DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,820,119

Tin RFA - XHVN: Nỗi tuyệt vọng ở xóm bán bắp luộc - Trẻ lên 3 đã phải lao động

10 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 3442)
Tin RFA - XHVN: Nỗi tuyệt vọng ở xóm bán bắp luộc - Trẻ lên 3 đã phải lao động

Đài RFA

Bản tin tối 9-4-13

Bản tin sáng 10-4-13

Côn đồ và công an CSVN hành hung các nhà bất đồng chính kiến

 

*


Xã Hội VN


Nỗi tuyệt vọng ở xóm bán bắp luộc



Thông tin ngô (bắp) luộc bằng pin, muối diêm, bột nhừ gây hại cho sức khỏe đã khiến những vòng quay của hơn 300 chiếc xe ngô thường rong ruổi trên phố phường Hà Nội của xóm ngô khoai Đồng Bát (Mai Dịch, Hà Nội) có nguy cơ phải dừng lại.


Những ngày này, xóm ngô luộc buồn thiu, không khí nặng nề do hàng bán ế ẩm. Nỗi lo mưu sinh khiến hơn 300 con người trong xóm không ai đủ lạc quan để nở một nụ cười. “Chưa bao giờ ngô bị hắt hủi như thế, mỗi ngày chỉ bán được 10-20 bắp thôi. Trước kia khi chưa có tin đồn ngô luộc bằng pin, bột nhừ... mỗi đêm tôi bán hơn trăm bắp mà vẫn hết sớm, 1h là đã được về nghỉ rồi” - chị Nguyễn Thị Chúc, người có thâm niên bán ngô hơn sáu năm, buồn rầu nói.
Nhọc nhằn đời ngô
Theo chân xe ngô luộc của chị Chúc, chúng tôi tìm đến xóm ngô luộc Đồng Bát, nơi hơn 300 nhân khẩu tứ xứ tụ về đây từ năm 1994 mưu sinh bằng nghề bán rong ngô, khoai. 15h, hơn 300 xe ngô túa ra khắp các ngả đường của thành phố Hà Nội, họ chỉ trở về khi trời đã rạng sáng. Có những gia đình từ đời ông bà, bố mẹ đến đời các con đều gắn bó với nghề bán ngô luộc. Họ thuê những phòng trọ nhỏ xíu, lụp xụp, rách rưới... để sống qua ngày. Những phòng trọ trong xóm ngô khoai chỉ rộng chừng 7-8m2, xếp san sát nhau chỉ hở một lối đi rộng vài gang tay. Chúng được lợp lên từ đủ thứ: ván gỗ, lá cọ, tôn, bao tải..., mùa hè thì nóng, mùa đông thì lạnh. Giá mỗi phòng 500.000-800.000 đồng/tháng. Ấy vậy mà cái giá cả phải chăng đó vẫn khiến nhiều người bán ngô đứng ngồi không yên vì ngô ế không có tiền đóng. Đằng sau mỗi xe ngô là một mảnh đời cơ cực, bần hàn.

blank
Anh Nguyễn Văn Diệp bên xe ngô của mình.


Chiếc xe ngô của chị Chúc cứ đều đều, 15h rời khỏi xóm ngô khoai, ngang qua các con phố Phạm Hùng - Mễ Trì - Hồ Tùng Mậu, Xuân Thủy, Cầu Giấy. Đó chính là cung đường gắn bó với chị Chúc suốt sáu năm nay. Hôm nào ngô đắt hàng, đó là cung đường của niềm vui, hôm nào mưa gió bão bùng, không có người ăn ngô, chị buồn như muốn khóc. Cuộc sống của gia đình chị Chúc gồm sáu thành viên đều dựa vào những vòng quay của chiếc xe ngô. Ngô, khoai bị hắt hủi, người mua không ăn vì sợ hóa chất khiến gia đình ấy bị cái đói đe dọa.
“Nói thật, chính chúng tôi còn chưa biết cái muối diêm, bột nhừ là gì chứ đừng nói dùng để luộc ngô. Gắn bó với ngô khoai đã lâu, tôi không nỡ từ bỏ cái nghiệp này. Bây giờ bỏ nghề tôi cũng không biết làm gì nữa, về quê cũng không có ruộng nương gì cả” - chị Chúc than thở. Trước đây hai vợ chồng chị Chúc và anh Toan làm việc cật lực, bán mỗi ngày được 100-200 bắp ngô lãi 200.000-300.000 đồng, chắt chiu mỗi tháng cũng gửi được hơn 3 triệu đồng về quê cho ông bà nuôi hai cháu đang tuổi ăn học. Nhưng đến nay mỗi ngày chị Chúc chỉ bán được 10-20 bắp, có ngày ế không bán được đành chịu lỗ, thành ra không còn tiền mà gửi về quê nuôi con.
Anh Nguyễn Văn Diệp, đang nuôi vợ bị bệnh ung thư phổi, cũng ngao ngán: “Tôi đang tính về quê chứ ở đây không trụ nổi nữa rồi”. Trước đây trên chiếc xe ngô nhỏ, anh Diệp đi khắp phố Nghĩa Tân - Xuân Thủy - Cầu Giấy - Phạm Văn Đồng - Doãn Kế Thiện, một đêm cũng bán hơn 100 bắp ngô, lời lãi đủ nuôi vợ con.
Đêm qua Hà Nội phủ đầy sương, dáng anh Diệp còm cõi đẩy xe ngô suốt 12 tiếng chỉ bán được hơn 20 bắp ngô. Mỗi ngày anh Diệp chỉ ngủ ba tiếng, thời gian còn lại vật lộn với ngô, khoai. Sáng nào cũng 7h nhập hàng, 11h luộc ngô, nướng khoai, 15h đi bán và 3h sáng hôm sau anh mới trở về xóm trọ. Đó cũng chính là nhịp sống của xóm ngô thường ngày. Phòng trọ của anh Diệp lụp xụp rộng chưa đầy 6m2, ẩm thấp, trong phòng chỉ có duy nhất một cái giường. Xòe hơn 20.000 đồng lẻ trên tay, anh nói buồn thiu: “Lời lãi của tôi hai ngày nay đấy. Tôi thì không ăn cũng được nhưng còn vợ con...”.
Nỗi đau ngô bắp
Tin đồn bắp ngô vỉa hè luộc bằng hóa chất, bằng muối diêm, bằng đường hóa học, pin, chì, thậm chí ngô “ủ hóa chất không cần luộc” đã khiến nhiều người trồng ngô và bán ngô khốn đốn, lao đao. Họ đang phải trải qua những ngày tháng cay đắng nhất bởi ngô trồng ế ẩm, ngô luộc bán cũng không ai mua. Nhiều người đã bỏ về quê, bỏ nghề hoặc chuyển sang nghề khác.
Anh Nguyễn Văn Toan bán ngô được hơn bảy năm nay đã ngậm ngùi chuyển sang bán kem bông được hai tháng. Anh than thở: “Chiếc xe ngô đã gắn bó với tôi từ thuở thanh niên, nay có hai con rồi mà phải bỏ nghề. Thật lòng tôi không muốn chuyển nghề nhưng biết làm thế nào được, ngô giờ bị tẩy chay, bán không ai mua nên chúng tôi đành bất lực”. Trong xóm ngô luộc, đã hơn 30 người bỏ nghề, số còn lại sống lay lắt chờ đợi và hi vọng mọi người sẽ ăn ngô trở lại và xóm ngô luộc sẽ lại vui tươi mỗi khi chiều về.
Theo cô Phạm Thị Vân, người đã có hơn 20 năm gắn bó với nghề bán ngô luộc thì ngô, khoai, sắn là những thứ lành hiền nhất do người nông dân làm ra. Ngô từ bao đời nay vẫn là món quà vặt yêu thích của người dân. Hơn 300 con người trong xóm ngô luộc Đồng Bát vẫn sống bằng nghề bán thứ quà vặt này bao năm nay. Họ sống chân thật, chất phác bởi chính họ cũng là nông dân dắt díu nhau lên thành phố để kiếm miếng cơm manh áo. “Tôi không hiểu sao tin đồn ngô luộc bằng pin, muối diêm, bột nhừ... từ trong Sài Gòn xa tít tắp lại có sức tàn phá mạnh mẽ tới xóm ngô luộc tận Hà Nội như vậy. Chúng tôi làm ăn chân thật mà chỉ vì cái tin đồn đó nên phải khốn đốn, bỏ nghề” - cô Vân chua xót. Xe ngô của cô Vân đã ba ngày nay bỏ chỏng chơ vì gần một tháng nay cô không hôm nào bán hết hàng, mặc dù đến 5g sáng cô mới thất thểu trở về xóm trọ.
Những ngày này, người dân xóm ngô khoai ai nấy đều ăn ngô, khoai trừ bữa, để bớt đi chi phí sinh hoạt hằng ngày, bởi ngô, khoai lấy về bán ế. Cái ngô, củ khoai đã gắn bó với cuộc sống, với từng mảnh đời nơi đây. Điều đặc biệt trong nếp sống của người dân xóm ngô khoai ấy là mỗi ngày họ chỉ ăn đúng một bữa cơm. Buổi trưa họ ăn thật no, đến buổi chiều họ đi bán hàng và rạng sáng trở về sẽ ăn ngô, khoai trừ cơm. Cô Vân bức xúc: “Chính chúng tôi còn ăn ngô, khoai ế trừ bữa thì không lý gì chúng tôi cho các thứ hóa chất kia để hại chính mình”. 



Rớt nước mắt ở nơi trẻ lên 3 đã phải lao động


Thượng nguồn sông Đà là nơi tập trung rất nhiều huyện nghèo nằm trong Chương trình 30a của Chính phủ như: Tủa Chùa, Mường Nhé (Điện Biên); Sìn Hồ, Mường Tè (Lai Châu). Tháng Ba, mùa đói giáp hạt, phóng viên đã hành trình ngược sông Đà để ghi nhận một cách chân thực nhất về cuộc sống của đồng bào ở những vùng đất xa xôi của Tổ quốc.
Nhìn trên bản đồ, Lao Xả Phình tưởng như là vùng đất mát mẻ, sản xuất thuận lợi bởi xã này nằm giữa sông Đà và sông Nậm Mức. Vậy mà thực tế, đây là nơi khát nhất, đói nhất, khó khăn nhất của huyện nghèo Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên).
Đi cày lúc nửa đêm
Phần phía Bắc của huyện Tủa Chùa bao gồm các xã Tả Phìn, Sính Phình, Tả Lìn Thàng, Trung Thu, Lao Xả Phình được ví như một cao nguyên đá Đồng Văn ở bên Hà Giang thu nhỏ. Khô khát và đói nghèo. Vậy mà trong cái nghèo, cái khó tưởng như đều đặn đến cùng cực ấy vẫn có sự phân biệt.
Lao Xả Phình là xã có tỉ lệ đói nghèo vượt trội, nghèo nhất tỉnh nghèo Điện Biên. Theo thống kê năm nay, cả xã có 334 hộ dân thì có đến 253 hộ nghèo, chiếm 75%. Một năm thiếu ăn vài ba tháng, giáp hạt năm nào cũng phải ngồi chờ nguồn gạo cứu đói mới có cơm ăn.
Tôi đến Lao Xả Phình vào thời điểm chính quyền xã đang tổ chức phân phát gạo cứu đói cho người dân. Giáp hạt năm nay xã nhận được 23 tấn gạo, chia cho các hộ nghèo, mỗi khẩu được 15 kg. Cứ tưởng thế là đã nhiều lắm, nhưng thật ra, với cuộc sống khổ cực ở đây thì chừng ấy gạo cũng chỉ như việc nhỏ vài giọt nước cho người đang khát khô cổ mà thôi.

blank
Trưởng bản Sùa bên giếng nước cạn khô.


“Xã có 30 ha ruộng, 78 ha nương, chỉ làm được một vụ, trời cho ăn thì ăn, không cho ăn thì đói. Nên cứ có gạo cứu đói là Lao Xả Phình được được nhận nhiều nhất”, Bí thư Đảng ủy xã Và A Cở nói giọng tủi tủi.
Mà tủi thật, bởi đói nghèo ở Lao Xả Phình không phải lỗi của người dân. Tôi đồ rằng, người Mông, người Xạ Phang ở đây chính là những nông dân cần mẫn, chịu khó và vất vả nhất trên đất nước này.
Có nơi nào mà đang nửa đêm nhưng nông dân vẫn phải vác cày lên nương? Có nơi nào mà nông dân bốc từng nắm đất nhét vào hốc đá, đắp thân cây ngô lên đấy, chờ rục ra để canh tác? Những công việc hết sức lạ lùng, khổ cực ấy là phương thức canh tác của người dân từ bao đời nay rồi.

blank
blank
Ở Lao Xả Phình, trẻ lên ba đã phải lao động


Tìm hộ đói chẳng phải đi xa, ngay ở trung tâm Lao Xả Phình đã nhiều lắm rồi. Tôi vào nhà Ngải Lèng Thèng, một hộ dân người Xạ Phang. Tối ấy, mấy cán bộ xã nhờ nhà Thèng làm cơm mời nhà báo vì trên trụ sở ủy ban không có nước. Vừa nhận được gạo cứu đói nên Thèng cũng vui vẻ nhận lời. Có khách, nhưng bữa cơm nhà Thèng còn phải kèm theo một bát bánh được làm từ bột ngô, đem rán lên để ăn với nước canh. Hóa ra cơm chủ yếu tiếp khách, còn vợ con cứ ngồi gắp bánh ngô ăn tối.
Đang dở bữa, thấy trời có sấm, Thèng xin phép đứng dậy trước để chuẩn bị đi cày dù bên ngoài trời đã tối đen như mực. “Trên này, người dân đi cày không theo mùa vụ, bất cứ khi nào có mưa là phải cày ngay. Cày khi có nước thì trâu mới kéo nổi, để chậm một ngày là đất khô rang, gãy lưỡi cày cũng nên”, ông Giàng A Vảng, Phó Chủ tịch UBND xã giải thích.
Sấm mãi đến nửa đêm mà trời chẳng chịu mưa, Thèng bảo hai thằng con trai cứ ngủ, còn mình buộc trâu vào gốc cây ngồi canh, lúc nào mưa thì kêu chúng dậy để rọi đèn, đốt đuốc lên nương. Đêm ấy trời chỉ lắc rắc vài hạt, chẳng đủ thấm đất, vừa mất ngủ, vừa không đi cày được Thèng chửi lầm bầm: Vụ này có khi chẳng được ăn.
Vừa đói vừa khát
Đói có thể xoay xở được, hết gạo có thể ăn ngô, chứ thời điểm này, Lao Xả Phình khổ nhất là khát. Mùa khô ở đây kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6, đó cũng là quãng thời gian mà hầu hết người dân huy động hết những người có sức trong gia đình tập trung đi lấy nước.
Bí thư Và A Cở thống kê, toàn xã chỉ có 4 điểm lấy nước, mỗi điểm chỉ có một dòng chảy vừa bằng đúng ngón tay trỏ mà thôi. Khó khăn như thế nên cả chính quyền lẫn người dân đều tự đặt những quy định ngầm với nhau: Mỗi ngày được đi lấy nước hai lần, xếp hàng theo thứ tự, như mùa này thì không được tắm.
Hai bản Cán Phình và Chẻo Chử Phình dẫn đầu cả về đói lẫn khát. Phải mất vài tiếng đồng hồ tôi mới leo được lên Chẻo Chử Phình dù tính theo đường chim bay thì bản này chỉ cách trung tâm xã có 10 cây số mà thôi. Chẻo Chử Phình là nơi sinh sống của 26 hộ dân người Mông.
Đói là lẽ đương nhiên, nhưng nếu chứng kiến người dân nơi đây sử dụng nước để sinh hoạt thì quả là thê thảm.
Bản không có một điểm lấy nước nào. Muốn có nước dùng, một là đi bộ nửa ngày đường sang Cán Phình gùi về, hai là đào hố đất để hứng nước mưa. Cách thứ nhất thì ngốn hết thời gian đi nương, đi rẫy, cách thứ hai thì tốn sức mà hiệu quả chẳng đáng bao nhiêu. Dọc theo triền bản người dân đào chi chít hố. Những hồ đất khô không khốc, nếu gặp mưa chắc cũng không đủ thấm chứ nói gì đến chuyện tích nước.
Vậy mà cũng có cách, mỗi khi trời có mưa, cả bản kéo nhau ra dùng gậy khuấy nước mưa lẫn đất trong hố thành bùn rồi để thế. Bùn sẽ lắng xuống, len lỏi bịt các kẽ hở của hố, còn nước được dùng để sinh hoạt. Mỗi hố như thế trưởng bản Thào A Súa nói là dùng được khoảng…2 ngày. Đó còn chưa kể đến việc thỉnh thoảng con lợn, con gà sẩy chân xuống hố thì mất cả chì lẫn chài.
Trưởng bản Súa đứng tần ngần một lúc lâu khi tôi nhờ ông đưa vào nhà nghèo nhất. Ở đây nhà nào cũng nghèo đói cả. Với lại người dân chẳng biết tiếng phổ thông. Cả bản chỉ có ông Súa là lơ lớ, Thào A Vàng nói khá thạo, còn lại, muốn hỏi điều gì phải có phiên dịch đi cùng.
Tôi thử tìm một vài điểm sáng ở Chẻo Chử Phình mà khó quá. Những hộ gia đình như trưởng bản Súa, của một ông cán bộ địa chính xã tên là Thào A Vàng cũng không thể khá khẩm hơn dân trong bản.
Nhà ông Súa thì đông con, hai vợ chồng, bảy đứa con đẻ, một con dâu, một đứa cháu, tổng cộng 11 người. Đông như thế nên dù có thêm phụ cấp trưởng bản nhà ông cũng chẳng đủ ăn. Còn như Thào A Vàng, cán bộ địa chính xã hẳn hoi mà hai vợ chồng vẫn phải ở nhà lợp bằng cỏ gianh, nhìn xa cứ tưởng là túp lều hoặc chòi canh rẫy.
Ví như gia đình của Thào Thị Đài và Sùng A Chu. Hai vợ chồng, 4 đứa con, năm đủ ăn nhất cũng chỉ được tầm 8-10 tháng. Nhà làm bao nhiêu ruộng, bao nhiêu nương cả hai đều không biết. Bốn đứa con, 3 đứa đi học ngoài trung tâm xã. Đài phàn nàn bằng tiếng Mông rằng: Cho con đi học thì đỡ được mấy suất ăn, nhưng lại mất người đi làm nương và đi lấy nước. Thành thử học hay không cũng như nhau cả, chẳng thấy khác gì.
Người lớn thì bất lực với đói nghèo, với khô khát, còn trẻ con cũng là nạn nhân của khổ cực.
Điểm trường mầm non của cô giáo người Thái Tòng Thị Cúc lại là một minh chứng cho sự thê thảm của Chẻo Chử Phình. Đó khó có thể gọi là lớp học. Lớp học gì mà chỉ có mấy cọc gỗ chằng lại với nhau, lợp cỏ gianh, thưng bằng liếp nứa xen lẫn với một vài tấm bạt? Một cơn lốc đêm trước cuốn cỏ gianh bay gần hết, chỉ trơ trọi tấm bạt phủ được chừng một nửa.

blank
Lớp học mầm non của bản Chẻo Chử Phình


Nhưng sự thật, đó là lớp học ghép gieo trồng những ước mơ của 7 đứa trẻ trong bản. Ba đứa lớp lớn, 4 đứa lớp nhỡ. Lúc tôi vào lớp vừa tan học, bọn trẻ vội vã chào cô giáo rồi hò nhau đi gùi nước.
Ngày nào cũng vậy, mỗi đứa lúc đến trường phải mang theo chai nước cho cô giáo uống và nấu cơm, còn nếu có nhu cầu tắm giặt thì mời cô ra trung tâm xã hoặc đi bộ tầm một buổi. “Trước đây là điểm trường tiểu học, nhưng khó khăn quá nên nhà trường phải vận động các em ra trung tâm ở bán trú, lớp mầm non này mới được mở chừng 5 tháng, nhưng nếu khó khăn thế này chắc cũng khó tồn tại được lâu”, cô Cúc tâm sự.

BVN-TH
(từ báo VN)




______________________________________________________





Trang Quảng Cáo



kmd-content

Xin liên lạc:

Broker An Nguyễn DRE 00847066. Tel: 714-636-2299

Quý đồng hương cần mua nhà, bán nhà, chung cư, shopping center, chăm sóc nhà cửa (Property Manager)

Quý chủ nhà gặp khó khăn, mượn tiền hoặc đầu tư sinh lợi. Xin mời đến với Ana Real Estate.

Quý vị có bằng địa ốc tiểu bang California, mời về cộng tác với Ana Real Estate, nếu có kinh nghiệm càng tốt. Nếu không sẽ được huấn luyện một cách cẩn thận để trở thành chuyên viên địa ốc chuyên nghiệp.

Quý đồng hương muốn thành công hơn trong cuộc sống, muốn biết cách trang trí nhà cửa hợp với hướng và tuổi của mình. Xin mời đọc bộ 3 quyển sách phong thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung, đã được tái bản nhiều lần trong 10 năm qua. Sách có bán tại Ana Real Estate: Phong Thủy và Cuộc Sống Hôm Nay, Phong Thủy- Bí Quyết Để Thành Công, Cẩm Nang Phong Thủy áp dụng cho nhà ở và cơ sở thương mại.

Quý đồng hương muốn biết những chiến tích lẫy lừng của QLVNCH, xin mời đôc bút ký chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên. Sách có bán tại văn phòng Ana Real Estate. Giá $20 + $5 shipping trong nước, ngoài nước $10. Cựu quân nhân và những người yêu lính sẽ có một giá rất đặc biệt.


Quí vị ở các tiểu bang xa

Quí vị H.O. sẽ hay đã nghỉ hưu

Muốn về sống ở Nam Calif. Nắng Ấm (Little Sai Gon, Orange County)

Muốn mua một căn nhà vừa ý, hợp với túi tiền


Xin liên lạc:

Ana Real Estate

Ana Funding, Inc.


Kiều Mỹ Duyên

(714) 636-2299

kieumyduyen1@yahoo.com

Sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý




*




blank



blank


blank


11031 Acacia Parway

Garden Grove Civic Center

Garden Grove, CA 92840




Chuyên mọi dịch vụ về Răng


Người Lớn, Trẻ Em

B
ền, Rẻ, Đẹp

Uy Tín


Liên lạc lấy hẹn
:

D.D.S Ho
àng Anh

(714) 724-5699

Cindy Tr
ần

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 5772)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
19 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 6961)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
25 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 9638)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
17 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 12950)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
04 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 6766)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh