DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,143,623

Đọc "Nguyễn Trãi, Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt" của Nguyễn Văn Thành - Lê Đình Cai

Saturday, December 22, 201212:00 AM(View: 11576)
Đọc "Nguyễn Trãi, Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt" của Nguyễn Văn Thành - Lê Đình Cai

Đọc Tác Phẩm : " Nguyễn Trãi (1380-1442),

Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt "

 


blank



Tác phẩm viết về Nguyễn Trãi này đến với tôi thật tình cờ vào dịp cuối năm. Trong "Định Hướng Tùng Thư" do giáo sư Nguyễn Đăng Trúc và linh mục Lê Phú Hải chịu trách nhiệm xuất bản, tác phẩm "Nguyễn Trãi: Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt" là một trong ba tác phẩm được "Định Hướng" ấn hành trong năm 2001 (hai tác phẩm kia là Đức Thánh Cha Gioan XXIII của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và Trong Đức Ki-tô của Nguyễn Văn Thành).

 

Nhan đề của cuốn sách gợi cho tôi sự chú ý đặc biệt vì Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử, đã đi vào trái tim của hằng bao thế hệ tiếp nối cho đến tận hôm nay và mãi mãi về sau với lời hiệu triệu "Bình Ngô Đại Cáo" làm dấy động lòng người... Lê Lợi không thể thắng được quân Minh, giải phóng toàn bộ đất nước khỏi sự đô hộ của giặc Tầu để trở thành Lê Thái Tổ nếu không có nhà chiến lược tài ba Nguyễn Trãi cùng nằm gai nếm mật (đúng như câu nói "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần")

 

Nhiều tác giả đã biết về Nguyễn Trãi với lối nhìn chuyên về lịch sử hay về văn học, chẳng hạn: Trần Huy Liệu, "Nguyễn Trãi: Cuộc Đời và Sự Nghiệp" (1966); Nguyễn Thiên Thụ, "Nguyễn Trãi" (1973); Võ Văn Ái, "Nguyễn Trãi: Sinh Thức và Hành Động" (1981); Bùi Văn Nguyên, "Nguyễn Trãi và Bản Hùng Ca Đại Cáo" (1999); Nguyễn Thạch Giang, "Nguyễn Trãi: Quốc Âm Thi Tập" (2000)...

 

Nhưng theo ý kiến riêng của người viết thì tác phẩm: "Nguyễn Trãi: Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt" (2001) của giáo sư Nguyễn Văn Thành quả là một khai triển độc đáo về sách lược "Tâm Công" mà mưu sĩ lỗi lạc của Lê Lợi đã vận dụng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.

 

Đây không phải là một tác phẩm mang tính hàn lâm của một công trình biên khảo sử học, lại không là một cuốn sách ca ngợi tài năng văn chương của Nguyễn Trãi. Công trình của giáo sư Nguyễn Văn Thành là một nỗ lực suy tư, chứng nghiệm từ những dữ kiện lịch sử để rút tiả những bài học cần thiết cho mọi người từ giai tầng lãnh đạo cho đến thứ dân trong cộng đồng, trong quốc gia và rộng ra trong mối tương quan nhân loại, giữa người và người.




blank

đền thờ Nguyễn Trãi

 

Là một chuyên gia ngành tâm lý và phân tâm học, tốt nghiệp tại Thụy Sĩ và Pháp, giảng dạy tại các trường đại học Huế, Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Minh Đức trước đây tại miền Nam, giáo sư Nguyễn Văn Thành đã xử dụng vốn liếng chiều sâu của mình để phân tích những tác động thuộc lãnh vực chiến tranh tâm lý trong sách lược "tâm công" của Nguyễn Trãi, hệ thống hóa sách lược này theo các định chuẩn phân tâm học rồi lý giải và chứng minh bằng những sử kiện lịch sử. Từ đó, diễn dịch pháp và quy nạp pháp được giáo sư vận dụng tối đa để rút tiả đúc kết thành những phạm trù thiết yếu trong cuộc sống khi phải đối đầu với những xung đột chiến tranh giữa những kẻ thù, khi phải giải quyết những bất đồng giữa bạn bè thân thuộc, người cộng sự hay rộng ra ngoài giữa người với người. Những bài học thật xâu xa và đầy ắp tình người bàng bạc trong suốt tác phẩm này của giáo sư Nguyễn Văn Thành.

 

Tác phẩm này quả thật không dễ đọc và dễ hiểu đối với trình độ của một số người vì đây không thuần túy là một cuốn sách về lịch sử phổ thông hay văn học tổng quát. Tác phẩm này là một tập hợp phân tích về tâm lý học, đúng hơn thuộc về môn phân tâm học ứng dụng, lý giải về hiện tượng đối đầu trong mối tương quan giữa người với người (thù địch hay thân thiện). Đây cũng là lãnh vực mà kiến thức của người viết không cho phép mình đào sâu được nhiều. Tuy thế, qua nội dung cuốn sách, mọi người có thể hiểu được rằng giáo sư Nguyễn Văn Thành đã nỗ lực hệ thống hóa sách lược "Tâm Công" của Nguyễn Trãi nhằm kết hợp lòng người trong cuộc kháng chiến trường kỳ và đầy gian khổ.

 

Để trả lời sách lược "Tâm Công" của Nguyễn Trãi được trình bày trong hoàn cảnh nào? Giáo sư Thành đã định nghĩa (trong Chương I): Tâm công là đánh vào lòng người, thu phục nhân tâm. "Cho nên, trong từng hoàn cảnh, "tâm công" nhắn nhủ mỗi người: hãy mang đến cho nhau một tấm lòng. Không có cách xây dựng đất nước nào hữu hiệu và cơ bản cho bằng cách trao cho nhau một tấm lòng đầy yêu thương và tha thứ (N.V.T, "Nguyễn Trãi: Một Tấm Lòng Vạn Xuân và Đại Việt", France, Định Hướng tùng thư, 2001, tr. 11)




blank

tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ

 

Sách lược "Tâm Công" theo giáo sư Thành, Nguyễn Trãi đã trình lên Hồ Qúy Ly khi quân Minh bắt đầu xâm lược nước ta, nhưng nhà Hồ đã không kết hợp được lòng người, đã không "lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo" nên đã không ngăn chận được gót chân xâm lăng của địch thù phương Bắc. Kể từ 1417, Nguyễn Trãi đã từng tìm đến Lỗi Giang, thuộc tỉnh Thanh Hóa dâng "Bình Ngô Sách" cho Lê Lợi, thủ lãnh của Nghĩa quân Lam Sơn. Sách lược "Tâm Công" kể từ nay được Nguyễn Trãi vận dụng trong mọi hoàn cảnh suốt cả đoạn đường dài 10 năm kháng chiến. Khi phân tích sách lược "Tâm Công" này của Nguyễn Trãi, giáo sư Thành đã cho rằng "tâm công" là một tiến trình văn hóa bao gồm bảy qui luật tất yếu sau đây:

 

1.- Không ngừng sáng tạo: phải sáng tạo để hoàn thiện tiến trình chinh phục lòng người. "Mọi người có quyền làm người và có quyền được cư xử, đãi ngộ như một con người toàn phần".

 

2.- Kết hợp một cách hài hòa bên trong và bên ngoài (tức kết hợp giữa tâm và thân).

 

3.- Có khả năng sắp xếp sự việc theo từng mục tiêu ngắn hạn, dài hạn, quan trọng ít hay nhiều....

 

4.- Biết lắng nghe người đối diện, không áp đặt hay độc đoán trong phát biểu hay nhận định. Lắng nghe để tìm hiểu và biết nhìn sự khác biệt của người khác. Bất kể vấn đề là gì, trầm trọng đến đâu chăng nữa, tình thương sẽ hóa giải mọi bất đồng (no matter what the problem, love is the answer) hay nói theo Nguyễn Trãi:

 

"Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn

 

Lấy chí nhân mà thay cường bạo".

 

5.- Xây dựng quan hệ hài hòa, đồng hành và chia xẻ. Xung đột chỉ xảy ra khi con người tìm cách tranh giành cho mình phần thắng, phần hơn, phần có lý, tìm cách hạ bệ kẻ khác về mặt giá trị và quyền lợi.

 

6.- Biết chuyển biến từ Không ra có, từ yếu thành mạnh, từ ít ra nhiều. Có nghĩa là biết phối hợp âm và dương, nước và non, Tiên và Rồng, thuyền và nước.

 

7.- Luôn luôn tìm cách nhân rộng mặt hay, mặt tốt trong mỗi mặt con người chúng ta. Luôn luôn làm cho đức sáng ngày càng ngời sáng.

 

(Tóm lược ý của GS Thành, sđd, tr. 25-41)

 

Sách lược "Tâm công" với 7 qui luật hay 7 động tác như đã trình bày ở phần trên được Nguyễn Trãi đem áp dụng vào kế sách chống xâm lược nhà Minh.

 

Nguyễn Trãi đã chọn Lê Lợi làm minh chủ và ông đã đóng góp được gì cho công cuộc giải phóng đất nước. Điều này, giáo sư Thành đã trả lời trong Chương II.

 

"Với Bình Ngô Sách, Nguyễn Trãi đã cống hiến cho Lê Lợi bốn loại đóng góp khác nhau, khả dĩ nâng cấp chất lượng của vị này trong chiều hướng hiểu biết luật trời, luật đất, luật biến cố và luật của lòng người." (N.V.T, sđd, tr. 59)

 

- Đóng góp thứ nhất của Nguyễn Trãi là giúp Lê Lợi hiểu được luật trời.

 

- Đóng góp thứ hai của Nguyễn Trãi là giúp Lê Lợi hiểu được lòng người.

 

- Đóng góp thứ ba là chứng minh cho Lê Lợi sức mạnh của một tấm lòng bất khuất, vô úy có nghĩa là không sợ chết vì lẽ phải và tình thương.

 

- Đóng góp thứ tư là gây ý thức cho Lê Lợi về vị trí của tinh thần bất bạo động giữa đoàn lũ có thói quen trả thù, đòi nợ máu, nhất là sau một thời gian bị đàn áp, bóc lột và tàn sát một cách dã man. (NVT, sđd, tr. 63-64)


blank

đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn, Hải Dương

 

Sau khi dàn trải qua chương I, II về ý nghĩa và thành qủa của sách lược "Tâm Công", giáo sư Thành ở Chương III đã đề nghị rằng chúng ta nên vận dụng sách lược này vào cuộc sống hàng ngày. Lúc bấy giờ mỗi người trong chúng ta sẽ tìm ra con đường hóa giải hận thù thành tình thương, trong quan hệ tiếp xúc, trao đổi với anh chị em đồng bào ruột thịt.

 

Chương IV, tác giả tập sách muốn nhấn mạnh thêm rằng khi tình thương không được vun trồng chăm bón, khi tấm lòng nhân hậu giữa người và người không được đề cao thì tai họa sẽ xảy đến bằng cách này hay cách khác (NVT, sđd, tr. 11).

 

Để đóng lại cuốn sách này, ngoài phần nhắc lại cái chết đau đớn của Nguyễn Trãi cùng Thị Lộ trong vụ án "Vườn Lệ Chi" để khóc cho một thiên tài của đất nước, tác giả cuốn sách này đã chân thành tâm sự:

 

"Hòa bình chỉ xuất hiện cho hai người, giữa hai người khi cả hai nhìn nhận nhau là người, có quyền làm người, có quyền tạo ra cho mình một quê hương để trở về khi thương nhớ....

 

"Nguyễn Trãi là ngôi sao đã dâng hiến cho đất nước và anh chị em đồng bào ánh sáng và hơi ấm của một tấm lòng. Kế hoạch Tâm Công, đã được Nguyễn Trãi sưu tầm và thực hiện, cũng là nếp sống và chương trình hành động của chúng ta ngày hôm nay và ngày mai....

 

"Cuối cùng, Nguyễn Trãi đã thắp lên một tấm lòng. Đó là tấm lòng yêu thương, an bình và tha thứ, mang tên là "Tâm Công". Đến lượt, đến phiên chúng ta, anh em mình cũng hãy đốt lên một tấm lòng... Tấm lòng ấy làm cho đất nước trở thành Vạn Xuân và Đại Việt". (NVT, sđd, tr. 134, 135, 140).

 

Tôi gấp cuốn sách lại, dù sách dày chỉ có 150 trang, mà sao tôi cảm thấy như sức nặng của tình người, sức nặng của tấm lòng bàng bạc trong từng trang sách đã làm cho trái tim tôi nghẹn ngào đau buốt. Tấm lòng của Nguyễn Trãi hơn 600 năm trước, và tấm lòng của tác giả cuốn sách này hôm nay đã hòa thành một, trong cùng nỗi ray rứt về thân-phận-một-quê-hương-không-lớn-nổi-thành-người./.

 



L
ê Đình Cai



Con Đường Cái Quan. Phạm Duy

 

 

____________________________________________________________





Trang Qu
ảng Cáo





blank



blank


blank


Chuyên mọi dịch vụ về Răng



Người Lớn, Trẻ Em


Liên lạc:

Phar. Dr. Trần Yên Quế Chi

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Tuesday, November 12, 20199:14 PM(View: 36)
Đã 44 năm sau cuộc Chiến tranh Việt Nam, vẫn còn những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Chỉ riêng tên tuổi Thích Trí Quang đã gây ra rất nhiều tranh cãi.(1) Có nhiều nhãn hiệu gán cho ông: với một số người Việt chống cộng thì cả quyết Thích Trí Quang là cộng sản đội lốt tu hành hoạt động với sự chỉ đạo của Hà Nội; nhưng ngay với giới chức cộng sản cũng đã từng coi Trí Quang là một loại CIA chiến lược; còn theo tài liệu giải mật của CIA thì đánh giá Trí Quang không phải cộng sản, mà là một nhà tu hành đấu tranh cho hòa bình và muốn sớm chấm dứt chiến tranh. Thêm nguồn tài liệu còn lưu trữ về những cuộc đàm luận giữa Trí Quang và các giới chức Hoa Kỳ, cho rằng Trí Quang chống cộng mạnh mẽ và hiểu được sự việc xử dụng quân đội Hoa Kỳ để chống lại Cộng sản Bắc Việt và Trung cộng. Và trong phần trả lời phỏng vấn của báo Sinh viên Tình Thương 1966, cách đây 53 năm, khi "đề cập tới sự nguy hiểm của Cộng sản, TT Trí Quang đã so sánh họ với những chiếc lá vàng có đóng đinh, phải cần tới một
Sunday, November 10, 20197:19 AM(View: 145)
Ông Ngô Đình Diệm muốn Thiên Chúa Giáo của ông độc tôn, muốn anh của ông là Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục làm Hồng Y giáo chủ, nên ông kỳ thị đàn áp Phật Giáo. Ấp chiến lược chỗ thì rào chùa vào trong để hạn chế đi lại, chỗ thì rào chùa ra ngoài để tự do bắn phá. Khu trù mật thì bắt cán bộ cơ sở của Phật Giáo phá nhà bỏ của mà đi. Quân dịch thì bắt Tăng sĩ Phật Giáo làm những chức vụ nguy hiểm mà vô quyền, để tu sĩ Thiên Chúa ra mà nắm quyền chỉ huy ngay từ hạ tầng. Giải thưởng văn chương thì thưởng cho cuốn văn chương bình dân nội dung cốt chống Phật Giáo. Chương trình tú tài C thì đổi toàn lý thuyết thượng đế và nhân vị, lại thêm một bằng ban D với cổ ngữ La Tinh. Sát hại Phật tử thì có tập thể lên đến 36 người ở một nơi cùng một lúc, không còn lẻ tẻ nữa. Cả gan huy bỏ ngày Phật Đản trong danh sách ngày lễ được nghỉ của công tư chức, và danh sách này bao giờ Thiên Chúa Giáo cũng gấp đôi Phật Giáo cả ngày và giờ nghỉ. Dụ số 10 được thêm dụ bổ túc, tăng cường sự hạ giá và kềm chế đối
Saturday, November 9, 201912:58 PM(View: 230)
Vào giữa thập niên 1990 đã có những bài viết, cuốn sách đánh bóng lại ông Ngô Đình Diệm như một thứ cha già của dân tộc. Rồi cả những cuốn sách, bài viết công kích cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 mà chiến lược nhắm vào việc cho rằng TT. Thích Trí Quang là đảng viên đảng CSVN. Vào ngày 1-11-1963, khi quân đội đứng lên làm cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của gia đình Ngô Đình Diệm – mà Hội Đồng Quân Dân Cách Mạng do Đại tướng Dương Văn Minh cầm đầu gọi đó là cuộc Cách Mạng, thì tôi là cậu sinh viên Luật Khoa năm thứ nhất, chuẩn bị thi lên năm thứ hai của Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Bố tôi sính đọc sách báo, vả lại gia đình cư ngụ ở xóm lao động cho nên radio hàng xóm mở ầm ầm cả ngày khiến dù không muốn nghe nhưng cũng phải nghe tin tức từng giờ của đài phát thanh. Hơn thế nữa, khi Sài Gòn nổ ra cuộc đấu tranh của Phật Giáo thì hầu như các đại học, trung học đều đóng của hoặc tự động bãi khóa. Đại học Luật Khoa không có cuộc tự động bãi khóa nào nhưng trường cũng phải đóng cửa
Friday, November 8, 20199:29 PM(View: 125)
Đây là một đoạn thơ Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên báo giới Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh — và từ đó — làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm. Tâm trạng kia và chứng từ nọ đã được ghi lại trong tập thơ Chiến Tranh Việt Nam và Tôi xuất bản năm 1972 thời đó đã ít người được đọc trực tiếp nguyên tác; bây giờ dĩ nhiên là tuyệt bản. Năm nay nhiều cơ quan tổ chức kỷ niệm ba mươi năm chấm dứt chiến tranh, tưởng cũng nên đọc lại chứng từ Nguyễn Bắc Sơn. Thì may thay, các bạn ở nước ngoài đã sưu tầm và tái bản tập thơ để tặng biếu bạn bè. Đây là một việc làm cao đẹp, đi từ tình bằng hữu thủy chung và nồng
Thursday, November 7, 20197:10 AM(View: 215)
Nhưng càng ngày, anh em ông Diệm càng độc tài, độc tôn, độc quyền, kỳ thị tôn giáo, tàn ác… Trong số anh em nhà họ Ngô, người bị ghét hay thù ghét, trước nhứt là “Cậu”, “cậu” là ông Ngô Đình Cẩn, độc đoán, độc tài, tàn ác, tham nhũng, “lãnh chúa miền Trung”… Người bị dân Huế thù ghét thứ hai là ông Ngô Đình Thục, là “Đức Cha Ngô Đình Thục”. Ông Thục cũng là người tham lam, độc đoán, kỳ thị tôn giáo… Ông Ngô Đình Nhu, có tốt xấu như thế nào thì ông Nhu cũng là người ở xa. Việc ông Nhu làm, có ảnh hưởng tới Huế cũng chỉ là gián tiếp. Người dân Huế ghét bà Nhu hơn, nhất là khi bà ta ăn nói hổn láo, xúc phạm đến hàng tu sĩ cao cấp Phật Giáo. Bà là người “thần khẩu hại xác phàm”, nhìn cái miệng bà chu ra - có người gọi là mỏ chuột - người Huế đã thấy ghét lắm rồi. Có lẽ người Huế không có gì, biết hay thương, hay ghét ông Ngô Dình Luyện, người con út; thậm chí người Huế còn tưởng lầm “cậu” là con út, mới gọi là “Cố Trầu”, “Cậu Út Trầu”… mà quên hay không biết rằng, Ông Luyện mới là “cậu út