháng 1 năm 1973, cộng quân vi phạm hiệp định liên miên. Đầu tháng 6/1973, chúng đưa sư đoàn 320 tấn công Kontum và cho một đơn vị đóng chốt tại núi Chư Pao, cạnh quốc lộ 14 ngăn chặn tiếp viện từ Pleiku lên. Sau gần hai tuần chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn chúng tôi mới chiếm được Chư Pao, mở đường cho các đơn vị bạn tiến vào Kontum. Ít lâu sau, cộng quân lại uy hiếp tỉnh Quảng Đức. Thiếu tá Quận trưởng quận Đúc Lập cho biết tỉnh Quảng Đức đã bị cô lập từ hai tháng nay, dân chúng rất khổ sở vì thiếu nhu yếu phẩm nhất là gạo.


Nhiệm vụ của chúng tôi là phải thanh toán ngay cái chốt Daksong. Nhiều đơn vị bạn trong hai tháng qua đã đổ nhiều máu mà cái chốt ấy vẫn còn nằm lù lù ở đó. Tôi biết đây là một nhiệm vụ khó khăn nên cẩn thận quan sát thật kỹ để xác định chính xác các vị trí và hỏa lực của địch. Tôi thận trọng di chuyển đơn vị đến gần mục tiêu. Đại đội 1 tiến bên trái, đại đội 2 bên phải, nương theo cây cối rậm rạp hai bên lộ, tiến sát chân đồi, đào hố cá nhân đợi lệnh. Tôi tìm được một vị trí khá an toàn, quan sát được ngã ba và con dốc. Một tiểu đội viễn thám được phái đi dọ thám mục tiêu. Tiểu đội này chia ra ba tổ, mỗi tổ ba người nương theo các mô đất từ từ bò lên sườn đồi. Cộng quân khai hỏa xối xả gây tử thương cho tổ bên phải. Tôi lập tức ra lệnh cho đại 1 và đại đội 2 vừa bắn lên đồi vừa hô xung phong nhưng không tiến lên. Trên sườn đồ cộng quân khạc đạn như mưa vào vị trí chúng tôi.

 

blank



Tôi quan sát trận địa và nhận ra ngay vị trí và hỏa lực của địch. Đây là loại chốt liên hợp gồm chốt chính ở giữa và hai chốt phụ ở hai bên. Tại chốt chính, cộng quân sử dụng đại liên 12 ly 7 và đại bác không giật 57 ly, hai chốt phụ có B4. Cả ba chốt đều có AK 47 hổ trợ. Tôi lập tức gọi liên đoàn BĐQ tăng phái cho chúng tôi 6 thiết vận xa M113, và xin pháo binh của Sư đoàn 23 BB bắn yểm trợ. Sau khi phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị cơ hữu và các đơn vị bạn, tôi ra lệnh chờ giờ tấn công.


Mờ sáng, tôi gọi pháo binh bắn TOT (Time On Target) đạn nổ vào các chốt của cộng quân trên sườn đồi trong 20 phút rồi bắn đạn khói che chở cho chúng tôi tấn công lên đồi. Lệnh xung phong ban ra.Toán cua sắt vừa bắn đại liên 12 ly 7 vừa bò lên đồi. BĐQ ào ạt dũng mãnh tiến lên, bắn xối xả vào các mục tiêu đã được chỉ định. Tôi và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng với đại đội 3 đánh thẳng vào chốt chính.


“Biệt Động Quân, Sát! Biệt Động Quân, Sát!” Tiếng hô xung phong dũng mãnh, và ác liệt của các cọp rừng hòa với tiếng réo của các loại đạn,và tiếng xích sắt nghiến ken két của M113 làm cho địch quân khiếp đảm. Chúng chống cự yếu dần rồi chém vè vào rừng. BĐQ làm chủ trận địa sau 30 phút tấn công, kêu gọi tàn quân địch đầu hàng. Xác cộng quân nằm ngổn ngang lẫn với nhiều vũ khí đủ loại. Xạ thủ đại liên 12.7 và đại bác 57 ly của cộng quân khi chết tay vẫn còn bị xích vào súng. Quân ta chịu tổn thất nhẹ. Tôi ra lệnh cho các đại đội phân tán mỏng chung quanh đồi đề phòng pháo 122 ly của địch.


Được tin chiến thắng,Trung tá Nguyễn văn Lang, Liên đoàn trưởng LĐ 21/BĐQ bay đến đồi Daksong uỷ lạo anh em binh sĩ và đem chiến lợi phẩm về BCH Tiền phương của Sư đoàn 23 BB. Tôi được lệnh chiếm đóng đồi Daksong giữ an ninh trục lộ 14 cho đoàn công voa tiếp tế đồng bào Quảng Đức.


blank


Hai hôm sau về họp tại BCH tiền phương của LĐ21/BĐQ, tôi gặp Lê văn Thại, bạn học cùng lớp đệ tam B1 ở Cường Để năm xưa. Bấy giờ Thại là Y sĩ trưởng của LĐ21/BĐQ. Tôi được bạn đãi một vò rượu cần và một đĩa cu đất rô ti thơm phức. Thại kể chuyện võ thuật, săn bắn và thú chơi súng. Thại cho biết có gặp Phan Thành Đôn ở Ban Mê Thuột. Tôi nhớ ngay ra Đôn nhỏ con, láu lỉnh, giỏi toán, trí nhớ tốt, yêu cô bé bắc kỳ trường Nhân Thảo và mê cô em của Từ Lương Mỹ mà không dám nói. Đôn tốt nghiệp công chánh, rồi nhập ngũ, lúc đó là đại đội trương ĐĐ651 Công Binh Kiến Tạo. Một tháng sau trên đường di quân về Kontum tôi gặp Đôn đang điều động binh sĩ sửa cầu đường trên quốc lộ 14. Đôn kể tôi nghe chuyện lấy vợ, chọc ghẹo các em nữ sinh BMT. Tôi kể cho Đôn nghe những vui buồn trong khi hành quân đây đó.


Chúng tôi thương xuyên đụng độ ác liệt với cộng quân, không nao núng đối diện với hiểm nguy. Tuy vậy cũng có lúc sau những giờ phút xông pha trong máu lửa, nhìn những vành khăn tang, những chiếc quan tài phủ quốc kỳ, những đồng đội thân yêu bị thương tích, lòng chúng tôi không khỏi chùng xuống. Những lúc được về thăm thành phố, nhìn đám học sinh vui tươi cắp sách đến trường,c húng tôi cũng cảm thấy phần nào an ủi rằng mình đã chiến đấu cho tự do và tương lai của đất nước.


Ba mươi lăm năm đã trôi qua nhưng ký ức vẫn còn in đậm nét cuộc đời quân ngũ trên một dải quê hương xinh đẹp với từng khuôn mặt thân yêu của đồng đội. Xin cho tôi gởi lời thăm Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, Daksong, Benhet, Dakto, Tân cảnh, Sài Gòn… và tất cả bạn bè, đồng đội còn kẹt lại ở quê nhà.


Quê hương ơi hỡi quê hương
Càng xa càng nhớ càng thương từng ngày


Mũ Nâu Lê Hùng

Việt Nam tôi đâu

Reader's Comment
Tuesday, February 12, 20192:06 PM
Guest
Làm cách bào có thể lên lạc được với tác giả Lê Hùng mũ nâu
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Friday, May 17, 20196:27 PM(View: 31)
Những bản giao hưởng tuyệt vời của Berlioz, Schuber, Mendelssohn, Tchaikovsky, Dvorak… đã làm thăng hoa thể loại âm nhạc nầy. Sở dĩ thể loại nầy trước đây được “gán ghép” là nhạc bác học, nhạc hàn lâm, nhạc quý tộc vì thời đó khi trình diễn chỉ hạn chế cho số người quyến quý và giàu có. Ở VN trước đây và trước năm 1975 ở miền Nam VN quan niệm rằng thể loại nầy thuộc âm nhạc bác học (hàn lâm) nhưng thời gian gần đây ở trong nước lại phủ nhận. Nếu tranh cãi thì rất dài dòng văn tự và coi như “nói chuyện với đầu gối” nen miễn bàn! Thưởng thức nhạc cổ điến Tây phương cũng đòi hỏi thêm phần kiến thức về nhạc sử, tiểu sử nhà soạn nhạc mới cảm nhận được trường hợp và môi trường sáng tác. Bây giờ thì loại “trưởng giả học làm sang” tham dự các cuộc trình diễn âm nhạc cổ điển như “đàn gãy tau trâu” cũng nhan nhản! B: Âm nhạc dân gian, trong một bài viết ghi nhận: “Đây là một nguồn cảm hứng lớn cho nhiều nhà soạn nhạc khác. Tại nước Anh, Vaughan Williams trộn lẫn những âm thanh của những bài
Wednesday, May 15, 20197:45 PM(View: 46)
Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán. Hôm nay tôi được dẫn theo một lối đi khác với lối đi mọi ngày. Nó dường như dài hơn, quanh co hơn. Có đoạn tôi cảm tưởng như đi qua một trại nuôi súc vật, một con đường gập gềnh nhiều dốc rồi đến một bãi đất trống thường làm nơi họp chợ, một công viên nhiều hương thơm hoa trái trong tiếng nước chảy róc rách của một cái bồn nước. Tôi chưa từng đặt chân đến con đường này bao giờ mặc dù thành bang này không hề to lớn. Họ đưa tôi đi đâu? Phóng thích hay hành quyết? Tôi chẳng hề nghĩ nhiều đến việc này trong suốt thời gian bị giam cầm, nhưng bây giờ đối mặt với tình huống khác thường
Sunday, May 12, 201911:05 AM(View: 396)
Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua. Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một "phóng viên tại chỗ" chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị "phóng viên" này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những thông tin giật gân này lại còn có bài báo (vẫn trên mạng) mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm. Chúng tôi đến Nha Trang không phải để kiểm tra những "sự kiện" này, vì khi về Sài Gòn và xuống miền Tây đã tìm chả ra mống Tầu nào, muốn ăn cơm Tầu, cũng khó kiếm,
Wednesday, May 8, 20195:20 PM(View: 100)
Nói đến vị Hùng Vương thứ 19 tức là mặc nhiên chấp nhận có 18 vị Hùng Vương trước đó. Đây là nói về mặt logic chớ hầu như tất cả sử sách của ta đều dành chỗ trang trọng cho các vị hiền nhân minh triết này trong thời kỳ sơ khai khuyết sử của dân tộc. Trong Việt Nam Sử Lược (VNSL), học giả Trần Trọng Kim tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của thời đại Hùng Vương trải dài trong 2622 năm với 18 đời “Vua,” bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên (CN), tức cách đây (năm 2019) 4898 năm, và kết thúc sau khi Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18 để sáp nhập với nước Tây Âu hay nước Âu Việt lập ra nước Âu Lạc vào năm 258 trước CN. Có người, không biết dựa vào đâu, đã kể vanh vách tên của 18 vị “Vua” Hùng, như thể ngay từ thời khởi thủy xa xăm đó người Việt đã có tổ chức quốc gia chặt chẽ và đã có sách vở để ghi chép tên mỗi vị “Vua.” Thật ra, Vương không phải là vua. Hùng Vương không phải là “Vua” Hùng. VƯƠNG là một từ cổ có mặt và được dùng trong cả hai ngôn ngữ, Hán và Việt,
Sunday, May 5, 20198:57 PM(View: 179)
Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc. Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm... in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo. Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục