DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,705,229

Đynh Hoàng Sa bỏ “Vùng Trú Ẩn Hoang Đường” - Luân Hoán

27 Tháng Mười Hai 201212:00 SA(Xem: 10845)
Đynh Hoàng Sa bỏ “Vùng Trú Ẩn Hoang Đường” - Luân Hoán

Đynh Hoàng Sa bỏ “Vùng Trú Ẩn Hoang Đường”



vung_tru_an

tập thơ của Đynh Hoàng Sa

  


Giữa thập niên 50, trong khuôn viên trường trung học công lập Phan Châu Trinh, Đà Nẵng có khá nhiều cuộc tình mực tím, mực xanh. Nổi tiếng nhất là tình yêu giữa cậu học trò Trương Duy Hy và cô nữ sinh tóc thề Thanh Thảo. Lúc bấy giờ anh Hy chưa trở thành một sĩ quan pháo binh, chưa trở thành một nhà văn, một nhà viết nghiên cứu như hiện nay. Nhưng chị Thanh Thảo đã là một giọng ngâm thơ ngân vang cả xứ sông Hàn. Mối tình đẹp của anh chị Hy Thảo kết thúc rất có hậu bằng cuộc hôn nhân giàu hạnh phúc.


 Trong đám bạn cùng lớp với anh Hy, khóa đầu tiên của trung học Phan Châu Trinh, còn có một anh chàng khác, cũng biết yêu rất sớm và tỏ ra trội hơn, khi dám công nhiên bày tỏ tình yêu thương qua thi ca. Để thể hiện sự gắn bó tha thiết, anh áp dụng trò chơi đã xưa, nhưng vẫn mới, ghép tên mình và tên người yêu làm bút danh.


 Tên anh là Quý, Đinh Văn Quý. Tên người đẹp là Hướng, họ Dương. Anh nhà thơ đa tình đã viết đầy mấy trang giấy bốn chữ Quý Hướng, Hướng Quý, khi nắn nót cẩn trọng, lúc phóng bút bay bướm. Rồi anh gọi thầm, gọi thành tiếng. Quý Hướng nghe làm sao ấy, không ổn. Hướng Qúy nghe cũng chẳng thuận tai. Hơn nữa Hướng Quý hay Quý Hướng có vẻ thật thà chân chất, chúng bạn sẽ biết dễ dàng quá, mất vui. Phải có chút úp úp, mở mở, xa xa, gần gần cho mọi người đoán già, đoán non, tăng thêm chút lãng mạn mới thú vị. Thế là anh nảy ra ý cắt bớt một chút sáng kiến của ngài Giám mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), bỏ cả hai cái dấu sắc cho đề huề. Rồi hơn thế nữa, để tỏ lòng cung kính phái đẹp, anh chàng sớm dại gái hoan hỉ cho tên người yêu đứng trước. Hương Quy, được chính thức có da có thịt trên các bích báo, đặc san của nhà trường và từ từ đi dần vào các nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san ở tuốt Sài Gòn.


 Đinh Văn Quý. Sinh năm 1939 tại Quảng Nam. Cha đã qua đời, mẹ bước thêm bước nữa, nhưng anh và người em trai Đinh Văn Thìn (1941, cùng tuổi với tôi) vẫn cùng ở bên mẹ, bên một cô em gái rất xinh và ngoan. Chị Hướng hình như ra đời muộn hơn Quý một vài năm. 


 Không hiểu anh chị Quý, Hướng có áp dụng câu thơ “Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” của thi sĩ Hồ Dzếnh vào cuộc tình cuộc họ không, mà sau đó, mỗi người đều thầm ngâm thơ Thế Lữ. “anh đi đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi...”.


 Một cuộc tình đẹp đi qua, ai mà không buồn, nhất là tình đầu. Quý buồn quá, đánh rơi luôn cái bút danh đầu tiên, Hương Quy. Năm tôi trở thành bạn của anh, Quý đã có nhiều bài đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Phổ Thông...với cái tên mới Đynh Hoàng Sa. Bút hiệu của người viết, đa số thường được thành hình bởi nguyên nhân nào đó... và ít nhiều đều có mang ý nghĩa, kỷ niệm riêng. Không rõ nguyên nhân nào Quý sử dụng tên Đynh Hoàng Sa. Xét về liên quan địa lý, anh không dính gì đến quần đảo Hoàng Sa, cách Đà Nẵng 200 hải lý. Có thể vì yêu thích những bãi cát vàng, mà Quý dùng bút hiệu này chăng ? Nguồn gốc nào quả thật tôi không rõ, chỉ biết anh rất thú vị khi dùng chữ Y thay vào vị trí chĩ i trong cái họ của anh. Quý xem sáng kiến này là một đặc biệt riêng. Chính vì thế nên anh rất bất bình, khi từ miền đất Vĩnh Điện, không xa Đà Nẵng bao nhiêu, mọc thêm một người làm thơ, chơi chữ tương tự, bạn Đynh Trầm Ca. Dĩ nhiên Đynh Hoàng Sa rất bực mình. Nhưng rồi theo thời gian, với cái tình văn nghệ, cả hai hình như cũng đã quen biết nhau.


 Đynh Hoàng Sa có Đynh Trầm Ca na ná, Hà Nguyên Thạch sau này có Hà Nguyên Dũng, Hà Nguyên Du...như là anh em. Chỉ có tôi, chưa thấy anh chị nào chịu Luân Hồi, Luân Lạc, Luân Phiên...gì cả. May mắn những năm sau này, mới có cậu con ông họa sĩ Trịnh Cung, dùng tên Luân Vũ. Nhưng anh ta không thèm chơi thơ văn, mà chơi nhạc, nổi tiếng là một danh thủ vĩ cầm tại California Hoa Kỳ, lẫy lừng hơn nhiều.


 Thời ở Đà Nẵng, Đynh Hoàng Sa cùng tôi và Hà Nguyên Thạch thường lang thang qua những hàng sách. Ngoài việc ngắm mặt mũi những tác phẩm mới, những tạp chí, nguyệt san...từ Sài Gòn gởi ra, chúng tôi còn có nhiều cơ hội đứng không quá xa những dáng hoa trung học. Một mùi hương kỳ ảo bất ngờ có thể cho chúng tôi nguồn cảm hứng, để làm thơ. Luận về chuyện thi ca, nhiều người có quan niệm, làm thơ là một công việc nghiêm túc, hướng đến những mục đích cao quí, thanh khiết. Dĩ nhiên, đúng trăm phần trăm. Nhưng tôi còn thấy, làm thơ nhiều khi chỉ vì những điều rất vu vơ, dung tục như để ... tán gái chẳng hạn. Cá nhân tôi tuy chưa chạm được cuộc tình nào, nhưng cũng từng có một vài đêm nằm mơ mộng đâu đâu, đến từ hai quán sách Sông Đà, Lam Sơn. Rất may chủ nhân của hai cơ sở buôn bán chữ nghĩa này là hai ông trung niên rất hà tiện nụ cười, nên một phần nào đã hạn chế sự lạm dụng chỗ đứng tự nhiên để “nghễ” người đẹp của chúng tôi.


 Thật ra cái mốt ngồi quán nhấm nháp hương vị cà phê, mới là mục đích chính của những lần xuống phố. Đynh Hoàng Sa rất ghiền cà phê đen, than táo bón, mất ngủ, nhưng ngày nào anh cũng lai rai ít nhất ba, bốn cữ. Rượu xuất xứ nội ngoại, chúng tôi đều tiếp thu tuốt. Chỉ tiếc yếu địa, không anh nào trở thành bà con các vị lưu linh. Cũng như Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa khác tôi ở mục hảo ngọt. Các quán chè nổi tiếng của Đà Nẵng thời bấy giờ, không có bóng hai bạn thơ của chúng ta lai vãng. Nhưng hai quán kem Diệp Hải Dung đã được hân hạnh đón tiếp chúng tôi nhiều lần. Hình thức trang trí, âm nhạc và chỗ ngồi mát mắt đã giúp Quý bớt đi phần nào khó tính. Anh phê phán lung tung, cả những thực khách chung quanh. “Nhìn cách ăn mặc biết trình độ văn hóa” là câu anh thường vui vẻ nói với chúng tôi, khi chợt bắt gặp một thanh niên hơi đi trước thời trang. Đi chơi với Quý, một vài lần còn suýt bị mấy anh cowboy hỏi thăm sức khoẻ bởi cái nhìn rất ư là diễu cợt, thách thức của anh. Rất may trong đám anh chị của Đà Nẵng thời ấy, tôi quen nhiều khuôn mặt lớn như Lê Cai, Hùng Đầu Bò, Hiển Râu... nên đều được nể nang, thoát nạn.


 Đọc sách, nghe nhạc là hai thú vui thường trực của Đynh Hoàng Sa. Trong những môn nghệ thuật, anh dị ứng với cải lương. Có lẽ vì chỗ cư trú chật hẹp, chung đụng cùng ông dượng ghẻ quanh năm suốt tháng ôm cái radio ấm áp Đời Cô Lựu, Lá Rụng Sân Chùa...đâm ra vậy. Lúc bấy giờ, đài phát thanh Sài Gòn cuối tuần nào cũng phát một tuồng cải lương dài đến mấy tiếng, đây là cơ hội để ba chúng tôi cùng ra khỏi nhà, lang thang.


 Chuyện làm thơ giản dị hơn viết văn rất nhiều. Không cần trầm hương như một số vị ngày xưa. Đôi khi cũng không câu nệ ở vị trí xuất phát câu thơ. Không bàn ghế, không giấy thẳng, mực đậm thơ vẫn cứ ra đời, sống chết tùy giá trị nghệ thuật của nó. Tôi không rõ Đynh Hoàng Sa thường sáng tác lúc nào. Và cũng theo thói quen chung, chúng tôi chỉ đọc thơ nhau sau khi các tạp chí đăng tải. Thơ của Đynh Hoàng Sa không nhẹ nhàng, văn vẻ như thơ Hà Nguyên Thạch, không giản dị, nông dân như thơ tôi. Thơ anh giàu những tư tưởng, nhân sinh quan. Trong Văn Học Miền Nam, phần Thơ, nhà văn Võ Phiến, khi viết về thi sĩ Bùi Giáng, có đưa ra nhận xét:


 “... Khi khác, Đi Vào Cõi Thơ (1969), của các thi sĩ cùng thời mình. Bùi Giáng tỏ ra tinh quái lắm. Chẳng hạn về trường hợp một thi sĩ nọ - đồng hương với ông – ông nói qua lại một hồi, rồi ông bảo trót đánh mất tập thơ của bạn nên không trích được bài nào. Sau này, có dịp cầm chính tập thơ nọ trong tay, tôi loanh quanh tìm mãi không thấy có bài nào trích được ! Vậy Bùi Giáng có mất sách thực chăng ?..”


 Những phát hiện về Bùi Giáng trên của nhà văn Võ Phiến đã không cho phép tôi cả gan bàn suông về thơ Đynh Hoàng Sa trong giai đoạn này, bởi tôi không có trong tay một câu nào của anh. Tán phét mà không trích dẫn, đâm ra học đòi xảo thuật của Trung Niên Thi Sĩ, đâu dám. Cũng xin thưa, Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch là đồng hương chính danh của nhà thơ Bùi Giáng. Riêng tôi hình như chưa chắc là Quảng Nam, dù sinh ra và lớn khôn trên mảnh đất của anh “Năm Eo” (tiếng lóng gọi miền Trung). Bởi trong nhiều cuộc Quảng Nam chọn mặt gọi tên, tôi đều bị gạt ra. Cụ thể gần đây nhất trong tuyển tập 100 Năm Thơ Quảng Nam, với 1050 trang do nữ thi sĩ Ý Nhi thực hiện, tôi nhận được một điện thư như sau:


 From: huycao tapchivanhoc@yahoo.com


 february 3, 2005 1:16: 46 AM


 subject: Fw: Quảng Ngải


 From: tien.dang@wanadoo.fr


 Đặng Tiến nhờ chuyển thư này đến Luân Hoán, Thành Tôn, Hoàng Lộc


 nội dung:


 Gởi Luân Hoán. Lâu lắm không có thư, không biết địa chỉ còn đúng không. Quảng Nam có in một tuyển tập thơ, 1050 trang dzo cô Ý Nhi biên tập. Huỳnh Như Phương viết tựa nhắc tới các ông, nhưng bị đục bỏ. Vậy báo tin ông và bạn bè biết chơi. Chúc ông vui, sáng tác hay, ăn tết Ất Dzậu to. Một năm mới tốt đẹp.


Thân, ĐT


phía dưới là Original Message


 From: Huynh Nhu Phuong


 to: ĐT


 sent: Wednesday, Jannuy 19 2005 4:42 PM


 subject: Re Quang Ngai


 Anh Tiến biết không, trong bài Phương viết cho tập Trăm Năm Thơ Đất Quảng, những chỗ có nhắc tên hoặc trích thơ Luân Hoán , Hoàng Lộc, Thành Tôn...đều bị cắt bỏ. LH có bài Đêm Mưa Về Hội An, còn HL “Được Tin Người Yêu Cũ Tản Cư Khỏi Hội An” Phương rất thích !


 HNP


 Ghi chú dông dài, lạc đề như vậy, để chứng tỏ tôi cũng biết buồn hơn năm phút vì không được làm người Quảng Nam. Thật ra cả ba chúng tôi đều là đồng hương của tác giả Mưa Nguồn. Nhưng chưa được hân hạnh quen biết, gặp gỡ nhà thơ chuồn chuồn châu chấu lần nào.Cả ba chúng tôi không có cái may mắn “Đi Vào Cõi Thơ” dù chỉ được “liệt kê một loạt tên bài tùm lùm” (câu của Võ Phiến) trong sách của ông Bùi Giáng.


 Năm 1968, Tôi hội ngộ cùng Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch tại thành phố Quảng Ngãi. Người bạn làm nghề dạy học của tôi dưới mắt nhìn của nhà văn Nguyễn Văn Quảng Ngãi: “Đynh Hoàng Sa (Đinh Văn Quý) lúc nào cũng áo quần bảnh bao, cũng đường bệ đúng như phong thái của một nhà giáo Trung học...” Theo tôi, Quý không màu mè về trang phục. Anh lịch sự trong giản dị. Với vóc dáng không được cao lớn, áo quần nghiêm túc, chỉnh tề giúp anh có những nét đạo mạo cần thiết.Trường trung học công lập Trần Quốc Tuấn là nhiệm sở của anh. Ngoài giờ dạy, anh sinh hoạt vui chơi cùng chúng tôi. Xuề xòa, cởi mở, hòa đồng...Quý gần như không làm buồn lòng ai. Khi tôi trở thành người lính Quốc gia, trực tiếp tham chiến trên địa bàn Quảng Ngãi, Đynh Hoàng Sa nghe lời cô học trò Lê Thị Mỹ về ở rể nhà cha mẹ cô. Sau này, khi Lý, vợ tôi, có ý định cư ngụ tại Quảng Ngãi một thời gian, chúng tôi đã thuê chung với vợ chồng Quý Mỹ một căn phòng trong dãy nhà, nằm ngay sau lưng trường trung học Kim Thông, không xa Ty Bưu điện mấy bước. Chúng tôi đều chưa có những tiếng khóc trẻ thơ. Quý Mỹ nằm sát vách trong. Vợ chồng tôi kê giường ngay cửa ra vào. Hai gia đình chưa cùng nhau ở tròn một tháng thì chia tay vì cuộc tổng tấn công tết con khỉ của phương bắc.


 Tác phẩm thứ hai của nhà xuất bản tài tử Ngưỡng Cửa phát hành là tập thơ Vùng Trú Ẩn Hoang Đường của Đynh Hoàng Sa. Tập thơ của anh tôi không giữ được bản nào. Gọi hỏi Thành Tôn cũng không có. Điện thư cho em tôi, Lê Hoàng, chạy tìm ở mấy tủ sách gia đình bè bạn cũ còn ở Đà Nẵng. Rất may Châu Văn Tùng còn giữ. Hoàng đánh máy toàn tập chuyển bằng điện thư qua cho tôi, nhưng khi đánh máy, Hoàng không bỏ dấu. Toàn thể tập thơ có 30 bài, đa số ngũ ngôn và thơ tự do. Tựa bài theo thứ tự: Vùng trú ẩn hoang đường, Trong quán khuya, Người đi trong mùa xuân, Nắng mùa xuân đời người, Trên bãi cát thời gian, Khi chiếc bánh xe quay nhanh, Mê lộ, Trong cuộc hành trình, Khi ánh đèn vụt tắt, Đôi mắt từ đất liền, Vén lời sa mù, Niềm tuyệt vọng nhân hai, Bùi ngùi, Với vội, Hương cỏ, Giòng sông nước lũ, Phiêu du, Hãy thắp dùm tôi, Một bóng tình trên cát, Vòng Hoa Tưởng niệm (tưởng nhớ nhà văn Nhất Linh), Nét buồn, Mâu thuẫn, Cũng may, Nỗi im lên mê hoặc, Bài đính hôn, Trước khúc quanh của bánh cuối cùng, Nhịp tim gõ cửa, Lời ru từ hư vô, Đường bay của loài đóm đêm, Vòng tay cát bụi. Thơ của Đynh Hoàng Sa, ngoài vài bài lục bát, bảy chữ, đa số viết bằng thể tự do hoặc ngũ ngôn, xoáy sâu trong những suy tư về cuộc sống. Bên dười đây là bìa tập Vùng Trú Ẩn Hoang Đường, do họa sĩ Đinh Cường thực hiện, cùng một số thơ trong tập, mời các bạn thưởng lãm.


Bài thứ 1 : Vùng Trú Ẩn Hoang Đường.


Bây giờ mùa xuân hay mùa hạ, trên con đường mơ hồ khởi điểm và vùng yên nghỉ, tôi chất vấn tôi cùng những thần linh câm nín như lũ ốc thời gian không cần biết trả lời kinh ngạc chạy khắp miền tâm linh.


Tất cả những cánh cửa tôi gõ vào đều bưng bít niềm bí ẩn như thần chết với cái nhìn tinh quái từ vùng bóng tối không rời con mồi, thôi mày cứ lạnh lùng theo bước thời gian, mày cũng hư vô từ khởi điểm, hãy dập tắt những ánh sáng hão huyền đột hiện trên đường về vô tận.


Chỗ ngồi đó từ bao giờ ngự trị hai vì sao huyền hoặc, tinh hoa nhiệm mầu trong suốt giòng lịch sử cỏ cây sinh vật loài người, ngụy trang ảo ảnh bóng mát ốc đảo vùng trú ẩn hoang đường trên lộ trình cát lửa bao la.


Khoảng trống vắng hiện hình một dấu hỏi lớn dần theo tháng năm và trở thành ấn tượng khắc sâu vào vách đá của hư vô trường cửu, ánh sáng kỳ-diệu của hai vì sao thần thoại từ khoảng trống long lanh màu dạ quang trong bầu trời dằng - dặc sương mù diễm tuyệt.


Ánh sáng lạ lùng vừa ngọt ngào diệu vợi vừa ngơ ngác màu trinh nguyên vừa phảng phất kỳ hương dị thảo có mãnh lực làm hồi sinh những linh hồn hấp hối để dấn thân vào cuộc lưu đày êm ả rút đắng-cay làm thực phẩm sinh tồn.


Bây giờ mùa thu hay mùa đông, tiếng gọi âm vang tha thiết dội vào vách núi xa xăm im lìm lẩn trốn tan chìm trong giòng nước lũ lao mình ra đại dương mịt-mùng trước niềm bỡ ngỡ của loài cây loài chim nhân chứng vô tình.


Bài thứ 2: Trong Quán Khuya


Một mình trong quán khuya / nâng ly rượu thứ nhất uống mừng em không về / đó là một hạnh phúc/ cho em và cho tôi.


tôi nâng ly thứ hai / uống mừng mình cô độc/ đó là một hạnh phúc / cho loài rêu u hoài.


tôi nâng ly thứ ba/ uống mừng mình tự do/ đó là một hạnh phúc/ cho loài mây giang hồ.


tôi nâng ly thứ tư/ uống mừng mình sẽ chết/ rất một mình một mình/ đó là một hạnh phúc/ rồi tôi gục xuống bàn/ không mừng gì nữa hết/ không buồn gì nữa hết.


Bài thứ 4 : Nắng Xuân Đời Người


nắng mùa xuân đời người/ vén màn che cửa sổ/ căn phòng hồn âm thầm/ thay lại một hình cây/ sương không thời gian phủ /


đây ánh sáng dư hương/ trên nền xanh dĩ vãng/ xác chết lịm từ lâu / dù phút giây tái hiện / nét sinh thời ban đầu/ hồ thu còn xao xuyến/ ánh đèn chợt thắp lên/ soi tỏ nhà hoang phế/ từng đồ vật bỏ quên/ trong cõi lòng bóng tối / bưng mắt ngủ hồi sinh/ bốn mùa ao nước đục/ một khoảnh khắc trong xanh/ từng viên sỏi kỷ niệm/ chìm nghỉm xuống lòng ao/ từ bàn tay huệ trắng/ một đêm nào ló dạng/ bay ra trong đáy bùn/ thân cây và xác chết/ sói trắng với đền ma /rúc lên rồi vụt biến/ trong màn sương bao la.(1961)


Bài thứ 6 : Khi Bánh Xe Quay Nhanh


Một cây sậy đứng yên trên mặt đất/ quả địa cầu tự nó quay quanh và quay quanh mặt trời/ cây sậy tưởng mình muôn đời bất động/ con ruồi bu trên một chiếc tăm/ chiếc tăm nằm giữa bánh xe/ và bánh xe quay tròn quay tròn/ khi nhịp quay chậm chậm/ con ruồi vô ý thức ung dung / nhịp quay càng nhanh hơn / con ruồi sẽ chóng mặt/ nếu buông tay/ cánh sẽ gãy chân sẽ què thân sẽ nát/ chúng ta ngồi trên những chiếc tăm/ trong bánh xe gánh xiếc vô hình/ chúng ta nói cười tranh dành yêu ghét/ trong đường vòng của bánh xe quay tít/ dưới ảnh hưởng cùng một sức ly tâm/ ai vẫy vùng trốn thoát/ như con ruồi vẫy vùng trong lưới nhện/ sẽ bị coi là những kẻ điên khùng/ hồn sẽ đầy vết thương/ và trọn đời mục rã ăn năn.


Bài thứ 8: Trong Cuộc Hành Trình


Trong cuộc hành trình của kiếp người/ Tôi làm rơi tuổi trẻ/ Xuống giòng sông đỏ phù sa của thời gian/ Cuồn cuộn chảy vào đại dương hư vô/ Làm sao tìm lại được/ Viên ngọc thanh xuân bằng giọt lệ/ Trong giòng sông đục ngầu tuôn chảy mãi/ Trong cuộc hành trình gian khổ ấy/ Tôi làm rớt tình yêu/ Xuống giòng nước đỏ phù sa của thời gian/ Cuồn cuộn chảy vào đại dương hư vô/ Làm sao tìm lại được/ Viên ngọc tình yêu bằng giọt lệ/ Trong giòng sông đục ngầu tuôn chảy mãi/ Trong cuộc hành trình cô độc ấy/ Tôi làm rớt nguồn vui/ Xuống giòng sông đỏ phù sa của thời gian/ Cuồn cuộn chảy vào đại dương hư vô/ Làm sao tìm lại được/ Viên ngọc nguồn vui bằng giọt lệ/ Trong giòng sông đực ngầu tuôn chảy mãi/ Trong cuộc hành trình vô hạn ấy/ Tôi làm rớt niềm tin/ Xuống giòng nước đỏ phù sa của thời gian/ Cuồn cuộn chảy vào đại dương hư vô/ Làm sao tìm lại được/ Viên ngọc niềm tin bằng giọt lệ/ Trong giòng sông đục ngầu tuôn chảy mãi/ Trong cuộc hành trình vô hạn ấy/ Cuối cùng tôi làm rớt cả đời tôi/ Xuống giòng nước đỏ phù sa của thời gian/ Cuồn cuộn chảy vào đại dương hư vô/ Làm sao tìm lại được/ Viên sỏi long lanh nhỏ bé/ Trong giòng sông đục ngầu tuôn chảy mãi.


Bài thứ 15: Hương Cỏ


Trong tâm tôi nẻo đường hầm khúc khuỷu / Dần loanh quanh vào vực thẳm hư vô/ Đã linh cảm mơ hồ sương lạnh lẽo/ Cơn ưu tư hoa phù thế bâng quơ / Mắt giun dế mượn âm thầm nhắm lại/


Đưa bàn tay cúi múc xám xanh này/ Mặc chúa tể loài côn trùng hư hoại / Dần vào phiên đoán xử một trò chơi / Nỗi ghê tởm như một loài họa phẩm / Làn hương thơm hoen ố vị tanh hôi /Tóc xanh thẫm bỗng thấy mùi mốc ẩm / Nụ hoa đầu úng héo giữa cành tươi / Còn một chút ngọt ngào trong đáy cốc /Đem nhúng vào ao nước đục bùn nâu / Cho trọn vẹn một cánh bèo cô độc / Ném vào thêm bi đát cả mai sau / Nhưng khốn nỗi chút gì vô nghĩa đó /Chẳng hiền ngoan thân phận của loài rêu /Cũng xao xuyến vì một mùi hương cỏ /Lòng biển sâu cuồn cuộn sóng dâng triều /Dù cơn lốc của ma quyền sắp dậy /Xin hãy cho nguồn rung cảm lưu đày /Được thổn thức no nê và run rẩy /Thú đau thương vắng mặt đã lâu ngày /Còn một chút máu hồng trong huyết quản


Cũng nguyền xin tô điểm ánh sao này


Bài thứ 21 : Nét Buồn


Trên mặt hồ hiện tại/ Làn nước im lìm xanh bóng mây /Giấc ngủ khá bình yên/ Tàn cây khẽ thở dài / Từng đợt sóng con lùa gọn nhẹ/ Và nhạc buồn dĩ vãng dắt tay qua/ Một buổi mai không tên/ Vài giòng chữ bỏ quên tìm thấy/ Tiếng gió buồn lao xao/ Qua bãi lau hoang vắng tâm hồn/ Và nét buồn thoang thoảng/ Như một làn hương xa


Bài thứ 23 : Cũng May


Cũng may giòng nước trôi đi / Ngàn sau còn luyến lưu gì bờ đâu


Cũng may thời khắc thay màu /Ngẩn ngơ tiếc nuối loài sâu cuộc đời /Cũng may xuân mộng qua rồi / Nhung mùa trăng lạnh bùi ngùi ngóng trông /Cũng may tàn úa ngàn bông /Trần gian ngậm thoáng trong lòng sắc hương / Cũng may chim đã lên đường /Rừng thu hình ảnh còn vương bóng chiều / Cũng may còn cũng mấy nhiêu / Vỡ tan khắc khoải niềm yêu hận sầu /Đắng cay đớn hận về sau / Ráng mà thực té xô nhào lầu thơ


Bài thứ 25: Bài Đính Hôn


Giã từ con nước bình yên /Vui thân kiêu hãnh thanh niên miệt mài /Xo ro thân ngựa lạc loài /Lui miền thạch động u hoài lãng du /Hoang mang từng bước trong mù /Bến lau hiu quạnh vi vu điệu buồn /Với sầu mây khói chập chùng / Còn mong viễn tưởng xanh nguồn yên vui /Vượt biên cương cũng bùi ngùi /Tìm khe suối ngọt hãy vùi thương đau / Nhàn du thôi vẫy tay chào /Vòng giây trói buộc trước sau một lần/ Tẻ vui thực phẩm đường trần /Đến phiên đành nhận khẩu phần nguôi ngoai


  (Đynh hoàng Sa)


 Sau khi nhận món quà Tết từ miền bắc gởi vào mừng năm Mậu Thân, đời sống “nhân dân ruột thịt miền nam” có phần khốn đốn. Một số dân chúng phải lo ma chay cho những người bị chôn sống tập thể, hoặc bỏ mạng vì tiếng “pháo”, một số khác phải tham gia tích cực hơn trong công việc bảo vệ hai chữ tự do. Thành phần giáo chức, những người lâu nay vì tình trạng sức khoẻ yếu được miễn dịch, bây giờ đã đến lúc phải thi hành nghĩa vụ. Đynh Hoàng Sa, với thân thể 37 kg theo học khóa 1/68 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ở giai đoạn đầu, cơ bản quân sự, anh được thụ huấn tại quân trường Quang Trung rồi chuyển đến Thủ Đức tiếp tục học chỉ huy cho đến tháng 9 năm 1968 ra trường. Nhắc đến việc tòng quân, Đynh Hoàng Sa viết:


 ... “một điều thật khó tin / là cuối cùng mày cũng vào quân ngũ / một điều càng khó tin / là cuối cùng tao cũng vào quân ngũ / cho đến bây giờ mày cũng như tao / thật tình không hiểu / mình đã lầm hay cuộc chiến đã lầm / khi dùng những thằng làm thơ gầy yếu / một thằng như mày nhảy-mũi kinh niên /sợ mặt trời ngại cả phố đông / một thằng như tao hen suyễn kinh niên / sợ mùa đông ngại cả hơi sương / mỗi thằng chưa quá bốn mươi ký...”


 (NHCBCT_trang 124)


 Tôi không còn nhớ Đynh Hoàng Sa được phục vụ trong KBC (khu bưu chính) nào. Hình như tôi chưa tận mắt trông thấy anh mặc quân phục. Anh làm “người hùng” không bao lâu thì tôi được trả về nguyên quán nằm viện. Không rõ Đynh Hoàng Sa ăn cơm nhà binh Việt Nam Cộng Hòa được mấy tháng trước khi anh chuyển gia đinh vào Sài gòn, sống với nghiệp báo. Trong suốt giai đoạn này chúng tôi không liên lạc với nhau. Nhưng qua tin bạn bè tôi biết anh có đời sống kinh tế khả quan hơn. Những người đi chân chữ bát, thường thường trong đời sẽ có một đoạn sung túc, giàu có. Mừng cho anh và cũng hơi buồn vì mất liên lạc, tôi nhắn anh mấy câu trên tạp chí Văn Học của anh Phan Kim Thịnh qua một bài viết cho nhiều người: “Bỗng nhớ Đynh Hoàng Sa thường nói / ho hen nhiều lúc thế mà vui / ba mươi bảy ký còn đi lính / vẫn sống nhăn răng thế mới cừ ! / giờ thì bạn đã đi làm báo / ở thủ đô rồi, thế mới tươi / giờ thì bạn đã quên bè bạn / (bạn bè như thể đám đười ươi)” / .


 Qua báo chí, tôi biết Đynh Hoàng Sa đang chú tâm về chuyển ngữ truyện ngoại quốc. Thơ anh ít thấy xuất hiện trên các tạp chí vào giai đoạn này.


 Năm 1984, tôi gặp lại Đynh Hoàng Sa tại Sài Gòn. Anh có dẫn tôi về tư gia của anh, số 116 nằm ngay mặt tiền đường Phú Thọ, thuộc quận 11. Đây là ngôi nhà đúc, ba tầng, kiên cố và bề thế. Chị Mỹ vẫn cởi mở, bình dị như xưa. Tôi không dám khen vợ của bạn đẹp, nhưng quả thật, chị Mỹ rất xứng đáng nhận lời khen này của nhiều người. Anh chị có được ba cháu. Hai cháu trai, anh đã lo cho chúng đến được Hoa Kỳ. Đây là niềm sung sướng nhất của Quý. Trong thời kỳ một số lớn dân chúng phải ăn bo bo thay cơm, Quý tạo được nhà, đóng vàng cho con vượt biên không phải là chuyện đơn giản. Nguyên nhân đưa đến sự sung túc, được anh khoe với một người bạn của thời quân trường. Người bạn đó, anh Ng, Phương Tuấn đã có dịp cho chúng ta biết những gì Đynh Hoàng Sa đã làm:


 ... “Quý vừa khề khà hớp rượu vừa kể chuyện của anh từ sau tháng 4-75. Chuyện chính do đâu anh có tiền mua nhà cửa ngon lành như thế. Thoạt Cộng Sản mới chiếm Sài gòn, thành phố nhanh chóng xuống dốc, dân chúng không đủ gạo ăn, phải ăn hạt bo bo, hoặc mì sợi được bóp vụn nấu chung với gạo thành cơm trộn mì. Thời gian này, Việt Nam được một số nước Âu châu gởi bột mì qua cứu đói. Gửi nhiều. Và nảy sinh ra nghề mới toanh: buôn bột mì. Không biết Quý mần mò thế nào biết được nghề này, biết chỗ bán bột mì do các viên chức Cộng sản có quyền hành chận hớt bán ra ngoài phần lớn số bột viện trợ. Quý mua bột mì từ gốc đó, chở vào Chợ Lớn, bán lại cho thương gia người Hoa kiếm được một số vàng quan trọng. Thực không ngờ, nhưng quả đúng như vậy, vì tôi biết một số anh em trẻ khác cũng lanh lẹ kiếm được nhiều vàng trong hơn cả năm rộ lên vụ bột mì này


 Anh Ng. Phương Tuấn ghi lại tỉ mỉ hơn:


 “Quý đạp xe đạp chở bột, về sau mua chiếc Honda dame, dùng Honda chở bột. Quý kể:


 - "Moa ham quá, moa khiêng từng bao bột nặng, hì hà hì hục chạy xe phải né tránh bọn công an trên đường phố khỏi bị chận xét, tịch thu, có khi vào tù. Moa khiêng bột mệt lử người, bây giờ bệnh đau lưng đây. Moa lấy bột, giao bột, hết chuyến này tới chuyến kia, có khi đến 12 giờ khuya, vì càng khuya càng đỡ bị công an chận xét. Moa phờ râu ra, nhưng kiếm được bộn tiền, ngày nào cũng mua vô năm phân hoặc cả chỉ "


 “Lao động là vinh quang” quả đúng thật. Sau những ngày vật lộn với bột mì, Quý trở lại nghề dạy học. Anh Ng. Phương Tuấn cho biết tin này và không quên kể rành mạch:


 ... “Quý xin đi dạy Anh văn cho trường nhà nước, cốt lấy cái tiếng cho công an địa phương khỏi làm khó dễ, chứ lương dạy học lãnh ra chỉ đủ ăn tiêu vài ngày. Lợi tức thêm vào giúp gia đình Quý sống thong thả là nhờ vào số vàng còn cất dành được, dùng làm vốn mua qua bán lại một số mặt hàng đa dụng như vải vóc, quần áo, thuốc men...Chính vợ tôi mỗi khi lãnh từng thùng đồ từ Mỹ gởi về vẫn đưa phần lớn cho vợ Quý tiêu thụ. Xem ra cả hai đều có lợi. Một bên không bị mua hàng với giá rẻ, một bên thu được hàng, bán lấy lời”


 Cuộc sống vật chất của Đynh Hoàng Sa sau 1975 đại khái như trên, còn tinh thần của anh ra sao. Ng, Phương Tuấn viết tiếp:


 ... “Những năm 1982, 1983, Quý và tôi đều quá rảnh. Cứ chiều chiều, vài anh em tụ tập tại nhà Quý, trên tầng lầu ba. Thằng đem tới vài khúc cá khô, thằng thủ theo một gói phá lấu, thằng đùm một bọc lòng heo luộc. Rượu đế tốt thì bao giờ đàn anh Quý cũng sẵn có. Vậy là rỉ rả nhậu. Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Nhắc lại chuyện văn thơ ngày trước. Điểm những cuốn sách đọc được đang bán. Phân tách nhận định về chính sách Cộng Sản, sự thật về Cộng Sản, những vụ bắt bớ giam cầm, cảnh khốn khổ trong các trại giam. Ngồi nhậu ở nhà, trên lầu ba, xa khuất kín đáo, nói chuyện dễ dàng, an toàn hơn ngồi quán.


 Trên lầu ba ngôi nhà Đynh Hoàng Sa, từng khoảnh khắc, chúng tôi cũng tạm quên đi nhiều phiền muộn trong cảnh sống tù túng eo hẹp. Ngoài ra, tới nhà Quý thì sách vở nhiều vô kể. Quý chịu khó lùng mua được nhiều sách hay, sưu tầm được nhiều bài thơ nổi tiếng trước năm 1975 ở miền Nam. Bạn bè mượn đọc thong thả. Về sau khi hãng bia Sài Gòn sản xuất ra bia hơi, với số lượng lớn, chúng tôi không tới nhà Quý uống đế, mà đi tìm uống bia hơi loanh quanh vùng Sài Gòn. Chỗ nào có bia hơi là chúng tôi mò tới, kêu vài lít ra uống. Có khi Quý nói : Chuyện tụi mình đi uống bia hơi có thể viết thành một thiên ký sự dài dòng, nhiều chi tiết rất hay.


 Gần như không chiều nào là Quý và tôi không đi uống bia. Lại có anh Thành Tôn nhập bọn nữa mới càng thêm hứng khởi. Thành Tôn là một anh bạn rất tốt. Làm việc ở Chợ Lớn, anh khám phá ra một nơi bán phá lấu tuyệt cú mèo. Phá lấu anh Thành Tôn mua thuộc loại ngon không nơi nào bằng. Bây giờ ăn phá lấu dọc khu Bolsa thấy thua xa phá lấu Sài gòn, ăn tạm vậy thôi.


 Đynh Hoàng Sa, Thành Tôn và tôi trải qua nhiều buổi chiều họp mặt cùng nhau mà nay ôn lại tôi cứ thấy xúc động đầy hoài nhớ vương vất. Những chiều Sài Gòn có bão rớt, dẫm nước, gió lạnh, những chiều cuối năm cận Tết, trong quán nhậu bình dân, chúng tôi mỗi người một cốc bia lặng lẽ ngó loanh quanh lơ đãng. Nhìn gần trên trên hè phố quang cảnh buôn bán , người qua kẻ lại xuôi ngược, tiếng kêu gọi bàn cãi vang vang góc này, góc kia vội vã cuối năm buổi chợ chiều...Nhưng chỉ ngẩng lên, phóng tia mắt qua hàng cây, trong không trung vụt thấy ra một cảnh khác, có nỗi gì im vắng tịch mịch tỏa rộng, lênh láng mới u uất trong lòng, không cản được, hoàn toàn buông thả cùng với những ngụm bia trôi qua cổ họng, hết ly này tới ly kia. Cả một lúc lâu như thế, không có lời nào giữa chúng tôi. Một hôm Quý xoay xoay cái ly, chợt đọc lên:


 Bó gối ta ngồi soi ngấn rượu


 Giật mình xao động bóng thiên thu  (thơ Đynh Hoàng Sa)


 (trích Để Nhớ Đynh Hoàng Sa của Nguyễn Phương Tuấn


 đặc san Quảng Đà Xuân Canh Thìn 2000, Hoa Kỳ)


 Bài của anh Tuấn không dài lắm, vừa đủ vẽ ra một hoạt cảnh có thật. Nói lên những tâm sự chân thành. Tôi đã cố tình trích dẫn gần nửa bài viết của anh. Một sự ăn gian số trang cho bài viết của mình, không chối cãi được. Dĩ nhiên tôi có thể dựa vào nguồn tin của anh Tuấn, để viết lại. Nhưng tôi đã không làm vì muốn có thêm một tiếng nói trung trực về người bạn của mình trong một đoạn đời buồn nhiều hơn vui. 


 Khi gặp lại Đynh Hoàng Sa tại Sài Gòn, tôi thấy anh có phần trẻ ra. Nhưng cái bệnh chửi đời, mạt sát chế độ của anh không thuyên giảm phần nào. Anh bàn nhiều đến chuyện ra đi. Và tin tưởng anh cũng sẽ có ngày ung dung ngồi trên phi cơ bay ra ngoại quốc. Anh hoàn toàn có lý do để hy vọng. Hai con trai anh đang ở Mỹ. Anh nhờ tôi cố gắng liên lạc với các cháu sau khi qua đến Canada. Tôi đã thực hiện đầy đủ những gì anh yêu cầu. Địa chỉ của hai con anh ngày nay tôi vẫn còn giữ, Đinh Hoàng Huy 14428 SE Tipaz Milwakia OR 97222 USA. Rất tiếc sau vài ba lần liên lạc, các cháu đổi chỗ ở và không cho tôi địa chỉ mới.


 Những ngày ít ỏi ở Sài Gòn, tôi có cho Quý đọc một số bài trong tập Hơi Thở Việt Nam của tôi, anh rất thích. Nhưng không cho tôi đọc bài nào của anh. Khi tôi lên đường anh cũng không gởi gì theo vì sợ làm trục trặc chuyến đi của tôi. Thứ ba, ngày 19 tháng 3 năm 1985, tôi viết cho Quý, cùng lúc gởi thư cho Châu Văn Tùng, Hoàng Trọng Bân, Thành Tôn. Tôi ghi rõ điều này trong cuốn agenda nhỏ. Tôi không nhận được thư của Quý. Cho đến khi được tin anh bất ngờ qua đời năm 1990, không đợi kịp ngày “ung dung ngồi phi cơ”. Vợ anh, chị Lê Thị Mỹ đã đoàn tụ được với các cháu. Năm 2004 chị bất ngờ gọi thăm Lý, vợ tôi. Sau đó chị đổi địa chỉ. Gần đây anh Thành Tôn cho biết chị đang định cư tại quận Cam nhưng chưa có số điện thoại ổn định. Qua Thành Tôn, tôi rất vui khi biết hai con trai lớn của Quý đã thành đạt. Người con út còn biết nũng nịu bên mẹ.


 Tôi vô cùng xót xa khi đọc được bài thơ Đynh Hoàng Sa viết tống tiễn tôi lên đường, qua công bố của Ng. Phương Tuấn. Bài thơ tha thiết ân tình đó, xin được trang trọng chia sẻ cùng bạn đọc:


 Tống Tiễn


 gửi Luân Hoán


 Dù sẽ vượt đèo hay qua sông / trước sau cũng một chuyến đau lòng / mười năm há chửa sâu tròng mắt / chờ đến bao giờ lắng đục trong ? /


 dù sẽ đi tàu hay đi xe / băn khoăn gì nữa chuyện bên lề / bao đêm gác tối ngồi thao thức /những dấu than như ác mộng đè


 dù sẽ đi thuyền hay phi cơ / luyến lưu gì một góc vườn xơ/


đãy cằn, gió chướng, cành khô nhựa / tàn lụi hồn, thân, mộng với thơ


 dù đi bằng ngựa hay xe bò / quẳng phứt lồng tre sáo líu lo/ sá chi nỗi nhớ treo đầu gió /bương bả rừng hoa nở tự do


 dù đi đường bộ hay đưòng mòn /hãy sớm lìa xa cảnh héo hon / dẫu biết thiên đường đâu dễ có / còn hơn đắng cổ ngậm bồ hòn


 dù đi ban ngày hay giữa đêm / kẻ sống cần hy vọng trước tiên / đừng ray rứt mồ cha mả mẹ / chắc chi người chết được nằm yên


 dù đủ hai chân hay một chân / khua tràn nhịp gỗ hóa phân vân / ngán gì chuyện thiếu bàn chân trái / còn óc, còn tay, còn tâm can


 như ta nguyên vẹn cả chân tay /ngoi ngóp không ra khỏi vũng lầy / giá được như ngươi vù khuất nẻo /cũng cam thân phận kẻ lưu đày


 tống tiễn mà sao cùng lặng câm / mỗi người riêng nỗi xuyến xao thầm ? / ngươi nhìn vớ vẩn lồng nan hẹp / ta ngắm chim bay tủi cát lầm


 lẽ ra cùng cạn chén ly bôi / theo cách người xưa cũng vẽ vời /nhưng tiếc rằng ngươi không mạnh rượu / thì thôi lòng cũng ngất ngư rồi


  (Đynh Hoàng Sa).


 Một phần tâm sự bạn tôi được bày tỏ. Tôi không lý giải chỉ xin lặp lại một số câu cho nỗi ngậm ngùi thấm thía hơn. : dù đủ hai chân hay một chân / khua tràn nhịp gỗ hóa phân vân/ ngán gì chuyện thiếu bàn chân trái / còn óc, còn tay, còn tâm can / như ta nguyên vẹn cả chân tay / ngoi ngóp không ra khỏi vũng lầy / giá được như ngươi vù khuất nẻo/ cũng cam thân phận kẻ lưu đày / tống tiễn mà sao cùng lặng câm / mỗi người riêng nỗi xuyến xao thầm ?/ ngươi nhìn vớ vẩn lồng nan hẹp/ ta ngắm chim bay tủi cát lầm...


 Thật sự trong cái nhìn vớ vẩn của tôi đã tràn đầy ẩm ướt.. Quý hẳn biết chắc điều đó. Tôi cũng đọc được ánh mắt của anh, của nhiều người khác nữa trong buổi tống tiễn chúng tôi lên đường. Chung chung là một nỗi buồn bao la cho mỗi chúng ta, những người không phải “sinh lầm thế kỷ” mà bất lực không làm cho thời đại mình trong sáng, xinh đẹp hơn. Anh Ng. Phương Tuấn còn công bố thêm vài bài thơ khác của Đynh Hoàng Sa, như bài Phương Thảo, bài Mai Mốt Đừng Quên, chứng minh giai đoạn sau 1985 tại quê nhà, Đynh Hoàng Sa viết được khá nhiều. Tài sản quí giá ấy, không biết chị Mỹ có gìn giữ không ? Chẳng phải tham lam nhưng tôi vẫn trích thêm bài Mai Mốt Đừng Quên:


 “ mừng em vừa tấp đảo hoang sơ / cọng cỏ trùng khơi sóng đẩy đưa / mai mốt chim bay về đất hứa / đừng quên thuyền rệu bãi lau thưa


 mừng em vừa cập bến bình an / thoát tay hải tặc với sài lang / mai mốt khi em vào đất mới / nhớ chiêu hồn bao kẻ chết oan


 mai mốt em về Washington/ Paris, Melbourne hay London/ những thủ đô tưng bừng ánh sáng/ cũng đừng quên phố cũ Sài Gòn


 mai mốt bơi thuyền trên sông Seine/ vượt Hudson hay xuôi dòng Thames/ hãy nhớ về sông ngòi đất tổ/ nào Cửu Long, sông Nhị, sông Tiền


 mai mốt em trèo Everest/ Phú sĩ sơn hay đỉnh Mont Blanc/


cũng đừng quên núi rừng quê mẹ/ dãy Trường Sơn cùng ngọn Thất Sơn


 mai mốt chơi trên hồ Leman/ hồ Torrents hay Michigan / em hãy nhớ tên hồ Than Thở/ và đừng quên lịch sử Hồ Gươm


 mai mốt em từ cảng Marseilles/ San Francisco hay Sydney/ những bến cảng tân kỳ rộn rịp/ xin đừng quên bến Nghé đọa đày


 mai mốt cùng ai đi tắm biển/ Darwin, Long Beach, Saint Tropez / đừng quên dọc bến tàu Long Hải/ xác người vượt biển đã trôi về


 mai mốt từ phi trường Bangkok/ Berlin, Seattle, Orly/ em hãy nhớ về Tân Sơn Nhất/ một thời tấp nập cảnh chia ly


 mai mốt xem kỳ quan choáng ngợp/ nhà chọc trời, lăng tháp lừng danh/ em hãy nhớ lều tranh vách đất/ vẫn âm thầm bên lũy tre xanh


 mai mốt nhiều phen em sẽ nếm/ món ngon vật lạ bốn phương trời/ em hãy nhớ từng hương vị cũ/ cái nem, tô phở, ngọn rau mùi


 mai mốt xem kỳ hoa dị thảo/ hẳn trong tiềm thức ngát hương xưa/ hoa ngâu hoa bưởi đầy tinh khiết/ cùng vị sầu riêng vốn đậm đà


 mai mốt làu thông bao thứ tiếng/ Pháp, Anh, Ý, Đức...của quê người/ em nhớ trau dồi thêm tiếng mẹ/ từng ru em ngủ thuở nằm nôi


 mai mốt tha hồ em thán phục/ rừng văn tuyệt tác của năm châu/ em chớ quên nguồn văn hóa Việt/ ngọt ngào cổ tích, đẹp ca dao


 mai mốt quen tai hòa tấu khúc/ nhạc Jazz, nhạc Rock, nhạc Disco/ đừng quên từng điệu hò dân tộc/ đàn nguyệt, đàn tranh với nhị hồ


 mai mốt kinh qua nhiều lễ hội/ vui tai lạ mắt của phương xa/ em quên sao được ba ngày Tết/ mặn mòi truyền thống của ông cha


 mai mốt em lưu lạc xứ người/ bao màu da sắc tộc nơi nơi/ xin em hãy nhớ về quê Việt/ nhiều thương đau và lắm nổi trôi


 mai mốt từ đâu trên trái đất/ tim em hãy hướng về quê hương/ mai mốt vui vầy nơi đất khách/ đừng quên một góc Thái Bình Dương !”


 Đynh Hoàng Sa


 Quý ơi, bạn nhắn gởi cô học trò Phương Thảo thân thương của bạn, một loại “cỏ thơm thôi ngát phương này” (ĐHS), vì “vụt hóa thân thành cánh vạc bay”...(ĐHS), nhưng tôi nghe ra bạn nhắn gởi đến tôi, đến chúng tôi.


Những lưu dân xa xứ. Chân thành tạ ơn bạn. Chúng tôi chưa quên và chẳng bao giờ dám quên những hình ảnh gợi nhớ trong bài thơ thiết tha chân tình của bạn. Đúng hai mươi mốt năm rồi chúng ta không nhìn thấy nhau. Nhớ ứa nước mắt. Tôi giở album nhìn sững tấm ảnh có tôi, có bạn, có Hà Nguyên Thạch, có Nguyễn Nho Sa Mạc. Tấm ảnh chụp ở hiệu Lê Hậu vào tháng 8 năm 1963. Đã 43 năm, tôi còn giữ nguyên vẹn, không ố nổ một vết nào. Nhìn mặt chúng ta non dại, thật dễ thương. Bạn và Sa Mạc đã ra đi, Tôi và Đồng mỗi đứa một nơi, 21 năm không liên lạc. Sự hờ hững này phần lỗi về tôi, thiếu nhiệt tình tìm kiếm. Nhưng nay mai tôi hy vọng sẽ tìm được số điện thoại của Đồng, gọi để nghe nó chửi vài câu cho đủ sống lại những ngày xưa. Còn bạn, bạn bỏ đi đâu vậy ? Tôi còn nhớ bạn thường nói, đại khái: Thơ là một vùng trú ẩn. Một vùng trú ẩn hoang đường của thần tiên. Khi đuối lòng sẽ vào đó nghỉ ngơi, thay nhiên liệu. Vậy mà bạn bất ngờ ra đi, bỏ cái vùng trú ẩn thần tiên lại cho ai ? Giờ tôi biết tìm bạn nơi đâu ? Câu hỏi rất cải lương mà thật tình. Kỹ thuật viễn thông ngày một tiến bộ, có giúp chúng ta thêm đôi lần đấu láo ? Âm Dương đâu có bao xa. Dù sao bạn cũng nên ghi sẵn số phone của tôi. Đây nhé, gọi đến nhà: 514-525-6409, gọi qua di động: 514-588-6409. Khuya nay, nếu thuận tiện, bạn gọi tôi. Bây giờ, tôi sẽ làm ngay mấy câu thơ, chờ gặp nhau tôi sẽ đọc cho bạn nghe, như ngày bạn ghé 22 Lê Lợi Sài Gòn năm nào. Tình thân. 06 Avril 2006.


Ghi thêm: 1/ chân thành cảm ơn anh Ng. Phương Tuấn. Xin lỗi anh mang họ Nguyễn hay họ Ngô ? Họ Ngụy là họ chung của chúng ta, sau 1975 rồi. Chúc anh vui vẻ. LH.


2/ vào 23giờ ngày 8-4-2006 tôi gọi đến nhà Hà Nguyên Thạch, qua số phone 01184-64.834.125, do họa sĩ Nguyên Hạo cho. Ông nhà thơ chở vợ đi chợ. Bà chị vợ cho số điện thoại cầm tay 011849-19.505.140. Gặp. Đồng hiện biên tập cho vài tờ báo ở Sài Gòn và một nhà xuất bản, tương đối ổn định. Anh không giữ được gì của Đynh Hoàng Sa.


Luân Hoán

Khi em về. Thơ : Nguyễn Đình Toàn. Giọng ngâm: Hoàng Oanh

 

 

____________________________________________________________





Trang Qu
ảng Cáo





blank



blank


blank


Chuyên mọi dịch vụ về Răng



Người Lớn, Trẻ Em


Liên lạc:

Phar. Dr. Trần Yên Quế Chi

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Năm 20186:18 CH(Xem: 54)
Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”
15 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 128)
Tháng Năm, 1969, tuần báo Khởi Hành, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội, số 1
09 Tháng Năm 20187:20 SA(Xem: 210)
Tên thật: Huỳnh Văn Hiến. Nơi sinh: Đà Nẵng. Năm sinh: 1942. Năm mất: 1995
05 Tháng Năm 20189:32 SA(Xem: 320)
bìa Uyên Nguyên. kỹ thuật typesetting Trần Yên Hòa. nhà xuất bản Bạn Văn Nghệ. phần phục lục: thơ Luân Hoán giới thiệu TYH
04 Tháng Năm 20189:15 SA(Xem: 223)
Sinh năm 1943 tại Bình Định. Trước năm 1975 là giáo sư Việt văn tại Khánh Hòa. Các tác phẩm đã in: - Những tháng năm cuồng nộ...