DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,931,009

Giữa Cơn Lốc - Đào Hiếu (từ chương 5-7)

15 Tháng Giêng 201312:00 SA(Xem: 4370)
Giữa Cơn Lốc - Đào Hiếu (từ chương 5-7)

Giữa Cơn Lốc


thieu_nu-content

hình minh họa

5. 5

21

 

Có lẽ trời đã sáng. Trên khung cửa kính trắng đục của cầu thang đã có một vệt nắng. Tú quơ bàn chân tìm chiếc mền nhà binh và dùng ngón chân cái kẹp một chéo, kéo lên. Tú đắp mền lại lên tới tận cổ. Một chút nữa đây các cô y tá của nhà thương sẽ đến và mở tung hết các cửa sổ trong phòng theo lệnh của bác sĩ và giải thích là để cho thoáng khí và giết vi trùng nhưng dù sao mở cửa lúc sáng sớm cũng làm Tú ớn lạnh và khó chịu mặc dù nàng vốn có bản chất khỏe mạnh sẵn.

 

Trước khi sinh Tú đã có ý định thương lượng với cô nữ hộ sinh để có thể nằm lại nhà thương chừng mười ngày nhưng những phiền phức và bạc bẽo của nhà thương làm nàng buồn tủi và muốn về gấp, hơn nữa nàng cảm thấy quá cô đơn ở đây và không thể nào chịu được những nụ cười kín đáo của những bà y công khi thay tã hay pha sữa cho con nàng bú.

 

Tú ngồi dậy và sẽ vén mùng nhìn đứa con đang ngủ. Nàng cố tìm kiếm trên khuôn mặt ấy một chút gì của con người nàng nhưng nàng thảng thốt thấy đứa bé thật hoàn toàn xa lạ.

 

Lẽ ra nó phải được sinh ra trong một gia đình Mỹ, ở tận cái nơi xa xôi nào đó, lẽ ra nó sẽ lớn lên và nói thứ ngôn ngữ của cha ông nó nhưng không đâu, cái người ngoại quốc nhỏ bé này rồi sẽ lớn lên trong vòng tay nàng, trong gia đình nàng và sẽ gọi nàng bằng mẹ, sẽ nói tiếng Việt Nam với giọng Bình Định hẵn hòi.

 

Tú thở dài nằm xuống. Tạo hóa rồi ra cũng vô tình như cỏ cây, nếu không, làm sao có sự kết hợp bi thảm này?

 

Sáu tháng qua, một thời gian đủ dài để làm đảo lộn cuộc đời nàng. Ngày Brayker về nước, cái thai mới được ba tháng. Cả nàng lẫn Brayker đều biết rằng đó là giọt máu của anh ta nhưng giọt máu ấy đã không đủ sức để làm người sĩ quan thủy quân lục chiến ấy thay đổi ý định.

 

Hắn không thể đem nàng về nước và nàng phải ở lại. Nàng đã dùng cái bào thai để thuyết phục hắn, van nài hắn cho nàng về Mỹ nhưng hắn không phải là kẻ dễ thuyết phục, dễ xuôi lòng.

 

- Em giống như cô gái Hạ-uy-di.

 

Tú mơ tưởng tới hòn đảo thơ mộng mà Brayker đã vẽ ra trong trí nàng cái đêm đầu tiên trên bãi biển. Cái thời trăng mật ấy đã qua mất tự kiếp nào có lẽ không còn để lại một chút dấu tích nào trong trí hắn nhưng đối với nàng nó vẫn là những tháng ngày xinh đẹp nhất, tươi mát nhất và sung sướng nhất.

 

Chiến tranh tàn phá ở đâu, hung dữ ở đâu nhưng với nàng, nó là bộ mặt béo tốt của Brayker, là chiếc Blue Bird lộng lẫy, là những quán ăn sang trọng, những phố phường. Ngày trước khi chưa có cuộc chiến này nàng làm gì có những thứ đó.

 

Nhưng giờ đây, chiến tranh đã để lại cho nàng một món nợ lớn.

 

Chiến tranh đã trở mặt với nàng.

 

22

 

Cuộc hành quân đã khởi diễn được hai ngày mà chưa gặp một trận đụng độ nào đáng kể. Ngày thứ ba toán quân được lệnh lục soát một làng nhỏ hẻo lánh, hẻo lánh đến nỗi người ta khó có thể tưởng tượng ở một nơi như vậy lại có thể có người ở. Hơn một chục nóc nhà lợp lá dừa, vách cũng lợp lá lụp xụp nhưng nhà nào cũng có hầm trú ẩn kiên cố đắp bằng bùn đen dày cả thước tây.

 

Đồng ruộng chung quanh hầu như bỏ hoang và lỗ chỗ những vết bom do B52 thả. Phần lớn cây cối bị bom na-pan đốt cháy trơ trụi như những cây cột trồng so le vô ích trong một nền đất xám ngoét, lổng chổng những rác rưới xen lẫn với cỏ mới mọc.

 

Khi toán quân của trung sĩ Nghi vừa tới đầu làng thì được tin làng này bị bịnh dịch hạch và binh sĩ được lệnh cấm uống nước giếng trừ phi nấu chín.

 

Cánh quân của thiếu úy Văn cũng đang đóng trong một ngôi đình cũ bỏ hoang sau một buổi sáng lùng sục ráo riết khắp làng. Bọn lính của Văn treo võng ngoài chái đình nằm nghỉ trưa. Máy truyền tin, súng ống đạn dược để rải rác quanh các cây cột đầy vết đạn, rêu phong và mạng nhện.

 

Một người đàn bà quảy gánh nước đi ngang qua trước đình, bà có vẻ không chú ý gì đến sự có mặt của toán lính, cứ xăm xăm mà đi lên một cái dốc khuất giữa bóng cây.

 

Phía sau đình có tiếng kèn ai oán vang lên giữa buổi trưa hè. Tiếng kèn cao mà thống thiết, mỗi lúc nghe mỗi gần. Một người nông dân rắn chắc vác một chiếc chiếu gói xác trên vai. Hai đầu chiếu bẻ gập lại cột bằng sợi mây. Người chết có vẻ là một người đàn bà hoặc một người đàn ông nhỏ con. Ba bốn người đi theo sau mồ hôi nhễ nhại. Họ không có vẻ ảo não nhưng khắc khổ, chịu đựng. Người đàn bà mặc áo tang quên buộc dây rút nên tà áo bay phất phơ để ló chiếc áo cụt đen mốc thếch phía trong. Bà ẵm một đứa con nít ở truồng nhưng vẫn chít khăn tang trên đầu. Người thổi kèn già nua, đôi mắt lem nhem gần như không thấy đường. Ông ta bước đi nghiêng ngả theo người vác xác chết, hai má phồng lên sụp xuống liên hồi. Bọn con nít đứng hai bên đường nhìn đám tang đi bằng những con mắt bình thản mệt mỏi. Đám ma đi xăm xăm, yên lặng nặng nề giữa trưa nắng gắt.

 

Chỉ một lúc sau lại có một người đàn ông vác một chiếc chiếu gói xác chết cũng đi về hướng đám ma lúc nãy nhưng lần này thì ông đi có một mình với một đứa nhỏ, không có người thổi kèn.

 

Một già, một trẻ.

 

Không ai khóc.

 

Bọn lính đứng xúm xít quanh các gốc cây khô phía trong hàng rào ngó ra. Trung sĩ Nghi có dáng mệt mỏi gắng gượng, trong khi thiếu úy Văn lộ vẻ sợ hãi. Anh ta nói:

 

- Có khi người ta phải đốt cháy cả một thành phố để ngăn bệnh dịch hạch lan tràn đến nơi khác, chúng ta phải rời khỏi nơi này sớm.

 

- Tôi cũng nghĩ như thế. Nghi nói:

 

Viên cố vấn Mỹ cũng vừa kéo toán quân của hắn trở về, hắn bị thương nơi cánh tay trái, mặt hầm hầm. Hai tên lính Mỹ đi sau hắn khiêng một cái băng ca. Người chết được phủ một tấm poncho bằng vải dù.

 

Thiếu úy Văn hỏi cố vấn Mỹ:

 

- Sao vậy thiếu úy?

 

Cố vấn Mỹ nói:

 

- Mới bị ngay tức thì. Thằng trung sĩ của tao bị sa hầm chông. Chông tre dài quá đâm nó lòi ruột.

 

Thiếu úy Văn chỉ tay về phía hai người nông dân bị trói tay bịt mắt vừa bị bọn lính dẫn tới:

 

- Tụi này bẫy à?

 

- Tao cho lục xét khu vực chung quanh bắt được hai thằng vi-xi này.

 

Trung sĩ Nghi giải thích với tên cố vấn Mỹ bằng một thứ tiếng Anh vấp váp:

 

- Không có chứng cớ rõ rệt, thiếu úy bắt chúng nó làm gì?

 

Thằng Mỹ phun toẹt bãi nước miếng xuống đất:

 

- Đợi có chứng cớ rồi ai đền cánh tay của tao đây? Và thằng trung sĩ này nữa?

 

Nghi biện bạch một cách gắng gượng:

 

- Dù sao anh cũng phải hỏi ý kiến thẩm quyền tôi.

 

- God damns! - Thẩm quyền anh! Thẩm quyền anh là cái khỉ khô gì?

 

Hắn quay sang thiếu úy Văn, hỏi:

 

- Sao, ông Văn, ông thấy thế nào?

 

Văn ấp úng:

 

- Tôi không có ý kiến. Tôi không có quyền về vụ này.

 

Nói xong câu đó Văn yên lặng bỏ ra phía bóng cây trong khi tên Mỹ dẫn hai người nông dân ra sân và đi về phía đám ma lúc nãy.

 

Hắn ra lệnh cho hai người nông dân ngừng lại ở một cánh đồng hoang, cách chỗ đóng quân lúc nãy chừng bốn năm trăm mét. Hắn mở khăn bịt mắt cho hai người Việt Nam ra nhưng vẫn giữ dây trói quặp hai tay ra sau lưng. Mặt hai người đàn ông tái mét. Tên Mỹ đẩy hai người đàn ông quỳ xuống, rút khẩu ru-lô ra cầm lăm lăm nơi tay. Hắn cười gằn, hỏi một người:

 

- Mày có gan gài bẫy tụi tao. Vậy mày có gan ngậm đầu súng này không?

 

Người nông dân không hiểu hắn nói gì, toàn thân ông run rẩy, đôi mắt kinh hoàng. Ông cúi gập người lắc đầu lia lịa, miệng nói lắp bắp:

 

- Nô vi-xi, nô vi-xi.

 

Nhưng tên Mỹ chỉ cười. Hắn nói những câu mà chỉ có mình hắn hiểu:

 

- Ngậm đi! Ngậm nòng súng này đi rồi tao tha.

 

Hắn đưa nòng súng vào giữa miệng người nông dân:

 

- Ngậm sâu vô nữa. Ngậm chặt lại rồi tao tha.

 

Đầu người đàn ông lắc lư, hai hàm răng va vào nòng súng lộp cộp, hai môi tái mét, sợ hãi, cuống quýt, hai đầu gối cũng run lên trên cát sạn. Tên Mỹ mặt đỏ gay giữa trưa nắng. Hắn nghểnh đầu súng lên, hất cái mặt người nông dân ngước ra sau, và hắn cúi xuống cái mặt hốt hoảng ấy nói như một người điên:

 

- Ngó đi! Ngó kỹ tao đi rồi kiếp sau tìm mà báo thù.

 

Hắn bấm cò. Người đàn ông ngã ngửa ra phía sau. Xương sọ vỡ vụn, óc bắn ra trên nền đất. Người còn lại kinh hãi chạy băng qua đám ruộng trống trơn chói chang ánh nắng gay gắt.

 

Tên Mỹ chụp khẩu M.16. Hắn bắn từng viên một. Mỗi lần tiếng nổ phát ra người nông dân lại nằm sụp xuống đất rồi lại vùng dậy chạy loạng choạng vì hai tay bị trói quặp ra sau. Đạn xoáy tung đất cát quanh chân nạn nhân. Ngoài ra, chung quanh không có một bụi cây một tảng đá, chỉ có đồng ruộng hoang tàn trơ gốc rạ.

 

Bây giờ tên Mỹ chỉ còn cách người nông dân không đầy mười thước. Hắn cảm thấy cái trò chơi mèo vờn chuột của hắn đã bắt đầu hết thú, nên hắn dừng lại mở khóa liên thanh. Ngay lúc ấy hắn nghe thấy một loạt súng M.16 nổ giòn sau lưng và tiếng Trung sĩ Nghi quát lên:

 

- Dừng tay lại không tôi bắn!

 

Nhưng tên Mỹ đã xoay người rất nhanh, và bắn xối xả vào người hạ sĩ quan quân đội Sài Gòn đáng thương ấy.

 

22

 

Cang mở mắt. Ánh sáng bên ngoài chiếu vô tấm “ra” trắng có in hình hippy làm nổi rõ những đường nét của hoa lá và mặt người. Nó có cảm tưởng như đang nằm trong một cái lồng đèn kéo quân lớn. Nó biết là nắng đã lên cao nhưng cảm giác lành lạnh ở hai bên chân khiến nó biếng dậy.

 

Căn phòng nhỏ bừa bãi nhiều vật dụng mặc dù Tú đã bán đi một số lớn để trang trải nợ nần. Những thứ đồ lặt vặt mà Tú mua sắm hồi còn có tiền bây giờ bán không ai mua, hóa ra không có chỗ chứa nên bị bỏ lăn lóc đầy nhà.

 

Cang ngồi dậy, vẹt tấm “ra” sang một bên hả miệng ngáp liên tiếp mấy cái. Nó ngồi bó gối nhìn ra cửa sổ nghe ngóng tiếng động ngoài đường, đầu tựa lên hai xương ống chân khẳng khiu, mắt lim dim nhìn hai bàn tay khô đét đan vào nhau giữa hai ống quyển.

 

Nó ngồi ngáp vặt một lúc rồi buồn tình khảy móng tay kêu chóc chóc để gỡ những đất đen bám lâu ngày trong những vuốt nhọn vàng khè và cứng ngắc. Gỡ đất trong các móng tay xong nó lại gỡ đất trong các móng chân rồi dùng ngón tay trỏ kỳ cọ quanh hai mắt cá, vê đất lại thành từng viên dài thảy ra nền xi-măng như những cục cứt chuột vung vãi.

 

Chiếc đồng hồ nhỏ trên bàn chỉ mười giờ mười lăm, giờ này chị Tú nó đang ở ngoài Bar với đứa con lai vừa mới biết bò. Nó ghét thằng nhỏ ấy không phải vì thằng nhỏ có mắt xanh tóc vàng nhưng mà vì Tú phải cắt xén phần lớn số tiền nàng vẫn cho nó để mua sữa. Lòng thù ghét càng ngày càng lớn dần theo cái đà bành trướng của những cơn ghiền tàn ác. Ban đầu Tú còn bảo nó giữ con cho nàng rảnh tay đi làm nhưng chỉ được ít lâu Tú lại phải đem con theo vì thằng bé quá khiếp hãi trước những trận đòn tàn nhẫn của người cậu đói thuốc.

 

Cang đứng dậy, khoác tấm “ra” trên vai đi rù rù lại chiếc tủ áo như một bóng ma. Trong túi nó không còn một đồng. Nó dừng lại trước tủ nhưng không nhìn mình trong gương, mắt nó dán chặt vào ổ khóa nơi một ngăn kéo nhỏ. Nó vẫn thường thấy chị nó mở ngăn kéo ấy lấy tiền. Nó đi kiếm một lưỡi dao nhỏ, ném chiếc “ra” xuống sàn nhà rồi quỳ gối trước ngăn kéo, nó đút lưỡi dao nhỏ vào kê ổ khóa, thăm dò và lần mò tìm cách mở nhưng nó loay hoay mãi mà nó vẫn không thành công. Cuối cùng nó dùng một lưỡi dao lớn hơn và dùng thế đòn bẩy tháo bật được ổ khóa ra khỏi ngăn kéo.

 

Nó hấp tấp bới tìm trong những cái bóp da, những túi vải, những tập giấy, những hộp son phấn cũ nhưng vẫn không tìm được một tờ giấy bạc nào. Cuối cùng nó tìm được cái biên lai cầm đồ kẹp trong bìa một cuốn sổ tay nhỏ ghi tiền chi tiêu hàng ngày. Nó cầm tấm biên lai lên coi. Một ngàn rưởi bạc. Cái đồng hồ ô-tô-ma-tic mua tận bên Mỹ mà cầm có ngàn rưởi bạc! Nó lầm bầm chửi thề, nhét tờ biên lai vào cuốn sổ tay rồi đóng ngăn tủ lại. Ngay lúc ấy nó thấy phản chiếu trong gương mấy chiếc “rốp” xinh đẹp và mắc tiền của chị nó treo trên cái giá gỗ ở sát bức tường đối diện.

 

Nó xoay người lại bò tới như con chó con, mũi nó khịt khịt trên mặt vải thơm mùi phấn dễ chịu.

 

Nó lấy hai cái “rốp” ra khỏi giá, cuộn tròn lại trong một tờ báo rồi kẹp vào nách mở cửa phòng ra ngoài, khóa cửa lại, giấu chìa khóa ở chỗ quen thuộc rồi xăm xăm ra đường cái.

 

Hai chiếc “rốp” mới tinh nó bán được có ngàn bạc. Khi người Tàu già đưa hai tờ giấy năm trăm cho nó, nó tóm gọn, bỏ túi rồi đi tìm bọn Sáu Cùi.

 

Trưa hôm sau Cang lủi thủi trở về nhà Duy và đi thẳng xuống bếp lục cơm nguội.

 

Thấy nhà vắng khác thường, nó hơi ngạc nhiên nhưng không muốn mở lời với ai. Người chị dâu thấy nó về chỉ ngẩng nhìn, cau mày khó chịu rồi lại tiếp tục lặt rau muống. Mấy đứa con chị, đứa thì đi học, đứa thì đi chơi cả. Cang lấy muỗng xúc cơm vào một cái tô lớn rồi chan một ít nước cá, dùng muỗng trộn đều rồi vừa múc cơm, vừa ăn vừa đi lững thững ra sau vườn. Thấy đứa cháu nhỏ đang đánh bi với bạn nó, Cang hỏi:

 

- Ba mày đâu?

 

- Ba đi Bồng Sơn.

 

- Chi vậy?

 

- Chú Nghi chết.

 

Cang ngừng nhai, muốn hỏi lại cho rõ nhưng nghĩ sao nó bỏ vô nhà. Nó lại chỗ người chị dâu ngồi lặt rau, đứng im đó một lát rồi hỏi:

 

- Anh Ba đi Bồng Sơn chi vậy?

 

- Đi nhận xác chú Nghi.

 

Cang đặt mạnh tô cơm xuống cái cũi gỗ. Cái dằn khá mạnh khiến cho cơm bắn tóe xuống đất. Người chị dâu hơi ngửng lên một lát, nhìn từ bụng nó xuống chân. Cang xẵng giọng hỏi:

 

- Sao hồi nãy chị không cho tôi biết?

 

- Mày biết ích lợi gì cho ai.

 

Cang làm thinh một lúc lâu rồi lừ đừ quay vô nhà. Nó chọn một chỗ khuất gió nhất ở sau cái tủ áo bên dưới thang gác, nó trải chiếc “ra” bẩn thỉu thường ngày ra nền xi-măng rồi đặt mình xuống, trùm kín mít. Nó co người lại và khóc.

 

6. 6


Phần thứ Hai

 

1

 

Hiệp định Pa-ri về Việt Nam vừa ký kết được ít lâu thì tình hình tù chính trị ở các nhà giam trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Ngoài những đồng chí được chuyển về những trại tập trung để chờ trao trả, số còn lại lớp bị chúng bí mật thủ tiêu, lớp bị chúng ngụy tạo hồ sơ để cải thành tù thường phạm nhằm mục đích né tránh việc trao trả cán bộ chiến sĩ theo các điều khoản được quy định trong hiệp định Pa-ri.

 

Hữu nằm trong số tù chính trị ấy.

 

Anh bị chuyển về phòng giam tập thể này từ hơn một tháng nay. Đây là một phòng giam khá rộng và đông người gồm đủ mọi thành phần: trộm cắp, du đãng, giết người, xì ke ma túy. Tất cả phần lớn đều ở trần, chỉ mặc quần đùi. Họ nằm ngồi ngổn ngang trong xó tối, dưới gầm các bục xi-măng hay đứng tựa song sắt nhìn ra ngoài.

 

Suốt bốn năm ở nhà lao Tân Hiệp, Hữu đã nếm đủ mùi tra tấn, dụ dỗ, lừa đảo và đàn áp của bọn đầu trâu mặt ngựa nơi đây. Từ trại “kỷ luật” âm u bị còng tay còng chân đến những phòng “biệt giam” chật hẹp, tối tăm, chen chúc, từ những lần chống chào cờ đến những ngày tuyệt thực … tất cả đã diễn ra quyết liệt gay gắt và đã phải đương đầu với những cuộc đàn áp dã man, đẫm máu.

 

Hữu đã trải qua nhiều thử thách, nhiều tình huống nhưng chưa có lần nào anh lại bị nhốt chung trong một trại giam thường phạm với đủ mọi thành phần như thế này.

 

Hai hôm nay anh lên cơn sốt, anh thường ngủ mê man và mỗi lần thức dậy đều thấy miệng lưỡi khô rát, nhiều lần khạc ra máu. Đối với những bạn tù mới này thì đúng là Hữu bị ho lao nhưng riêng anh, trong những năm qua, anh đã nhiều lần khạc ra máu như thế và anh hiểu đây chỉ là do bịnh cúm làm cho những mạch máu trong cổ họng bị sưng và bể ra mà thôi. Tuy vậy Hữu quyết định nằm lì và nhịn ăn cho cơ thể suy yếu thêm. Đây là một cơ hội tốt để chúng đưa anh đi bệnh viện và trong những dịp như thế biết đâu anh lại chẳng có cơ hội chạy thoát.

 

Hữu vạch sẵn trong đầu một kế hoạch vượt ngục. Buổi tối anh bắt chuyện với Được, một thanh niên gốc du đãng tương đối dễ thương nhất trại.

 

- Anh Được à, mấy hôm nay tôi bị sốt rét, tối ngủ lạnh quá. Tôi thấy anh có mấy cái áo sơ-mi, anh để lại tôi một cái được không?

 

Được đang ngồi nhào bột bánh mì với đường cát (của gia đình gởi vào) để làm quân cờ, nghe Hữu hỏi, quay lại. Nhìn khuôn mặt hốc hác của Hữu, anh ta ái ngại nói:

 

- Thấy anh tôi ngại quá. Anh bị ho lao nặng. Xin đi nằm nhà thương đi, ở đây chết như không.

 

- Tôi định sáng mai xin đi, nhưng còn cái áo? Anh để lại tôi một cái nha, tôi còn ít tiền đây.

 

Được im lặng, ném cục bột xuống nền xi-măng. Cục bột nhuyễn, dẻo như cục đất sét. Anh ta với tay kéo cái xách đựng đồ thăm nuôi và lôi ra một bọc giấy. Được lấy cái áo sơ-mi cũ màu xám đã sờn cổ đưa cho Hữu.

 

- Tôi cho anh cái này. Thôi, khỏi tiền nong gì. Anh bận đi.

 

Hữu nhận áo, cám ơn Được rồi ngồi dậy. Anh cởi áo bà ba đen ra mặc chiếc sơ-mi vào bỏ trong quần cẩn thận xong khoác áo bà ba đen ra ngoài.

 

Được vừa nhìn Hữu mặc áo vừa nặn quân cờ. Hữu lại nằm xuống, anh hỏi Được:

 

- Tại sao anh bị bắt vô đây?

 

- Tôi bán bạch phiến.

 

- Anh có hút bạch phiến không?

 

- Không.

 

- Sao không?

 

- Thấy tụi nó lên cơn ghiền tôi ghê quá. Trong phòng mình có một tay ghền, anh thấy đó. Cỡ ấy còn nhẹ, nhiều tay ghiền nặng tới hồi nó lên cơn trời ơi anh coi, y hệt như con chó dại.

 

Hữu nói:

 

- Vậy thì may cho anh lắm.

 

Được cười, tiếp tục nặn quân cờ. Hữu lim dim nhìn Được và ngủ quên đi. Khi anh thức dậy thì trời đã sáng rõ, anh nhận ra một gã đàn ông đang ngó mình chăm chăm. Gã ốm nhom như bộ xương khô, hai mắt sâu hoắm bất động và ác liệt. Gã nằm nghiêng, bàn tay phải xòe ra đỡ lấy đầu. Gã nằm bất động trong xó rình rập như con cú mèo. Đôi mắt gã làm Hữu kinh ngạc lo lắng. Anh nhắm mắt lại vì cơn sốt hành hạ, một lúc anh mở mắt ra thì lại chạm phải đôi mắt cú vọ của gã đàn ông lúc nãy. Vẫn tư thế đó. Lạnh lùng. Rình rập.

 

Một thanh niên để tóc dài ăn mặc theo lối hippy đang ngồi nhả khói thành từng vòng tròn. Dường như anh ta mới bị bắt, buồn ủ rũ, mấy ngón tay dài, vàng khè, chụp xuống đầu gối.

 

Hữu giả bộ nhắm mắt lại, kỳ thực anh vẫn theo dõi gã đàn ông kỳ lạ nọ. Bỗng gã ngồi nhỏm dậy. Đây là lần đầu tiên từ sáng đến giờ gã mới ngồi nhỏm dậy. Gã chui ra khỏi gầm bục xi-măng gọn gàng như một con chồn. Gã liếc đôi mắt sắc như con dao qua mặt Hữu. Đôi mắt xanh lè. Gã tiến lại phía anh, chậm rãi nhưng đầy vẻ phòng vệ. Gã đã đến bên người thanh niên hippy, chỉ cách không đầy một bước. Rồi, nhanh như cắt, chỉ thấy gã vung tay một cái, điếu thuốc trên tay người hippy đã nằm gọn giữa hai ngón tay xương xẩu điêu luyện của gã. Người thanh niên giật mình quay lại giữa lúc gã bình thản đưa điếu thuốc lên môi rít một hơi thật sâu tưởng chừng như gã có thể ngất xỉu sau đó. Nhưng không, gã từ từ nhả khói ung dung bước mấy bước chậm chạp. Gã không thèm để ý đến người thanh niên đang kinh ngạc nhìn gã. Gã nằm úp xuống sàn nhà hút cho đến khi điếu thuốc cháy nóng rát ngón tay, gã mới chịu ném tàn thuốc đi rồi lim dim đôi mắt.

 

Người trưởng phòng đang đánh cờ với một ông già trên bục xi-măng quay lại bảo Được:

 

- Tới giờ làm việc rồi.

 

Được bỏ tẩu thuốc lào xuống, đứng lên cười toe toét. Hắn tiến lại phía gã đàn ông, dùng ngón chân cái ngoáy vào lỗ tai gã. Gã vuốt ve bàn chân thằng Được rồi ra hiệu cho nó leo lên lưng. Được bước lên cái lưng ốm nhom ấy, hai tay bám vào song sắt. Nó dẫm đạp hai bên bả vai gã, đạp dần xuống tới thắt lưng. Gã há miệng ngáp.

 

- Mạnh chút nữa!

 

Được nhún nhảy trên cái khung xương sườn mong manh ấy. Tấm thân mập mạp của nó tưởng có thể làm gãy vụn cả bộ xương sườn ốm yếu, nhưng gã đàn ông không có vẻ gì đau đớn. Gã lim dim, khoan khoái còn thằng Được thì cười toe toét, nói bô bô:

 

- Lẹ lên! Lẹ lên tui còn đánh cờ!

 

Nhưng gã đàn ông vẫn lim dim:

 

- Mạnh! Mạnh chút nữa!

 

Được xuống khỏi lưng gã, nhảy tót lên, ngồi gọn trơn trên bục xi-măng, cầm lấy dọc tẩu thuốc lào.

 

Ở ngoài cửa, người y tá vừa đến, anh ta nói:

 

- Ai đau gì ra đây lấy thuốc.

 

Anh ta dẫn một thằng nhỏ đi theo bưng thuốc trong một cái hộp gỗ có nhiều ngăn.

 

Được nhảy xuống khỏi bục xi-măng chạy tới song cửa sắt nhưng bọn tù đã bít kín, nghẽn cứng. Hữu không thấy viên y tá đâu chỉ nghe một loạt những câu đối đáp:

 

- Đau gì?

 

- Dạ, tiêu chảy.

 

- Đưa mười viên thuốc xanh.

 

- Đau gì?

 

- Nhức đầu, sốt rét.

 

- Mười viên thuốc trắng.

 

- Đau gì?

 

- Sình bụng, ho.

 

- Mười đen, mười vàng.

 

Thằng nhỏ bốc thuốc lia lịa, lành nghề và chính xác như một người thợ sắp chữ in.

 

Hữu ngồi dậy, lưng tựa vào tường, anh khạc ra một búng máu trên tờ giấy và kêu lên:

 

- Yêu cầu cho tôi đi nhà thương!

 

Phía ngoài có nhiều tiếng nói phụ họa theo.

 

- Bác sĩ ơi! Xếp ơi! Có người ho lao gần chết rồi!

 

- Đem đi nhà thương, xếp ơi!

 

- Ho ra máu, thổ huyết tùm lum xếp ơi!

 

Tiếng la mỗi lúc mỗi nhiều trở nên hỗn loạn. Tên y tá đẩy cửa bước vô phòng giam, tiến thẳng tới chỗ Hữu. Hắn đứng nhìn Hữu một lát rồi bỏ đi ra, khuất sau hành lang.

 

Thằng Được trở vào, trên tay cầm một lô thuốc đen. Hữu hỏi:

 

- Sao nó cho anh nhiều quá vậy?

 

Được cười, kéo trong túi ra một chút ruột bánh mì. Nó nói:

 

- Tui bồ với thằng nhỏ. Kìa, anh coi, thằng cha hồi nãy chưa qua khỏi cơn ghiền.

 

Quả thực, lão đàn ông nọ đang lăn lộn dữ dội, gã cởi phăng chiếc áo bà ba đen. Được lắc đầu:

 

- Ngày nào cũng làm cái “chò” này, chán quá “chời”.

 

Nó nhoẻn cười tinh quái. Nó dùng ve dầu nhị thiên đường cán nát mấy viên thuốc đen thành bột rồi trộn với ruột bánh mì nhồi nước cho nhuyễn như thế là nó được một thứ bột đen và dẻo, to gần bằng lóng tay út. Nó lấy một miếng giấy bao thuốc, gói cục bột đen lại rồi lận vô lưng quần. Nó lại bên gã ghiền lấy thuốc lá ra hút. Gã rên rỉ, nói:

 

- Cho điếu, em!

 

- Hết rồi. Mới lượm mót cái tàn hút đỡ.

 

- Khổ quá em!

 

- Có tiền không, bán cho chút xíu.

 

- Thiệt hả em?

 

Gã móc trong lưng quần ra tờ bạc hai trăm nhàu nát đưa cho Được. Nó vồ lấy cất lẹ vô túi rồi móc cục bột đen ra. Lão ghiền nhìn sững sờ cái gói giấy, đầu cố gắng giữ thăng bằng trên cái cổ ốm yếu, đôi mắt trợn trừng như con chó đói ngóc mỏ lên nhìn cục xí-oách trên tay một bợm nhậu.

 

Tên cai tù đứng thù lù ngoài cửa. Gã ghiền ném một cái nhìn lấm lét ra đó. Tên cai cầm cây gậy to bằng bắp tay. Được cũng sợ lão lắm, nó tính cất gói giấy đi nhưng, soạt! Gã ghiền cướp gói giấy như một con diều hâu. Gã bóc vội vã. Tay gã run lẩy bẩy. Gã há miệng ra quăng tọt cục bột đen vào, nuốt chửng!

 

Gã nằm xuống, lấm lét nhìn ra cửa nhưng lão cai đã bỏ đi. Gã nằm đợi ả phù du đến, đưa gã “phi” lên tận chín từng mây nhưng đợi hoài mà không thấy “phi” đâu cả. Có lẽ miếng bột bánh mì trộn với thuốc sình bụng đang tiêu hóa trong dạ dày gã. Gã khó chịu lăn lộn như khúc cây bị đổ xuống triền dốc. Gã lăn lại phía cầu tiêu, rớt tõm xuống vũng nước đầy cơm nguội và thức ăn thừa.

 

2

 

Sáng hôm sau Hữu được đưa đi bệnh viện Biên Hòa trên một chiếc Landrover màu xám. Cùng đi với anh có hai tù nhân đã lớn tuổi trông rất tiều tụy.

 

Mặc dù các tù nhân đã bị còng tay nhưng bọn chúng cũng bố trí đến sáu tên an ninh theo canh giữ. Chúng ngồi bao quanh Hữu và không bỏ qua một cử chỉ nào của anh.

 

Dọc đường Hữu tìm cách bắt chuyện với tên an ninh trẻ ngồi bên. Hắn khoe khoang tình hình an ninh rất tốt, đường xe lửa đã được sửa chữa lại, vài tháng nữa là có xe đi suốt Sài Gòn Huế, cộng sản hết cơ hội phá hoại, rút về rừng hết.

 

Hữu đưa một đề nghị:

 

- Đến một tiệm tạp hóa nào đó cho tôi mua một ít kim may áo.

 

- Mua làm gì?

 

- Về châm cứu. Ở trong trại giam tôi phụ trách châm cứu chữa bệnh cho anh em.

 

- Không được. Thôi, đừng nói chuyện, sắp tới nhà thương rồi.

 

Chiếc xe dừng lại trước cổng bệnh viện. Sau khi tên an ninh trình giấy tờ, cổng được mở lên và chiếc Landrover màu xám tiến sâu vô phía trong cùng. Hữu và người bạn tù già bị áp giải lên lầu. Ở phòng khám bệnh anh được mở còng và ngồi giữa hai tên an ninh chờ bác sĩ.

 

Anh không phải đợi lâu vì dường như người ta muốn giải quyết sớm cho anh về trại. Viên bác sĩ khám qua loa rồi làm giấy cho anh đi chụp hình phổi.

 

Năm tên công an lúc nào cũng theo sát một bên. Hữu thấy khó mà chạy thoát được. Từ phòng khám bệnh Hữu được đưa xuống đất để đến dãy lầu khác ở phía sau để chụp hình phổi. Động tác xảy ra rất nhanh. Viên bác sĩ phụ trách nói một cách gọn lỏn.

 

- Xong. Ba ngày nữa đến lấy kết quả và tái khám.

 

Anh bị dẫn lên xe, còng lại như cũ và chở thẳng về trại giam. Nắng đã lên cao, chiếu rực rỡ trên phố phường đông đúc. Cảnh ấy làm sống lại trong lòng Hữu cả quãng đời đấu tranh sôi nổi giữa lòng đô thị. Anh nhìn học sinh đi học, nhìn xe cộ qua lại trên đường, nhìn vòm trời xanh bao la và thấy lòng khát khao tự do mãnh liệt.

 

Trong suốt chuyến đi. Hữu không tìm được cơ hội nào để trốn thoát tuy nhiên lời dặn của bác sĩ ba ngày sau tái khám cũng làm anh hy vọng.

 

Buổi tối, Hữu cứ miên man suy nghĩ về chuyện vượt ngục. Trong trí anh, giọng nói thân thiết của một đồng chí lãnh đạo chi bộ ở nhà lao Chí Hòa cách đây hai năm lại vang lên rõ từng câu từng chữ...

 

- Vượt ngục là một trong những trách nhiệm của người đảng viên. Thời cơ lúc nào cũng có thể có dù chỉ trong một giây phút, vấn đề là mình có quyết tâm chụp lấy thời cơ ấy hay không mà thôi.

 

Đến ngày thứ ba, chiếc xe Landrover màu xám lại đưa Hữu đi bệnh viện. Lần này Hữu ra đi trong tư thế sẵn sàng. Anh mặc chiếc quần tây đen thường ngày bên trong là chiếc sơ-mi xám xin của Được, bên ngoài mặc áo bà ba đen, trong túi thủ một ve dầu xanh và tám trăm đồng bạc Sài Gòn.

 

Rút kinh nghiệm lần trước, Hữu nhận thấy trong suốt chuyến đi chỉ có lúc đến bệnh viện là địch có nhiều sơ hở nhất. Anh tranh thủ nói chuyện với tên an ninh hôm trước. Lần này hắn không đem chuyện “tàu hỏa chạy suốt Sài Gòn Huế” ra khoe mà lại nói chuyện ăn mặc và chuyện gái ở Sài Gòn.

 

Giống y như hôm trước, khi đến bệnh viện chiếc Landrover chạy tuốt ra phía sau trở đầu rồi mới cho tù nhân xuống.

 

Ba tên an ninh dẫn Hữu và người đồng chí già đến dãy lầu bên trái. Lúc đến cầu thang hai tên tách đi chỗ khác, chỉ để một tên giải Hữu và người bạn tù kia lên lầu để đến phòng khám hôm trước.

 

Tên an ninh to béo cứ đi sát hai người tù, một tay hắn thọc vô túi quần thủ sẵn khẩu súng lục trong đó. Khi đến phòng khám bệnh, gã mở còng cho hai người tù và đẩy cánh cửa lớn.

 

Phòng trống, chỉ có một người đàn bà ốm yếu ngồi gần cửa sổ. Cánh quạt trần quay rất chậm. Tên an ninh ra hiệu cho Hữu và người đồng chí già ngồi đợi ở chiếc ghế dài còn hắn ngồi ở một chiếc ghế sắt đặt gần cửa, bàn tay phải vẫn bỏ trong túi quần.

 

Mọi người đợi một lúc khá lâu nhưng bác sĩ vẫn chưa đến và phía trong phòng khám bệnh dường như cũng không có dấu hiệu gì là có người trực. Tên an ninh có vẻ sốt ruột. Gã đứng lên, đến bên cánh cửa phòng gõ mấy tiếng và nghe ngóng. Ngay lúc ấy Hữu muốn nhỏm dậy. Một cảm giác kỳ lạ chạy khắp thân thể anh. Từ cánh cửa lớn này ra hành lang gần quá, chỉ cần bước hai bước và chạy thẳng xuống cầu thang là thoát ra cổng.

 

Nhưng tên an ninh đã quay lại, chửi thề:

 

- Đ.m làm việc gì giờ này mà chưa tới sở.

 

Hữu hỏi hắn:

 

- Mấy giờ rồi, anh?

 

- Gần chín giờ. Cha con nó đi đâu mất tiêu.

 

Gã đứng ngoài hành lang ngóng lên ngóng xuống một lát rồi ra lệnh:

 

- Thôi, đi theo tôi.

 

Hữu nắm tay người bạn tù già dìu ông ra cửa. Tên an ninh đi chậm lại, kèm sát hai người tù, bàn tay vẫn không rời khẩu súng giấu trong túi.

 

Lúc xuống tới chân cầu thang Hữu mới giật mình nhận ra hai tên an ninh từ lâu vẫn ngồi gác ở đó. Cũng may, lúc nãy nếu anh chạy ra thế nào xuống đây cũng bị tóm cổ.

 

Tên an ninh mập ra hiệu cho hai người tù theo hắn ra tận phía sau dãy lầu, nơi phòng chỉ dẫn.

 

Lần khám trước Hữu đã để ý đến khu vực này. Đây là một khu tương đối có nhiều ngõ ngách, quan trọng nhất là một bức tường chắn ngang phân chia chỗ đậu xe và dãy lầu bên trái. Lần này tên an ninh dẫn Hữu ra tận phòng chỉ dẫn ở khu vực ấy. Hắn muốn hỏi xem tại sao gần chín giờ sáng mà phòng khám bệnh vẫn không có người. Hắn bước đi hấp tấp nóng nảy. Hữu đi chậm lại, giả cách nói chuyện với người đồng chí già để cho tên an ninh qua mặt mình. Quả thực, hắn thiếu cảnh giác, hắn bỏ hai người tù rớt lại phía sau, vượt lên khoảng ba bước rồi năm bước. Hữu dừng lại. Tên an ninh vẫn tiếp tục bước tới. Bảy bước rồi tám bước. Còn một đoạn nữa mới tới phòng chỉ dẫn. Hữu lùi lại, lùi lại, rồi quay lưng chạy vòng qua bức tường lúc nãy. Anh cởi nhanh chiếc áo bà ba đen ném dưới chân tường và rảo bước ra cổng. Nơi đó, người ta ra vào tấp nập và người tù Phan Hữu với chiếc sơ-mi xám bỏ gọn gàng trong chiếc quần tây đen đã bước ra khỏi cổng bệnh viện như bao nhiêu người khác. Nhưng nếu có ai để ý sẽ thấy rằng người thanh niên ấy đang đi chân đất và trên cổ còn quấn một chiếc khăn rằn. Chi tiết này Hữu cũng khám phá ra ngay khi vừa ra khỏi cổng. Anh tháo chiếc khăn rằn cuốn nhỏ lại, đi gần như chạy giữa phố đông người. Khi đi ngang qua một cái xe nước mía Hữu cúi xuống nhét chiếc khăn vô đống bã mía rồi quẹo vô một con đường hẻm. Đây là một cái hẻm hẹp hai bên nhà cửa lụp xụp chen chúc. Hữu đi được một lúc thì đụng ngay một hàng rào kẽm gai chắn ngang lối đi. Trong lúc bối rối bỗng có tiếng người nói:

 

- Hết đường rồi. Không đi được nữa đâu.

 

Hữu nhìn lại, thấy một em thiếu niên chừng mười hai mười ba tuổi đang cầm một cái chong chóng đứng bên một gốc dừa lớn. Thấy Hữu đứng ngẩn ngơ em bé cười. Hữu cười với em và hỏi:

 

- Chú leo qua đây đi, được chớ gì?

 

- Được. Leo đại đi. Hồi giờ ai có chuyện gấp cũng thường leo qua đây, khỏi đi vòng ra ngoài lộ.

 

Hữu leo qua rào, theo một đường hẻm nhỏ dẫn ra một đường phố khác. Đường Hàm Nghi. Chữ ấy hình như nhắc anh nhớ tới một điều gì. Phải rồi, có lần Hữu nghe Hạnh nói có một người cậu ruột mở tiệm thuốc tây ở đường này. Số 33. Con số trùng tên với rượu bia. Hữu không thể lầm được. Anh đi dọc theo dãy phố mang số lẻ. Đúng là một tiệm thuốc tây, anh bước thẳng vô đó.

 

Một người đàn ông đeo kính cận đứng sau quầy hàng đang xem một cái toa thuốc. Hữu nói liền khi ông ta ngẩng lên:

 

- Thưa ông tôi là bạn của chị Hạnh.

 

- Hạnh nào? Ông ta tỏ vẻ ngạc nhiên.

 

- Chị Hạnh sinh viên y khoa.

 

- Ừ. Nó ở nhà má nó chớ, đây làm gì có.

 

Hữu không ngờ một người cậu của Hạnh, một người có thể gọi là “gia đình cách mạng” lại có thái độ ấy. Anh định bỏ đi nhưng vừa quay ra cửa thì... Hữu suýt kêu lên... Trước mặt anh, phía bên kia tường rào một dãy lầu cao. Rõ ràng đó là bệnh viện mà anh vừa trốn khỏi. Thì ra từ nãy giờ anh chỉ mới đi vòng ra được khu vực phía sau bệnh viện và giờ đây Hữu nghe rõ nhiều tiếng tu-huýt, tiếng người la lối từ trên lầu cao vọng xuống. Anh thấy rõ mình đang ở trong một tình trạng nguy hiểm. Ngay lúc này, nếu anh bước ra đường thế nào cũng bị nhận mặt. Nghĩ thế Hữu đành quay lại phía lão chủ tiệm thuốc tây giữa sự ngơ ngác của ông ta. Anh không còn cách nào khác hơn là nói thẳng:

 

- Thú thực với ông, tôi là tù chính trị trốn về đây. Hiện giờ tình hình ngoài đường găng lắm. Ông có thể nghĩ tình cho tôi ở tạm đây đến tối, lúc ấy tôi sẽ đi.

 

Người đàn ông gần như sững sờ trước câu nói ấy. Chiếc gọng kính đồi mồi rớt xuống sống mũi, miệng ông há hốc ra và mặt càng lúc càng tái nhợt.

 

- Không... Không được đâu.

 

Ông ta cúi xuống, hấp tấp kéo cái ngăn kéo. Bàn tay run lẩy bẩy của ông rút ra một trăm bạc đẩy về phía Hữu mắt lấm lét ngó ra đường:

 

- Cậu... cầm tạm đi xe... Ra tới đường là có xe liền. Cậu đi gấp đi kẻo họ tới bây giờ.

 

Không để ông ta nói hết câu, Hữu đi thẳng ra cửa. Rất may anh gặp ngay một chiếc xích-lô đạp vừa trờ tới. Anh hấp tấp bước lên xe. Người phu xe già cắm cúi đạp được một đoạn rồi hỏi:

 

- Cậu về đâu?

 

- Bác cho cháu ra bến xe.

 

- Tưởng đi đâu, bến xe tới rồi đây. Sao ở đó lại bến xe có mấy bước mà cậu cũng đi xích-lô.

 

Hữu bước xuống xe, gượng cười:

 

- Dạ, cháu ở dưới quê lên, không biết đường sá gì hết. Bao nhiêu tiền, bác?

 

Ông già dùng lưỡi xoay điếu thuốc rê:

 

- Thôi, ở đó lại đây qua chở dùm.

 

Hữu cám ơn người phu xe già rồi chạy theo một chiếc xe lam vừa chuyển bánh. Chiếc xe đưa anh đi giữa thành phố rực nắng. Hữu liếc nhìn đồng hồ tay của một người ngồi cạnh. Mười một giờ. Trên đường phố đã thấy nhiều toán học sinh ra về, quần xanh áo trắng, áo dài trắng nữ sinh, áo đầm mẫu giáo tung tăng khắp nơi... Hữu nhìn theo đám học trò và chợt nhận ra ở ngã tư trước mặt một toán cảnh sát dã chiến phối hợp với quân cảnh đang án ngữ dày đặc. Hữu bảo người tài xế:

 

- Cho tôi xuống đây.

 

Chiếc xe ngừng lại. Hữu trả tiền xe rồi vội vàng băng qua đường xăm xăm đi về phía đám học sinh mẫu giáo đang vui vẻ nắm tay nhau về. Anh đến bên mấy em bé gái, hai tay dắt hai em vừa đi vừa hỏi chuyện:

 

- Hai cháu học lớp mấy?

 

- Lớp mẫu giáo A.

 

- Còn cháu học lớp mẫu giáo năm.

 

- Nhà cháu ở gần đây không?

 

- Gần.

 

- Chú dẫn cháu về nhà nghen.

 

- Nhà chú cũng ở gần nhà cháu hả?

 

- Ừ, nhà chú ở gần.

 

Hữu vừa nói chuyện với các em nhi đồng vừa theo dõi bọn quân cảnh lúc ấy chỉ đứng cách anh có mấy bước và đang xét giấy tờ những người qua lại ngã tư. Hữu cứ nương theo mấy em nhỏ, dắt tay chúng đi tung tăng trên vỉa hè vừa đi vừa hỏi chuyện cười nói tíu tít. Phút chốc anh qua khỏi vòng vây cảnh sát và rẽ sang một con đường khác, anh đi nhanh và quẹo vô một con hẻm gần đó.

 

Đường hẻm hẹp và quanh co dẫn sâu vô xóm lao động. Hữu nghĩ cùng lắm ta cũng có thể ẩn vô nhà quần chúng. Hữu hơi yên tâm và đi chậm lại để tránh sự chú ý của mọi người. Anh chợt nhận ra trước mặt mình, chỗ cuối con hẻm, là một khoảng trống lớn dường như mở ra một cánh đồng nào đó. Hữu tiến tới một lát nữa thì thấy những hàng rào kẽm gai và những trụ điện sơn hắc ín đen kịt mọc rải rác trên vùng đất trống đó, dây điện giăng ngang khoảng trời trong xanh và phía đàng xa lại hiện ra những bức tường vàng bẩn cũ kỹ kẻ những khẩu hiệu bằng sơn đen từ lâu đời.

 

Hữu còn đang phân vân không biết nơi đó là cái gì thì một hồi còi tàu rúc lên và tiếng nổ xình xịch của con tàu từ Biên Hòa đi Sài Gòn đã nghe thấy từ xa. Thế là anh chạy. Anh chạy như bay tới chỗ khoảng trống. Con tàu chỉ ngừng lại vài phút ở cái ga xép ngoại ô này và khi nó chuyển mình ra đi thì Hữu cũng vừa đến nơi, nhảy lên một toa xe gần cuối.

 

3

 

Một chiếc xe gắn máy dù cũ tới đâu vẫn tiện lợi hơn một trăm lần đi bộ, nhất là đi bán báo. Ngày trước Hữu bán báo bằng xe mô-bi-lét, giờ đây, với đôi chân không lấy gì làm vạm vỡ, đôi chân khô đét sau gần năm năm ngấm đòn dùi cui ma-trắc, báng súng roi mây, Hữu thấy khó mà lấy lại phong độ cũ.

 

Ngày trước, ngoài một trăm mấy chục “mối” báo tháng, mỗi chiều Hữu còn có thể bán thêm cả mấy chục tờ khác, nhưng giờ đây anh chỉ có thể ôm trong tay hơn ba chục tờ. Ba chục tờ vừa đi vừa rao, bán cho hết không phải là khó. Cái khó là làm thế nào biết được hiện nay các đồng chí cũ còn lại ở đâu? Bảy Trung ở đâu?

 

Suốt hai tuần nay Hữu ôm chồng báo đi nát cả cái khu Bàn Cờ, nơi Bảy Trung ở năm năm về trước. Anh đi ngang ngôi nhà ấy, ngôi nhà sau một cái chùa lụp xụp. Cây hoa giấy vẫn ra hoa đỏ tía, cái cổng sắt sơn xanh tróc sơn và căn gác gỗ tối om vì tàng hoa giấy che bên ngoài. Chính nơi đó, đồng chí Bảy Trung đã kết nạp anh vào Đảng. Chừng ấy năm đã đi qua nhưng căn gác nhỏ bé ấy vẫn không có gì thay đổi. Bao lần ôm chồng báo đi qua đây. Hữu đã dừng lại nhìn ngắm nó với tâm tình của một đứa con trước chiếc nôi xinh ngày xưa người mẹ thường ru mình vào giấc ngủ. Rồi lặng lẽ bước đi. Tiếng rao chợt bật lên lạc lõng, vô thức:

 

- Báo đây! Báo đây!

 

Hữu đi khắp nơi tìm các đồng chí cũ. Người chủ nhà già nua của căn nhà Bảy Trung đã không cho biết một điều gì về tông tích của anh cả. Ngày trước Hữu có đến đây mấy lần nhưng lão già quá, thời gian đã làm lão quên đi hết chăng? Lão cũng chẳng nhận ra được Hữu nữa.

 

- Tôi không rõ, lão nói, cậu Trung dọn đi từ năm bảy mươi. Bây giờ căn gác, con cháu tôi ở dưới Sóc Trăng lên ở nẳm nay.

 

Hữu kín đáo trở lại trường, trường vẫn đông đảo, chen chúc như cái rạp hát. Những phòng học, những giảng đường mới đang xây lở dở, xây tới đâu học tới đó. Ngày trước nhà trệt lợp ngói thấp lè tè với hai chục ngàn sinh viên thay nhau lui tới, ngày nay thêm mấy từng lầu nữa, sĩ số đã tăng lên bao nhiêu rồi mà ồn ào náo nhiệt, mà xanh đỏ tím vàng rằn ri đủ thứ, mà tóc tai, môi má vẽ vời, mà nước hoa trộn với mồ hôi ngai ngái... Nhưng lạ thay, những lúc đặt chân vào khuôn viên, Hữu vẫn thấy lòng xao xuyến như gặp lại một người thân. Tại sao? Mình yêu mến cái gì ở nơi chốn xô bồ rỗng tuếch này? Nhiều lần anh đã phẫn nộ trước muôn vàn nhởn nhơ ngu ngốc. Thế mà giờ đây, thăm lại trường, vẫn thấy có điều gì rất yêu dấu. Có phải đó là những dáng dấp tận tụy quen thân của những người đồng chí cũ? Có phải những vừng trán đẫm mồ hôi một đêm nào đốt đuốc giữa khuôn viên? Có phải những vệt máu hồng đã loang lổ trên những tà áo trắng? Và có phải không, nơi cái bực cấp đi lên này, đồng chí Mười Thanh đã bị hai tên an ninh chìm đánh gục trên vũng máu?

 

Những đồng chí ấy, những người bạn năm trước bây giờ không còn ai nữa nhưng trường vẫn giữ nguyên mối tình với Hữu. Quanh đây toàn là những kẻ xa lạ, những sinh viên trẻ trung hào nhoáng nhưng Hữu biết giữa cái bề ngoài ấy, cách mạng vẫn có mặt, vẫn lớn lên như một nụ mầm. Nhưng giờ đây, còn ai biết anh là người đồng chí? Hữu chợt nghĩ đến Hạnh. Khi còn ở tù dường như có lần anh nghe đồn Hạnh được trả tự do nhờ sự “đút lót” của một người chú ruột làm đại tá trong quân đội Sài Gòn.

 

- Hay ta thử đến đó xem sao!

 

Hữu suy nghĩ cả ngày. Buổi chiều anh đi ngang đường Ngô Thời Nhiệm. Toàn biệt thự. Ngôi nhà của Hạnh ngày xưa vẫn không có dấu hiệu gì là đã đổi chủ. Hữu định nếu đi ngang cổng mà thấy Hạnh là tìm cách gặp nhưng lần nào nhìn vô trong anh cũng chỉ thấy những gốc cây sứ chạy cong cong theo một lối đi trải sỏi trắng.

 

Sáng hôm sau Hữu quyết định vào nhà hỏi thăm. Anh bấm chuông. Một người đàn bà trạc bốn mươi tuổi tiến ra cổng.

 

- Cậu hỏi ai?

 

- Thưa bà, tôi xin phép gặp chị Hạnh.

 

Người đàn bà nhìn Hữu giây lâu, dò hỏi, e dè, lưỡng lự.

 

- Xin lỗi, cậu tìm có việc gì?

 

- Dạ, tôi là bạn học cũ, lâu ngày ghé thăm.

 

Người đàn bà đặt tay lên cánh cửa cổng, nụ cười gượng gạo với những nếp nhăn của thời gian.

 

- Cô ấy không còn ở đây nữa. Cổ đi theo chồng rồi.

 

Hữu chào người đàn bà.

 

Suốt quãng đời hoạt động trong các phong trào sinh viên học sinh ngày trước anh đã gặp gỡ Hạnh nhiều lần, đã từng giữ chung một đầu biểu ngữ, từng sống những ngày vui lao động trong các chuyến công tác xa, những đợt cứu trợ đồng bào chiến nạn và từng chứng kiến những cảnh tù đày tra tấn dã man sau đêm hát tại trường văn khoa chống vụ tàn sát ở Mỹ Lai và đòi hòa bình độc lập. Anh đã sống bao nhiêu kỷ niệm với người con gái ấy nhưng chưa lần nào anh nghĩ đến một mối tình, thế mà câu nói giản đơn của người đàn bà lúc nãy chợt làm anh xao xuyến. Cô ấy không còn ở đây nữa, cổ đi theo chồng rồi. Chồng của Hạnh là một người như thế nào? Đang lúc bị giam. Hạnh được thả ra, điều ấy có liên quan gì đến cuộc hôn nhân sau đó?

 

Hữu đi bộ một mình dọc theo đường Công Lý. Mùa thu hoa me rụng vàng trên vỉa phố. Lá trên cao vẫn xanh, vẫn kết dày đặc thành mái vòm nhưng hoa vàng cứ bay nghiêng nghiêng theo cơn gió đi qua, nhìn từ xa thấy nhỏ li ti và mịn như phấn thông... Hoa bay lạc trong không gian lấp lánh, vàng như hạt nắng sớm của một ngày nào đó cách đây năm năm trên vùng rừng chồi thấp tại làng cô nhi Long Thành.

 

Hạnh đã đứng im trên vùng đất hoang đó nhìn ra phía xa. Chiếc áo bà ba trắng in rõ trên một nền xám xịt và nâu sẫm, chỗ chân trời tiếp giáp với rừng cây. Mấy người bạn trong đoàn công tác xã hội đã thức dậy ca hát và chơi đàn quanh lều. Hạnh nói:

 

- Trông anh mặc áo rét tôi cũng thấy lạnh.

 

Chị làm bộ rùng mình, hai tay đan vào nhau thu lại phía trước. Sương sớm tan dần trên các chòm cây. Trời hửng sáng. Các em cô nhi đi từng hàng dài từ các dãy nhà ngủ đến phòng ăn, tất cả đều mặc áo vàng đầu cạo trọc, các em đi thật yên lặng, chậm rãi, đầu hơi cúi xuống, thỉnh thoảng lại chắp tay cúi chào các ni sư hay mấy anh sinh viên đang đi về trại.

 

Hạnh vác cuốc và xách cái xô không đi bên Hữu. Hai người nhập vô đoàn sinh viên vừa đi qua. Họ bắt đầu khai mương quanh các trại cô nhi. Đất thì xốp nhưng cây rừng nhiều quá thành thử anh chị em phải vất vả lắm mới cắt đứt được hết những cái rễ chằng chịt bên dưới. Họ làm việc trong tiếng hát của các em cô nhi vang lên trong trại. Đến trưa mưa bỗng trút xuống ào ào, các rãnh mới đào đã có nước chảy. Các em rất thích nhìn những mương nước mới đào này, các em đứng phía trong, cười nói tíu tít. Tiếng hát của anh em sinh viên lúc ấy to hơn tiếng mưa xối xả. Hạnh mặc áo mưa vàng chói trông lạ hẳn đi. Tóc vẫn khô nhưng nước mưa cứ theo mũ áo chảy ròng ròng hai bên má. Hữu nói đùa:

 

- Trông chị bây giờ giống bà Trưng Trắc hơn ngày hôm qua nhiều.

 

Hạnh vừa cuốc đất vừa cười, hỏi vặn lại:

 

- Anh đã gặp bà Trưng Trắc bao giờ chưa mà biết giống?

 

- Dĩ nhiên là chưa, nhưng mỗi khi muốn đóng vai bà Trưng Trắc thì người ta thường chọn những cô gái đẹp.

 

Những kỷ niệm ấy giờ đã qua đi mất. Dừng lại trong cơn gió đầy hoa me vàng. Hữu chỉ còn thấy rõ nhất đôi mắt sáng và nụ cười mỉm, kín đáo.

 

4

 

Hữu bán hết báo rất nhanh. Báo hôm nay thiên hạ đổ xô nhau mua chỉ vì một chuyện ngoại tình giữa bà thiếu tá với ông trung tá nhảy dù nào đó đã được tiểu thuyết hóa một cách sống sượng. Dẫu sao biến cố ấy cũng giúp anh xong nhanh công việc và lời thêm được mấy trăm bạc.

 

Trên xe buýt bước xuống Hữu băng qua đường. Từ ngày vượt ngục về Sài Gòn đến nay trong người Hữu không có một chút giấy tờ nào hết, cũng may nghề bán báo chẳng phải là cái nghề mà bọn cảnh sát quân cảnh để ý đến. Cầm xấp báo đi khơi khơi giữa phố, gặp tụi nó chỉ cần rao lên mấy tiếng, cười một cái là qua mặt tỉnh bơ. Dần dà, Hữu gần như chẳng còn bận tâm gì đến chuyện giấy tờ nữa. Tuy vậy từ nhà tới chỗ lấy báo Hữu phải đi xe buýt. Đi xe buýt có hai cái lợi lớn: Đỡ tốn tiền và rất ít khi bị xét giấy.

 

Hữu ghé quán cơm bình dân ở đầu hẻm gọi một dĩa cơm sườn và một ly trà đá. Tháng năm tháng sáu buổi chiều thường nóng nực, quán ăn lại không có quạt, chật hẹp và tối. Hữu cắm cúi ăn, không để ý đến chung quanh, khi ngẩng lên, anh bắt gặp một cặp mắt đang nhìn mình đăm đăm. Hữu ngại phải đón nhận cái nhìn ấy nhưng khi anh vừa định quay đi thì người đàn ông nọ đã rời chỗ ngồi tiến lại phía anh, đến lúc ấy Hữu mới nhận ra Bảy Trung với nụ cười rất bình lặng, rất đơn giản và chân thành. Hai bàn tay siết lại thật chặt, ấm và cồm cộm những vết chai.

 

- Cứ ăn đi - Bảy Trung bảo - Cứ ăn xong đi đã.

 

Thế là Hữu ăn. Ăn nhanh.

 

Lúc hai người ra khỏi quán thì chiều đã xuống mát rượi cả thành phố. Bảy Trung vừa đi vừa ngắm nghía người đồng chí cũ. Hai người quan sát nhau. Bảy Trung bảo:

 

- Đàng kia có một cái công viên khá vắng, ta lại đó đi.

 

Họ đi bộ dọc theo đường Phan Đình Phùng. Hữu nói:

 

- Tôi đi tìm anh suốt hơn hai tháng nay. Bà chủ nhà cũ nói anh đã dọn đi từ năm sáu chín bảy mươi gì đó.

 

Bảy Trung nói:

 

- Tôi cũng đi tìm anh quá trời. Ở ngoài này anh em cũng nắm rất rõ tình hình đấu tranh của anh em trong tù. Các anh lãnh đạo trong cứ cũng đều có theo dõi, chính vì thế mà khi được tin anh vượt ngục tôi được chỉ thị đi tìm anh. Tìm khắp nơi... Bây giờ anh ngụ tại đâu?

 

Hữu đưa xấp báo cũ ra trước mặt, anh cười, bảo Bảy Trung:

 

- Ban ngày tôi đi bán báo, tối về ngủ nhờ nhà mấy anh em đồng nghiệp trong các xóm lao động, nay nhà này mai nhà kia. Tôi chẳng dám về các nhà trọ cũ nữa.

 

Hai người vào một công viên nhỏ ở ngã tư đường. Họ chọn một cái ghế đá khuất dưới bóng cây hoàng lan, quay lưng về phía cặp tình nhân đang rù rì phía bên kia bãi cỏ. Hữu nhìn những tia nước phun nhỏ li ti trước mặt tự nhiên lòng thấy thanh thản. Đóa hoa chuối nước màu cam lấm chấm vàng rung rinh dưới những giọt mưa nhẹ nhỏ xuống cuống quýt. Lá me trên cao xao xác lay động theo cơn gió nhẹ lướt qua. Hữu tựa lưng vào thành ghế nhìn bầu trời. Bảy Trung đốt một điếu thuốc đưa cho Hữu và tự châm cho mình một điếu. Bảy Trung nói:

 

- Anh phải kiếm một chỗ ở riêng cho ổn định mới được.

 

- Nhưng trong mình tôi chẳng có thứ giấy tờ nào cả.

 

- Cái đó không lo. Tôi sẽ cung cấp mọi thứ cho anh để anh có thể sống hợp pháp như bất cứ một người dân Sài Gòn nào. Chỉ ngại một điều là anh có vẻ còn yếu lắm.

 

Hữu mỉm cười, anh rít một hơi thuốc và nhả khói một cách kiểu cọ. Anh nói:

 

- Tôi thấy sức khỏe cũng bình thường anh ạ. Dần dà rồi nó cũng bình phục thôi. Anh nói đi, tình hình bây giờ ra sao rồi.

 

Anh Bảy Trung duỗi thẳng hai chân, phun một luồng khói vào khoảng không:

 

- Sau đợt bình định học đường của chúng vào năm 1972, các đồng chí mình phải rút hết vào cứ, một thời gian sau lại phải chạy thẳng sang biên giới Miên. Tôi và vài đồng chí nữa tuy chưa bị lộ nhưng cũng phải án binh bất động cả mấy tháng trời.

 

Hữu hỏi:

 

- Như vậy bây giờ các đại học đều trống à?

 

- Không hẳn thế. Tôi trở lại Sài Gòn hơn một năm nay, kể ra bên cánh học sinh còn mạnh, cơ sở gầy dựng lại rất khá, chỉ có cánh sinh viên của mình thì còn yếu nhưng không thể gọi là trống được.

 

- Vậy còn Ban đại diện các trường - Hữu hỏi - Chắc cũng tụi nó nắm hết?

 

Anh Bảy Trung ngồi nhỏm dậy, gạt tàn thuốc lên thành ghế đá, tay gác lên đầu gối, mặt cúi xuống trầm ngâm hồi lâu.

 

- Không hết - Anh nói - Ta vẫn còn nắm được một số trường và chi phối một số. Đây chính là vấn đề tôi cần bàn với anh rất kỹ. Nhìn chung tình hình ban đại diện ta không thua chúng bao nhiêu. Các đại học lại sắp tới mùa bầu cử, ta chỉ cần thắng thêm hai phân khoa nữa so với năm rồi là ta sẽ thắng ở Tổng hội sinh viên. Và đó là mục tiêu quan trọng.

 

Hữu toát mồ hôi trán. Sự chú ý dồn cả trong đôi mắt và thế ngồi chồm tới. Anh hỏi:

 

- Hiện tại ta nắm được các trường nào?

 

- Y khoa, Nông lâm súc, Khoa học, Kỹ thuật Phú Thọ. Còn địch, chúng nắm các trường Dược, Văn Khoa, Đại học Sư Phạm, Luật Khoa và Kiến Trúc. Tuy chúng hơn ta một phân khoa nhưng “thế” của chúng lỏng lẻo. Cũng giống như những năm trước, ban đại diện của chúng chỉ có mặt để choán chỗ của ta và để quay “cua” bán cho sinh viên lấy lời. Đó cũng là một trong những mầm mống gây bất mãn trong quần chúng sinh viên. Còn ta, ta nắm chắc. Ban đại diện ta gồm những sinh viên có uy tín, một số là đoàn viên, vài nơi đã có chi bộ. Tuy so với những năm trước thì còn kém nhưng từ một tình trạng bình định học đường mà gượng gậy được như thế là khá lắm.

 

Hữu cười:

 

- Khá thực. Nghe anh nói tôi muốn anh giao công tác liền.

 

- Không gấp lắm đâu. Anh cần phải bồi dưỡng một thời gian. Mình phải tính chuyện đường dài.

 

Hữu nói:

 

- Anh cứ giao công tác đi. Tôi vừa làm vừa bồi dưỡng cũng được chớ gì.

 

Hữu xòe hai bàn tay đưa ra trước mặt. Lưng bàn tay đen sạm nổi lên những đường gân lớn hình nan quạt, Hữu lại ngửa hai bàn tay, lòng bàn tay lõm xuống, mềm nhão. Bảy Trung lắc đầu cười yên lặng.

 

Phía trên ngọn cây cao trận gió đi qua làm những trái chùm gởi khô lìa cành xoay tít mù trong không gian như những con chim sâu nhỏ đập cánh ríu rít. Bảy Trung chăm chú nhìn những trái chùm gởi và nói:

 

- Cái này là cái lá gì mà hay quá. Tôi ở Sài Gòn cả chục năm rồi mà bây giờ mới để ý đến nó.

 

Hữu chỉ cười. Anh ngước nhìn lên cao. Mấy trái chùm gởi bay nghiêng nghiêng lại chỗ anh rồi rơi xuống trước mặt, xoay tít như cái chong chóng. Bảy Trung lấy một trái lên coi. Hữu chợt hỏi:

 

- Anh còn nhớ Hạnh chớ hả?

 

- À, tôi quên nói chuyện Tư Hạnh. Gia đình cậy tiền cậy thế đút lót cho ra tù tính ép lấy chồng. Tôi mới nghe anh em bàn tán chuyện đó ít lâu thì bỗng nhiên một hôm tôi gặp cổ trong cứ. Hỏi ra, thoát ly luôn.

 

- Thật là một tin mừng!

 

Bảy Trung dường như không biết tình ý trong câu nói đó, anh cúi xuống che gió đốt thuốc trong khi Hữu đứng lên đi lại phía thảm cỏ, đưa hai tay lên đón những trái chùm gởi khô đang xoay tít mù trên cao.

 

5

 

Một căn gác có cầu thang riêng ở một khu công giáo cũng có lợi điểm của nó: Tự do và ít khi bị xét nhà. Có lẽ phải mượn thêm một cây đàn ghi-ta nữa. Có cây đàn ghi-ta chơi một lúc vào khoảng mười giờ đêm vừa giải trí vừa gây cho hàng xóm một ấn tượng “tốt” nếu “hàng xóm” ấy là một cô gái lãng mạn thì có khi lại còn hay.

 

Thuê xong căn gác, Hữu thực sự trở lại đời sống của một sinh viên rất bình thường, độc thân, hơi cô đơn một chút và có ít nhiều máu văn nghệ.

 

Xế chiều đứng ngoài cái lan can gỗ ngó ra đường hẻm Hữu tự nhiên nhớ trường kỳ lạ. Nhưng giờ đây trường học đối với anh chỉ còn là kỷ niệm. Bảy Trung phân công anh phụ trách trường Đại học Sư phạm nhưng anh chẳng còn chường mặt đến bất cứ trường đại học nào nữa. Những lần hội thảo xuống đường, những đêm đốt lửa hát trước đám đông... đã làm cho khuôn mặt anh trở nên quá quen thuộc. Bạn bè anh lớp trước bây giờ đã ra trường cả, lớp mới lên không ai còn biết anh nhưng những tên mật vụ đội lớp nhân viên văn phòng, đội lớp giáo sư thì vẫn còn đó, những thằng công an chìm đội lớp sinh viên thì vẫn đeo bám lấy trường lớp, rình mò...

 

Hữu đã nắm rất kỹ tình hình ở Đại học Sư phạm qua Bảy Trung, tuy nhiên anh vẫn chưa hình dung được nhịp sống của trường, chưa hình dung được những đôi mắt, những khuôn mặt mới. Có lẽ trường đã đổi khác lắm, sân cỏ nhiều hoa sứ hơn và những dãy lầu mới mọc lên... Anh nóng lòng chờ cái “móc” đầu tiên kể từ khi hoạt động trở lại.

 

Hữu đến chỗ hẹn trễ vài phút. Người bạn đang ngồi đợi trong một quán cà phê bên dưới giàn đậu. Hai người chọn một góc kín đáo.

 

Hữu gọi một ly nước trái cây còn Khâm uống cà phê sữa. Trái với dự đoán của Hữu, Khâm lại là một thanh niên khỏe mạnh, trẻ trung, cái nhìn thẳng, sáng.

 

- Tôi học năm thứ nhứt ban Lý Hóa - Khâm nói - Lớp đó thật là tệ. Toàn tụi phản động anh à. Anh nghĩ coi, toàn một lũ sắp làm công chức cho Nguyễn Văn Thiệu

 

Hữu ngó quanh, có ý nhắc Khâm nên nói nhỏ bớt. Anh hỏi:

 

- Thế còn các lớp khác?

 

- Cũng thế. Cả cái đại học sư phạm là vậy hết. Cứ ngày hai buổi vô lớp điểm danh xong xuôi, thầy nói gì chép nấy. Chép đã rồi về. Trong đầu tụi nó chẳng biết một chút gì về chánh sách thực dân mới, về độc lập dân tộc, đừng nói chi tới Cách mạng. Chúng chỉ biết có một điều, đó là làm thế nào để thi ra trường đậu cao, chọn được nhiệm sở tốt. Toàn là một lũ phản động, đáng ghét không thể tưởng được.

 

Khâm nói quá nhanh, nói thao thao bất tuyệt đến nỗi khi dừng lại anh gần như lỡ bộ, quá đà. Hữu hơi cúi xuống, giọng anh nhỏ lại. Anh hỏi:

 

- Cơ sở chúng ta ở đó có ba đồng chí, ngoài ra không có quần chúng tiến bộ nào sao?

 

Khâm nâng tách cà phê lên môi, uống một ngụm nhỏ và đặt nhẹ tách xuống bàn. Anh nói:

 

- Kể ra thì cũng có, cũng có một số.

 

- Chừng bao nhiêu?

 

- Thực ra tôi cũng không rõ.

 

- Nhưng chắc là có một số tiến bộ?

 

- Vâng, có.

 

- Vậy thì đâu phải chỉ toàn sinh viên phản động.

 

- Vâng... có lẽ như thế.

 

Thấy Khâm có vẻ bị xúc động. Hữu cười. Anh nói:

 

- Tôi rất đồng ý với anh rằng họ là những sinh viên sắp làm công chức tất nhiên họ cầu an và thụ động. Nhưng như thế, theo tôi không phải là phản động đâu anh à. Số phản động thực sự tôi nghĩ có lẽ ít thôi, rất ít là khác. Anh nghĩ sao?

 

Câu hỏi đột ngột làm Khâm luống cuống. Anh đưa tách cà phê lên môi, uống rất nhanh, đặt xuống rồi lại đưa lên môi uống một ngụm nữa.

 

- Vâng... Có lẽ anh nhận xét chín chắn hơn tôi. Thực ra dùng từ “phản động” có hơi thái quá nhưng dẫu sao thì... thì đa số vẫn rất lưng chừng không ủng hộ chánh quyền Sài Gòn nhưng cũng thờ ơ với cách mạng. Sự thực là như thế.

 

- Đó - Hữu nói - Chính cái đa số lưng chừng ấy mới là đối tượng mà ta phải tranh thủ đó anh à. Nếu ta khinh họ không biết gì, coi họ là kẻ nhởn nhơ đồng lõa với tội ác rồi có thái độ thù ghét, xa rời họ thì ta hoạt động với ai? Ta hoạt động để làm gì? Đó là tự cô lập mình với quần chúng. Ta đánh mất quần chúng. Làm cách mạng mà không có quần chúng là chết. Là thất bại. Là tự nộp mình cho an ninh, mật vụ...

 

Khâm ngồi im như tượng đá. Nhạc trong quán chợt chuyển sang một điệu buồn.

 

- Còn Ban đại diện. Thế nào anh?

 

Khâm dường như chưa ra khỏi cơn bàng hoàng. Anh uống tiếp một ngụm cà phê, hai môi còn chúm lại.

 

- Kể ra chúng cũng được một số sinh viên thích, nhờ thường tổ chức những cuộc đi chơi, có khi mời cả ca sĩ phòng trà về hát tại trường. Anh cũng biết rõ là tiền bạc chúng rất sẵn.

 

- Theo anh thì trong mùa bầu cử sắp tới đây ta có hy vọng thắng không?

 

- Cái đó còn tùy. Ý kiến của hai đồng chí kia thì có hy vọng nhưng tôi thì tôi thấy hơi khó. Cái trước mắt là làm thế nào để tập hợp được một liên danh mạnh.

 

- Thôi được, chuyện bầu cử cũng còn lâu, lần sau chúng ta sẽ bàn kỹ.

 

Hai người đứng lên ra khỏi quán. Mỗi người đi mỗi ngả.

 

Thành phố đã lên đèn. Hữu qua đường, rẽ sang bên hông chợ Tân Định đón xe buýt về nhà.

 

Chừng nửa giờ sau Bảy Trung đến.

 

- Gặp không? - Bảy Trung hỏi ngay khi lên tới đầu cầu thang.

 

- Gặp. Rất trong sáng.

 

- Vậy đó. Nhưng khi có công tác gì mạo hiểm là anh ta nhận ngay. Làm việc say mê, nhiệt tình rất cao. Rồi anh sẽ biết. Một người đa cảm và rất dễ xúc động.

 

- Khâm được kết nạp Đoàn lâu chưa?

 

- Gần mười tháng.

 

Hữu vừa nói chuyện vừa lui cui nấu nước. Bảy Trung trải chiếc chiếu ny-lông ra giữa sàn gỗ.

 

Hữu hỏi:

 

- Mấy thứ đó xong chưa anh?

 

- Xong. Tôi có đem cho anh đây.

 

Bảy Trung rút trong túi áo ra tấm thẻ căn cước xanh thảy xuống chiếu. Hữu cầm lên tay, nhìn sững tấm thẻ của mình.

 

- Lê Văn Tài. Cái tên nghe cũng được lắm. Giống y như thiệt.

 

- Thì đây là thứ thiệt đó chớ.

 

- Thứ thiệt?

 

- Thiệt trăm phần trăm. Chỉ có tấm hình là của anh thôi còn toàn bộ của người ta.

 

- Thế thì hay quá. Anh làm cách nào mà giỏi vậy?

 

Bảy Trung đổi thế ngồi, anh bẻ cong tấm thẻ căn cước xanh và búng búng bật bật mấy cái:

 

- Để rồi tôi sẽ truyền nghề cho anh. Giản dị lắm. Trước hết phải nắm vững nguyên tắc này: Trong lần ép đầu tiên ở Tổng Nha cảnh sát, sức nóng của máy chẳng những làm cho hai tấm nhựa dính liền nhau mà còn làm cho tất cả mọi tên, họ, chữ ký, nói chung là mọi dấu vết có trên mẩu giấy in đều “sang” qua lớp nhựa bọc ngoài. Dính chết cứng ở đó. Bây giờ muốn thay hình chỉ việc dùng mũi kim tách đôi hai tấm nhựa ra, ngâm vào nước sôi, cạo sạch mẩu giấy in đi...

 

Hữu ngắt lời:

 

- Vậy thì đi tuốt hết tên họ, chữ ký... còn gì?

 

- Đi sao được. Lúc nãy tôi đã nói rằng mọi dấu vết trên mẩu giấy in đã “sang” qua giấy nhựa rồi vì thế ta cạo sạch lớp giấy cũ mà chữ nghĩa vẫn còn y, chỉ việc thay vào một tấm giấy trắng cùng kích thước, dán tấm ảnh mới lên, ép hai tấm nhựa lại là xong.

 

- Vậy thì cũng đơn giản. Nhưng chắc là phải khéo tay lắm.

 

- Đúng. Phải khéo tay. Nhứt là lúc tách hai tấm nhựa ra. Làm đẹp hay không là do ở lúc ấy.

 

Hữu nói:

 

- Công việc của anh tôi mê lắm. Tôi phải tập mới được. Còn việc khắc dấu nữa. Quả thực là anh khéo tay.

 

- Đừng có khen. Rồi anh cũng sẽ làm được như vậy. Làm riết nó quen thôi. Anh biết không, lâu nay người ta vẫn làm dấu nổi bằng đồng, tôi nghiên cứu làm bằng gỗ và rồi hiện giờ thì cao su. Anh có tin rằng cao su mà vẫn có khả năng ép được con dấu nổi không?

 

- Làm được sao?

 

Bảy Trung mỉm cười, chậm rãi rót nước trà ra tách. Anh nói:

 

- Thôi để lần khác. Tôi sẽ làm cho anh coi.

 

Hữu cũng uống nước trà. Tiếng xe cộ chạy ngoài đường nghe đã thưa, một lát có tiếng còi tàu huýt lên ở đâu rất xa.

 

Bảy Trung ngồi uống nước trà mà mắt không rời bộ dạng tiều tụy của Hữu, anh ái ngại hỏi:

 

- Anh ở tù cũng hơn năm năm phải không?

 

- Năm năm bốn tháng.

 

- Lâu nay có được tin hai bác ở nhà không?

 

- Mẹ tôi mất từ lâu rồi, còn cha tôi bây giờ chắc cũng đã già yếu lắm rồi. Hay là tôi thử về thăm nhà một chuyến được không?

 

Bảy Trung cười. Dường như câu hỏi của Hữu đã xóa đi được vết nhăn trên vầng trán anh. Anh nói:

 

- Kể ra thì sau hơn năm năm xa cách, anh về thăm nhà cũng nên lắm, chính tôi cũng đang lo tới chuyện đó nhưng liệu có bảo đảm an ninh không? Giấy tờ đi đường thì không sợ đâu chỉ ngại khi về tới nhà. Mạng lưới mật vụ của chúng cũng đáng ngại lắm.

 

Hữu nói:

 

- Tôi có một người thầy ở ngoại ô thành phố Qui Nhơn. Nếu về có thể ghé đó vào ban đêm sáng đi sớm thì bảo đảm an toàn.

 

- Để rồi anh em mình bàn kỹ lại chuyện đó thêm. Tôi nghĩ anh cũng nên về lắm. Ngày mai tôi đem thẻ sinh viên và giấy hoãn dịch lại cho anh.

 

Hữu vui vẻ hỏi:

 

- Giấy hoãn dịch à? Hoãn dịch vì lý do gì? Gia cảnh hay học vấn?

 

- Không - Bảy Trung cười - Tụi mình thì chỉ hoãn dịch vì lý do làm cách mạng thôi.

 

 

7. 7

6

 

Hữu đến Qui Nhơn vào lúc xế chiều, anh đón xe lam về thẳng khu Sáu. Sau mấy năm xa cách nghĩa địa đã dày đặc mồ mả. Núi vẫn ở sau lưng, trọc thấp và đầy đá tảng. Mộ bia trắng toát, câm lặng xếp hàng ngàn đời. Đèn trên đài ra-đa ở dãy núi phía trong đã lấp lánh trong hoàng hôn mầu tím than.

 

Hữu xách cái xách tay đi len vào giữa mồ mả. Có phải nơi này không? Trước mặt là hàng rào kẽm gai. Khu đất rộng lố nhố những cây thánh giá trắng hếu như hình người đứng dang tay. Ngày trước dường như chưa có nghĩa địa này. Đúng rồi, chưa, đó chỉ là bãi cỏ và bụi cây dại, chiều chiều trẻ con thả bò ăn rong.

 

Hữu theo đường mòn tiến sâu vô phía chân núi. Nghĩa địa Phật giáo tiếp ngay phía sau dày đặc những bông sen và chữ vạn. Đúng là mẹ yên nghỉ trong mảnh đất này. Từ tượng phật bà Quan Âm rẽ sang trái mấy chục bước là tới phần mộ. Thưa mẹ, con đã về đây. Hữu ngồi xuống trước tấm bia nhỏ. Trong ánh sáng mờ nhạt của hoàng hôn, Hữu đọc lại dòng chữ ngày xưa chính tay anh đã khắc trên đó. Nét chữ còn nguyên vẹn nhưng sơn đã tróc gần hết và rải rác những vết rêu mầu xanh đen.

 

Hữu cúi người che gió và đốt nhang thơm. Mùi hương thoang thoảng của khói chợt dâng lên nỗi ngậm ngùi trong lòng anh. Hữu cắm nhang vào chiếc bình hương bằng xi-măng phía trước và quỳ mọp xuống trước tấm bia nhỏ. Lúc ấy anh nghe tiếng ríu rít của đàn chim mía đang bay về phía chân núi. Hữu ngẩng lên, đàn chim đã bay xa, khuất mất trong bóng chiều, chỉ còn lại khung trời rộng bàng bạc mây và cái im vắng mênh mông của buổi chiều ngoại ô. Anh đứng lên, ngôi mộ nhỏ như một nấm đất mọc đầy cỏ úa... Khói hương bay lên, vỡ tung trong cơn gió im lặng. Anh cố tưởng tượng hình dáng của mẹ nằm nhưng anh chỉ thấy được hình ảnh cuối cùng của mẹ. Hình dáng gầy yếu đầu cạo trọc, mắt mờ, bàn tay run run. Có phải khi con đi rồi mẹ ở nhà chỉ biết vui với ngọn đèn không? Ngọn đèn lúc chập choạng tối, lúc nửa đêm thức dậy khô cổ quờ quạng đi tìm một miếng nước. Ngọn đèn hột vịt vàng úa, lu mờ đứng đợi mẹ trong góc phòng, ngọn đèn nhỏ thay con hôm sớm với mẹ... thay con hầu hạ bên giường? Có phải chỉ có ngọn đèn đó thôi phải không mẹ? Có phải những buổi sáng sớm rét run mẹ lê từng bước đi tìm nồi cơm nguội và chai nước mắm nhưng đôi mắt mẹ đã lòa nên lấy lầm chai dầu lửa và đã phải nuốt nắm cơm khô hôi nồng và mửa thốc tháo, té nhủi sau hè? Có phải mẹ đã sống những ngày cuối cùng tàn khốc như thế không? Nấm đất vẫn câm lặng. Nấm đất không trả lời, chỉ có khói bay lên, vỡ ra, hết lớp này đến lớp khác, chỉ có những giọt nước mắt ứa ra trên má Hữu, chảy dài từng giọt lặng lẽ.

 

Hữu đứng im rất lâu cho đến khi cơn gió xao xác đến mang theo tiếng sóng vỗ rì rào ngoài ghềnh Ráng. Hữu đi quanh nấm mồ. Giọt nước mắt vô tình vỡ ra trên môi mặn, đầm ấm. Anh nhổ những cọng cỏ may trên mộ và lá bù xít mọc lan chung quanh. Chiều xuống dày đặc. Thành phố đàng xa đã lên đèn. Từ biệt mẹ.

 

Hữu xách cái xách tay theo lối mòn đi ra đường cái. Chuyến xe lam vắng khách đưa anh về căn nhà người thầy học cũ ở một xóm nghèo bên chân núi.

 

Người thầy già sống với một đứa cháu ngoại và cô con gái lớn trong một khu vườn trái cây nhỏ. Cảnh nhà không có gì thay đổi. Vẫn ánh đèn dầu leo lét bên cánh cửa sổ sơn màu xanh lá cây. Vẫn tiếng chó sủa gâu gâu uể oải.

 

- Ai vô đó?

 

Hữu bước lên thềm. Đôi mắt người thầy giáo già còn tinh lắm. Đôi mắt mở to, ngạc nhiên:

 

- Hữu đấy hả? Thầy nghe nói con...

 

- Dạ, Hữu đáp, con ở tù mới về đây. Thầy ngày rày có được khỏe không?

 

Người thầy đặt bàn tay lên lưng Hữu.

 

- Vô, vô đi con. Thầy đã nói là thầy sống để chờ ngày hòa bình mà.

 

Đứa cháu ngoại đem chiếc đèn bão vào đặt trên tấm phản gõ. Thầy ngồi xếp bằng, cái quạt nan đan bằng cật tre để một bên.

 

- Sao con về được?

 

- Con vượt ngục. Con trốn về đây nên không thể ghé nhà, con ghé vô đây. Không biết cha con còn khỏe không?

 

Người thầy nghiêng đầu suy nghĩ. Trong ánh đèn lờ mờ ấy hiện ra nguyên vẹn cái vẻ đăm chiêu ngày xưa.

 

- Hôm rằm này cha con có ghé đây kiếm cây giống, thấy còn vững vàng lắm. À, mà để thầy biểu thằng Hào nó đi mời, giờ này vẫn còn xe lam đây mà.

 

Thằng cháu ngoại đứng một bên hăm hở nói.

 

- Để cháu đi cho.

 

Nói xong nó chạy thẳng ra ngõ. Người thầy đưa chiếc khăn lông cho Hữu và dẫn anh ra giếng rửa mặt.

 

Khu vườn trái cây tối đen như mực. Tiếng ếch nhái từ phía chân núi sau vườn đưa lại, gợi lên trong trí Hữu cả một vùng thiên nhiên xanh ngát ngày xưa, với những bãi cỏ thênh thang chạy vòng qua mỏm núi, những vùng nước đọng lác đác hoa súng đỏ, trắng và hoa rau muống tim tím, hoa nổ xanh xanh; với cánh đồng lúa chín vàng thơm mùi cốm và con đường đất loanh quanh như con thú nhỏ chạy lẫn vào phía chân núi. Ngọn núi trọc ấy, ngày xưa vẫn thường in bóng những tà áo dài trắng lất phất bay như những con cò ở mãi đàng xa, phía bên kia đồng lúa. Ngọn núi không cao nhưng đầy đá cuội và gai góc, anh vẫn thường leo lên đó nhìn những đám mây cao, những đám mây êm như cánh chim tuyệt vời ngủ quên trong gió giữa trời xanh bao la, tự nhiên thấy thèm gần gũi chúng và cố leo lên tới đỉnh. Bấy giờ anh là người cao nhất thành phố, dưới chân anh, thành phố chỉ là một mô hình nhỏ bé, một hình tam giác xanh mát bóng cây và mái ngói đỏ thấp thoáng phía sau những chòm lá xanh như những cụm bông trang rực rỡ. Phương đông là biển xanh trong, lấp lánh nắng. Chân trời sáng lên như thủy tinh rực rỡ. Cù Lao Xanh có khi là một quả núi đen sẫm, có khi chỉ là một cái bóng mờ nhạt lẫn mất trong sương. Lâu lâu mới có một con tàu nhổ neo ra đi chậm chạp câm lặng, buồn thảm. Phi trường nhỏ với phi đạo ngắn chói lòa mặt trời buổi sáng. Chiếc phi cơ ở đâu trở về sà xuống bãi đáp êm ái như một cánh chim.

 

Giờ trở lại đây, ngọn núi vẫn còn đứng đó với dáng con kỳ đà bò về phương nam, có lẽ vẫn còn những chòm cây dại, những bụi sim thấp lè tè mà đầy trái ngọt, có lẽ vẫn còn nguyên nhiều thứ nữa. Đã lâu lắm rồi sao tiếng ếch nhái vẫn còn nguyên giọng bâng khuâng, sao cơn gió còn thơm mùi cốm.

 

Hữu thấm khăn, lau mặt và trở vào. Người thầy nhóm ngọn lửa vàng giữa ba hòn gạch. Gian nhà tranh đơn sơ, vách phên tre lủng nhiều chỗ. Vách bếp trét bằng đất sét trộn rơm giờ đã nám khói đen ngòm, trên gác bếp lủng lẳng những trái bắp giống, trái bầu ve và miếng xơ mướp.

 

Hữu ngồi xuống bên người thầy cũ.

 

- Thầy nấu gì đó?

 

Người thầy cười, những nếp nhăn hằn thật rõ sau hai đuôi mắt:

 

- Ra đây, đi theo thầy.

 

Thầy xách cái cuốc, dáng cao cao, thong dong. Thầy cúi xuống cho khỏi đụng chái nhà rồi đi ra vườn. Sao đầy trời. Đêm có gió vi vu đuổi lá khô chạy rào rào dưới những gốc vú sữa, gốc mít... Hữu nói:

 

- Con nhớ ngày xưa thầy dẫn tụi con đi học có những đêm trời cũng tối đen như thế này. Đi qua những khu vườn thơm, tay xách cái đèn dầu dừa hoặc đèn khấu, học thì học trong đình trong miễu, bàn ghế làm tạm bằng tre bằng thân cây rừng thô sơ. Về sau này nhiều lần đi công tác tại các vùng giải phóng thỉnh thoảng con lại thấy cảnh học trò đi học đêm như thế. Lần nào thấy cảnh đó con cũng nhớ thầy rồi nhớ luôn cái cảnh buổi sáng làm lễ khai giảng trong miễu thầy mặc cái quần xi-ta xám áo vải ú màu cháo lòng rộng thùng thình. Thầy đứng cao hơn mấy thầy khác, thầy bắt giọng cho tụi con hát bài quốc ca. Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc... Thiệt là lạ, tại sao cảnh nào con cũng không nhớ rõ bằng cái cảnh ấy. Nhớ rõ đến nỗi trong tai còn mường tượng ra giọng hát của thầy.

 

Người thầy dừng lại bên mấy vồng khoai, thầy đặt cái cuốc xuống. Điếu thuốc cháy đỏ lên soi sáng chòm râu lưa thưa... Thầy nói:

 

- Cái miễu mà con nói đó bây giờ không còn nữa. Bom đạn đã biến thành bình địa. Mấy cây xoài cây bứa to lớn như thế mà cũng gãy sạch. Hôm Tết thầy có về thăm quê đi ngang qua đó chỉ còn có tấm bia đá phía trước. Con còn nhớ tấm bia đá ấy không?

 

- Nhớ. Tấm bia đá cao quá đầu người, có tạc hình con lân, đắp nổi lên bằng mảnh chai, mẻ chén, mẻ sành phải không thầy?

 

- Con nhớ rõ lắm. Bây giờ chỉ còn tấm bia đó đứng trơ trọi trên một nền đất rộng cỏ cháy, dạo sau này người ta cất ba bốn căn nhà tôn lụp xụp nơi đó, buôn bán với tụi Đại Hàn...

 

Hai thầy trò vừa bới khoai vừa trò chuyện trong tối. Gió thổi vi vút trên cao, ngọn tre nhấp nhô giữa muôn ngàn vì sao lấp lánh. Hữu nói:

 

- Lâu lắm rồi con mới sống lại được một đêm yên tĩnh như thế này ở thôn quê. Ở Sài Gòn không như thế này đâu. Giờ này trong đó đường phố còn đông nghẹt xe cộ. Nói chuyện với nhau phải nói thiệt là to mới nghe được. Sống ở thành phố nhiều khi nhớ lại những buổi tối như thế này con thèm lắm, nhất là những đêm mưa có cái chòi cao giữa rẫy, hai cha con mang áo tơi lá khấu có vảy to sù sì như con kên kên đội mưa ra vườn bẻ bắp vào nướng trên than hồng, đào khoai vào vùi trong bếp tro, vừa sưởi vừa ăn bắp nướng. Cha con kể chuyện Người Ăn Bắp Và Con Rùa. Nước giếng đựng trong cái bầu ve khô treo lủng lẳng trên “con sẻ”. Bên ngoài mưa mặc mưa. Rả rích, tí tách trên lá chuối lá khoai lá mít, lộp độp trên luống cải trên đụn rơm khô... thấy ấm, thấy thú quá chừng...

 

Hai thầy trò đứng dậy. Thầy vác cái cuốc, Hữu bưng rổ khoai lon ton đi sau như đứa tiểu đồng nho nhỏ trong truyện cổ tích.

 

Trời đầy sao. Đêm đẹp vô cùng. Bước chân đi sột soạt, sột soạt trên lá khô. Cảnh đêm ở đây phần nào giống những miền quê vùng châu thổ Cửu Long. Cũng vườn xoài, rặng trâm đám mía và những tiếng chân người đi xào xạc, chỉ khác là không có tiếng sóng nước lách tách trong những tối triều lên...

 

Hai người đến bên bếp lửa. Ấm trà Huế được nhắc xuống, nồi khoai bắc lên. Nụ cười của thầy tạo những nếp nhăn rõ ràng sau hai đuôi mắt. Nụ cười đẹp vì hai hàm răng đều bóng ngời ngày xưa vẫn còn nguyên vẹn sau khi trải qua mấy nhà tù của Ngô Đình Diệm. Chúng đánh thầy đến thổ huyết nhưng hàm răng thì vẫn bóng ngời. Hàm răng đẹp làm cho nụ cười hiền. Hiền và rộng. Con đi đâu xa có nhớ thầy cũng là nhớ nụ cười ấy. Và những nếp nhăn sau đuôi mắt. Và câu bắt giọng “Đoàn quân Việt Nam đi...”. Thế mà giờ đây hai thầy trò lại có lúc ngồi với nhau bên một bếp lửa.

 

Ô! Sao bếp lửa đẹp như cây hoa lạ giữa đêm. Cây hoa nhảy múa lung linh, tỏa sáng. Con rất mê tiếng nổ lách tách của củi khô, tiếng kêu “xùy xùy” của củi ướt làm phun những vòi khói nhỏ qua các lỗ mọt trên nhánh củi... Con mê những thỏi than hồng rực rỡ còn giữ nguyên hình nhánh cây, sáng đẹp như mẩu san hô. Bếp lửa sao có tình quá, làm ấm lòng bàn tay. Hơ một lúc áp tay lên thái dương thấy thích. Sao thầy không làm như thế. Mỗi khi lạnh thầy cũng giống như cha con, thường trùm cái khăn lông qua đầu, phủ kín hai tai, quấn một vòng qua cổ. Ngọn lửa nhấp nhô như làm xiếc. Có phải trong sách người ta nói rằng một trong những khám phá quan trọng nhất của loài người là lửa không? Đúng như thế, nhưng phải ngồi lại quanh đây, bên bếp lửa hồng, bên những người rất thân mới thấy mối tình của lửa, mới thấy khả năng liên kết gắn bó, lạ thường của nó. Và mới hiểu rằng lửa không những chỉ là một khám phá quan trọng mà còn là một khám phá kỳ diệu tuyệt vời...

 

Hữu nhìn đăm đăm vào ngọn lửa. Những trái bắp đầu tiên đã chín, thầy gắp ra thảy cho Hữu một cái rồi xếp trên cái sàng bằng tre. Ngoài ngõ có tiếng xe gắn máy. Thầy nói:

 

- Thằng Duy đó chớ không ai.

 

Hữu đứng lên. Duy và người cha đã vô tới cái sân đất.

 

- Con ơi!

 

Tiếng kêu ngắn ngủi ấy vang lên trong tâm hồn bàng hoàng của Hữu. Anh thấy giọt nước mắt long lanh trên mắt cha. Hữu cảm động ôm lấy cha. Cha cao lớn thong dong như chàng tráng sĩ. Cha khỏe không cha? Cha khỏe, cha có sao đâu, ở nhà ai cũng tưởng con đã chết. Con xin lỗi cha. Con xin lỗi cha ngàn lần. Cha vẫn thương con vô cùng, cha vẫn thương con như ngày còn thơ dại. Con cảm nhận điều đó trong hơi ấm của đôi tay to lớn của cha và trong tiếng kêu thảng thốt vừa rồi. Con xin lỗi cha, lâu nay tự trong thâm tâm con vẫn nghĩ rằng cha không thương lũ con cũng như cha đã bạc tình với mẹ...

 

- Cha tưởng con đã chết rồi sao?

 

- Ai cũng nói con đã chết.

 

Hữu ngó sang Duy, Duy giải thích:

 

- Cách đây hai tháng tôi có vào Biên Hòa thăm chú. Tôi đến nhà lao Tân Hiệp xin gặp mặt chú. Tôi đợi từ sáng tới chiều cuối cùng thằng cảnh sát ra gặp tôi. Nó đứng nhìn tôi một lúc rất lâu rồi nó cười, nó nói: “Ông về đi, thằng em ông nó đang ở nhà đó, nó đâu còn ở đây nữa.” Tôi nghe nó nói, thấy điệu bộ rất khả nghi, tôi lo ngại lắm. Tôi về, tôi kể lại mọi sự, bàn bạc với nhiều người tin cẩn, ai cũng nói chú bị thủ tiêu rồi. Chú về nhà mà coi. Cha đã lập một cái bàn thờ...

 

Hữu cười. Duy cũng cười. Người thầy rót nước trà ra tách mời ông bạn già. Hữu bắt đầu kể lại chuyện vượt ngục. Thằng Hào ngồi trên ngưỡng cửa chóc mỏ lên nghe, con chó mốc nằm trong lòng nó, đuôi ngoe nguẩy.

 

Hữu kể, câu chuyện đang nửa chừng thì con chó chồm lên. Thằng Hào giữ nó lại.

 

- Ai đó?

 

Một người con gái hiện ra trong vùng sáng của khung cửa lớn bóng in xuống sân.

 

- Anh Hữu!

 

Tú quên cả chào mọi người, đứng khóc thút thít như đứa nhỏ.

 

- Anh Hữu ơi! Anh còn sống nhưng anh Nghi thì không còn...

 

- Sao? Hữu kêu lên, Nghi đâu?

 

Tất cả đều im lặng. Thôi, anh hiểu rồi. Anh hiểu rồi Tú ạ. Em ngồi xuống đi, em đừng khóc. Đây là nhà của thầy, chung quanh còn có hàng xóm.

 

Hữu day sang Duy.

 

- Anh Ba, Nghi tử trận rồi à?

 

- Không - Duy nói, cố giữ giọng bình tĩnh - Nó bị bắn chết. Người ta nói nó bắn lộn với một thằng Mỹ nhưng anh không tin như thế. Không ai tin như thế cả.

 

Hữu không còn lòng dạ nào kể hết câu chuyện vượt ngục của mình. Người thầy đã bưng rổ khoai và bắp nướng lên. Thầy nói với đứa học trò cũ:

 

- Mọi việc đã qua rồi con ạ. Chỉ còn một cách giải quyết duy nhất, là cuộc chiến đấu mà con đang dự phần... Thôi, mời tất cả.

 

Duy vói lấy một củ khoai, bẻ một nửa đưa cho thằng Hào. Nhìn quanh, không thấy ai nhúc nhích, anh tần ngần giây lâu rồi đưa củ khoai lên miệng. Anh nhai chậm. Đôi mắt buồn.

 

7

 

Cuộc họp gồm bốn người: Hữu, Khâm, Lượng (bí thư chi đoàn Đại học Sư phạm) và Bảo. Một đoàn viên mới. Khâm nói:

 

- Anh có ngờ là chúng nó mời một đoàn viên của mình làm trưởng Ban vận động bầu cử không?

 

- Ai vậy?

 

Bảo cười. Anh là một thanh niên trắng trẻo, đẹp trai. Anh giải thích:

 

- Lâu nay tôi vẫn giao du với nhóm sinh viên của chính quyền, cũng nhờ cái “mác” trường Tây anh ạ.

 

- Như vậy theo các anh thì tình hình bầu cử năm nay thế nào?

 

- Vẫn chưa khá, Khâm nói, chúng tôi vẫn lập chưa xong cái liên danh. Mới được năm người trong đó đã có hết hai đoàn viên của ta. Chẳng lẽ ghế chủ tịch mình lại nhảy vô nữa thì còn gì là “quan điểm quần chúng”.

 

Lại nói:

 

- Tôi có mời hai người rồi nhưng họ đều từ chối. Hai người đó là quần chúng tất cả. Nhưng họ sợ bị bắt. Tụi công an thường cứ nhằm vô ghế chủ tịch.

 

Hữu quay sang Bảo và Lượng:

 

- Các anh có mời ai không?

 

Lượng đáp:

 

- Tôi có mời một anh học Toán 3 nhưng anh ấy cũng sợ. Kiểu này chắc anh Khâm phải ra quá.

 

Khâm:

 

- Tôi còn một thằng bạn, học năm thứ 3 Việt Hán. Nó tốt lắm, gia đình cũng tốt nhưng không biết nó có chịu không. Năm nay nó ra trường.

 

- Phải cố mời.

 

- Nhưng nếu không được?

 

- Khi nào không được thì anh cứ ra. Anh Lượng giữ ghế gì?

 

- Phó chủ tịch ngoại vụ.

 

- Liên danh mình có bao nhiêu nữ?

 

- Một người.

 

- Liên danh nó?

 

- Hai. Và đẹp nữa.

 

- Sinh viên trầm trồ lắm.

 

Khâm ngã người ra sau, chợt nói:

 

-Tối nay tôi phải đi mời anh ta cho được.

 

- Anh ấy tên là gì? Hữu hỏi.

 

- Trần Hồng Sơn.

 

8

 

Nghe nói xong Sơn lắc đầu lia lịa:

 

- Không được. Tao hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo. Trời ơi! Tại sao mày lại nghĩ là tao có khả năng làm chủ tịch sinh viên! Rồi làm sao tao ứng phó nổi với tình hình?

 

Khâm ngồi hơi chồm tới phía bạn, anh nói:

 

- Khi anh em mời mày, anh em cũng có bàn bạc kỹ. Tại sao không mời người khác, Thắng chẳng hạn, anh ta đứng đắn, học giỏi được sinh viên biết tiếng, nhưng anh em không mời bởi lẽ dễ hiểu là Thắng xa cách chúng ta, không biết chúng ta là ai, còn mày, mày từng chia xẻ với anh em trong những lần xuống đường bãi khóa, mày gần gũi với cách mạng. Tao mời mày chính là vì thế, còn chuyện ứng phó với tình hình thì lo gì, chúng ta sẽ góp ý bàn bạc, chúng ta có tổ chức lãnh đạo.

 

Sơn nhìn ra khung cửa sổ. Gió mang lại mùi tanh tanh của bùn non từ con kinh nước đen chảy qua cầu Trương Minh Giảng.

 

Tuy Sơn và Khâm thân nhau từ hồi còn nhỏ nhưng đôi ba lần Khâm mời Sơn vô tổ chức anh đều từ chối. Cần việc gì - Sơn nói - tao sẵn sàng làm nhưng cho tao miễn vô tổ chức.

 

Khâm hỏi bạn:

 

- Còn bây giờ thì sao?

 

- Không được. Tao biết sức tao mà. Vả lại tao rất kém về khoa nói trước công chúng, làm thế nào tranh cử nổi.

 

Khâm ngồi làm thinh. Rất lâu. Sơn cũng thấy không khí căng thẳng quá, anh đứng lên đi đi lại lại trong phòng.

 

Khâm thấy cần phải nói, giọng có phần nào chua chát:

 

- Sơn à, giữa lòng yêu cách mạng và hành động cách mạng có một khoảng cách. Khoảng cách ấy nhỏ đến nỗi chỉ cần một tờ truyền đơn rải xuống sân trường, một câu khẩu hiệu chống Mỹ viết vội vàng trên vách lớp cũng đủ san bằng. Nhưng vấn đề lại ở chỗ đó: Anh có dám rải một tờ truyền đơn, viết một câu khẩu hiệu giản đơn như thế hay không? Đó là những công tác đơn giản nhưng vô cùng quan trọng, nó là “bước ngoặt lịch sử” mà nếu ai dám bước qua đó, sẽ thấy mình lớn lên một cách cụ thể chớ không phải như hình ảnh đẹp mà ta vẫn có về mình.

 

Sơn vẫn ngồi im. Khâm lại nói:

 

- Tao mệt và căng thẳng quá. Đến chiều mai là hết hạn nộp đơn ứng cử rồi.

 

Khâm dựa lưng vào vách, chân vẫn mang nguyên đôi giày da không có tất chìa ra ngoài thành giường. Anh nghe trong người nhơm nhớp mồ hôi và cảm giác đói dâng lên khó chịu. Suốt mấy hôm nay anh nhịn đói như thế là thường. Thực ra công việc không làm anh mê mải đến độ quên ăn nhưng vì có quá nhiều việc phải làm: gặp gỡ bàn bạc với các người trong liên danh, sang hình, thảo diễn văn, vạch chương trình hành động... anh không có thì giờ về nhà ăn cơm nên thường giải quyết cơn đói bằng một khúc bánh mì dọc đường hay có khi chỉ vài quả khế chua trong sân nhà của một người bạn nào đó. Sự thiếu ngủ và cơn đói làm cho các bắp thịt mỏi rời và hai mí mắt cứ muốn sụp xuống. Khâm cầm tách cà phê uống thêm một ngụm lớn. Sơn lại bàn viết mở máy cát-xét. Khúc nhạc làm Khâm thấy mình xa lạ và thừa thãi trong căn phòng này. Trời ơi! Đây là việc chung, nào phải việc của riêng tôi, tại sao anh không thấy điều đó, hay anh thấy mà anh cố tình quay đi. Tôi đâu có cần nghe khúc nhạc ấy. Tôi cần một người bạn, một người chịu ra tranh cử. Nếu chúng ta cùng suy nghĩ như nhau, cùng biết đâu là điều trái, đâu là lẽ phải thì tại sao chúng ta không cùng chung lo, tại sao anh không cùng tôi chia sẻ trách nhiệm này...?

 

Nước mắt Khâm trào ra. Ngăn không kịp. Anh khóc như đứa trẻ thơ. Anh đói lả. Nếu không có khúc nhạc ấy có lẽ mình đã không khóc. Nhưng anh vẫn khóc, nấc lên mà lòng thấy hả, thấy rõ tiếng khóc của mình như lời nguyền rủa thằng bạn hèn nhát... mày vẫn tự hào mày là kẻ trí thức sao mày không làm theo điều mày nghĩ...

 

Khâm bỏ đi thẳng xuống thang lầu. Tiếng nhạc đuổi theo anh, bay bổng, mơn trớn. Anh bước nhanh ra đường.

 

Mới hơn chín giờ đêm nhưng phố đã vắng lắm. Vài chiếc xe gắn máy chạy vụt qua. Những người lao động đi làm về muộn đạp xe cút kít, uể oải. Gió mát làm Khâm thấy dễ chịu hơn lúc nãy đôi chút. Giờ này xe buýt đã hết chạy, anh đi dưới lòng đường một mình. Vậy là ta phải ra tranh ghế chủ tịch. Cần ngủ một giấc dài lấy sức ngày mai cắt tóc, ủi quần áo tắm rửa...

 

Khâm đi được một lúc thì có chiếc xe Honda rà lại sau lưng. Giọng nói quen thuộc vang lên:

 

- Khâm! Ngồi lên tao chở về.

 

Té ra Sơn. Mặt mày buồn thiu. Khâm ngồi phía sau xe, không biết nói câu gì với bạn. Hai người đi được một lúc, Sơn đột ngột nói:

 

- Thôi tao nhận. Mai mày cứ nộp đơn. Bây giờ ghé ăn tô phở. Tao biết mày đói.

 

9

 

Cuối buổi học sáng, kiểm phiếu lần thứ nhứt liên danh phe chính quyền thua mười hai phiếu. Tuy chỉ thua một số phiếu ít oi như thế nhưng chúng cũng lặng người đi trước kết quả ấy. Anh chàng thụ ủy liên danh tiếp lấy tờ biên bản ký một cách uể oải, tư lự. Chuông điểm dứt giờ thứ ba. Mọi người rời hội trường ra sân.

 

Sơn vui vẻ kéo cả ê-kíp của mình vào câu lạc bộ nhà trường vừa cà phê cà pháo, vừa rút ưu khuyết điểm cho cuộc bầu cử buổi chiều.

 

Thua mười hai phiếu vào buổi sáng quả là một vố bất ngờ cho chúng vì đa số các lớp có giờ học buổi sáng đều có người ra ứng cử trong liên danh của chúng. Chúng hy vọng tràn trề là sẽ hốt trọn số phiếu bầu nhưng chúng đã thất bại thì làm thế nào chúng có hy vọng thắng được trong khi lớp đông sinh viên nhất là lớp Việt - Hán 3 của Sơn lại có giờ bầu cử buổi chiều. Sơn hiểu rõ tình cảm của các bạn trong lớp mình và anh biết chắc rằng tại đây ít ra anh cũng được năm chục phiếu.

 

Xong chầu cà phê với bạn bè, Sơn vừa quay trở về lớp thì ông phụ tá khoa trưởng đã từ trong văn phòng xăm xăm đi lại phía anh. Ông bắt tay Sơn thật chặt và ôn tồn nói:

 

- Mời anh, mời anh vô văn phòng, tôi có chuyện cần bàn một lát.

 

Câu nói dịu dàng của viên thiếu tá biệt phái ấy quả có làm Sơn nao núng. Tuy nhiên anh tự dặn mình phải bình tĩnh. Anh theo hắn bước vô một phòng khách sang trọng. Hai người ngồi đối diện nhau trong hai chiếc ghế bành lớn đặt giữa phòng. Tên phụ tá mỉm cười mời Sơn một điếu thuốc và nói:

 

- Sáng nay tôi có được một cú điện thoại từ Tổng Nha cảnh sát. Đáng lẽ tôi gặp anh ngay sau đó nhưng tôi bận quá.

 

Sơn hỏi:

 

- Có chuyện gì liên quan đến tôi sao?

 

Tên phụ tá cười cười:

 

- Cũng không có việc gì quan trọng lắm đâu, họ chỉ cho biết rằng liên danh anh hiện đang bị các phần tử cộng sản núp trong bóng tối giựt dây với những mưu đồ chính trị.

 

Sơn sửng sốt:

 

- Trời ơi! Chuyện này thật hoàn toàn bất ngờ đối với liên danh chúng tôi. Thầy có thể cho xem những bằng chứng cụ thể được không?

 

Tên phụ tá ngửa cổ ra, rít một hơi thuốc. Hắn nói:

 

- Trong cuộc điện đàm hồi sáng, ông Phó tổng giám đốc Tổng Nha có nói với tôi là nếu liên danh các anh muốn, họ sẵn sàng mời anh đến xem các bằng chứng đó, phần tôi, với tư cách phụ tá khoa trưởng tôi mời anh vô đây cũng chỉ để nhắc nhở anh biết để khi có xảy ra chuyện gì anh đừng trách là tại sao chúng tôi không báo trước. Dẫu sao, tôi nghĩ, trừ phi anh có hậu ý chính trị thì tôi không nói, nhưng nếu anh muốn ra trường làm giáo sư thì tôi khuyên anh chớ nên dính líu tới những kẻ nguy hiểm... Nói cách khác, tôi khuyên anh nên rút lui thì hơn.

 

Sơn dụi tắt điếu thuốc vô cái gạt tàn. Thấy anh yên lặng khá lâu tên phụ tá cười khà khà. Hắn nói:

 

- Nói vậy chớ tùy anh. Nếu muốn, anh cứ tiếp tục cuộc tranh cử.

 

Hắn đứng lên bắt tay Sơn, anh thẫn thờ bước ra sân cỏ. Ánh nắng rực rỡ buổi trưa làm Sơn chói mắt. Anh nhìn lên các vòm lá xanh cho đỡ khó chịu rồi xăm xăm đi lại chỗ để xe. Mười lăm phút sau anh đến nhà Khâm. Sơn nói:

 

- Thằng cha phụ tá khoa trưởng nó vừa dọa tao mày ạ.

 

- Nó dọa thế nào?

 

- Nó nói nó có bằng cớ là Việt cộng lãnh đạo liên danh mình. Tao bảo nó cho coi thì nó nói là muốn coi thì đến Tổng Nha Cảnh Sát mà coi.

 

Khâm nghĩ ngợi giây lát. Hai người ngồi ngay ngoài hiên. Lát sau Khâm nói:

 

- Nó nói dóc. Nếu có bằng chứng cụ thể thì nó đã quảng cáo, trưng bày tùm lum, rồi “hốt” tụi mình cho liên danh tụi nó “độc diễn”. Đây chẳng qua nó muốn dọa mà thôi. Mày sợ không?

 

- Lúc đó thì tao không sợ.

 

- Còn bây giờ?

 

- Tao ngại nó đánh rớt tao cuối năm nay.

 

- Không ngại. Trừ trường hợp mày không phải là sinh viên xuất sắc thì nó có thể làm vậy lắm, nhưng mày lại là sinh viên giỏi. Trúng cử kỳ này mày có thế mạnh trong sinh viên, tụi nó không dám dở trò “ma giáo” đâu. Vả lại đâu phải giáo sư nào cũng xấu cũng phản động như bọn thằng phụ tá, như thằng M. dạy chữ nôm đâu. Sơn ạ, mày phải tiếp tục.

 

Sơn ngồi im. Mấy ngón chân ngoe ngoe trong các quai dép. Anh nói:

 

- Mày nói thế nhưng tao vẫn ngại. Không tìm được cách này thì chúng nó cũng tìm cách khác để không cho tao tốt nghiệp, chẳng hạn như chúng bắt tao giữa kỳ thi. Chỉ cần bắt một tuần thôi cũng đủ chết tao. Thấy không?

 

- Thấy - Khâm trả lời gọn, thản nhiên - Nhưng tao còn thấy xa hơn mày nữa. Tao hỏi, chẳng lẽ mày tính cả đời làm công chức cho tụi nó à? Mày không nghĩ rằng rồi tụi nó sẽ sụp đổ và cách mạng sẽ thắng lợi hoàn toàn à? Tại sao mày dám đặt tương lai của mày, của con cái mày vào tương lai của bọn chúng? Mày gan thiệt Sơn à. Và ngu nữa. Đúng không?

 

Sơn không trả lời. Anh chỉ cười. Nụ cười tư lự. Khâm hỏi lại:

 

- Đúng không?

 

- Đúng.

 

- Đúng thì mày phải hứa là không rút lui.

 

Sơn bật cười:

 

- Ừ. Tao không rút lui đâu.

 

- Tốt lắm. Trong tình hình này chỉ cần mày giữ vững lập trường là mình thắng.

 

10

 

Sau buổi liên hoan ra mắt tân Ban Đại diện sinh viên, Sơn tặng Khâm một đóa hoa cúc vàng. Khâm giắt trên túi áo. Lúc nãy trước khi đến đây anh đã có ý định ra chợ mua một bó hoa nhưng không biết phải chọn thứ hoa gì, bây giờ có cái hoa cúc đẹp rực rỡ Khâm thấy thích.

 

Anh lên xe buýt đến chợ hoa đường Nguyễn Huệ. Hoa đủ màu, đủ loại nhưng anh chưa tìm thấy bó hoa cúc nào đóa to như cái hoa trên túi áo. Lúc ấy anh nghe giọng nói trong trẻo của một người con gái:

 

- Anh mua hoa hồng đi anh. Mua về tặng người yêu.

 

Khâm dừng lại. À, mà Hữu dặn mình mua hoa đem đến chỗ hẹn để làm gì, sắp đón một nữ đồng chí nào đấy chăng? Khâm ngồi xuống, anh cầm lấy bó hoa hồng từ tay cô gái, anh nói:

 

- Tôi chưa có người yêu, biết mua tặng ai bây giờ?

 

Cô gái cười. Không ngờ hàm răng lại đẹp quá đỗi. Cô hỏi:

 

- Vậy anh tới chợ hoa làm gì? Anh mua bó hoa hồng này đi!

 

Khâm ôm bó hoa, trong trí vẫn còn hình ảnh hàm răng ngời bóng, đều như hạt bắp. Anh trả tiền, chào cô gái và lên xe buýt đến điểm hẹn.

 

Hữu chờ Khâm ở đó. Thấy trong phòng có bày một chiếc bàn nhỏ trải khăn trắng và một chiếc bình hoa bằng sứ đơn giản, Khâm hỏi:

 

- Chuyện gì vậy?

 

- Tôi báo anh biết một tin vui là hôm nay đồng chí Bảy Trung thay mặt cho Đảng ủy đến kết nạp anh vào Đảng Nhân Dân Cách Mạng tức là Đảng Lao Động Việt Nam vậy anh nên sửa soạn tinh thần để làm lễ.

 

Khâm sửng sốt nhìn bạn:

 

- Trời ơi! Thiệt sao anh?

 

Hữu mỉm cười, anh chỉ cái bình sứ:

 

- Cắm hoa vô đi!

 

Khâm mở cái bao giấy, lầm bầm:

 

- Các anh chẳng cho biết trước gì hết trơn để tôi chuẩn bị. Lát nữa nói sao đây?

 

Hữu mỉm cười:

 

- Anh vậy là long trọng, là “bài bản” lắm rồi đó. Hồi tôi được kết nạp không có được bình hoa đẹp như vầy đâu. Tình hình Sài Gòn lúc ấy găng lắm. Phải làm nhanh, gọn và kín đáo mới bảo đảm an toàn được. Do đó tôi cũng đâu có được báo trước. Đùng một cái mấy ảnh nói “kết nạp” vậy là thành Đảng viên.

 

Khâm ngồi chóc mỏ nghe. Cười cười hoài. Y hệt cậu thanh niên nghe ông anh nói chuyện cưới vợ. Hữu vừa dứt là anh ta hỏi ngay:

 

- Vậy thì chút nữa tôi nói gì, làm gì đây?

 

Hữu vừa định mách nước thì Bảy Trung tới. Anh bắt tay Khâm, máng cái mũ nỉ lên cái đinh đóng trên vách ván. Anh hỏi Khâm:

 

- Anh dự liên hoan có vui không?

 

- Vui lắm. Không khí cũng tưng bừng lắm.

 

- Sinh viên dự có đông không?

 

- Khá đông. Sau lễ ra mắt Ban đại diện mới, họ lên hát.

 

- Họ hát những bài gì?

 

- Cũng có người hát nhạc vàng nhưng đa số hát nhạc phong trào. Không ngờ quần chúng sinh viên biết nhiều nhạc phong trào đến như vậy. Trường Sư phạm mà còn khá thế đấy.

 

Anh Bảy Trung cười, mở xách lấy ra một cái kéo, một cuốn sổ tay và một tờ giấy trắng. Anh vẽ hình búa liềm trên giấy rồi vừa cắt vừa nói:

 

- Thôi, ta làm. Chắc anh Hữu có nói chuyện với anh rồi.

 

- Dạ, có.

 

Bảy Trung trầm ngâm giây lát rồi nói:

 

- Sau hơn một năm kết nạp Đoàn, Đảng ủy nhận thấy đồng chí có nhiệt tình cách mạng cao, có phấn đấu để hoàn thành mọi công tác Đảng giao phó và mới đây Đảng ủy đánh giá rất cao sự nhẫn nại kiên trì của đồng chí trong việc thành lập liên danh cũng như rất sáng tạo và dũng cảm trong những cuộc vận động tranh cử gay go với địch và giành được thắng lợi. Chính vì thế mà Đảng ủy đã phân công tôi đến đây làm lễ kết nạp đồng chí vào Đảng. Đồng chí thấy sao?

 

Khâm ấp úng, ấp úng mãi rồi cười. Bảy Trung và Hữu cũng cười. Không khí trong phòng chợt mất đi cái vẻ trang trọng ban đầu mà trở nên thân mật, ấm áp.

 

Bảy Trung đã cắt xong hình búa liềm và cẩn thận đặt trên bàn. Anh nói:

 

- Anh sẽ soạn một cái đơn ngắn trong trí. Đơn xin gia nhập Đảng, khỏi viết ra giấy. Tí nữa làm lễ anh sẽ đọc trước Đảng kỳ, sau đó tôi tuyên bố kết nạp anh và anh tuyên thệ. Trong điều kiện khó khăn này mình chỉ làm ngắn gọn vậy thôi.

 

Khâm cúi đầu suy nghĩ về nội dung cái đơn mà anh sắp đọc. Hữu mở hộp hồ và cầm cuốn sổ tay lên. Cuốn sổ bìa trước in hoa phong lan, bìa sau là một màu đỏ. Hữu dán hình búa liềm lên đó và trịnh trọng đặt ra giữa bàn. Cuốn sổ tay tầm thường ấy chợt biến thành lá cờ Đảng xinh xắn, nổi bật lên giữa màu trắng tinh khiết của chiếc khăn trải bàn với tất cả vẻ đẹp rạng rỡ.

 

Đào Hiếu

(còn tiếp)

Ghen của Nguyễn Bính, Duy Quang

 

 

_______________________________________________________





Trang Quảng Cáo



Quí vị muốn Quảng Cáo trên trang Bạn Văn Nghệ

Xin liên lạc:


Khánh Hồng

Email: phuong0109@yahoo.com

ĐT: (714) 200.5263


 *



kmd-content


blank