DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,704,440

Tờ Khai Sinh năm 1975 - Cao Thoại Châu

03 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 6270)
Tờ Khai Sinh năm 1975 - Cao Thoại Châu

T Khai Sinh năm 1975



blank

 

 

 

 

 

 

 
 

 

Con Út ta sinh năm một chín bảy lăm

Duy nhất trong nhà có khai sinh mới

Giữa những người đi, người ở lại

Hai dòng không chung một băn khoăn

 

Con gái ta sinh trong hòa bình

Hòa bình cho mọi thứ xung quanh

Mà ta vẫn nghe nhiều tiếng nổ

Kinh hoàng xé rách màn đêm

 

Đời hoang lạnh buốt hồn thi sĩ

Mắt trừng vẫn mở những đêm không

Nghe cuộc sống thấm dần từng tí

Chạnh lòng thương xót mộng văn chương!

 

Đời gai góc đi qua đủ thứ

Mỗi bước đi là mỗi gian nan

Sự im lặng làm kinh nhật tụng

Tờ lịch rơi như đếm nhọc nhằn!

 

Chẳng có gì hại được con ta

Dang đôi cánh mình ta mang hết

Thản nhiên nhìn bao nhiêu góc khuất

Hiện dần khi cuốn sách sang trang

 

Một đôi khi thảng thốt giật mình

Khi con gái rồ ga đi dạy học

Cũng son phấn cũng thời trang âm nhạc

Đồ cũ trong nhà đem bán lạc xoong!

Đứa bé ngày nào giờ là mẹ hai con
Lo âu khác với ta thuở trước
Đọc khai sinh có khi không hiểu hết
Có khi cần ta dịch cho nghe!

Con gái ta là cô giáo tiếng Anh
Biết hơn ta về Langston Hughes
Về những nhà thơ Mỹ da màu
Làm lịch sử làm thơ bằng máu!

 

Biết mấy trăm năm lịch sử Hoa Kỳ

Chỉ tháo chạy một lần duy nhất

Lịch sử có bao điều khuất tất

Con ta nhìn khoảng trống dưới chân đèn

 

Bài thơ này nếu đăng trên báo Mỹ

Tưởng không cần phiên dịch giúp con ta!

 

 

TỰ LUẬN

 

 

 

Ta từ chối làm người Chiến Quốc

Xuân Thu chi cho chóng bị tâm thần

Giường chiếu quá thừa nơi giang hồ vặt

Chỉ cần đôi dép dưới bàn chân

 

Ta có đọc sách thánh hiền dạy dỗ

Lấy hiếu trung nhân nghĩa làm đầu

Đọc đấy rồi lại quên ngay đấy

Cái thiện bao giờ cũng dễ quên mau

 

Được dạy cho dăm điều lõm bõm

Tiểu nhân hôi như chuột cống trong thành

Lũ chuột đấy béo tròn béo trục

Mà quân tử thì gầy ốm trơ xương

 

Người xưa dạy điều ta không chịu

Nữ với nam thụ thụ bất tương thân

Đêm soi bóng trên đường tre trúc

Trăng đa tình không lẽ lại trăng suông?

 

Phải thụ thụ, thưa tiên gia tiền bối

Sống một mình đâu có thể thành ta

Nói và nhìn mặt nhau chưa đủ

Làm chi thêm… chính nghĩa tự bao giờ!

 

Rằng “lập thân tối hạ thị văn chương”

Trả tiên tổ, điều này không nhận

Nửa câu thơ cũng là sang cả

Cũng đủ câu lấy một người tình

 

Ta không muốn đi làm tráng sĩ

Phải hiên ngang đao kiếm dắt bên hông

Hình ảnh đấy trông rất ư hình nộm

Thường đu đưa trong những khu vườn

 

Ta chỉ muốn làm người, thưa tiên tổ

Thưa mấy ngàn năm, thưa đống sách thánh hiền

Thưa tất cả những gì quy phạm

Và cuối cùng, thưa trái tim em!

25-4-2013

-------------

 

LỜI NHẮN GỬI THÂN YÊU BUỔI SÁNG

 

Ngoài trời không đổ cơn mưa

Hồn con lạnh cóng bất ngờ, Mẹ ơi!

 


Vẫn là đứa bé con thèm khát sữa

Vẫn thèm đôi vú mẹ Âu Cơ

Và phải qua một đời thử thách

Vú người yêu thay vú mẹ bây giờ?

 

Đã từng đi qua rừng qua núi

Lội qua đèo qua suối qua truông

Cùng năm mươi con theo mẹ lên rừng

Cũng chỉ vì khát dòng sữa ấy

 

Trên non cao là đá với rừng

Những động vật đều là loài có vú

Nhường biển lại cho loài tôm cá

Quẫy đuôi dài khoe sức với đại dương

 

Uống sữa mẹ hóa thành đa cảm

Cho nên con biết giận biết hờn

Biết đến thứ gọi là tình mẫu tử

Hỗ dữ có khi nào ăn thịt đứa con!

 

Đường về rừng mẹ đứng chân bên suối

Chỉ cho con những viên cuội trắng ngần

Là thực phẩm nuôi tâm hồn trong trắng

Nhớ lấy câu nước chảy đá mòn

 

Đường về rừng mẹ dừng chân hái quả

Cho con biết đời có vị thơm ngon

Có chát đắng và có khi quả đẹp

Bắt mắt mà mang chất độc bên trong

 

Đường về rừng cùng lũ con leo dốc

Dốc đời có khi chạy ngược vào tim

Những con dốc lên đồi cao vút

Dốc xuống vực sâu gió hú im lìm

 

Mẹ Âu Cơ, sáng nay thèm vú mẹ

Sự nhiệm mầu bí ẩn một đời con

Là rừng sâu cũng là biển rộng

Là nước đi xa nước lại về nguồn

27-4-2013

 

--------------

VẦNG TRĂNG THƠ ẤU

 

 

Em là vầng trăng mọc cho ta từ thơ ấu

Sao trăng lại buồn chỉ sáng sau lưng

Lạc vào giữa trời đêm mờ mịt

Chân ta vì thế rất ngập ngừng

 

Mơ hồ nghĩ vầng trăng dạo ấy

Lướt qua như báo một điềm lành

Thuở tóc buông mười lăm mười bảy

Đời chưa hề có một tên riêng

 

Ta gọi em là vầng trăng cố quận

Thiêng liêng cùng mọi thứ quê nhà

Lướt qua rồi trăng đi biền biệt

Vết thương lòng êm ái để cho ta

 

Mấy mươi năm đi tìm xớn xác

Trăng người ta đâu phải trăng mình

Đêm tối quá nên nhiều va vấp

Qua truông buồn hay mỏm đá chênh vênh

 

Trăng cố quận, ta về như thầm hẹn

Với thiêng liêng từ thuở đớn đau nào

Hỏi quê nhà mong tìm ra lời đáp

Đêm nay buồn trăng sáng tận nơi đâu?

Cao Thoại Châu

24-4-2013


Le Ra Mat Thi Tap-TAT CAN DOI SONG

 


_____________________________________________________





Trang Quảng Cáo



qc_0-content


qc_1-content





Quí vị ở các tiểu bang xa

Quí vị H.O. sẽ hay đã nghỉ hưu

Muốn về sống ở Nam Calif. Nắng Ấm (Little Sai Gon, Orange County)

Muốn mua một căn nhà vừa ý, hợp với túi tiền


Xin liên lạc:


Marvin Tran


(714) 768-8810



Sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


*



blank



ha_1-content


hoang_anh_1-content


11031 Acacia Parway

Garden Grove Civic Center

Garden Grove, CA 92840




Chuyên mọi dịch vụ về Răng


Người Lớn, Trẻ Em

B
ền, Rẻ, Đẹp

Uy Tín


Liên lạc lấy hẹn
:

D.D.S Ho
àng Anh

(714) 724-5699

Cindy Tr
ần

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 116)
Luân Hoán với tôi (VTrD), đồng hương, cùng những ngày trong quân trường Bộ Binh Thủ Đức khi khóa tôi được gởi sang học quân sự giai đoạn I ở Trường BB Thủ Đức cùng với khóa 24. Lúc đó Khối Chiến Tranh Chính Trị thành lập Ban Biên Tập liên khóa 23 & 24 Sinh Viên Sĩ Quan cho nguyệt san Thủ Đức nên được gặp nhau. Tháng 5-1967, chúng tôi chia tay, Luân Hoán tiếp tục ở quân trường vào giai đoạn II, sau đó phục vụ đơn vị tác chiến ở Sư Đoàn 2 BB. Gần hai năm sau, tôi nhận được tin buồn của Phan Nhự Thức, Luân Hoán mất một bàn chân rồi!... Chiến trường ở Quảng Ngãi lúc đó rất khốc liệt, không còn gì ngoài lời an ủi “thôi đành, để còn sống với vợ con”. Trong cuộc hành quân vì đạp phải quả mình “ba râu” chôn sát dòng sông, mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.
16 Tháng Năm 20185:46 CH(Xem: 103)
Tôi gặp Trần Hữu Hội lần đầu là trong một buổi tối thật buồn: một bạn văn của chúng tôi, nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh vừa nằm xuống và đêm đó anh em Quán Văn đang tổ chức một buổi tưởng niệm đọc thơ văn để sáng hôm đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Khi tôi và Elena thắp nhang trước linh cửu và bước ra cửa thì thấy một người đàn ông gầy gò, chống nạng đứng hút thuốc, khép nép sát bức tường. Tôi nhìn anh mỉm cười, hỏi anh là bạn hay là người thân của anh CTNM. Anh đáp “bạn, mà như em!”. Giọng anh thật khẽ khàng, không biết có phải còn e dè với người lạ hay không muốn kinh động cái không gian nhuốm màu tiếc thương của người vừa rời cõi tạm. Nói xong anh rít một hơi thuốc thật sảng khoái và tôi nhìn anh, cười lần nữa, và lúc này tôi mới thấy người đàn này có khuôn mặt phúc hậu và nụ cười thật hiền. Và tự nhiên trong tôi phát sinh một thiện cảm đặc biệt.
11 Tháng Năm 20186:15 CH(Xem: 185)
Nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật Nguyễn Đính, sinh năm 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế. Cả cuộc đời ông gắn liền với phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng cho đến năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh và an dưỡng. Theo lời kể lại của nhà thơ Thái Ngọc San - người cũng thoát ly ra Bắc và đã gặp nhà thơ Trần Vàng Sao, thì đây là quãng thời gian khổ ải nhất của nhà thơ vì gặp nhiều đố kỵ ghen ghét từ những người cùng chiến tuyến với ông. Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc viên tức đưa thư, rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Theo Nguyễn Miên Thảo, người viết lời tựa cho tập thơ thì vào thời điểm này, bài thơ "Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình" của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương
10 Tháng Năm 20186:11 CH(Xem: 178)
Tôi đọc bài thơ “Tau chưởi” dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) khó tìm ra một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy? Hai Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” và “Bài thơ của một người yêu nước mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” mới là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.
06 Tháng Năm 20182:41 CH(Xem: 214)
“Cho tôi xem qua bài lục bát nào của anh/chị, tôi sẽ nói được ít nhiều về anh/chị.” Câu ấy tôi vẫn nói với những người làm thơ quen biết, và có lý do để mạnh miệng như vậy. Không chỉ “văn là người” mà cả đến thơ cũng là “người”. Hơn thế nữa, bài lục bát còn cho tôi nói được ít nhiều về “tay nghề” của tác giả bài thơ. Thế nhưng, vì sao là lục bát mà không phải thể thơ nào khác? Chỉ vì, thơ lục bát “dễ làm, khó hay”, và là một thử thách cho người làm thơ. Qua một bài lục bát, dẫu tân, cổ kiểu nào, bản lãnh của người làm thơ thể hiện rõ nét hơn bất kỳ thể thơ nào khác.