DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,931,629

Giữa Cơn Lốc - Đào Hiếu (chương 1 - 2)

04 Tháng Giêng 201312:00 SA(Xem: 5419)
Giữa Cơn Lốc - Đào Hiếu (chương 1 - 2)

Giữa Cơn Lốc





1. 1

Phần thứ nhất

 

I

 

Người đàn ông ngồi im trên chiếc ghế kê sát tường. Ông mặc áo tang trắng nhưng đầu không chít khăn. Mặt ông buồn và nghiêm nghị, đôi mắt nhìn sững phía trước nhưng không nhìn vào cái gì rõ rệt.

 

Đứng cạnh ông là một người dong dỏng cao, hai mắt đỏ hoe, đầu hơi cúi xuống một chút và hai bàn tay đen sạm đan vào nhau, đặt trước bụng. Phía bên trái anh người vợ đứng gần như lẫn vào trong bóng tối của góc nhà, khóc thút thít bên đứa con trai nhỏ đang giương mắt nhìn mọi người.

 

Phía bên kia quan tài, gần sát tường là một thiếu nữ và một thanh niên chừng mười bảy mười tám tuổi. Họ đều mặc tang phục.

 

Trước mặt mọi người, trên bàn thờ là tấm ảnh của một người đàn bà quê mùa và khắc khổ. Hai cây bạch lạp cháy đã quá nửa chiếu ánh sáng lung linh, mờ nhạt trên khung kính nhỏ lồng ngoài bức hình người chết.

 

Gần mười một giờ trưa, một chiếc xích-lô đạp dừng lại trước nhà. Một người thanh niên chừng hai mươi lăm tuổi hấp tấp bước xuống xe và chạy thẳng vào. Anh rẽ đám đông trẻ con bu trước cửa và vào được phía trong. Cô gái kêu lên:

 

- Anh Hữu!

 

Nhưng Hữu không nghe tiếng kêu ấy, anh nhìn sững chiếc quan tài. Chiếc quan tài nhỏ, mong manh và im lặng một cách tàn bạo, bên trong là tấm thân ốm yếu gầy mòn xác xơ của mẹ anh. Không để lại một dấu tích. Hữu có cảm tưởng như mẹ anh không nằm trong ấy, đó chỉ là một cái hòm rỗng, xa lạ một cách kỳ dị đối với anh. Hữu im lặng ngồi xuống. Anh đặt tay trên nắp áo quan, ngước nhìn tấm ảnh mẹ trên bàn thờ rồi bật khóc.

 

Người cha nói:

 

- Đáng lẽ chôn hôm qua nhưng cha hoãn lại chờ con. Cũng may con về được.

 

Hữu hỏi:

 

- Mẹ mất mấy hôm rồi?

 

- Ba bữa, chết khỏe lắm, không đau đớn gì.

 

Hữu im lặng. Người cha tiếp:

 

- Hôm nay ngày tốt, cha định lo chôn cất cho xong. Mẹ con như thế cũng khỏe thân, con chớ nên buồn.

 

Hữu quay nhìn cha, ông vẫn nhìn đăm đăm vào quãng trống trước mặt, anh muốn nói một lời nào đó, có lẽ là một lời phản đối nhưng phản đối điều gì? Anh do dự, không biết mở lời sao, không biết phản ứng thế nào, nhưng có điều anh biết chắc là cái chết của mẹ anh không đơn giản như cha nói.

 

Người cha đưa mắt nhìn đứa con trai lớn, hỏi:

 

- Duy, con đã lo xong chưa?

 

Duy ngửng lên, buông thõng hai tay và buồn bã quay sang ngó vợ, người vợ nắm lấy tay đứa con và lẳng lặng đi ra phía sau.

 

Lát sau, một chiếc xe lam đậu lại trước nhà. Bọn trẻ con lảng đi nơi khác.

 

Mọi người có mặt đông đủ bên áo quan. Người cha khấn vái một lát trước vong linh người bạn đời rồi ra hiệu cho hai đứa con trai lớn khiêng áo quan, Duy đứng một bên, Hữu đứng một bên. Anh cúi xuống luồn hai tay dưới đáy hòm. Chiếc áo quan thô sơ, nhẹ, mặt gỗ sần sùi tạo cảm giác chắc chắn, vững vàng. Hữu cảm thấy như mình ôm tấm thân gầy gò của mẹ trong tay. Duy tránh không nhìn em, đôi mắt anh vẫn còn đỏ hoe và trũng sâu xuống khiến gò má anh như nhô cao thêm.

 

- Mình có thể chia xẻ gì với đứa em này không? Anh tự hỏi và ngước lên nhìn đứa em nhưng cũng chỉ thấy một đôi mắt đỏ hoe, buồn thảm. Anh không nhìn thấy gì thêm trong đôi mắt ấy. Cái nhìn của người em không hẳn xa lạ, không hẳn giận hờn nhưng có chút gì tẻ nhạt và chỉ cần một chút ấy thôi cũng khiến anh e sợ và vội co rút vào nỗi cô đơn cố hữu của mình.

 

Chiếc xe chở quan tài ra đến vùng đồng ruộng cạnh chân núi. Cơn gió mát làm lòng Hữu dịu lại. Anh ngồi tựa lưng vào thành xe. Cây bạch lạp cắm ở đầu quan tài đã bị gió thổi tắt, chỉ còn lại một cây ở đàng cuối, vẫn cháy chập chờn.

 

Chiếc quan tài được hạ xuống huyệt và lũ con rải những nắm đất đầu tiên xuống mồ người mẹ. Nắm đất khô, vàng cháy, có lẫn cát sạn, những hạt cát đen nâu chảy qua kẽ ngón tay chậm chạp, vô tình.

 

Vĩnh viễn mẹ không còn trên dương gian. Đống đất cứ cao lên dần, lở lói nghèo nàn và xấu xí.

 

Mọi người tản mát đi hết chỉ còn lại người cha và mấy đứa con. Người cha nói:

 

- Các con lạy mẹ một lần nữa rồi về.

 

Mọi người vâng lời làm lễ. Không ai nói với nhau một lời nào. Hữu ngồi bất động nơi một mô đất cao gần đó nhìn mọi người ra đi.

 

- Chia rẽ! Hữu lẩm bẩm, chia rẽ tất cả. Chia rẽ không cách gì cứu vãn nổi. Nhưng tại sao? Hữu biết rõ hơn ai hết tại sao. Tại vì... tại vì... một ngàn thứ tại vì, một ngàn thứ nguyên nhân, từ năm này dồn sang năm khác, từ đời nọ nối tiếp đời kia. Những nguyên nhân ấy chồng chất nhau, xoắn lấy nhau rối mù.

 

Hữu ngẩng lên. Tú, cô em gái của anh đang đi một mình trên gò cao đầy mộ bia. Chiếc quần xì-gà màu tím sẫm nổi bật trên màu áo tang trắng. Nó đang nghĩ gì? Mười sáu năm qua, một đứa bé mặt mũi tèm nhem đã trở thành như thế. Và thằng Cang, em út cũng chỉ biết chưng diện, chơi bời. Hữu nghĩ đến Nghi, đứa em trai kề mình bây giờ có lẽ đang trên đường trở về từ đơn vị của nó. Anh bỗng muốn gặp lại Nghi vô cùng. Đã quá lâu rồi anh không gặp mặt. Cuộc chiến tranh đã đem nó đi thật xa cũng như đã đem người anh cả của Hữu biền biệt mười mấy năm trời.

 

Tú trở lại bên Hữu, cô hỏi:

 

- Anh không về?

 

- Không.

 

- Chút nữa anh về ăn cơm với em?

 

- Không.

 

Tú cao giọng, hỏi:

 

- Tại sao anh lại giận tôi? Chính anh Ba và con vợ ảnh đã bỏ mẹ chết. Họ không nuôi mẹ nhưng họ vẫn không cho tôi nuôi. Rốt cuộc mẹ ở một mình và chết một mình.

 

Hữu chậm rãi nói:

 

- Tôi hiểu lắm rồi. Xin cô đừng nói gì thêm nữa.

 

*

 

Gần sáng Hữu thức dậy thì trăng sắp lặn nhưng vẫn còn lấp lánh trên lá cây ngoài cửa sổ. Anh thấy tỉnh táo và ngồi dậy nhìn ra ngoài trời, lắng nghe từng tiếng động nhỏ, kín đáo của đêm trăng. Đã lâu lắm anh mới lại có dịp sống một mình với đêm, với thiên nhiên huyền dịu và bóng trăng thơm mùi hoa lài...

 

Thời gian đi qua thật quá nhanh. Mười mấy năm mà như chỉ mới đây thôi. Một hôm nào đó mọi người bảo nhau là đã đình chiến. Người ta biết đình chiến qua những lời đồn đại và người ta tin lời đồn đại ấy qua sự vắng mặt của những chiếc máy bay mang cờ Pháp. Người ta thở ra, nhẹ nhõm và reo mừng.

 

Những ngày sau đó đã thấy những bác nông dân vác tre về dựng lại cái lều, lũ trẻ con, những cô gái đi lượm những hòn gạch bể, những tảng xi-măng bỏ vào một cái thúng lớn rồi xúm nhau khiêng lại cho người cha xếp lên làm tạm một bức tường chắn gió.

 

Dân làng lác đác trở về. Buổi chiều, trên cái sân gạch vuông được dọn sạch sẽ không còn chút nắng, lũ trẻ đã xúm nhau đẩy cái nong tre ra để giữa đó và người mẹ đặt chiếc nồi đất đầy cơm trộn ngô khoai và mấy cái chén, một dĩa cá rô kho, chén nước nắm ớt và dĩa rau luộc.

 

Người ta đã nghe vang lên tiếng cười của trẻ thơ. Buổi tối có tiếng đàn măng-đô-lin đánh thật nhanh theo giọng hát cố gắng giữa tiếng người nói cười, bàn tán.

 

Người ta vẫn tiếp tục bàn tán với nhau lúc trăng mọc. Bếp lửa được nhóm lên, nổ lách tách. Than hồng đỏ tươi ở một góc sân. Lác đác có tiếng giã gạo, tiếng cối xay kêu kít kít.

 

Làng xóm đã cựa dậy, đã sống lại.

 

Rồi người anh cả ở mặt trận trở về. Cuộc sum họp giản dị và cảm động bên bếp lửa, bên nồi khoai, những câu chuyện kể lể, lời giải thích hiệp định Giơ-neo, những hẹn ước và những giọt nước mắt ngày chia ly.

 

Hữu còn nhớ rõ cái màu xám bình dị thân yêu của chiếc áo trấn thủ mà người anh cả đã cởi ra để lại cho mẹ, nụ cười buồn của anh và những lời dặn dò gởi gắm lúc anh xuống tàu...

 

Hữu không hề có một tuổi thơ hoa mộng như bao nhiêu người khác, anh không hề có ý niệm gì về “tuổi ngọc”, “tuổi hồng” hay “tuổi thích ô mai” bởi vì tuổi thơ của anh bị tàn sát hàng ngày và phải phấn đấu không ngừng để sống. Nhưng Hữu đã không bao giờ tiếc rẻ quãng đời ấy. Trời ơi! Anh yêu quý cái quá khứ nghèo nàn và gian khổ ấy biết là dường nào! Có “tuổi ngọc” “tuổi hồng” hay “tuổi ô mai” nào bằng cái “tuổi-đất-đá-và-tro-than” ấy chăng?!

 

Câu hỏi ấy hiện ra lửng lơ.

 

Mặt trăng chưa lặn nhưng trời đã sáng. Những lá khoai trong vườn xanh thẫm màu, lay động nhẹ trong cơn gió sớm.

 

2

 

Cang đứng tựa cửa sổ. Chiếc quần tây thời trang rộng thùng thình không giấu nổi hai bắp đùi vạm vỡ săn chắc của một cậu trai ở tuổi đang lớn. Hữu hoàn toàn không thấy trên cái thân thể ấy còn lại chút dấu tích gì của cái thằng Cang ốm nhom ngày trước thường mặc quần xà loõng, cả ngày lang thang quanh các trại lính Mỹ để xin đồ hộp.

 

Tú đưa một nhận xét:

 

- Nó giống cha. Vài năm nữa chắc cao tới thước tám.

 

Hữu hỏi đứa em út:

 

- Bây giờ cao tới thước mấy rồi?

 

-Thước bảy. Cang trả lời và ngồi xuống đi-văng.

 

Bên ngưỡng cửa, một viên trung sĩ quân đội Sài Gòn vẫn đứng yên lặng, đầu hơi cúi xuống.

 

Hữu hỏi:

 

- Em không được khỏe?

 

Nghi gượng cười:

 

- Tôi cứ bị mất ngủ luôn.

 

- Vẫn ở Bồng Sơn?

 

- Dạ, vẫn ở đó. Còn anh thì chừng nào đi Sài Gòn?

 

- Có lẽ vài hôm nữa.

 

Nghi kiếm một cái ghế và ngồi xuống. Bộ quân phục đã phai màu và nhàu nát. Nghi không có vẻ gì là một quân nhân. Bộ quân phục thật không thích hợp chút nào với cái dáng mảnh mai, với nước da trắng xanh gần như tái mét của anh.

 

Người cha trở vào trước bàn thờ. Lũ con đứng quanh ông, ông hỏi thăm từng người và hỏi thằng Cang cột chiếc khăn trên cổ làm gì. Nó bảo cột cho đẹp chơi.

 

Duy và người vợ cũng vào thăm Nghi nhưng khi chị Duy vừa bước chân vào phòng thì đã bị cặp mắt Tú nhìn chòng chọc. Tú nói nhỏ với Cang nhưng cốt để cho người chị dâu nghe.

 

- Nó lấy sợi dây chuyền của tao đó.

 

Cang cả cười. Người chị dâu cau mặt lại. Người cha nghiêm giọng nói:

 

- Chúng bay đừng cứ khích bác nhau nữa, có được không?

 

Tú nói:

 

- Thưa cha được. Nhưng cha bảo nó trả sợi dây chuyền năm chỉ cho con mới được.

 

Người chị dâu sấn lại:

 

- Ai cướp vàng của cô? Cô nói một tiếng nữa coi! Trước mặt cha, tôi là chị, tôi phải dạy cô mới được.

 

Duy sấn ra, án ngữ giữa vợ và cô em gái trong khi người cha thở dài. Ông nói:

 

- Tao bảo tụi bay không nghe thì tao đi.

 

Nói xong ông bước ra cửa. Hữu theo cha ra ngoài. Duy cũng đẩy vợ đi ra khỏi phòng. Còn lại ba anh em ngồi trên ba gốc đi-văng. Im lặng. Nghi bỗng hỏi đột ngột:

 

- Tú, tao nghe nói mày làm sở Mỹ?

 

- Dạ.

 

- Làm việc gì?

 

- Anh đừng lo. Tôi chẳng làm gì xấu đâu.

 

- Vậy mà tao nghe nói mày tiêu tiền như nước rồi cấp tiền bạc cho thằng Cang ăn chơi, hút sách đàng điếm. Nó mà hư thì mày phải coi chừng.

 

Cang cãi lại:

 

- Em đâu có hút.

 

- Vậy mày đi theo bọn hút làm gì?

 

- Em đi học sửa ra-dô chớ đâu có theo bọn hút.

 

- Thì chính tụi bạn mày mét tao.

 

Cang làm thinh. Tú hỏi:

 

- Mày học sửa ra-dô bao lâu rồi?

 

- Ba tháng.

 

- Còn bao lâu mãn khóa?

 

- Ba tháng nữa.

 

- Thế bây giờ đã sửa được chưa?

 

Cang nhăn mặt, quắc mắt ngó chị nó:

 

- Hỏi vô duyên! Học mới ba tháng mà sửa gì. Bà im đi cho rồi, bà.

 

Nghi nói:

 

- Mày phải coi chừng, khôn hồn thì tránh xa tụi hút xách. Nếu không nghe lời tao thì mày chết mặc kệ mày, sau này đừng kêu ca.

 

Thằng Cang đứng lên, lẳng lặng đi lại phía cửa.

 

- Mày đi đâu đó?

 

- Không đi đâu hết.

 

- Mày trả lời tao cái giọng đó hả?

 

Cang cũng to tiếng đáp lại:

 

- Chớ tui làm gì mà anh hạch sách tui quá vậy? Anh cũng chẳng cho tui được đồng nào. Hồi nhỏ tui đói rách lang thang đầu đường xó chợ, tui sống thèm khát đủ thứ mà có biết xin xỏ ai. Bây giờ chị Tú nuôi tui chớ mắc mớ gì anh. Tui có xin xỏ gì anh đâu mà anh khó chịu?

 

Nghi dìm cơn giận xuống và nói gỡ gạt:

 

- Mày ngon! Tao biết mày ngon rồi. Mặc kệ mày tao không cần biết tới nữa.

 

Thằng Cang đứng lên, rút cái lược ở túi sau ra, ngó lui ngó tới tìm cái gương nhưng không thấy, cuối cùng nó đành dùng tay vuốt hai bên mai và sau gáy rồi vừa bước ra cửa vừa nói:

 

- Tui đi chơi. Tối tui không về đâu.

 

Nói xong nó biến sau cánh cửa.

 

Nghi nói:

 

- Tao không tin nó học sửa ra-dô. Coi tướng nó là tướng ăn chơi chớ đâu phải là tướng làm ăn. Ít bữa nó đòi cưới vợ cho mà coi.

 

- Thà nó cưới vợ còn hơn theo cái tụi hút xách.

 

- Mày cúp tiền coi nó lấy gì mà hút.

 

- Cúp thì nó bám vô tụi gái điếm.

 

Nghi ngã mình xuống chiếc ghế dài. Anh nói như nói một mình:

 

- Chẳng lẽ không còn cách nào ngăn cản nó được hay sao?

 

3

 

Ăn xong Duy uống một viên thuốc bổ màu đỏ khi dùng trà, lấy một cây tăm xỉa răng, rứt một tí bông gòn lau cây tăm rồi ngậm trong miệng và lặng lẽ lên gác một mình.

 

Căn gác thấp và tối om. Duy mở cánh cửa sổ gần mái ngói. Trên khung trời xám đen phía ngoài đã có mấy đóm sao nhỏ sáng yếu ớt trên đầu các ngọn cây tre cây gòn ngoài vườn.

 

Bốn mươi năm dài qua đi lúc nào không hay. Bốn mươi năm trong đời thì đã có gần ba mươi năm cần cù làm việc. Xây được một cái nhà, sắm được một cái xe, sinh được một bầy con. Đó là sự nghiệp của một đời người hay sao?

 

Những vì sao bên ngoài đã hiện rõ hơn, lấp lánh khắp nơi. Lá cây đen sậm, lay động mơ hồ.

 

Đã gần mười năm rồi kể từ khi anh dời đến Qui Nhơn và sống cuộc đời đều đặn như một chiếc đồng hồ. Mọi người đều cho anh là một kẻ an phận, thực ra anh cũng đã trải qua một tuổi trẻ hào hùng và sống động.

 

Năm Duy mười sáu tuổi cũng là năm mà cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Người anh cả đã đi bộ đội, còn Duy, anh gia nhập vào đội xung kích của làng. Làng anh ở cách thị trấn An Khê chừng hơn ba mươi cây số. Hồi ấy An Khê còn là vùng bị chiếm. Giặc Pháp phát xuất từ An Khê thường xuyên hành quân càn quét làng mạc, các quận xã ở dưới chân đèo hay có khi xa hơn nữa. Hàng ngày chúng còn cho máy bay ném bom hay nã moọc-chê vào các làng đông dân, giết hại đồng bào, tàn phá nhiều thôn xóm.

 

Mỗi lần tin tình báo của ta cho biết là “Tây xuống” thì lập tức đồng bào, già, trẻ, lớn bé đều gồng gánh bồng bế nhau vào tận trong rừng trong núi đá trong hang sâu mà trốn. Trong lúc ấy thì bộ đội và dân quân du kích bố trí sẵn sàng. Những trận đụng độ đã diễn ra quyết liệt. Duy là một chiến sĩ trong toán xung kích.

 

Ngày kia cả làng lại được tin “Tây xuống”. Tổ du lích triển khai đội hình nhưng hôm đó Duy bị sốt nặng, nên phải nằm nhà. Anh thiếp đi trong cơn mê và khi tỉnh dậy thì thấy tây đen, tây trắng đứng lố nhố.

 

Duy bị bọn Tây bắt trong hai năm. Một ngày kia bọn chúng đem anh ra khỏi trại giam, tống lên một chiếc xe dodge có hai tên lính da đen cầm súng ngồi kèm. Chúng chở anh xuống đèo An Khê và dừng lại ở một khúc quanh cây cối rậm rạp. Hai tên lính lê dương xuống xe trước. Một tên nói:

 

- Lôi nó xuống!

 

Duy được mở còng và dẫn đến đứng giữa thảm cỏ xanh. Tên lính da đen bảo Duy đứng xoay lưng lại phía chúng. Trước mặt Duy lúc ấy là một thung lũng.

 

Duy nghe tiếng lên đạn. Ngay trong giây phút ấy anh muốn nhảy xuống vực. Nhưng loạt súng đã vang lên chát chúa. Loạt thứ hai lại vang lên và Duy nghe rất rõ. Anh ngạc nhiên quay lại thì hai tên lính da đen phá lên cười. Một tên nói:

 

- Chạy đi! Chạy đi, thằng bé da vàng!

 

Duy ngơ ngác hỏi:

 

- Tại sao các anh tha tôi?

 

- Vì tụi tao là dân phi Châu, cũng dân da màu như mày. Về đi! Nhanh lên! Bên kia ngọn đồi là Việt Minh.

 

Hai người lính da đen quay lưng tiến về chiếc xe dodge. Duy cũng hối hả bước lẫn vào đám cây rừng rậm rạp.

 

Thế là Duy trở về vị trí chiến đấu nơi làng cũ cho tới khi có lệnh đình chiến.

 

Năm ấy Hữu lên bảy tuổi, Nghi sáu tuổi, Tú lên ba và Cang vừa mới chào đời. Đây là năm đánh dấu những biến cố quan trọng trong gia đình Duy! Người anh cả tập kết ra Bắc. Duy ở lại bị chính quyền Diệm bắt giam, tra khảo suốt mấy năm, đến khi được thả ra thì anh chỉ còn là một cái xác ốm nhom, suy yếu và bệnh tật.

 

Ít lâu sau, cha Duy có vợ bé. Biến cố ấy khởi đầu cho những thảm kịch của gia đình anh sau này.

 

Cha Duy vốn là một người tài hoa. Hồi Pháp thuộc ông cai quản cả một gia đình giàu có, ông xây riêng một cái lầu đúc, sáng vác lưới đi rập cu đất với lũ con, buổi chiều trở về giao con thịt cho vợ làm chả ram. Ông kéo bạn bè lên lầu uống rượu... Mọi người nhậu nhẹt, hát bội đánh chầu, đàn nhị đàn tranh đủ thứ.

 

Trong thời kháng chiến cha thu mình lại như con công rụt cổ, xếp cánh xếp đuôi cho hợp với thời thế. Vả lại giặc giã rầm rầm, chết chóc tang thương khắp nơi, cơm gạo thiếu thốn, có ai nghĩ tới chuyện đàn địch, hát bội hát bè, cha cũng đi làm rẫy làm ruộng, cha cũng tăng gia sản xuất. Bây giờ đình chiến rồi, cha hết làm ruộng, cha xòe cánh xòe đuôi ra thành con công rực rỡ, hào hoa, con công biết đàn địch, biết đa tình...

 

Duy thì bị mật vụ Diệm theo dõi, quanh năm lẩn quẩn xó nhà không làm gì được. Anh nản, quyết định lấy vợ.

 

Khi cha có vợ bé, có nghĩa là ông đã lập riêng một phe. Và khi Duy lấy vợ, anh cũng mặc nhiên lập riêng một phe khác.

 

Mẹ và những đứa con còn lại “tử thủ” cái gia đình nghèo xác xơ.

 

Mười sáu năm trôi qua, Hữu đã lớn và đã vào đại học. Còn ta, ta đã già rồi, đã hết thời rồi, cũng như Nghi nó thi rớt, trốn tránh mấy năm rồi bị bắt lính, lần hồi mò lên chức trung sĩ. Nó trở thành kẻ lầm lì, câm điếc và bất thường. Cang thì bị bỏ hoang giữa cuộc đời ở tuổi mười sáu, sống nhờ vào Tú, đua đòi, và ương ngạnh.

 

Duy mất hết uy tín. Anh bó tay trước mọi người. Anh trở thành cái bóng mờ trước lũ em, anh càng ngày càng chán nản buông xuôi phó mặc và tuyệt vọng. Mình già rồi. Cô lập và cô độc.

 

Duy lẩm bẩm và trở mình trong đêm. Chiếc đồng hồ tay anh để dưới gối kêu tích tắc tích tắc đều đặn. Duy lấy ra xem thì đã gần ba giờ sáng.

 

Anh nhìn ra khung cửa nhỏ. Những vì sao khuya vẫn còn lấp lánh trên cao. Khu vườn phía dưới thấp tối đen và vang dậy tiếng côn trùng.

 

4

 

Hữu trở lại Sài Gòn thì bị mất chân dạy kèm. Dù sao đối với anh, thất nghiệp cũng là chuyện thường.

 

Hữu bước ra đường, mua một trái cốc vừa chín tới, to như nắm tay. Anh vừa đi vừa ăn dưới bóng mát của hai hàng me cao, ăn chưa hết trái cốc đã đến trường Luật.

 

Người bạn hỏi ngay khi Hữu bước vào lớp:

 

- Có chuyện gì buồn vậy?

 

Hữu chỉ chiếc băng tang trên áo:

 

- Mẹ tôi vừa mới mất.

 

Một người con gái mặc “rốp” trắng, đeo kính cận gọng đen từ ngoài hành lang bước vào. Cô ta vẩy tay:

 

- Lâu quá mới thấy anh tới trường.

 

- Chào Diệp.

 

Người con gái nhí nhảnh bước tới, trên tay cầm một cái đồ chơi bằng nam châm nhỏ như bao thuốc. Cô ta đưa cái đồ chơi ra trước mặt hai người bạn trai. Đó là một tấm bìa cứng, nhỏ có vẽ một thằng Tây đầu trọc và không râu. Tấm bìa được ép ny-lông, ở trong đựng một nhúm bột quặng sắt. Diệp cầm thỏi nam châm nhỏ trên tay và nói:

 

- Các anh coi đây.

 

Cô dùng thỏi nam châm kéo những vụn sắt lên trên cái đầu trọc của bức hình và xếp chúng thành một mái tóc hippy, xong cô lại đem bột quặng lên làm một bộ râu mép. Phút chốc chú Tây trắng đất trọc không râu biến thành một anh hippy tóc dài râu rậm trông rất ngộ nghĩnh.

 

- Sắp làm luật sư rồi còn ưa đồ chơi trẻ con.

 

Hữu chào Diệp rồi đến phòng học vụ mua những bài giảng mới. Sau đó anh đón xe buýt xuống Sài Gòn, đi bộ đến chỗ hẹn đón cái móc thường lệ vào lúc chín giờ bốn mươi lăm phút, sáng thứ năm.

 

Đồng chí Bảy Trung đến rất đúng giờ. Hai người gặp nhau trước một quán sách đường Lê Lợi. Bảy Trung đưa bao thuốc Salem mời Hữu, anh rút một điếu rồi bỏ luôn bao thuốc vào túi mình. Trong bao thuốc đựng sáu cái kíp nổ.

 

Hữu ghé sạp báo mua một tờ Chính-Luận rồi đi thẳng lại bến xe buýt.

 

5

 

Hữu đánh răng vội vàng. Người bạn ở chung đã thức dậy và đang ngồi ở bàn học. Ngọn đèn chụp xinh xắn được bật lên, cái gương trước mặt, lọ keo xịt tóc và hộp phấn (loại dành riêng cho các cô) xếp một bên.

 

Anh ta soi gương, dùng tay đè đè, tém tém, vuốt vuốt mái tóc rồi xịt keo chải lại một lần nữa.

 

Khi Hữu mặc quần áo xong thì anh bạn đã có một mái tóc thật bóng và đang dùng phấn thoa lên mặt để che dấu cái nước da tái mét cố hữu của mình trước khi đi học bằng chiếc Yamaha đàn ông màu đỏ tía.

 

Hữu lỡ một chuyến xe lam đi Sài Gòn. Anh quyết định lần này không nhượng bộ, không lịch sự với mấy người phái nữ nữa.

 

Chiếc xe lam vừa đậu lại là Hữu bám lấy ngay. Hàng chục bàn tay đàn bà, đàn ông, người già, quân nhân, học sinh đều bám chặt lấy thành xe một lúc. Đàn ông có lợi thế hơn nhờ mang giày và ăn mặc gọn gàng. Đàn bà đi guốc mặc áo dài, lên xe sao bằng đàn ông. Hữu choáng ngay một chỗ. Giữ vững vị trí. Chiếc xe đầy nhóc ngay. Nó rú ga, vọt tới như một kẻ thoát thân.

 

Hữu phải mất hai vòng xe lam và mấy trăm thước đi bộ mới đến được phòng xem mạch sang trọng của một ông bác sĩ mà theo lời rao thì ông ta đang cần một thơ ký.

 

Hơn tám giờ bác sĩ đến. Một vài người vào, rồi trở ra, đi vội vàng với một vẻ u buồn hay một nụ cười gượng trên môi. Đến phiên Hữu, bác sĩ hỏi:

 

- Anh biết đánh máy không?

 

- Biết.

 

Bác sĩ chỉ cái máy chữ:

 

- Anh thử một chút tôi xem.

 

Hữu ngồi lại bàn. Lóc cóc... Lóc cóc...

 

- Được rồi, ông bác sĩ hỏi tiếp: anh biết nói tiếng Pháp không?

 

- Biết. Tôi là sinh viên.

 

Ông bác sĩ già cười:

 

-Nhưng mà này, anh có xe gắn máy không?

 

*

 

Hữu lại cuốc bộ, lại nhảy lên xe lam đến một địa chỉ khác, tiếp tục cuộc hành trình thất nghiệp của mình. Anh có trong tay hai cái địa chỉ nữa. Một tư thục cần giáo sư và một số ngoại kiều cần người dạy tiếng Việt.

 

Hữu phải mất gần mười lăm phút đi vòng vòng trong hẻm mới tìm ra được trường trung học nọ. Trường làm anh ngạc nhiên. Trước hết là cái tên, Trường Việt-Mỹ. Một cái tên anh chưa nghe ai nhắc đến bao giờ thế mà phía dưới tấm bảng lại đề một câu “Sáng lập năm 1950” tính ra đến nay đã gần hai mươi năm. Điểm làm Hữu ngạc nhiên nữa là nơi đó không có vẻ gì là một cái trường mà chỉ là một cái biệt thự lớn, cũ kỹ, tường vôi đã loang lổ nhiều chỗ, cửa nẻo đã bị mọt ăn hư hao quá nửa và ngoại trừ những cái cửa lớn, còn tất cả những cửa sổ đều mất cánh. Trường có một cái sân hẹp trồng vài cây nhãn lồng còm cõi, mái lợp ngói vảy và ở một chái nhà rợp bóng chim én bay lượn kêu ríu rít quanh hàng trăm cái tổ của chúng.

 

Trong văn phòng không có ai cả, Hữu ngồi đợi cạnh bàn giấy. Đó là một cái phòng lớn ăn thông với phía sau. Một lão già mù lòa lần mò đi vào cái cửa sau của văn phòng để sang một cái phòng nhỏ nào đó kế bên, làm gì lục đục bên đó một lúc rồi lại đi ra phía sau cũng bằng cái cửa lúc nãy, một lát lại có một đứa nhỏ chừng bảy tám tuổi cũng đi qua đi lại bằng cái cửa ấy, thỉnh thoảng nó dừng lại, tò mò ngó Hữu rồi nheo mắt một cái và đi mất.

 

Hữu đến ngồi ở ghế đối diện để khỏi hướng mặt về phía cái cửa ấy nữa. Trước mặt anh một bản đồ thế giới lớn như cái đi-văng treo bên cạnh bảng thời khóa biểu bằng ván ép đóng đinh chi chít và trên những cái đinh ấy gắn đầy những mẩu bìa cứng tròn tròn bằng cái nút quần và đủ màu sắc.

 

Hữu quay lại khi nghe có tiếng giày. Một người đàn ông ốm nhom như que củi chìa tay ra trước mặt anh. Ông trạc năm mươi, tóc hơi quăn và ăn mặc còn chải chuốt lắm. Ông vào đề ngay:

 

- Anh xin dạy môn gì?

 

- Dạ, Anh văn.

 

- Anh đã dạy ở đâu chưa?

 

- Dạ có chứ, tôi dạy Anh văn nhiều năm nay.

 

- Mỗi tuần anh rảnh mấy buổi?

 

- Dạ chiều thứ hai, sáng thứ tư và chiều thứ sáu.

 

Ông hiệu trưởng cúi mặt xuống có vẻ nghĩ ngợi một chút rồi ngẩng lên quyết định đột ngột:

 

- Thôi được, như thế này, trường chúng tôi ít học sinh nên chúng tôi không thể trả lương cao được vậy nếu anh chấp thuận mỗi giờ đệ nhất cấp hai trăm và đệ nhị cấp ba trăm thì mời anh ngày... à... hôm nay hai mươi, mời anh ngày hai mươi lăm đến đây chúng ta họp chút xíu và đầu tháng tới khai giảng.

 

 

2. 2

6

 

Ông hiệu trưởng nhìn vào bản thời khóa biểu, nói:

 

- Sáng nay thầy có hai giờ lớp Bảy hả? Mời thầy lên lầu, phòng cuối cùng, hành lang phía bên trái.

 

Hữu bước vào lớp. Lũ học trò nhỏ đứng dậy. Một hai, ba... mười lăm... mười sáu, mười bảy. Mười bảy đứa con trai và một đứa con gái nhỏ mặc áo đầm trắng.

 

Hữu thẫn thờ ra hiệu cho học trò ngồi xuống. Anh hỏi:

 

- Năm ngoái lớp này được bao nhiêu em?

 

- Thưa thầy, bốn mươi mấy người.

 

- Sao năm nay còn có bao nhiêu đây?

 

- Tụi nó đi trường khác hết rồi thầy.

 

Hữu đi xuống cuối lớp. Ánh mặt trời chiếu qua những khung cửa sổ mất cánh thành những vệt dài trên nền gạch ca-rô. Bàn ghế hai bên thì quá cũ và loang đầy vết mực, vết cào, vết xây xát hay nứt nẻ. Anh dừng lại nơi bàn em bé gái mặc áo đầm và hỏi:

 

- Sao em không mặc áo dài?

 

Cô bé đứng lên, khoanh tay trước ngực và lần đầu tiên anh mới biết thế nào là đôi mắt nai tơ, đôi mắt ấy hơi ngước lên nhìn anh rồi cái miệng xinh xinh mấp máy:

 

- Dạ thưa thầy con học lớp năm mới lên.

 

- Sao em không học lớp sáu?

 

- Dạ thưa thầy, năm ngoái con học lớp năm, năm nay con lên lớp sáu và thầy hiệu trưởng bảo con ngồi đây.

 

Hữu cười, xoa đầu nó và bảo nó ngồi xuống. Anh nói:

 

- Ở đây không phải lớp sáu. Đây là lớp bảy. Sao em không theo mấy em lớp sáu mà ngồi?

 

Cô bé lại đứng lên khoanh tay trước ngực:

 

- Thưa thầy không có ai học lớp sáu nữa hết. Có một mình con hà.

 

Hữu kêu trời. Anh bảo cô học trò nhỏ bé của mình ngồi xuống và trở về bàn giáo sư ở trên bục cao.

 

Hữu hỏi học trò xem em nào đứng nhất Anh văn năm ngoái thì chúng chỉ một em học sinh trắng trẻo, sạch sẽ, ăn mặc tươm tất:

 

- Thưa thầy, trò Vinh, con ông hiệu trưởng đó thầy.

 

Hữu gọi nó lên bảng và nói:

 

- Các em đã học một năm Anh văn và học tới bài 20. Rồi, bây giờ em dịch cho thầy câu “Tôi là một học sinh”.

 

Thằng bé con ông hiệu trưởng, thằng bé đứng nhất Anh văn của lớp sáu năm ngoái, đứng một đống như ông phỗng đá. Nó cầm viên phấn trên tay, mắt nó nhìn cái bảng đen rồi một lúc sau nó dùng viên phấn vạch vạch trên bảng mấy chục cái vạch ngắn cho đỡ buồn.

 

- Thôi, em về chỗ.

 

Hữu bắt đầu giảng lại cho chúng động từ To Be, cho nhiều thí dụ và cuối cùng cho làm một bài tập ngắn ứng dụng.

 

Anh đi xuống cuối lớp, nhìn lên những cái lưng nhỏ đang cúi trên trang giấy mới.

 

Anh thò đầu ra ngoài khung cửa, ngước lên nhìn đàn chim bay lượn quanh hàng trăm cái tổ nhỏ của chúng. Những cái tổ không biết được làm bằng gì nhưng có màu vàng vàng và gắn rải rác đầy cả khoảng tường vôi thụt sâu trong chái nhà. Én nằm trong tổ, én đậu trên những cây đòn tay bằng gỗ, én bay lượn chung quanh. Cả một góc trời được che kín bằng hàng trăm đôi cánh én đen tuyền và những cái bụng trắng phau, thon thon linh động và gợi cảm, trên lưng chúng lấp lánh những sợi lông xanh như kim tuyến mỗi khi chúng nghiêng cánh đảo trước mắt anh giữa luồng sáng rực rỡ của mặt trời.

 

Đàn chim én sẽ an ủi anh, sẽ đem lại nguồn vui cho cõi lòng ê-chề về một gia đình tan nát và phẫn nộ về một xã hội suy tàn.

 

Một đám mây lớn bay qua và che khuất mặt trời. Cảnh vật dịu mát. Tiếng chim én dường như rộn rã hơn.

 

Hữu cúi xuống khung cửa sổ và anh nhận ra những đống phân chim nhỏ xíu bám đầy trên đó. Phân chim đã khô đi và có màu đen, trắng, xám lẫn lộn. Hữu dùng viên phấn hất mấy hạt phân chim và nhìn chúng rơi xuống tận dưới sâu trên một nền đất ẩm ướt vì dường như lúc nãy nơi đó có một người con gái đã giặt đồ.

 

Anh trở lại bàn giáo sư và ngồi im nhìn lũ học trò đang cắm cúi viết.

 

Cô bé mặc áo đầm ngồi một mình, hai tay đặt trên bàn, ngay ngắn, tóc mềm và mượt, đôi mắt thơ ngây lơ đãng nhìn ra ngoài hành lang, nơi đó những tàn cây nhãn vừa ra mấy cụm hoa rải rác trong đám lá. Hình như cô bé cũng đang lắng nghe tiếng chim én kêu ríu rít nhưng vẫn im lặng ngoan ngoãn và hiền từ.

 

Học trò làm bài xong, Hữu thu bài và đến bên đứa con ông hiệu trưởng, anh hỏi:

 

- Em có thường lấy trứng chim én không?

 

- Dạ, ít khi lắm, vì nó làm tổ cao quá.

 

- Cao thì mình bắc thang.

 

- Thang ở nhà thấp lắm thầy, em với chị em thường lấy lưới, đợi tối nó ngủ thì giăng lưới phía ngoài tổ rồi lấy cây đập đập vào tường cho nó bay ra, mắc vào lưới, ập lại, bắt một lần cả chục con.

 

- Bắt chim mẹ không à?

 

- Dạ.

 

- Nó ăn gì?

 

- Nó ăn ruồi. Ăn cơm cũng được nhưng nó không chịu ăn đâu thầy. Tụi em bắt chơi một lát rồi đến sáng thì thả ra.

 

Nghe nói tới chuyện chim chóc lũ học trò chăm chú ngồi im, rồi khi có một con én bay lọt vào trong lớp, chúng đều nhỏm dậy và la lên:

 

- Nó kìa thầy! Nó kìa!

 

Hữu nhìn theo con chim bé nhỏ.

 

Và chuông cũng điểm giờ.

 

7

 

Hữu đang giảng bài thì có tiếng gõ cửa. Ông hiệu trưởng chào anh rồi bước vào lớp. Học sinh chưa kịp đứng lên thì ông đã ngăn chúng lại và nói:

 

- Thầy lấy làm tiếc mà nói với các em như thế này. Thầy rất muốn duy trì lớp Bảy, nhưng lớp này quá ít học sinh, học phí của mười mấy em làm sao đủ trả lương cho giáo sư vì thế thầy quyết định giải tán. Em nào muốn đi học trường khác thì đi, còn em nào muốn lên lớp Tám thì thầy cho lên để học chung với các em lớp Tám cho vui.

 

Hữu nhìn xuống đám học trò, và lạ chưa! Anh thấy mặt đứa nào cũng hân hoan, rạng rỡ.

 

Hữu chán nản bỏ ra ngoài hành lang trong khi ông hiệu trưởng chăm chú chép thời khóa biểu lớp Tám lên bảng.

 

Trong đời anh chưa bao giờ anh gặp một trường hợp quái đản như vậy.

 

Ông hiệu trưởng đã chép xong thời khóa biểu và trở ra. Hữu chặn ông lại:

 

- Trời ơi! Thầy cho chúng nhảy lớp thì làm sao chúng học nổi?

 

Ông hiệu trưởng cười một cách trâng tráo:

 

- Tôi có bắt buộc chúng nó đâu! Nếu chúng không thích thì chúng cứ đi trường khác. Tôi đã bảo như thế mà.

 

- Nhưng thầy biết là chúng đều thích. Và thầy xúi chúng.

 

- Tôi nào có xúi. Chúng thích thì phải chiều chúng chứ tôi biết làm sao bây giờ?

 

- Thầy không biết làm sao à? Không duy trì được thì giải tán, sao thầy lại cố giữ chúng lại một cách kỳ cục như vậy?

 

Ông hiệu trưởng đỏ mặt. Hữu nổi giận và anh tưởng ông ta cũng nổi giận nhưng ông ta đã đặt một bàn tay lên vai Hữu và cười làm lành:

 

- Anh hỏi gay tôi làm gì. Đáng lẽ anh nên thông cảm cho tôi, mỗi tháng tôi chịu lỗ cả trăm nghìn thì mở trường ra làm gì?

 

Hữu tì tay lên chiếc bao lơn bằng gỗ mục nát, anh nói:

 

- Tôi thông cảm cho trường lắm, nhưng nếu trường ở vào hoàn cảnh không thể tồn tại được thì thầy cứ đóng cửa trường và tôi có mất chỗ dạy cũng không phiền trách gì, chứ còn thầy coi thường tương lai học sinh như thế thì vô lý quá.

 

Ông hiệu trưởng cúi đầu yên lặng. Ông có vẻ xúc động. Mắt ông đỏ hoe, lát sau ông nói nhưng vẫn cúi nhìn mặt đất ở dưới sâu:

 

- Tôi cũng đã nghĩ tới chuyện ấy anh à. Nhưng anh nghĩ coi (Ông ngẩng lên nhìn trời rồi nhìn suốt dãy hành lang vắng teo, giọng ông run run tiếp). Anh nghĩ coi, cả một cơ nghiệp hai mươi năm dài chẳng lẽ phút chốc...

 

Ông quay mặt chỗ khác:

 

- Thôi, xin phép thầy, tôi xuống.

 

Hữu đứng im nhìn người đàn ông ốm yếu ấy bước hấp tấp một mình trên dãy hành lang dài và rộng.

 

Hữu thẫn thờ vào lớp. Lũ học trò trở nên hỗn loạn. Chúng ngồi chụm lại đánh cờ, nói chuyện. Một thằng ngồi trên bàn, gác chân lên hai vai của một thằng khác ngồi trước, vừa rung đùi vừa huýt sáo. Hữu giận dữ đập bàn và gọi nó lên bảng. Thằng nhỏ sợ hãi bước lên và Hữu trút cơn phẫn nộ kỳ quái xuống người nó. Thằng bé co ro, chống đỡ một cách thảm hại và tuyệt vọng.

 

Lớp học im phăng phắc. Không đứa nào dám thở nữa. Thằng học trò nhỏ đã lùi đến cuối lớp và ngồi úp mặt trên bàn khóc.

 

Hữu bỏ ra ngoài hành lang. Anh cũng muốn khóc. Anh đã đánh nó như đánh một kẻ thù, nhưng kẻ nào mới là kẻ thù thực sự đáng nhận lãnh cơn giận điên cuồng ấy?

 

8

 

Hữu bỏ ba ngày để nghiên cứu một cách đánh mìn bằng kíp điện rất độc đáo. Trái mìn chỉ có nửa ký TNT đặt trong cái hộp giấy thô sơ, hai sợi dây điện từ kíp nổ được nối với một mạch điện, mạch này bị cắt bởi một cái thoi nhỏ. Thoi này có thể di động dễ dàng trên một cái trục nhỏ. Lúc mìn thăng bằng, con thoi ở giữa. Mạch điện bị cắt. Nếu trái mìn bị nghiêng, lập tức con thoi chạy xuống chạm vào cực điện kia, mìn sẽ phát nổ tức thì.

 

Hữu hoàn thành trái mìn ấy lúc trời đã khuya lắm. Anh thận trọng đặt nó vào trong một cái xách tay rồi ngồi lại bàn học viết mấy chữ bằng sơn trắng trên một cái bảng đen nhỏ. MÌN, NGUY HIỂM TRÁNH XA, bên dưới anh vẽ một cái đầu lâu và hai xương chéo.

 

Trong quá trình chiến đấu tại thành phố Sài Gòn ngay giữa lòng địch, chưa lần nào anh đánh trái một cách công khai như lần này. Mọi khi mỗi lần đánh trái, Hữu phải đi trinh sát địa hình rất kỹ, phải nghiên cứu quy luật đi lại của địch, phải ngụy trang mìn trái rất công phu, nhưng lần này thì không.

 

Sáng sớm ngày mai anh sẽ đem trái mìn này lên cái cầu nổi gần chợ Bến Thành đặt ở đấy, trương “bảng hiệu” đàng hoàng cho đồng bào tránh xa, đồng thời cũng để nhử địch tới. Anh sẽ ngồi uống cà-phê với đồng chí Bảy Trung chờ xem kết quả.

 

Nghĩ đến lúc đó Hữu mỉm cười và anh nhắm mắt lại. Giấc ngủ đến dễ dàng và êm ái như một cơn gió nhẹ.

 

*

 

Năm giờ sáng, lúc trên cầu nổi chưa có ai, Hữu đặt ngay trái mìn giữa lối đi và dựng tấm bảng có cái đầu lâu và xương chéo bên cạnh. Đồng chí Bảy Trung chờ anh trên chiếc Honda 67 đậu sát công viên Quách Thị Trang. Hữu đi nhanh xuống cầu thang và đến ngồi sau lưng anh Bảy Trung. Chiếc xe vọt đi về hướng đường Trần Hưng Đạo.

 

- Coi có thằng nào theo dõi không - Bảy Trung dặn.

 

Hữu đã để ý cảnh giác từ trước nhưng anh cũng ngoái cổ nhìn lại một lần nữa. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ tụi mật vụ theo dõi. Hai người lái xe vòng vòng một lúc rồi quẹo xuống bến Bạch Đằng. Vừa rẽ lên đường Lê Lợi anh bị một toán quân cảnh thổi còi chặn lại.

 

Bảy Trung cười hề hề:

 

- Không sao. Nó “ba-rê” đường. Chắc nó mới phát giác ra trái mìn của mình.

 

Hai người quẹo xe vô một quán cà-phê ngồi chờ kết quả.

 

Trong lúc ấy nơi cầu nổi bọn cảnh sát dã chiến bao vây cả khu vực bùng binh chợ Bến Thành. Chiếc xe Jeep nửa trắng nửa xanh đậu ngay dưới cầu thang, cần ăng-ten chổng lên trời, rung động nhấp nhô. Máy PRC 10 kêu rè rè, chốc chốc lại nổi lên một giọng nói ồm ồm gay gắt. Lúc này hai tên chuyên viên gỡ mìn đã bước lên tới bực thang cuối cùng của cầu nổi. Chúng đứng im, mỗi đứa mỗi bên, quan sát trận địa. Thằng thứ nhứt chậm chạp bước tới gần trái mìn. Khi còn cách trái mìn chừng ba thước hắn dừng lại, nhẹ nhàng ngồi xuống quan sát một lúc. Trước mặt hắn là một cái hộp giấy thô sơ màu đất sét, có một sợi dây điện lòi ra ngoài. Cạnh đó là một tấm bảng nhỏ vẽ hình đầu lâu xương chéo. Loại mìn gì đây? Suốt mấy năm học hỏi tận bên Mỹ hắn chưa hề thấy có trái mìn nào kỳ cục như thế. Nhưng mà... hắn nghĩ, cũng có thể đây chỉ là một cái hộp giấy đựng đất cát mà Việt cộng đem bỏ đây để phá mình chơi thôi. Hắn nghi thì nghi thế nhưng cũng thấy ngại ngại. Cuối cùng hắn đứng lên và quay gót. Thấy thằng này quay lại, tên chuyên viên thứ hai hỏi:

 

- Sao?

 

Hắn lắc đầu:

 

- Khó hiểu.

 

Tên thứ hai chẳng nói chẳng rằng, xăm xăm đi tới. Gã tới thật gần và ngồi xuống. Gã ngồi im như thế rất lâu rồi rút trong túi ra một cái kìm bấm cán bọc nhựa. Gã cắt sợi dây điện lòi ra ngoài. Xong việc gã đưa hai tay cầm lấy trái mìn và nâng nhẹ lên. Không thấy động tịnh gì gã bước đi. Hai tay cầm chắc trái mìn.

 

Gã khoe với thằng chuyên viên kia:

 

- Tao cắt sợi dây điện là xong.

 

Bên dưới cầu thang, tụi cảnh sát cũng cười thích thú. Mấy cái bản mặt ngước lên nhìn người hùng gỡ mìn đứng trên đầu cầu thang giơ một tay lên trời chào chiến thắng.

 

Gã bước chân xuống mấy bậc thang. Một bậc, hai bậc. Không, bàn chân gã chưa kịp chạm tới bậc thứ hai thì độ dốc đã làm cho con thoi nhỏ trong trái mìn chạy xuống chạm vào mạch điện phía dưới. Mìn phát nổ. Gã rú lên một tiếng và từ trên cao lao xuống đất như một quả bóng. Tên chuyên viên còn lại cũng té nhào và lăn xuống cầu thang, mình mẩy đầy máu.

 

Trong quán cà phê ở đầu đường Lê Lợi, Hữu và anh Bảy Trung nheo mắt nhìn nhau.

 

- Đẹp quá!.

 

Lúc hai người đứng lên trở ra đường, Bảy Trung chợt hỏi:

 

- Nghe nói anh đã tìm được việc làm?

 

- Vâng, dạy học.

 

- Khá không?

 

- Cũng tạm được nhưng tôi ngại trường nó sắp dẹp tiệm anh à.

 

9

 

Trường Việt Mỹ dẹp tiệm, Một tuần sau anh có việc mới. Câu chuyện như thế này:

 

Một buổi chiều Hữu lần mò tới nhà một người đồng hương kiếm một bữa cơm thì được biết anh ta bị bắt lính trong khi đang đi bán báo. Người vợ tỏ ý nhờ Hữu thay anh ta làm công việc ấy để cứu vãn tình thế. Hữu chộp ngay cơ hội.

 

Đúng ba giờ rưỡi Hữu cưỡi chiếc mô-bi-lét ra khỏi nhà. Ánh nắng vẫn còn gay gắt. Xe chạy qua những chỗ gồ ghề khiến cho hai túi vải phía sau đập vào xe kêu “bạch, bạch”. Những tiếng động ấy cũng như những đứa con nít đứng chờ báo về trên các vỉa hè, những thằng nhóc đầu cạo trọc lóc lượn Honda như bươm bướm, chở hàng ngàn tờ báo mà phóng xe như bay… trở nên thân mật và gắn liền vào đời sống anh.

 

Đồng nghiệp của Hữu bây giờ không phải là những nhà giáo đạo mạo mà là những anh thương phế binh, những chị sồn sồn có chồng đi lính hay chết trận, những cô gái choai choai luôn miệng chưởi thề... Bạn bè của anh còn là những đứa con nít lì lợm, rắn mắt, ăn bận lôi thôi... là những đứa bé gái lúc nào cũng chen lấn, xô đẩy, giành giựt mỗi lần người ta chở báo ở Hai Chí về. Hữu cũng như mọi người, cũng chen lấn, cười cợt, la lối.

 

Hữu dựng xe ở vỉa hè. Bạn bè của anh đã có mặt đông đủ cả. Bọn nhỏ và các cô gái thường tới sớm, có lẽ vì thích ăn vặt. Thấy Hữu đến, người đàn bà bán đu đủ ướp nước đá hỏi ngay:

 

- Ăn một dĩa chơi, nghe em?

 

Hữu giơ một ngón tay, xong ôm chồng báo cũ đi lại phía người đàn bà đang cắm cúi ghi ghi chép chép giữa bốn năm người khác đang đợi chung quanh.

 

Hữu đưa cái bông báo và chồng báo cũ cho chị ta.

 

Người đàn bà ngẩng lên, nói:

 

- Đổi gì nhiều quá vậy, cha?

 

- Thôi mà, dư có hai tờ, nhận đại đi, ở nhà tôi còn cả đống Sóng Thần.

 

Người đàn bà hững hờ cầm hai tờ báo cũ thảy ra trước mắt Hữu và nói:

 

- Không được đâu.

 

Hữu lấy hai tờ báo cũ đem bỏ vào túi vải rồi lại ngồi nơi vỉa hè tiếp tục ăn phần đu đủ còn lại. Cô bạn đồng nghiệp ghẹo một câu:

 

- Bữa nay bị bà xã rầy sao coi bộ hốc hác quá?

 

- Đâu có, tôi còn độc thân.

 

Thình lình có tiếng Honda rú lên. Mọi người đều nhìn ra đường. Hữu ném trả chiếc đĩa nhựa cho bà hàng rong rồi chạy lại phía người đàn bà chia báo.

 

- Báo về! Báo về!

 

Tiếng tụi nhỏ thét lên lanh lảnh. Bọn người chầu chực ở vỉa hè đều lăng xăng sửa soạn, cười nói, la ó. Hữu đã quen với một lô những mẩu đối thoại hỗn độn, ồn ào, tục tĩu cùng dấy lên một lúc xen lẫn những tiếng cười.

 

- Chị Nghĩa! Chị Nghĩa! Cho tôi hăm lăm đôi.

 

- Tui bốn chục tờ Điện Tín.

 

- Đó, mày với chú Hai một trăm đó. Cái bà nhỏ này làm gì cứ nhào vô. Tao ngắt trong háng mày cho mà coi.

 

- Cô Dư, để tui xếp cho, cô đi lãnh đi. Cộng chung hai cái “bông” lại. Tui bốn lăm tờ Đại Dân Tộc.

 

- Báo về! Báo về!

 

- Giang ra coi! Cái lũ quỷ này.

 

Người đàn bà trở cán chổi đập lên tay lũ nhỏ. Mấy chục bàn tay chìa ra trước mặt chị.

 

- Em! Em! Em! Chị Nghĩa ơi! Em đây! Gạch đi! Gạch đi!

 

Những cái bông báo chồng lên nhau rồi bị hất xuống, bàn tay nào cũng cố đặt cái bông của mình lên trên. Chị đàn bà xòe bàn tay ra một cái như chiếc nan quạt đều riếng rồi tay kia chị đếm lia lịa:

 

- Năm, mười, mười lăm...

 

Bàn tay đếm nhanh như cái máy. Bảy chục tờ là bảy chục tờ. Không sai một ly, không lộn một mảy.

 

Báo về càng lúc càng dồn dập. Hữu xếp lia lịa. Cô Dư đi lãnh về, ném đó cho anh rồi lại xông vô đám đông.

 

- Năm, mười, mười lăm, hai mươi...

 

Cọc báo lại bị ném một cái bịch ra phía trước, lập tức có bàn tay lấy đi. Nơi vỉa hè, tiếng xếp báo soàn soạt không dứt.

 

Trời bỗng tối sầm lại và có tiếng kêu của nhiều người:

 

- Lẹ lên! Lẹ lên! Mưa tới nơi rồi kìa!

 

Cô Dư hấp tấp chạy lại lấy cái tấm bạt ra khỏi túi vải. Hữu ngồi lên chồng báo để chặn cho khỏi bay và hai tay vẫn đếm báo xoèn xoẹt.

 

Mưa đã rơi lộp độp. Hữu bỏ thí xấp báo chưa xếp lên chồng báo đã xếp xong rồi cúi khom xuống, ôm luôn cả chồng báo của cô Dư chạy tìm một chỗ núp. Đó là mái hiên của một gian hàng sơn vẽ bảng số xe hơi và xe gắn máy, mùi sơn hăng hắc, khó chịu. Bọn Hữu chen chúc trong cái hiên chật hẹp đó và tuy nước mưa tạt vào theo từng cơn gió nhưng công việc vẫn không thể ngừng. Hữu vẫn xếp báo lia lịa để tranh thủ với mọi người.

 

Mấy người thợ vẽ bảng số ở trong nhà ngó ra la lối:

 

- Tránh đường cho người ta đi chớ, mấy cha.

 

Hữu co lại. Ép sát vô tường một chút nữa, tránh sang một bên chừa lối ra vào.

 

Lúc ấy ngoài đường có một chiếc Mazda đỏ tía vừa đậu lại. Một cô gái trạc hai mươi tuổi, khoác một chiếc áo mưa trắng, đi giày da cao cổ cũng màu trắng, tay cầm chiếc dù màu xanh da trời và đôi kính trắng thanh nhã càng làm cho khuôn mặt xinh đẹp ấy thêm phần trí thức.

 

Người con gái bước thẳng vào gian hàng vẽ bảng số xe, dường như để lấy hàng thì phải. Cô gái do dự khi thấy cửa hàng có quá nhiều người đứng chen chúc phía trước. Tuy nhiên cô ta cũng thận trọng bước vào cái lối đi hẹp mà Hữu vừa chừa ra. Hữu không hay có người bước vào, anh đặt chồng báo vừa xếp xong ra trước mặt vừa lúc một chiếc giày da trắng tinh, xinh xắn đặt lên đó.

 

- A!

 

Hữu kêu lên và cô gái cúi xuống:

 

- Xin lỗi chú. Tôi có thể mua tờ báo ấy không?

 

Hữu vội quay mặt đi. Thôi, khỏi xin lỗi Diệp ơi, chiều nay có hai giờ Quốc Tế Công Pháp của giáo sư Hòa sao Diệp không đi học. Trời mưa lái xe đi chơi thú hơn phải không?

 

Hữu chẳng nói chẳng rằng, cúi xuống ôm chồng báo bỏ đi nơi khác.

 

10

 

Chiếc Blue Bird sơn trắng mang số T lượn một vòng ở ngã tư rồi đậu lại trước một gian hàng bán mỹ phẩm lộng lẫy tại đường Gia Long.

 

Trong bộ âu phục thời trang thật gọn gàng Tú mở cửa xe bước xuống, với lấy cái xách tay rồi khóa cửa xe lại, bước hấp tấp trên hè phố.

 

Chiều nay nàng không có gì phải vội vàng. Nàng thích đi từ gian hàng này đến gian hàng khác để ngắm nghía những món hàng sang trọng đủ mode, đủ cỡ, đủ màu sắc.

 

Tú mua một đôi giày cao gót màu bạc và một chiếc dù đen. Đã cuối tháng mười một dương lịch, trời vào Đông và ở Qui Nhơn mùa Đông là mùa mưa. Nàng đã sống ở đây khá lâu và đã quen với thời tiết. Những cơn mưa ở đây tuy không kéo dài hàng tuần nhưng mưa rất to.

 

Tú cho xe rảo qua phố một vòng ngắm thiên hạ rồi trở về ngôi nhà xinh xắn của nàng ở đường Ngô Quyền. Đó là một khu vực khá yên tĩnh. Nhà của nàng tuy chỉ là một căn nhà trệt nhưng có một phòng khách, hai phòng ngủ, một phòng làm việc của chồng nàng, một phòng ăn và nhà bếp.

 

Nhà nằm sâu trong một khu đất rộng trồng nhiều phượng, muồng, hoa lài và một cây me lớn.

 

Cây me cao, cành lá xum xuê, xòe thành một cái tàng rộng, dày, nhiều tầng như những mái vòm lớn lấp lánh ánh nắng buổi trưa hay tràn ngập bóng tối vào lúc hoàng hôn.

 

Chính nàng đã chọn ngôi nhà này giữa hàng chục ngôi nhà cho thuê khác trong thành phố và chồng nàng cũng có vẻ thích ngôi nhà này lắm.

 

Hai người quen nhau trong một trường hợp khá đặc biệt. Hôm ấy Brayker đến thăm một người bạn tại văn phòng USAID. Và Tú là một nhân viên tạp dịch ở đó.

 

Viên trưởng phòng thích nàng chỉ vì nàng là một người giúp việc thành thật nhất và lương thiện nhất trong số những người Việt Nam mà ông ta đã tiếp xúc kể cả viên tỉnh trưởng Bình Định.

 

Văn phòng còn có một cô gái Việt Nam khác làm việc với tư cách thư ký đánh máy. Cô ta trắng trẻo, ăn diện thời trang và khá quyến rũ nhờ thân hình hấp dẫn. Những người Mỹ trong phòng đều thích tỏ cử chỉ thân mật và đôi khi sỗ sàng với cô. Lúc Tú mới được tuyển vào giúp việc nơi này trông thấy cảnh đó nàng ngạc nhiên hỏi riêng cô ta thì cô ta cười và giảng giải cho nàng hiểu:

 

- Em thắc mắc làm gì. Trời sinh người con gái ra là để cho người ta nựng, người ta vuốt ve, mơn trớn, nâng niu. Em không biết Việt Nam mình có câu ca dao “Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta ghẹo” hay sao?

 

Lời giảng giải của “người-con-gái-Việt-Nam-da-vàng” này thật chí lý. Tú không biết cãi thế nào nhưng trong thâm tâm, nàng vẫn thấy có cái gì sai lầm trong lối biện luận ấy.

 

Tú bưng khay nước ngọt lên mời khách theo lệnh của ông trưởng phòng. Brayker nhìn nàng, nói cám ơn và Tú nhận ra trong đôi mắt ấy có vẻ gì ngạc nhiên thích thú. Khi Tú đi rồi Brayker hỏi cô thư ký:

 

- Cô vừa rồi tên gì?

 

- Tú.

 

Lát sau Brayker nói với lão già:

 

- Cô ta trông giống như một cô gái Hạ-uy-di.

 

Hai người nói chuyện một lúc nữa rồi khách cáo từ.

 

Brayker đi dọc theo dãy nhà trệt để ra cổng. Trên đường đi hắn gặp lại Tú. Hắn dừng lại và bằng một giọng dịu dàng hắn hỏi:

 

- Cô tên là Tú?

 

Tú đoán ngay được câu hỏi, nàng mỉm cười đáp vâng. Hôm ấy nàng mặc một bộ âu phục tầm thường rẻ tiền và quá đơn giản, nhưng chính cái vẻ chắc chắc của nước da sạm nắng và cái vẻ gì rừng rú man dại trong đôi mắt đen sâu thẳm kia đã lôi cuốn được Brayker.

 

Hắn cầm bàn tay của Tú lên, dùng bàn tay kia vuốt ve và mỉm cười nói:

 

- Cô đi ăn tối với tôi nhé?

 

Tú không hiểu hết ý nghĩa câu nói, nàng chỉ nghe được có mỗi một tiếng dinner vì tiếng ấy rất quen thuộc ở đây thế rồi nàng gật đầu và đáp vâng.

 

Nàng đã rắp tâm sống cuộc đời khác và lời giảng giải của cô thư ký ngày nào tuy nàng không đồng ý nhưng nàng cũng thấy không có gì quá lố nên cho dù cái câu nói dài mà nàng chỉ hiểu được một chữ dinner ấy có mang ý nghĩa nào đi nữa, nàng cũng đồng ý như thường. Dầu sao Brayker vẫn là một người dễ mến và đây có thể là một dịp may hiếm có trong đời nàng. Nàng không được phép để sẩy mất.

 

Chiều hôm ấy Brayker đem xe hơi đến đón nàng trước cổng. Nàng có vẻ ngượng về cách ăn mặc của mình nhưng hắn lại không chú ý gì đến điểm ấy và tỏ ra rất thân mật với nàng.

 

Trong bữa ăn Tú cố giấu sự ngượng ngập của mình bằng cách ăn thật chậm và luôn luôn ăn sau Brayker, nàng cũng thử uống một chút rượu và thấy thích. Chẳng bao lâu Tú ăn uống tự nhiên và chững chạc hơn nhiều.

 

Những lần ăn tối sau đó Tú đã có mái tóc mới, những bộ âu phục đẹp, và thực tế áo quần đã đổi lốt Tú thành một cô gái khá bắt mắt.

 

Nàng vẫn hằng mong ước trở thành một con người khác và nàng đã trở thành một con người khác thực sự, nàng đâu có luyến tiếc gì cái quá khứ nặng nề đã dày vò, hành hạ, tàn phá nàng. Nàng không ngừng xua đuổi nó và nghĩ rằng mình có quyền sống sung sướng.

 

Ý nghĩ đó làm Tú mỉm cười khi mở cửa phòng bước vào. Nàng cho máy lạnh chạy và bật ngọn đèn vàng. Nàng ưa thứ ánh sáng đậm đà này nên mặc dù trong phòng có đèn nê-ông nàng cũng ít khi dùng tới, thứ ánh sáng ấy sao mà tái nhợt, ốm yếu và thiếu sinh khí.

 

Hơn mười một giờ đêm Brayker trở về, Tú đã ngủ quên từ lúc nào. Hắn mở cửa phòng bằng chiếc chìa khóa riêng rồi cứ để nguyên quần áo như thế mà nằm vật xuống giường trong cơn say mỗi lúc mỗi kéo hắn chìm vào giấc ngủ nặng nhọc.

 

Sáng ra, Tú thức dậy khi nắng đã lên nhưng Brayker vẫn còn ngủ. Thấy hắn còn mặc nguyên quần áo, giày vớ Tú biết là đêm qua hắn đã say rượu vì thế nàng cứ để cho hắn nằm và đi vào phòng tắm.

 

Tiếng nước chảy róc rách làm Brayker tỉnh dậy. Hắn thấy nhức đầu và mỏi hai vai. Hắn cởi giày, cởi quần áo rồi cũng đi thẳng vào phòng tắm. Tú hỏi:

 

- Khi hôm mày làm gì về khuya?

 

- Có tiệc ở Bộ chỉ huy.

 

Brayker cúi xuống phả nước vào mặt thật lâu. Tú hỏi tiếp:

 

- Có chuyện gì mà tiệc tùng vậy?

 

Brayker im lặng, lát sau hắn nói đột ngột:

 

- Cuối tuần này tao về Mỹ.

 

- Về Mỹ à? Sao gấp quá vậy?

 

- Ừ.

 

- Sao mày không báo trước để tao sửa soạn?

 

- Sửa soạn gì? Tao có can thiệp nhưng Bộ tư lệnh không nhận mày đi theo.

 

- Nhưng tao có thai.

 

Brayker quay lại nhìn thẳng vô mặt Tú rất lâu, rồi cái nhìn hướng xuống dưới bụng Tú. Hắn bỏ vào phòng tắm.

 

Tú đứng lên, mở tủ lạnh rót một ly nước uống cạn. Nàng lắng nghe tiếng huýt sáo của Brayker trong phòng tắm và tiếng nước xối rào rào. Tú ngồi đợi. Nỗi tức giận chẹn ngay cổ họng.

 

Lúc Brayker trở ra, Tú nói:

 

- Tao không còn một đồng xu.

 

- Mày cần tiền làm gì? Tiền nhà tao thanh toán xong, mọi chi tiêu tao đã hoàn tất.

 

- Nhưng tao có thai. Con của mày. Tao phải sinh đẻ và nuôi nấng nó.

 

Thằng Mỹ sừng sộ:

 

- Có thai à? Mày giỡn mặt với tao hả?

 

Tú đứng phắt dậy, túm lấy cổ áo hắn:

 

- Sao lại giỡn?

 

Brayker xô Tú ngã xuống nệm. Hắn khoác vội chiếc áo ngoài đóng ập cửa phòng lại và đi thẳng ra chỗ đậu xe.

 

Tú nằm khóc một mình rất lâu và ngủ quên đi. Lúc nàng thức dậy thì trời đã chiều. Nàng thấy đói cồn cào nên trở dậy đánh răng rửa mặt qua loa rồi xuống bếp lấy một ít thịt nguội ăn với mẩu bánh mì còn lại trên bàn ăn.

 

Ăn xong, Tú mặc quần áo, trang điểm qua loa rồi quyết định đi thăm Khuê, cô thư ký làm trong sở cũ của nàng ngày trước. Khuê cũng có chồng Mỹ và cũng bị chồng bỏ rơi khi trở về nước.

 

Khuê thuê một căn phòng nhỏ ở tầng thứ hai. Nàng ở đó từ hai năm nay kể từ khi John về nước. Nàng ở như thế một mình và lâu lâu mới về Tuy Phước thăm đứa con trai tóc vàng đang sống với bà ngoại nó.

 

Tú dừng lại ở cầu thang. Cánh cửa sơn xanh đóng im và có vẻ gì lạnh lẽo. Tú gõ cửa nhưng không thấy tiếng đáp lại nàng lại gõ lần nữa nhưng vẫn im lìm. Tú gọi:

 

- Khuê! Khuê! Mở cửa coi!

 

Bên trong có tiếng trở mình và một giọng nói yếu ớt vọng ra:

 

- Vào đi!

 

Tú xô mạnh cánh cửa, nàng nói:

 

- Cửa gì mà sít quá. Tao tưởng mày khóa.

 

Khuê vẫn không nhúc nhích và không trả lời. Nàng nằm trần truồng trên giường nệm, tay chân buông thả, đôi mắt nhắm nghiền. Những đường nét, những bắp thịt thon, chắc và gợi cảm. Chưa bao giờ Tú thấy Khuê đẹp như lúc ấy. Tú lặng lẽ ngồi xuống bên bạn:

 

- Sao vậy? Say à?

 

Một nụ cười thoáng qua trên đôi môi nhưng phảng phất rất lâu trên khuôn mặt êm ả, đôi mắt vẫn nhắm nghiền, Khuê rên rỉ kêu những tiếng gì không rõ.

 

Tú ngó quanh quất. Bên chiếc guốc hippy đầy bông hoa, mấy lọ bạch phiến nằm lăn lóc dưới sàn nhà.

 

Đầu Khuê nghiêng qua nghiêng lại, trên đôi môi nở hoài nụ cười và khắp người nàng dường như có một lớp phấn thật mỏng, thật êm, thật mịn và mầu nâu. Tú hỏi:

 

- Nói chuyện chút được không?

 

Khuê vẫn nhắm nghiền đôi mắt, càng lúc càng chìm sâu vào cơn mê ảo giác của nàng. Tú ngồi đợi một lát rồi coi đồng hồ. Hơn tám giờ đêm. Có tiếng Khuê nói thật nhỏ:

 

- Cho tao ly nước.

 

Tú nghiêng người với lấy chai nước lọc trên chiếc bàn đầu giường rồi rót đầy một ly đưa cho bạn. Khuê không ngửng lên mà chỉ xoay người lại một chút rồi ngửa cổ uống. Nước đổ vãi ra nệm làm ướt một mảng tóc và một góc “ra”. Tú đỡ lấy cái ly không và vừa đặt trở lại trên bàn thì đã nghe Khuê kêu:

 

- Ly nữa!

 

Tú lại rót một ly đầy và lần này thì nàng nâng bạn dậy. Khuê cầm lấy ly nước và uống từng ngụm lớn. Nàng mỉm cười và nằm xuống, thân thể duỗi ra, buông lơi, thoải mái. Tú dùng chiếc khăn tay thấm nước trên má bạn và khi quay lại cất cái ly thì nàng nhận ra một tên lính Mỹ đã đứng ngay cửa từ lúc nào.

 

Thấy vẻ mặt ngạc nhiên của Tú, gã cười, ném chiếc mũ vải xuống mông Khuê rồi đóng cửa lại thật mạnh. Tú lay bạn:

 

- Khuê, dậy tiếp khách đi!

 

Khuê mở mắt ra nhìn tên Mỹ rồi lại nhắm mắt, nàng nói:

 

- Bảo nó ngồi đó đi.

 

Tên Mỹ vỗ tay lên mông Khuê thật mạnh, hắn có vẻ thích thú kỳ lạ, không hiểu hắn thích vì thấy Khuê trần truồng hay vì gặp một người con gái lạ trong căn phòng kín mít này. Hắn nói:

 

- Betty, ngủ đi!

 

Rồi quay sang Tú hắn tiếp:

 

- Bạn của Betty không có ai xinh bằng cô.

 

Rất nhanh nàng nghĩ đến khuôn mặt đỏ gay của thằng chồng trước của Khuê với mái tóc vàng, đôi mắt xanh, một thằng Mỹ mà mỗi lần gặp, Tú thường nói đùa với Khuê là “Mày có thằng chồng nhiều màu” nhưng dẫu sao thì thằng ấy cũng còn dễ coi hơn thằng này.

 

Tú không dám quan sát kỹ hắn nhưng thoạt trông nàng đã thấy hắn đáng sợ và có cái vẻ gì rất man dã. Tú lay Khuê dậy một lần nữa và nói:

 

- Thôi, mày có khách, tao về nghen.

 

Và không đợi bạn trả lời, Tú xách ví tiến ra cửa. Tên Mỹ đứng dậy rất nhanh. Hắn chỉ cần nhảy một cái là đã đứng chặn ngay trước mặt Tú. Cơn sợ chạy lan khắp người nàng. Tú cố trấn tĩnh, chống tay vào cạnh sườn, nói:

 

- Tránh ra. Chồng tao là M.P mày coi chừng!

 

Nàng vừa nói dứt câu thì chỉ thấy hắn lạng người đi một cái nàng đã bị nhấc bổng lên. Hai cánh tay rắn chắc của hắn ôm sát nàng vào ngực và hắn bật cười tiến lại phía giường Khuê đang nằm.

 

Nghe động, Khuê hé mắt ra nhìn, thấy cảnh ấy, nàng lại cười.

 

Và đôi mi khép lại, rơi hẫng vào hư vô, mặc cho Tú la ó chống cự tuyệt vọng.

 

Khi tên Mỹ xé nát hết chiếc sơ-mi của nàng thì Tú cũng cắn được một mảng thịt trên vai hắn. Nàng nghiến chặt hàm răng lại nhưng tên Mỹ đã thành công rồi. Cơn đau trên bả vai không thắng nổi cơn mê đắm nhục dục. Hắn bình tĩnh tiếp tục cho đến khi cảm thấy hàm răng của người con gái Việt Nam da vàng buông lơi dần. Tú nhắm mắt lại và bỗng dưng một giọt nước ấm ở đâu nhểu xuống cổ nàng rồi một giọt nữa tiếp theo. Nàng mở mắt và nhận thấy vết cắn nơi cái vai hắn đang rỉ máu.

 

Khi tấm thân nặng nề của tên Mỹ rời khỏi người Tú thì nàng cố gắng ngồi dậy dù cảm thấy tay chân rã rời.

 

Nàng cúi xuống đất lấy chiếc quần Tây lên mặc vội vào rồi đi tìm cái áo.

 

Cái áo hoa mong manh bị hắn ném dưới chân bàn, rách tả tơi thành nhiều mảnh. Nàng cầm lên rồi vò lại thảy vào sọt rác xong, nàng đến tủ áo của Khuê mượn tạm một chiếc sơ-mi khoác vào người rồi mở cửa phòng hối hả xuống thang gác ra đường đón một chiếc xích-lô đạp.

 

Đã hơn mười giờ đêm.

 

Khi đến nhà Tú thấy choáng váng, nàng bước lên mấy bực thềm tiến lại phía cửa định bật công tắc thì bị một bàn tay từ trong bóng tối vươn ra, nắm lấy cổ tay nàng, Tú rú khẽ:

 

- Ai vậy?

 

Một bóng đen ốm nhom vừa nương theo cánh tay của Tú mà đứng dậy. Đèn bật sáng. Tú hét:

 

- Thằng chó! Mày làm gì đây?

 

Cang năn nỉ:

 

- Đói quá. Chị cho em xin vài ngàn.

 

Tú gạt tay nó ra trong một cơn giận mãnh liệt:

 

- Thây kệ mày! Đi tìm thằng Sáu Cùi mà xin nó!

 

Cang tiếp tục van nài:

 

- Tội nghiệp em mà chị Tám.

 

Nó bước tới một bước, đưa tay rờ lên cái xách của Tú. Nàng điên tiết đánh mạnh vào cánh tay xương xẩu của nó khiến nó lảo đảo lùi lại. Tú thuận tay tháo chiếc giày ném thẳng vào người Cang rồi lách người vào phòng đóng ập cửa lại.

 

Cang ôm chiếc giày của chị ngang bụng, nhăn mặt. Nó đưa chiếc giày ra ánh sáng săm soi một lúc và khi cảm thấy không thể làm gì được với mỗi một chiếc giày, nó buồn bã cúi xuống, đặt chiếc giày ngay trước cánh cửa đóng kín rồi lủi thủi đi ra ngoài đêm.

 

Đào Hiếu

(còn tiếp)

Tình Ca. Phạm Duy

 


 

_______________________________________________________





Trang Qu
ảng Cáo



kmd-content


blank