DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,710,871

Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

17 Tháng Mười Hai 201212:00 SA(Xem: 5834)
Nét Buồn Thời Chiến - Mũ Nâu Lê Hùng

Nét Buồn Thời Chiến




blank




Sau cuộc hành quân khai thông Quốc lộ 14 nối liền Pleiku và Kontum, tiểu đoàn chúng tôi được lệnh về Kontum dưỡng quân. Vừa về đến hậu cứ, chưa kịp tháo dây ba chạc và bỏ chiếc mũ sắt,.tôi nhận được công điện khẩn goị lên trình diện Đại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân của Quân Đoàn II. Tôi được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 BĐQ, thay thế Đại úy Lê văn Dưỡng bị bệnh, đem quân về giải tỏa ngã ba Daksong đang bị cộng quân đóng chốt. Tôi họp các Đaị đội trưởng thông báo tin tức, ra lệnh cấm trại 100% chuẩn bị hành quân.


Được một phi đội A37 hộ tống và một phi cơ quan sát bao vùng trênquốc lộ 14, chúng tôi di chuyển từ Kontum về Ban Mê Thuột an toàn. Tôi vào Liên đoàn 21 BĐQ trình diện Trung tá Nguyễn văn Lang nhận lệnh chi tiết rồi đưa Tiểu đoàn thẳng đến Đức Lập.


Daksong là một ngọn đồi thấp, nằm trên quốc lộ 14, phiá bắc quận Đức Lập. Dưới chân đồi là một ngả ba nối liền Ban Mê Thuột, Quảng Đức và Đức Lập. Cộng quân chiếm cứ điểm chiến lược này để đặt chốt kiểm soát quốc lộ 14, cô lập tỉnh Quảng đức. Nhiếu xe quân đội và dân sự đi ngang qua đó bị bắn cháy nằm ngổn ngang dưới chân đồi.


Sau hiệp định đình chiến ngày 27 tháng 1 năm 1973, cộng quân vi phạm hiệp định liên miên. Đầu tháng 6/1973, chúng đưa sư đoàn 320 tấn công Kontum và cho một đơn vị đóng chốt tại núi Chư Pao, cạnh quốc lộ 14 ngăn chặn tiếp viện từ Pleiku lên. Sau gần hai tuần chiến đấu ác liệt, Tiểu đoàn chúng tôi mới chiếm được Chư Pao, mở đường cho các đơn vị bạn tiến vào Kontum. Ít lâu sau, cộng quân lại uy hiếp tỉnh Quảng Đức. Thiếu tá Quận trưởng quận Đúc Lập cho biết tỉnh Quảng Đức đã bị cô lập từ hai tháng nay, dân chúng rất khổ sở vì thiếu nhu yếu phẩm nhất là gạo.


Nhiệm vụ của chúng tôi là phải thanh toán ngay cái chốt Daksong. Nhiều đơn vị bạn trong hai tháng qua đã đổ nhiều máu mà cái chốt ấy vẫn còn nằm lù lù ở đó. Tôi biết đây là một nhiệm vụ khó khăn nên cẩn thận quan sát thật kỹ để xác định chính xác các vị trí và hỏa lực của địch. Tôi thận trọng di chuyển đơn vị đến gần mục tiêu. Đại đội 1 tiến bên trái, đại đội 2 bên phải, nương theo cây cối rậm rạp hai bên lộ, tiến sát chân đồi, đào hố cá nhân đợi lệnh. Tôi tìm được một vị trí khá an toàn, quan sát được ngã ba và con dốc. Một tiểu đội viễn thám được phái đi dọ thám mục tiêu. Tiểu đội này chia ra ba tổ, mỗi tổ ba người nương theo các mô đất từ từ bò lên sườn đồi. Cộng quân khai hỏa xối xả gây tử thương cho tổ bên phải. Tôi lập tức ra lệnh cho đại 1 và đại đội 2 vừa bắn lên đồi vừa hô xung phong nhưng không tiến lên. Trên sườn đồ cộng quân khạc đạn như mưa vào vị trí chúng tôi.

 

blank



Tôi quan sát trận địa và nhận ra ngay vị trí và hỏa lực của địch. Đây là loại chốt liên hợp gồm chốt chính ở giữa và hai chốt phụ ở hai bên. Tại chốt chính, cộng quân sử dụng đại liên 12 ly 7 và đại bác không giật 57 ly, hai chốt phụ có B4. Cả ba chốt đều có AK 47 hổ trợ. Tôi lập tức gọi liên đoàn BĐQ tăng phái cho chúng tôi 6 thiết vận xa M113, và xin pháo binh của Sư đoàn 23 BB bắn yểm trợ. Sau khi phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị cơ hữu và các đơn vị bạn, tôi ra lệnh chờ giờ tấn công.


Mờ sáng, tôi gọi pháo binh bắn TOT (Time On Target) đạn nổ vào các chốt của cộng quân trên sườn đồi trong 20 phút rồi bắn đạn khói che chở cho chúng tôi tấn công lên đồi. Lệnh xung phong ban ra.Toán cua sắt vừa bắn đại liên 12 ly 7 vừa bò lên đồi. BĐQ ào ạt dũng mãnh tiến lên, bắn xối xả vào các mục tiêu đã được chỉ định. Tôi và bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng với đại đội 3 đánh thẳng vào chốt chính.


“Biệt Động Quân, Sát! Biệt Động Quân, Sát!” Tiếng hô xung phong dũng mãnh, và ác liệt của các cọp rừng hòa với tiếng réo của các loại đạn,và tiếng xích sắt nghiến ken két của M113 làm cho địch quân khiếp đảm. Chúng chống cự yếu dần rồi chém vè vào rừng. BĐQ làm chủ trận địa sau 30 phút tấn công, kêu gọi tàn quân địch đầu hàng. Xác cộng quân nằm ngổn ngang lẫn với nhiều vũ khí đủ loại. Xạ thủ đại liên 12.7 và đại bác 57 ly của cộng quân khi chết tay vẫn còn bị xích vào súng. Quân ta chịu tổn thất nhẹ. Tôi ra lệnh cho các đại đội phân tán mỏng chung quanh đồi đề phòng pháo 122 ly của địch.


Được tin chiến thắng,Trung tá Nguyễn văn Lang, Liên đoàn trưởng LĐ 21/BĐQ bay đến đồi Daksong uỷ lạo anh em binh sĩ và đem chiến lợi phẩm về BCH Tiền phương của Sư đoàn 23 BB. Tôi được lệnh chiếm đóng đồi Daksong giữ an ninh trục lộ 14 cho đoàn công voa tiếp tế đồng bào Quảng Đức.


blank


Hai hôm sau về họp tại BCH tiền phương của LĐ21/BĐQ, tôi gặp Lê văn Thại, bạn học cùng lớp đệ tam B1 ở Cường Để năm xưa. Bấy giờ Thại là Y sĩ trưởng của LĐ21/BĐQ. Tôi được bạn đãi một vò rượu cần và một đĩa cu đất rô ti thơm phức. Thại kể chuyện võ thuật, săn bắn và thú chơi súng. Thại cho biết có gặp Phan Thành Đôn ở Ban Mê Thuột. Tôi nhớ ngay ra Đôn nhỏ con, láu lỉnh, giỏi toán, trí nhớ tốt, yêu cô bé bắc kỳ trường Nhân Thảo và mê cô em của Từ Lương Mỹ mà không dám nói. Đôn tốt nghiệp công chánh, rồi nhập ngũ, lúc đó là đại đội trương ĐĐ651 Công Binh Kiến Tạo. Một tháng sau trên đường di quân về Kontum tôi gặp Đôn đang điều động binh sĩ sửa cầu đường trên quốc lộ 14. Đôn kể tôi nghe chuyện lấy vợ, chọc ghẹo các em nữ sinh BMT. Tôi kể cho Đôn nghe những vui buồn trong khi hành quân đây đó.


Chúng tôi thương xuyên đụng độ ác liệt với cộng quân, không nao núng đối diện với hiểm nguy. Tuy vậy cũng có lúc sau những giờ phút xông pha trong máu lửa, nhìn những vành khăn tang, những chiếc quan tài phủ quốc kỳ, những đồng đội thân yêu bị thương tích, lòng chúng tôi không khỏi chùng xuống. Những lúc được về thăm thành phố, nhìn đám học sinh vui tươi cắp sách đến trường,c húng tôi cũng cảm thấy phần nào an ủi rằng mình đã chiến đấu cho tự do và tương lai của đất nước.


Ba mươi lăm năm đã trôi qua nhưng ký ức vẫn còn in đậm nét cuộc đời quân ngũ trên một dải quê hương xinh đẹp với từng khuôn mặt thân yêu của đồng đội. Xin cho tôi gởi lời thăm Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, Daksong, Benhet, Dakto, Tân cảnh, Sài Gòn… và tất cả bạn bè, đồng đội còn kẹt lại ở quê nhà.


Quê hương ơi hỡi quê hương
Càng xa càng nhớ càng thương từng ngày


Mũ Nâu Lê Hùng

Việt Nam tôi đâu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:31 SA(Xem: 89)
Năm 1979 là năm tệ hại nhất của đời tôi ở cái đất Sài thành. Ban ngày tôi ra chợ sách bán sách và thuốc lá ké một góc sạp sách của người bạn cùng đơn vị trước 75 để kiếm sống qua ngày. Sách lèo tèo vài ba cuốn. Thuốc lá thì vài bao. Vốn liếng đều do cô bạn nhỏ cùng quê tốt bụng giúp đỡ. Nhiều bữa không bán buôn được gì tôi chạy ra đầu đường uống nước máy trừ cơm. Ban đêm rúc vào một góc nào đó ngủ bụi. Vậy mà cũng lây lất ngày này qua tháng nọ như một phép lạ. Một hôm, anh bạn trẻ Đỗ Thất Kinh từ trên Bản Thuột về Sài Gòn tìm kế sinh nhai, may mắn tìm được một chân giao bơ đậu phọng cho khách hàng. Đang đói, tôi bám theo liền. Chật vật vậy mà hai anh em cũng sống qua ngày. Có điều ban đêm tôi phải tìm chỗ ngủ vì bạn tôi cũng ở lậu; rầy đây mai đó nhưng khá hơn tôi là bạn ngủ dưới một mái nhà.
21 Tháng Năm 20182:23 CH(Xem: 236)
Một Đại Hội 21 của các cựu SVSQ Trường VBQGVN vừa được tổ chức vào những ngày 11, 12 và 13 tháng 5/2018 tại thành phố San Jose, miền Bắc Cali, đã thành công tốt đẹp. Xin được chúc mừng và ngợi ca ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức để có được một Đại Hội với nhiều hình thức truyền thống Võ Bị đáng được tự hào. Đại Hội cũng đã bầu ra một vị Tân Tổng Hội Trưởng, tốt nghiệp Khóa 24, có đầy đủ khả năng để chu toàn trách nhiệm.Tuy nhiên bên cạnh sự thành công và niềm tự hào đó, dường như vẫn phảng phất điều gì làm người ta cảm thấy ít nhiều tiếc nuối, xót xa. Bởi chỉ hơn một tháng sau, vào các ngày 23-24 và 25 tháng 6 tới đây, cũng sẽ có một Đại Hội 21 nữa được tổ chức tại Westminster, miền Nam Cali, và cũng để bầu một Tân Tổng Hội Trưởng. Điều khó hiểu là cả hai Đại Hội cùng mang tên Đại Hội 21 này đều nhân danh Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 333)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 146)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 239)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương