DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,818,570

PHẠM NHÃ DỰ: THƠ VÀ HOÀI NIỆM MỘT THỜI TUỔI TRẺ - Trần Văn Sơn

30 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 8961)
PHẠM NHÃ DỰ: THƠ VÀ HOÀI NIỆM MỘT THỜI TUỔI TRẺ - Trần Văn Sơn
PHẠM NHÃ DỰ: 

THƠ VÀ HOÀI NIỆM MỘT THỜI TUỔI TRẺ


 

phamnhadu_1_-thumbnail

phạm nhã dự

 

 

 

Thời gian bắt đầu bằng một vòng quay. Vậy mà hơn bốn mươi năm nay, trải qua hàng tỷ vòng quay và hàng hàng lớp lớp sát-na tiếp nối, cùng với những biến động bất ngờ của lịch sử; kể từ thập niên sáu mươi, dù ở Việt Nam hay ở xứ người, chúng tôi cũng vẫn gắn bó và thân quý nhau như buổi ban đầu. Trước ngày 30/4/75, thỉnh thoảng chúng tôi tập trung tại Quang Hạnh thư trang của nhà thơ Ngô nguyên Nghiễm dưới chân cầu chữ Y đường Hưng Phú, Ngã ba Ông Tạ của nhà văn Hà Thúc Sinh, và nhà Nguyễn Lê La Sơn -Thụy Miên ở Nguyễn Tiểu La…; bày tiệc rượu, mạn đàm chuyện văn chương, lúc ngà say thường đọc thơ cho nhau nghe. Những bài thơ mới sáng tác mang gió bụi đường xa đầy hào khí của Lâm Chương, Trần phù Thế, Thụy Miên, Phạm nhã Dự…do chính tác giả đề trên vách lầu một nhà ca sĩ Quốc Phong không biết có còn hay không ? Ta còn nhớ một vài đoạn thơ của bạn, màu mực và nét chữ bay bướm lên tường vẫn còn in đậm trong đầu ta, có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

 

Viên đạn lăn nhanh trong tay

Đó là trò chơi thứ nhất

Đưa em về ngôi nhà cũ

Buổi sáng mù sương đắp cao

 

Khẩu súng quay nhanh trên tay

Đó là trò chơi thứ hai

Hôn em bằng tình ái cũ

Tinh khôi rực sáng đôi mày

(Từ 4091 - PND )

Buổi sáng ta thức dậy thật sớm, nhâm nhi ly cà phê hiên sau vườn nhà, ngắm hoa cảnh, mồi điếu thuốc, suy nghĩ mông lung. Nghĩ về gia đình, về bạn bè. Nghĩ về người, về đời. Mới ngày nào thanh xuân tràn trề sức sống, nay bạc tóc sức kiệt thân tàn. Nhìn lại những chặng đường đã qua, vui ít buồn nhiều. Đôi khi chúng ta như kẻ lãng tử dong ruỗi ngược xuôi, sống bạt mạng, bất cần đời hầu quên đi một phần nào nỗi đau về thời thế thế thời phải thế, cũng có lúc rượu mềm môi với những thâm tình chất ngất; và Thơ hiển hiện như một sự cứu rỗi nhiệm mầu vượt lên trên tất cả, kết nối tâm giao thành tinh anh đất trời.

 

Bạn có còn nhớ đêm Quán Gió ở bãi biển Tân Long – Bình Tuy, bạn – ta và nhà thơ Phan lynh Sa đã thức suốt đêm dưới hàng dừa cao rì rào lá gió, ngồi trên bãi cát ngắm ánh sáng huyền ảo của vầng trăng mười tám lung linh trên mặt biển, nghe sóng vỗ rì rầm tạo thành tấu khúc dương cầm làm mê đắm lòng người.

 

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

Ngôi nhà bạn ở mười tám thôn vườn trầu gần chợ Bà Điểm, ta đặt tên Quán Văn vì nơi đây anh em văn nghệ chúng tôi thường lui tới: Cung Tích Biền, Rừng, Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Phù Thế, Trần Yên Thảo, Tô Đình Sự... Bạn cất thêm một " thảo bạc " nhỏ đơn sơ trống gió trong khu vườn cây cảnh sầm uất. Ngồi nơi đây nhắp từng ngụm đế Bà Điểm, nhìn những lá trầu non xanh mơn mởn leo trên hàng tre cao chót vót, những gốc bưởi nặng trĩu trái vàng um trồng hai bên hông nhà, một vài chậu bonsai tượng hình loan phụng, cộng thêm hương thơm dìu dịu của hoa cau hoa bưởi quyện trong không gian tĩnh lặng thì không có thú chơi nào thanh cao cho bằng. Thỉnh thoảng nhà văn Dương trữ La hái vài trái bưởi, bóc ra từng múi chia anh em làm mồi nhắm hoặc để giải rượu.

Có lần, vợ chồng tôi từ Bình Tuy vào Sài Gòn cùng vợ chồng nhà văn Minh Nguyễn, ghé chợ Hốc Môn mua vài món tươi sống lên nhà Phạm nhã Dự định sẽ bày tiệc vui chơi. PND đi vắng, con anh chỉ đường chúng tôi đi tìm khắp nơi không gặp nên đành về lại Sài Gòn.

 

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ? 

Đêm tưởng niệm nhà thơ Tô đình Sự tại quán Phấn Thông Vàng đường Nguyễn Thông do Phạm nhã Dự và Khánh Giang tổ chức, bạn đọc bài Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú, khóc Tô đình Sự trong xúc động, nghẹn ngào. Tất cả mọi người im lặng. Hình như hồn Tô đình Sự nhập vào từng chữ, từng câu thơ bi tráng hòa quyện vào tâm ảnh một tình bạn thâm sâu; đau đớn và tiếc thương một tài hoa rực sáng đã sớm bỏ cuộc chơi thong dong đi về miền miên viễn :

 

Chiều nay sao gió nhiều mày nhỉ

Gió nổi trong tao đến lạnh mình

Đù má, nhang mày sao chẳng cháy

Đốt mãi que diêm đến cạn cùng

 

Bên kia dãy núi trơ thân chó

Còn dưới chân tao lại sụt sùi

Mẹ kiếp vợ mày đang khóc mướt

Con mày, trời hỡi nó cười vui

 

Còn tao, tao chẳng cười hay khóc

Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người

Đù má, tao chửi thề đây Sự

Chửi hết trăm năm chửi hết đời

 

Bây giờ mày đã nằm yên phận

Còn vợ, bào thai, hai đứa con

Đù má, một đời làm thi sĩ

Chẳng đủ cho con lấy một đồng

 ( trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà dú – PND )

 

Nhà thơ Tô đình Sự mất vào năm 1970 trong một tai nạn xe cộ. Sinh thời, anh chủ trương tạp chí Thế Đứng cùng Phạm nhã Dự. Thơ văn TĐS và PND đăng trên các tạp chí văn nghệ thời danh tại Sài Gòn. Năm1968, anh nhập ngũ khóa 27 TBB / Thủ Đức cùng khóa với nhà thơ Phạm nhã Dự và cùng ở trong ban biên tập tờ nguyệt san TBBTĐ. Hai bạn là cặp bài trùng từ dạo đó. Nếu tôi nhớ không lầm, TĐS viết mục Nhật ký quân trường cho báo này, câu mở đầu anh gọi tên một người con gái: Nga yêu dấu . Cô Nga hiền dịu và dễ thương của TĐ, sau 1975 có còn ở Sài Gòn hay đã phiêu bạt phương trời nào ?

 

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

Quán sách cô Nga nằm ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực, điểm hẹn anh em văn nghệ chúng tôi. Thời gian này tôi đóng quân ở mật khu Lý văn Mạnh, thỉnh thoảng có phép leo trực thăng bay về Sài Gòn, tạt qua quán sách cô Nga mượn vài quyển sách rồi ngồi ở nhà hàng Kim Sơn bên hông đường Nguyễn trung Trực chờ bạn bè. Trần phù Thế, Nguyễn Lê La Sơn, Quốc Phong, Thụy Miên, Tô Đình Sự… và dĩ nhiên không bao giờ thiếu bạn tôi, Phạm nhã Dự; leo lên xe Jeep của Lâm Chương, ghé qua Thời Nay bốc Khánh Giang, Dương Trữ La ở Tin Sáng rồi kiếm một quán nhậu nào đó, uống vài chai bia quên đời bên nhau. Bây giờ Thụy Miên, Dương trữ La, Khánh Giang, Quốc Phong…không còn nữa, có lẽ đã cùng Tô đình Sự phiêu du ở một vùng trời nào đó tiếp tục cuộc vui ...

 

Tụi mình dăm đứa đời lang bạt

Sống chẳng ra chi, chẳng bận lòng

Việc nước, việc đời đem dẹp hết

Uống rượu quanh năm đếch ngại ngùng

 

Mày nhớ đêm tàn trên xa lộ

Thằng Chương đem xế lái quanh trời

Đù má, cũng còn cười khi sắp chết

Ngỡ rằng mình hái được hoa mơ

 ( trích Buổi chiều ở nghĩa trang Cà Đú – PND )

 

Phạm nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của mười tám thôn vuờn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mới cũ tứ hải giai huynh đệ “. Chỉ một vài câu nhà thơ Ngô nguyên nghiễm đã nói lên một phần nào cá tính của Phạm nhã Dự. Hào sảng. Phóng khoáng. Chí thành chí tình. Và nhất là hết lòng với bạn bè.

 

Tô đình Sự mất để lại người vợ đang mang thai đứa con thứ tư và ba con thơ dại. Sau 1975, vợ Sự đưa hết gia đình về sống ở vùng quê Phan Rang, chân lấm tay bùn, làm ruộng rẫy bữa đói bữa no, và kể từ đó PND mất liên lạc với gia đình TĐS. Trải qua một cuộc bể dâu và qua một thời gian dài dò hỏi tin tức, bạn tôi mới tìm được chỗ ở của vợ con TĐS, nhưng vợ Sự không còn. Thương cảm hoàn cảnh không lối thoát cho tương lai của các cháu, PND đã vội ra Phan Rang đốt nén hương trước mộ phần vợ chồng TĐS. Cùng lúc, cất cho trưởng nam của TĐS một ngôi nhà nhỏ qua sự đỡ đầu của nhà thơ Võ tấn Khanh, những đứa còn lại bạn tôi đưa vào làm việc trong hãng xưởng của một người quen tại Sài Gòn.

 

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

Quán Thằng Bờm ở Đề Thám - Quán Mai ở Phan thanh Giản, nơi thỉnh thoảng chúng ta tổ chức đọc thơ, phần ca nhạc do ca sĩ Quốc Phong đảm trách với phần phụ diễn của các ca sĩ Phương hồng Ngọc, Giáng thu ... Những bài thơ hào khí ngất trời, nói lên thân phận một nước nhược tiểu, những ưu tư, khắc khoải và thao thức của tuổi trẻ về chiến tranh và giấc mơ hòa bình. Tô đình Sự ra mắt tạp chí Thế Đứng tại đây, chủ đề cũng xoay quanh những vấn đề nêu trên. Những đêm đọc thơ như thế đều tập trung đông đảo học sinh, sinh viên tham dự. Trong bầu không khí văn nghệ ấm áp, đầy ấp tình người, ngồi uống ly cà phê và đồng cảm với lời thơ tiếng nhạc, một phần nào dù rất nhỏ, cũng góp một bàn tay tạo nên luồng sinh khí mới cho nền văn học nghệ thuật miền nam.

 

Nhà văn Thụy Miên mất, Trương thành Vân tạc tượng. Đêm điểm nhãn đôi mắt pho tượng bán thân của Thụy Miên có mặt hầu như đầy đủ anh em văn nghệ chúng tôi, trừ một vài người ở xa hoặc bận hành quân. Hoàng lộc - Ngô nguyên nghiễm - Phạm nhã Dự, Nguyễn lê la Sơn ( anh ruột của Thụy Miên )… và cả gia đình của Thụy Miên. Tất cả đều hồi hộp theo dõi từng cử động đôi bàn tay tài hoa của điêu khắc gia Trương Thành Vân. Giai đoạn điểm nhãn tối ư quan trọng quyết định sự thành bại của pho tượng. Đôi mắt mở to không chớp, mồ hôi chảy dài trên trán trên mặt, trời lạnh mà áo anh ướt đẫm. Đến gần nửa đêm, Trương thành Vân buông tay, ngã người ra sau la to: thành công rồi. Quả thật, hồn của Thụy Miên đã nhập vào đôi mắt, lóe lên và sáng rực như hai vì sao. Pho tượng này được dựng trước mộ Thụy Miên ở nghĩa trang tỉnh Vĩnh Long, nghe nói rất linh hiển và người dân thường đến nơi đây cầu phước… nên mộ anh bao giờ cũng đầy hoa quả, nhang đèn.

 

Ném hòn đất xuống mộ huyệt

Những nhát cuốc nẩy lửa

 

Ôi, những người bạn của ta

Sao lại chia lìa thảm thiết

Sao đành bỏ ta đi

Chỉ vì đời vắn số

Hay bởi lòng ti tiện của thế nhân

Của những tầm thường bày biện

 (Trích Đám tang cho ba thằng bạn –PND )

 

Một vài kỷ niệm nhỏ và thơ trích cũng đủ nói lên tấm lòng của ta với bạn, dù có thể Thơ và bài viết không hòa quyện vào nhau. Trong buổi xế chiều của cuộc đời, mỗi ngày chúng ta đều nhìn thấy sự mênh mông của đất trời, đêm tĩnh lặng trong sự mầu nhiệm của những vì sao, Thơ sẽ nẩy mầm hồi sinh những giá trị nhân bản con người.

 

Có phải không Phạm nhã Dự ?

Thơ là sự đồng cảm, đồng thanh kết tinh trong sự trầm lắng thanh thoát, đôi khi thấp thoáng hơi thở của đất trời, bàng bạc thiền tính và triết lý như Nhà thơ Phan bá thụy Dương nhận định :

 

“Người ta bảo thi nhân là kẻ có tâm linh siêu thoát, thanh nhã. Người xưa thắp nến đọc thơ và cho đó là một thái độ trang nghiêm để dễ dàng hòa nhập vào thế giới nội tâm của tác giả để thưởng ngoạn, để tìm nguồn đồng cảm, đồng thanh.

Ngôn tượng trong thơ Phạm Nhã Dự là một tổng hợp, kết tinh của sôi nổi và trầm lắng.

Hãy thử đọc những lời nhẹ nhàng, dịu êm như sương khói: Mai này vào cõi mịt mù – Chim kêu. Vượn hú. Tịch vù bóng sương – Mai sau ở cõi vô thường – Có ai chong ngọn đèn buồn. Đọc kinh!, và vài nét ẩn tàng nỗi hoang vắng, tịch lương: Ngoảnh lại. Trông ra. Hồ tan tác...-- Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm – Thoảng như tiếng oán hồn dân tộc – Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm.

Thơ Phạm Nhã Dự còn tiềm tàng phong thái ngạo nghễ của một kẻ lãng tử, phiêu bạt nhưng lòng lạnh lẽo, bơ vơ. Mỗi dòng chữ, mỗi câu thơ đều thể hiện đậm nét phóng khoáng: Ta mang em ra phố – Ném vào giữa chợ tình – Trăm người hỗn mang lạ – Rao bán cuộc bình sinh – Ta ngẫn nhìn ngơ ngác ... Ta đưa em vào đời – Nhảy múa cùng tử sinh – Trái oan khiên rớt hột – Đâm chồi giữa điêu linh – Ta rùng mình phiêu hốt.

Tiếng thơ hay tiếng lòng của người thơ 18 thôn vườn trầu này luôn như nhiên, tự tuôn trào như mạch sống. Lúc thanh thoát như: Đò nhẹ. Lòng trôi theo sóng vỗ – Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung. Khi vẩn đục như: Tao trở lại đây đường dịu vợi – Đốt nén hương tàn hát biệt ly – Thăm mày, đù má lòng buốt xót – Ngó trời chỉ biết chửi thề thôi.

Những ý nghĩ, hoài cảm đó hiển lộ, phảng phất mùi của rượu, màu sắc của tình yêu, sự thân thiết của tình bằng hữu, đôi khi bàng bạc công án thiền, triết tính với nhân bản tính và những thi ảnh, thi ngữ ấy đã được kết nối, dàn trải một cách linh động, tài tình “

 

Chúng ta mất hết nhưng vẫn còn có nhau.

Giờ đây ta và bạn cùng định cư trên nước Mỹ, bạn sống tại Boston MA, ta ở miền nam CA, cách xa vạn dặm; tình bạn vẫn nồng ấm, thấm thiết như xưa. Ta còn nhớ rất rõ, lúc Trần kiêu Bạt còn sống và Hà thúc Sinh chưa dời nhà đi Sacramento, mỗi tuần TKB đều bày tiệc rượu nhỏ, mục đích chính là để gặp mặt nhau hàn huyên tâm sự và cùng nhau gọi ĐT tán gẫu với bạn bè ở các tiểu bang xa như Trần phù Thế, Vũ uyên Giang...

 

Có còn nhớ không Phạm nhã Dự ?

Ta gọi ĐT cho bạn lúc 12 giờ đêm CA ( tức 3 giờ sáng Boston -MA) lúc cả ba đều ngất ngưỡng hơi men. Ngẫu hứng ta đọc cho bạn nghe bài thơ của bạn, ĐÊM TRÊN DÒNG KINH CÙNG, ngậm ngùi về một quê hương chỉ còn trong trí nhớ và hy vọng một ngày nào đó, chúng ta sẽ được ngồi trên con đò trong đêm trăng hò câu vọng cổ, khua mái chèo trên dòng Kinh Cùng :

 

Đò chậm. Bèo trôi. Trời ẩm đục

Bạn ta. Nào. Nốc ly này cạn

Đèn treo. Trăng hạ. Cáng vạc mềm

Mai đò chưa muộn chuyến sương đêm

 

Mênh mông. Cá mống. Dòng kênh lạnh

Chèo.Xạc xào khua. Tiếng nhái khan

Thoảng thoảng. Đèn xa. Hò vọng cổ

Tí tách Lục bình nở tím ngang

 

Nước lạnh. Dòng đời trôi cũng lạnh

Đời dăm ba phút ấm cùng thôi

Bạn ta. Đâu đã gì quá muộn

Đâu gì. Ha hả. Đâu gì đâu ?

 

Trò đời. Nghĩ cũng phường khinh bạc

Rượu mềm. Chưa thấm. Hãy tràn ly

Đêm nay ta cạn ly vô tận

Mặc dòng nước chảy cuốn về đâu

 

Đò nhẹ. Lòng trôi theo sóng vỗ

Canh sâu. Dế đệm. Nhạc sành rung

Bạn ta. Đâu đã gì lướt khướt

Nghe chăng ? Tiếng diễu nhại côn trùng

 

Ngoảnh lại. Trông ra. Hồ tan tác…

Chập chờn. Nghe gió lộng xa xăm

Thoảng nghe tiếng oán hồn dân tộc

Rớt xuống thuyền sông lạnh mái dầm

 

Ta gửi bạn bốn câu thơ viết từ thời trai trẻ, cách đây gần năm mươi năm, diễn tả sự thao thức, khát vọng và hoài bảo của tuổi trẻ Việt Nam trước hiện tình đất nước, bây giờ mỗi lần nhớ lại vẫn còn thấy hợp với tâm trạng chúng ta :

 

Những ước mơ như người què tháp đôi chân gỗ

Chống gậy đi tìm người lạ mặt ở bên kia sông

Có phải chúng ta đang đứng ở bên này

Ở bên kia sông lão chèo đò ơi ới gọi

 

 

 

TRẦN VĂN SƠN

Đường trúc thư trang



*


Hôm nay 30-4-2013


Mời đọc thêm



TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN




blank


Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Các anh từ Bắc vào Nam
Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
Các anh đến
Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
Của xì ke, gái điếm, cao bồi
Của tình dục, ăn chơi
“Hiện sinh - buồn nôn - phi lý!!!”

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi
loạn
Là thiêu thân ủy mị, yếu
hèn
Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

2.



blank


Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
Có anh thợ điện ra đi không về
Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
Đi từ tuổi hai mươi
Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

Có ai hỏi những hàng dương xanh
Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
Tội nghiệp nhưng đêm Sài
Gòn đốt
đuốc
Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
Áo chùng đen đẫm máu
Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
Những vị giáo sư trên bục giảng đường
Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

Sài Gòn của tôi - của chúng ta.
Có tiếng cười
Và tiếng khóc

3.




blank



Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương
thiện
Những
gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hy sinh…

4.



blank
QLVNCH




Và khi ấy
Thì chính “các anh”
Những người nhân danh Hà Nội
Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
Chửi đã đời
Chửi hả hê
Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
Những bà mẹ mấy mươi
năm còng
lưng trên đê chống lụt
Những bà mẹ làm ra hạt lúa
Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

Bây giờ
Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
Các anh
Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh, ti-vi, cassette, radio…

Bia ôm và gái
Các anh ngông nghênh tuyên ngôn “khôn & dại”
Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
Các anh cũng chạy đứt hơi
Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

Sài Gòn
1982 lẽ nào…
Lại bắt đầu ghẻ lở?

5.



blank



Tội nghiệp em
Tội nghiệp anh
Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật


6
.



blank



Xin ngả nón chào các ngài
“Quan toà trong sạch”
Xin
các ngài cứ bình thản
ăn chơi
Bình thản đổi thay lốt cũ
Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
Hồn nhiên xanh muôn thưở
Để yên cho xương rồng, gai góc
Chân thật nở hoa
Này đây!
Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

Bây giờ…
Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào “thượng đế”
Khi sống hả hê giữa một thiên đường
Ai bây giờ
Sẽ
Tạ lỗi
Với Trường Sơn?



Đỗ Trung Quân



*



Le Ra Mat Thi Tap-TAT CAN DOI SONG

_____________________________________________________





Trang Quảng Cáo