DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,931,641

Văn học hải ngoại như một món quà cho quê hương - TRẦN VĂN NAM

01 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 8437)
Văn học hải ngoại như một món quà cho quê hương - TRẦN VĂN NAM

Văn học hải ngoại


như một món quà cho quê hương



tvn_3

Trần Văn Nam

 

 

Tạp chí Văn Học đã có những bài cố gắng định nghĩa thế nào là Văn Học Hải Ngoại, thế nào là sự khác nhau giữa Văn Học Hải Ngoại và Văn Học Lưu Vong, tại sao Văn Học của cộng đồng Việt Nam hiện tại chưa thể là đại lý cho Văn Học nội địa Việt Nam. Ở đây, người viết bài này không cố gắng đi tìm một định nghĩa, mà chỉ làm công việc dễ dàng hơn là ghi nhận một số hình thái của Văn Học Hải Ngoại: Văn Học như được hình thành bằng những dáng vẻ. Chỉ ghi nhận được năm hình thái Văn Học Hải Ngoại, xin đóng góp vào công trình biên soạn 20 Năm Văn Học Hải Ngoại khởi xướng do tạp chí Văn Học.

1. Văn Học Hải Ngoại như một món quà phục vụ chính trị.

Viết về điều này giống như gửi một món quà mà nơi nhận không thể coi như một món quà, chỉ có thể coi như một thứ“thuộc lề trái”không nên gửi tới: Trong khuôn khổ dàn trải của hai mươi năm Văn Học Hải Ngoại đã có một số tác phẩm rất đậm nét là tác phẩm văn chương dấn thân, văn chương phục vụ chính trị. Vài tựa đề tác phẩm cũng đủ phản ánh nội dung chứa đựng: Cùm Đỏ của Phạm Quốc Bảo, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tiếng Vọng Từ Đáy Vực của Nguyễn Chí Thiện. Văn Học Hải Ngoại đậm nét chính trị, đó chính là Văn Học Lưu Vong, xác định một chiến tuyến đối đầu với một chính thể mà nhà văn phải bỏ đi lưu vong.Riêng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện không thực sự lưu vong, mà cho tác phẩm lưu vong bằng cách liều lĩnh đưa tác phẩm vào một tòa đại sứ nhờ chuyển ra ngoại quốc, và nó đã xuất hiện như một tác phẩm thuộc Văn Học Hải Ngoại. Trong hai mươi năm ở hải ngoại, tất nhiên còn rất nhiều tác phẩm dấn thân, ở đây chỉ mới liệt kê những tựa đề nổi bật nhất. Cũng như về báo chí, đã có ba tạp chí văn học gây nhiều tiếng vang nhất trong khuôn khổ 20 năm bỏ nước lưu vong (bài này viết vào năm 1996), bị nhiều dư luận công kích từ hải ngoại cũng như từ nội địa (đó là tạp chí Hợp Lưu), hoặc bị công kích từ nội địa (đó là tạp chí Làng Văn ở Canada, tạp chí Quê Mẹ ở Pháp). Xin chỉ kể về mặt dư luận, tiếng vang công kích, mà không kể về tầm quan trọng gây ảnh hưởng chính trị. Còn nhiều tạp chí văn học cùng loại, nhưng không tạo ra tiếng vang dư luận, có khi quan trọng không kém mà bị chìm đi, hoặc vì không đúng lúc bị dư luận, hoặc bị lờ đi cho kém phần quan trọng về sự có mặt của nó. Bị công kích nhiều cũng là một cách được quảng cáo, không gặp thời gặp cảnh thì không thể có dư luận. Tạp chí Hợp Lưu có vẻ nghiêng về văn chương thuần túy: hợp lưu những cái hay của Văn Học Việt Nam nói chung (nội địa và hải ngoại), nhưng cái tên và sự có mặt của nó trong hoàn cảnh này đã xác định tạp chí là sản phẩm của một hoàn cảnh, hoàn cảnh đối nghịch sáng tác văn chương ở nội địa và hải ngoại. Trong khi đó, tạp chí Thế Kỷ 21 là nơi quy tụ được nhiều bài nghiên cứu về chính trị như một tập san đại học chính trị, nhưng các bài nghiên cứu này riêng biệt với văn chương, nên tạp chí Thế Kỷ 21 không hoàn toàn nằm trong phạm trù văn học dấn thân, văn đàn chính trị.

2. Văn Học Hải Ngoại như một món quà văn chương hiện thực đời sống.

Không phải là hiện thực xã hội nhắm phơi bày sự bất công, nhắm tố cáo một chế độ, nhắm xách động đấu tranh giai cấp hay lật đổ chính thể, mà là thứ hiện thực tự phát của nhóm người đến miền đất mới. Những hiện thực cùng khổ đó thể hiện trong văn chương.Những hiện thực có khi cũng lạc quan, so sánh với đời sống trước đây ở quê nhà, cũng là một khía cạnh đã đi vào văn chương. Nổi bật nhất trong hình thái văn học hải ngoại này là thi phẩm của nhà thơ Cao Tần. Những phản ảnh của đất và người in rõ nét trong suốt tập thơ. Cảm hứng từ chỗ tìm ra được những phản ảnh đó, người viết bài này cũng đã thử đi tìm những nét phản ảnh "đất và người" trong thơ Viên Linh, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyên Sa, Thái Tú Hạp (tất cả đều đã đăng trong tuần báo Saigon Times). Công việc đành bỏ dở dang vì cảm thấy gượng ép, tìm cho bằng được những phản ảnh này trong các tác phẩm mà tác giả không hề có chủ định hiện thực đời sống nơi xứ người.Ví dụ tập thơ Thủy Mộ Quan của Viên Linh là những cảm hứng về biển Đông huyền ảo có giải đất rất huyền sử, rất đẹp dù suốt tập thơ là bóng tối của đáy vực Thái Bình Dương, là một thủy mộ bao la của người Việt ra đi bằng vượt biển.Tác phẩm không có chỗ đứng cho những phản ảnh hiện thực đời sống nơi chốn tạm dung.Đi tìm chỉ là gượng ép đi tìm. Ví dụ tập Thơ Nguyễn Mạnh Trinh (do Người Việt xuất bản) là một kiến trúc nhiều tầng, trong mỗi đoạn thơ tác giả có cố gắng đổi mới ngôn ngữ, đổi mới hình ảnh ước lệ, xuất phát từ một duyên cớ, nên bài thơ có nhiều vấn đề đan chéo vào nhau, không phải chỉ một chủ đề xuyên suốt. Đi tìm những phản ảnh về đất và người chỉ là gượng ép, quy điểm vào một điều mà tác giả không có chủ định thể hiện đậm nét. Ví dụ tập thơ Miền Yêu Dấu Phương Đông của Thái Tú Hạp rõ ràng là một chủ đề về miền yêu dấu của tác giả, cũng là hoài cảm chung của một cộng đồng đến một nơi xứ lạ gần như trái ngược với truyền thống, với tâm hồn. Tuy nhiên tác giả không nêu ra sự so sánh trái ngược đó, nên vấn đề đi tìm những phản ảnh trái ngược đó, cũng chỉ là gượng ép. Tác giả chỉ có hoài cảm miền yêu dấu, hoài cảm mà không nêu ra những bất mãn nào với hiện tại như ta đã thấy rất rõ qua Thơ Cao Tần. Đã nói hơi nhiều về thơ, mặc dù là nói về thơ không mang dấu vết của hiện thực đời sống.Thơ "Hiện Thực" thực sự có hiện diện, nhưng rải rác, xuyên suốt trong các thi phẩm đã xuất bản.Vì các bài thơ không quy tụ hẳn thành một chủ đề, sự kiểm điểm thành mơ hồ.Trong số phải kể bài thơ "Đất Khách" rất cảm động của Thanh Nam.

Về văn cũng vậy, văn chương thể hiện đời sống hiện diện rải rác trên các tạp chí qua các truyện ngắn.14 năm tạp chí Vănvới Mai Thảo đứng chủ biên (và 13 năm với Nguyễn Xuân Hoàng) là một tấm gương phản ảnh đầy đủ xã hội, đủ mọi nơi trên thế giới phản ảnh đời sống gởi về cho tạp chí Văn qua vô số truyện ngắn. Một tấm gương hiện thực đời sống làm quà cho quê hương, nhà văn Mai Thảo đã trao tặng món quà đó trong 1 đêm kỷ niệm: "Đêm Mai Thảo và 14 Năm Tạp Chí Văn". Nhưng tạp chí Văn không hẳn là tấm gương chủ ý phản ảnh, nó là một tạp chí văn chương được nhà văn Mai Thảo và nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng trân quý săn sóc, coi nó như hóa thân của mình (mỗi chủ biên với bản sắc riêng), những hóa thân hệ lụy với văn chương.

3. Văn Học Hải Ngoại như một món quà thuần túy văn chương.

Văn chương thuần túy, trước hết căn cứ vào ý hướng viết của một nhà văn, sau đó căn cứ vào mặt thể hiện của tác phẩm, tức là căn cứ ý hướng viết thế nào (bút pháp).Viết cái gì (câu truyện, đề tài) như là một thứ yếu, nhưng nếu không có nó, không có sự lựa chọn đề tài như một tiên khởi, thì nhà văn không thể có được tác phẩm.Tại sao tác giả không chọn đề tài này mà là đề tài khác, không chọn đề tài viễn xứ mà chọn đề tài chiến tranh đã xảy ra ở quê hương, điều đó tiềm ẩn ý hướng viết cho ai. Viết cho người trong nước, người của chính thể mới; hay viết cho người hải ngoại, người của chế độ sụp đổ; hay viết cho người yêu văn chương. Ta có thể nói ý hướng tác giả là làm văn chương thì tác giả dĩ nhiên viết cho người yêu văn chương, không nhắm vào người cán bộ cao cấp hay một chính khách một tướng lãnh lưu vong. Căn cứ vào ý hướng đó mà ta truy ra một tác phẩm gọi là tác phẩm văn chương thuần túy, mặc dù tác phẩm là một dàn trải chiều dài của một thời kỳ lịch sử, một chứng liệu dồi dào của một thời chiến tranh. Xin kể tác phẩm trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động của nhà văn Nguyễn Mộng Giác và Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Đề tài của nhà văn Nguyễn Mộng Giác là kể lại những biến cố lịch sử từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập đến khi miền Nam sụp đổ năm 1975. Đây là chứng liệu sống vì tất cả là những điều chính tác giả đã mắt thấy tai nghe, chính tác giả đã sống trong thời kỳ ấy, bắt đầu lúc có ý thức về chính trị. Những điều mắt thấy tai nghe không phải qua báo chí mà là những kinh nghiệm sống thực của những người trong ba gia đình tác giả quen biết, đó là những chứng nhân bình thường, mẫu số chung của người dân sống trong thời kỳ chiến tranh. Tác giả không viết như loại bút ký mà như loại tiểu thuyết, một thể loại do hư cấu để thể hiện bằng bút pháp văn chương. Và nhà văn Nguyễn Mộng Giác cũng đã nhiều lần xác định: viết cái gì, trước hết là viết cho hay cái đã, viết hay là thẻ hành nghề của một nhà văn. Do đó, ta có thể nói đây là một tác phẩm văn chương thuần túy, mặc dù cái nhìn, sự nhận định của tác giả về một vấn đề là nhìn từ một góc độ, từ một phía, từ một lập trường, từ một vị trí quan sát.Và tác phẩm Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cũng là tác phẩm về đề tài chiến tranh của đất nước ta, nhưng ý hướng viết của nhà văn là viết theo trường phái "Tiểu Thuyết Mới". Đề tài không quan trọng bằng bút pháp thể hiện đề tài đó, mà bút pháp theo trường phái "Tiểu Thuyết Mới" là bút pháp làm sao tránh được những tiên kiến về tâm lý, chính trị, một bút pháp càng vô ngã thì càng tốt. Ý hướng của nhà văn là viết theo tiểu thuyết mới, đó là một ý hướng văn chương. Chưa có bài phê bình đầy đủ về mức độ thể hiện ý hướng đó đến đâu.Mặc dù tác phẩm cũng là một truyện kể, có hư cấu của một cốt truyện, có chất liệu của đề tài về chiến tranh, cho đến nay chưa có ai xếp loại đó là tác phẩm dấn thân hay hiện thực đời sống.Nó là tiểu thuyết văn chương vậy.

4. Văn Học Hải Ngoại như một món quà ngôn ngữ tinh luyện.

Tác phẩm văn chương với ngôn ngữ tinh luyện, vấn đề này chỉ là đào sâu thêm hình thái của vấn đề văn chương thuần túy.Nó thành một đề mục mới vì có liên quan đến tác phẩm người Việt viết bằng ngoại ngữ.Tạp chí Văn Học đã hơn một lần bàn đến vấn đề này. Bài này chỉ thêm vài ý kiến: Món quà cho quê hương không thể là món quà viết bằng ngoại ngữ. Trước đây đã có Les légendes des Terres Sérènes của Phạm Duy Khiêm, Le fils de la baleine của Cung Giũ Nguyên, các nhà viết văn học sử Việt Nam mặc nhiên đã không hãnh diện xếp các tác phẩm trên vào văn học Việt Nam. Trái lại, các bài thơ với ngôn ngữ tinh luyện như "Khép Kín" của Cung Trầm Tưởng, "Paris Có Gì Lạ Không Em" của Nguyên Sa, đã là những món quà từ viễn xứ gởi về cho quê hương, cho văn học Việt Nam. Cái hay của các bài thơ trên, đại diện cho văn chương với ngôn ngữ tinh luyện viết từ hải ngoại, vượt thoát các đề tài thường hay trở thành thông lệ cho văn chương viễn xứ là tình hoài hương, hiện thực đời sống tha phương. Văn chương của họ mang dấu vết của một nơi chốn đi du học. Đành rằng đi du học, mà du học ở một nơi thơ mộng như thành phố Paris, tất nhiên văn chương cũng lạc quan và đẹp như một truyện tình, không như bây giờ lưu vong miền hải ngoại. Lưu vong hay di dân, tất nhiên bước đầu sẽ gặp khó khăn gian khổ, tất nhiên văn chương là món quà hiện thực đời sống gởi về quê hương, kèm theo nỗi nhớ nhà, nhớ miền quê nghèo nhưng thân thiết hơn chốn tạm dung. Món quà đó ta đã nói rồi.Nhưng sau 10 năm hay 20 năm hải ngoại, chẳng lẽ chỉ có món quà buồn bã đó. Ở đây, ta muốn đề cập đến loại văn chương với ngôn ngữ tinh luyện, nằm ngoài nỗi bất mãn cuộc sống, nằm ngoài niềm ray rứt nhớ quê hương, nằm ngoài giai đoạn dấn thân. Văn chương mang dấu vết miền viễn xứ, nhưng không quá ám ảnh bóng tối nơi khổ ải lưu vong do thiên lệch vì tình yêu quê hương sâu đậm; cũng không quá lạc quan tô hồng những điều không có nơi miền viễn xứ. Ta muốn nói đến những tác phẩm văn chương thuần túy ở ngoài những ước lệ về ngôn ngữ, ước lệ về tâm tình. Ta muốn nói đến tác phẩm văn chương thuần túy, viết bằng ngôn ngữ tinh luyện, đề tài không đóng khung hiện thực đời sống, dấn thân chính trị, viết trong khung cảnh ta đang sống, ở Mỹ, ở Pháp, ở mọi nơi trên thế giới. Làm sao không có dấu vết đời sống hằng ngày trong văn chương, nhưng đời sống đó chỉ là cái nền để nói những điều nào khác, nghĩa là không chỉ nói về chính cái nền đó, cái nền lưu vong, cái nền viễn xứ, cái nền thông lệ.

5. Văn Học Hải Ngoại như một món quà của truyền thống dân tộc.

Món quà mà người viết văn chương gởi về cho quê hương chắc chắn sẽ là món quà văn học, những tác phẩm văn chương, bên cạnh những món quà khác như những thành tựu về khoa học, về kinh tế, mà người Việt hải ngoại đã thành công nơi xứ người. Trước hết là văn học, dồi dào hơn hết. Ta khẳng định như vậy, vì đó là hệ quả của truyền thống yêu chuộng văn học của dân tộc ta. Ta khẳng định như vậy, vì chỉ cần xét về sự hiện diện của các tạp chí văn học trong suốt thời gian 20 năm hải ngoại là thấy rõ. Một cộng đồng tương đối nhỏ, độ chừng 2 triệu người sống rải rác trên khắp thế giới, mà tạp chí văn chương không khan hiếm.Người Việt chỉ thiếu vì đường xa cách trở, vì sự luân lưu phân phối không đến được, không phải thiếu về sự hiện diện. So sánh với độc giả Hoa Kỳ, đông đảo, mà trong các siêu thị, trong các nhà sách, số tạp chí chuyên về Văn Học rất ít, bên cạnh sự dồi dào phong phú của tạp chí giải trí, kỹ thuật chuyên môn, và khoa học. Cộng đồng ta đã có nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bên cạnh các tạp chí văn học đã hiện diện lâu dài trong suốt thời gian 20 năm nơi xứ người: tạp chí Văn, Thế Kỷ 21, Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập, Làng Văn, Hợp Lưu, Quê Mẹ, và còn rất nhiều tạp chí văn học đã một thời hiện diện nhưng ngắn ngủi. Các nhà sách người Việt cũng không thiếu những tác phẩm văn chương đã được xuất bản, bên cạnh vô số các loại sách khác. Số người làm văn chương cũng rất đông đảo, nhiều nhất là các thi sĩ, có lẽ vì sáng tác thơ tương đối ít công phu. Có thể nói, đúng vậy: ít công phu về viết, nhưng không phải là ít công phu về vận dụng tâm hồn. Mà một khi bài thơ thành công thì sự "nhớ đến" lại dễ dàng.Vì vậy có rất nhiều nhà thơ. Là những công trình khiêm tốn hơn âm nhạc, rất đắc dụng, vì dân tộc ta là một dân tộc thi sĩ, lúc nào cũng sẵn sàng, tâm hồn luôn luôn tìm đến. Ngoại cảnh nơi hải ngoại dù có náo nhiệt, đầy tính kỹ nghệ, nhưng tâm hồn Đông Phương sẵn sàng sửa đổi, tái tạo, với sự trợ lực của thiên nhiên bao giờ cũng vậy, bao giờ cũng đẹp, chỉ vì con người quá bận rộn, bon chen với kỹ nghệ, với thương mại, mà lãng quên, đánh mất cái thi tính. Món quà khoa học, món quà kinh tế, có thể làm giàu cho quê hương.Và món quà văn học cũng làm giàu cho nền văn chương, bắc một nhịp cầu giao cảm cho người nội địa với đất trời viễn xứ. Bài thơ "Mùa Thu Paris" của Cung Trầm Tưởng, tập văn "Trời Tháng Tư" của Phạm Công Thiện, làm ta giao cảm với thời tiết; thời tiết Tây Phương làm êm mát tâm hồn ta. Ta hưởng thụ cuộc đời qua văn chương. Với cảnh vật cố hương, mỗi lần đọc bài thơ "Mùa Thu Câu Cá" của Nguyễn Khuyến là mỗi lần tâm hồn ta chùng lại, thấy lòng mình thanh tịnh như còn nghe âm hưởng tiếng cá đớp đọng dưới chân bèo. Với cảnh vật tha hương, mỗi lần đọc lại thơ về Paris của Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Phạm Công Thiện, ta cũng thấy lòng mình lọc bỏ được những phiền lụy, tan loãng vào thiên nhiên dịu nhẹ và trong sáng. Cảm hứng từ hoàn cảnh, cho nên món quà gởi về quê hương, mặc dù ta muốn đánh giá nó là món quà truyền thống, nhưng ta không trông mong nó chỉ khép kín vào những tâm tình quay về nguồn cội, quay về làng mạc quê hương, quay về cổ tục nếp sống quê nhà.Nói tóm là ta muốn một nền Văn Học Hải Ngoại phong phú, không phải chỉ có bấy nhiêu vấn đề, bấy nhiêu cách biểu lộ tình cảm, được lặp đi lặp lại.Có phải đây chỉ là ý tưởng cực đoan: Tại sao Văn Học Hải Ngoại không chủ tâm sản xuất những áng văn chương vượt tính hoài cảm quen thuộc về quê hương, tìm về các nguồn cảm hứng phong phú hơn.Chẳng hạn, sáng tác thơ cảm hứng với đề tài “vật lý vũ trụ”; đôi bài nếu muốn lồng vào tình hoài hương thì nên biểu hiện bằng một cách-thức mới hoặc thái-độ mới.Viết bằng ngôn ngữ tinh luyện mà lại không mang tính hoài niệm biểu-hiện khuôn sáo, có lẽ nền văn học đó chỉ trông mong vào các ngòi bút đã sống nơi hải ngoại lâu dài rồi, có trình độ khá về Việt Ngữ. Điều đó chỉ thực hiện được bởi người thuộc thế hệ thứ nhất, muốn đóng góp những điều gì mới cho văn học quê hương; chưa có tham vọng viết tác phẩm bằng ngoại ngữ, đóng góp vào nền văn học viễn xứ.Công việc này có lẽ phải dành cho những người thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba tốt nghiệp từ các trường đại học ở hải ngoại.

 

TRẦN VĂN NAM

(Trích Tạp chí Văn Học, Nam California, số 119, tháng 3/1996 – Bản gửi từ tác-giả)