DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,820,581

Tổng Đốc Hoàng Diệu - Trần Gia Phụng

05 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 5229)
Tổng Đốc Hoàng Diệu - Trần Gia Phụng

Tng Đc Hoàng Diu


blank

 












Năm 1848 (Mậu Thân), nhằm năm Tự Đức thứ nhất, nhân dịp mới lên ngôi, vua Tự Đức (1948-1883) (1) ra lệnh tổ chức kỳ thi Hương đặc biệt đặc biệt goi là ân khoa (2).

Thông thường, kỳ thi Hương có bốn cấp gọi là bốn trường thi. Riêng kỳ thi Hương năm 1848, tại Trung Tâm Thừa Thiên, đến trường thứ ba tức Tam Trường, có hai anh em nhà kia đồng thi đỗ. Bài vở hai anh em này có nhiều điểm giống nhau về ý tưởng cũng như về văn phong khiến cho ban chủ khảo gồm có Tham Tri Bộ Binh Hoàng Thế Mỹ (chủ khảo) và Biện Lý Bộ Lễ Phan Huy Thực (phó chủ khảo) nghi ngờ, lấy giấy mỏng dán đậy tên họ hai anh em đồng thời tấu trình sự việc lên trên vua Tự Đức định liệu. Vua Tự Đức hạ chiếu ban giám khảo tổ chức thi lại, đặc biệt cho hai anh em này trong ba ngày liền, mỗi người ngồi riêng một mình trong phòng bên Tả Vu và bên Hữu Vu (Tả Vu và Hữu Vu là hai ngôi nhà nằm đối diện nhau hai bên sân trước điện Cần Chánh trong Đại Nội). Nội dung bài thi giống như văn thức của ba trường. Chính tự tay Vua Tự Đức duyệt bài thi và Ngài ngự phê rằng: “Văn chương là lẽ công bằng, hai anh em văn chương đều kiệt tác. Quí đặng chân tài, anh em đồng khoa, thật tốt” (3)


Cuối khoa thi này, hai anh em đã đồng đậu cử nhân. Vậy họ là ai mà cả triều đình Huế phải tổ chức một kỳ thi khảo hạch đặc biệt lạ đời đến thế? Theo Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, hai anh em đó chính là các ông Hoàng Kim Giám và Hoàng Kim Tích (sau đổi thành Hoàng Diệu), người làng Xuân Đài, huyện Duyên Phước, phủ Điện Bàn,Tỉnh Quảng Nam nay là huyên Điện Bàn, tỉnh Quãng Nam.


Hai ông là con của Hoàng Văn Cự (1799-1854). Ông Cự chuyên làm ruộng, gia tư khá giả, cố gắng nuôi các con ăn học.Ông Cự có tất cả 11 người con, tám trai, ba gái, trong đó chỉ có người con thứ nhì là Hoàng Kim Giám, người con thứ ba là Hoàng Diệu và người con thứ năm là Hoàng Văn Bảng học hành đỗ đạt (4). Về sau, nhờ ông Hoàng Diệu làm quan lớn, ông Hoàng Văn Cự đã được triều đình Huế sắc phong Gia Nghị Đại Phu, Thái Thường Tự Khanh.


Hoàng Kim Giám sinh năm 1826, đỗ cử nhân năm 1848, không ra làm quan, và mất năm 1859. Hoàng Kim Tích sau đổi tên là Hoàng Diệu khi triều đình nhà Nguyễn ra lệnh cấm sử dụng từ ngữ có bộ Kim, sinh năm 1829, đỗ cử nhân năm 1848 (19 tuổi), đỗ Phó Bảng (5) trong kỳ thi Hội tại Kinh Đô Huế năm 1853 (42 tuổi). Hoàng Diệu khởi đầu sự nghiệp quan lại của mình từ chức vụ Tri huyện huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, rồi thăng Án Sát Nam Định, Bố Chánh Bắc Ninh, Tham Trị Bộ Hình, Tổng Đốc Tỉnh Nghệ An Hà Tĩnh. Hoàng Diệu nổi tiếng thẳng thắng, danh liêm hết lòng vì dân và rất được nhân dân quí trọng, đến nổi khi Hoàng Diệu làm việc ở Bắc Ninh, triều đình muốn thuyên chuyển đi nơi khác, tỉnh phần Bắc Ninh đã tâu về Triều xin lưu Hoàng Diệu ở lại. Cũng chính vì lòng cương trực mà có lần Hoàng Diệu đã bị Vua Tự Đức giáng chức vào năm 1865 khi Ông đang làm tri huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên vì Ông đã dám đề nghị tẩy oan cho Hồng Tập (6).


Hoàng Diệu xuất thân là một văn quan, nhưng vừa có tài về cai trị, vừa có tài về quân sự nên nơi nào có loạn lạc khó khăn, Triều đình liền đưa Hoàng Diệu tới trấn nhậm. Năm 1873, Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất rồi trả lại cho Việt Nam để đổi lấy việc Triều đình Huế ký hòa ước năm 1874 nhường toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Nhưng lòng tham không đáy, Pháp liên tục dòm ngó Bắc Kỳ. Trước tình hình căng thẳng như thế, năm 1880 (có sách viết năm 1879), Vua Tự Đức cử Hoàng Diệu ra làm Tổng Đốc Hà Ninh (Hà Nội –Bắc Ninh). Khi ra đảm nhận vùng trọng yếu này, chính Hoàng Diệu cũng thấy tình thế thật khó khăn nhưng không lẽ lại làm ngơ trốn tránh trách nhiệm trong lúc vận nước ngã nghiêng. Ông đã thổ lộ tâm sự qua bài Quá Giang Tức Cảnh Ông đã cảm tác khi đến Hà Nội:

Quá bước tìm phương bỗng tới đây,
Khen cho con tạo khéo trưng bày.
Sông e biển cạn bù thêm nước,
Núi sợ trời nghiêng đỡ lấy mây.
Rạt rạt sóng cồn che mặt nước,
Ào ào gió thổi cuốn rừng cây.
Nửa về nửa ở lòng không nỡ,
Ngán nỗi trời chiều bóng xế tây.
(7)

 

Khi vừa đến Hà Nội, Hoàng Diệu liền tổ chức phòng thủ chặt chẻ, xây dựng công thự chiến đấu, xin Triều đình Huế tăng viện nhưng triều đình làm ngơ, thao dượt quân sĩ, buộc người ngoại quốc muốn vào Hà Nội phải xin phép chính quyền Việt Nam. Hoàng Diệu rất ghét những kẻ liên lạc với Pháp và ỷ thế người Pháp. Có lần Ông ra lệnh bắt viên thông ngôn xấc xược đánh cho một trận nặng. Trong khi đó, có một số quan lại nhút nhát theo chủ trương hòa hoãn của vị Tổng Đốc tiền nhiệm là Trần Đình Túc, muốn mở cửa thành cho người Pháp vào và triệt binh để người Pháp khỏi nghi ngờ. Vua Tự Đức cũng ra chiếu khiển trách Hoàng Diệu quá cứng rắn với người Pháp, nhưng về phần mình, Hoàng Diệu vẫn giữ vững lập trường cương quyết bảo vệ Hà Nội.


Ngày 24 tháng Tư, năm 1884, Pháp tấn công Hà Nội. Hoàng Diệu chỉ huy quân dân ra sức chống cự mãnh liệt nhưng trươc sức mạnh và vũ khí tối tân của quân đội Pháp, Hà Nội đành phải thất thủ. Sức cùng, lực kiệt Hoàng Diệu vào võ miếu viết tờ di biểu gởi về triều đình Huế tường trình mọi việc, nhấn mạnh đến việc Ông quyết tâm bảo vệ Hà Nội vì: “... Thần thiết nghĩ: Hà thành là yết hầu nơi Bắc Địa, mà cũng là khu yếu hại của nước nhà. Nếu một mai núi lỡ đất chuồi, thì các tỉnh cũng thành tan ngói vỡ...” (theo bản dịch lối phú của bác sĩ Thái Can). Hoàng Diệu tự nhận hoàn toàn trách nhiệm về việc để mất Hà Nội. Viết xong bài di biểu, Hoàng Diệu dùng chiếc khăn xanh chít đầu, treo cổ tuẫn tiết, lấy cái chết để đền nợ non sông, dầu Ông vẫn mãi ngậm ngùi hoài vọng:


Sông e biển cạn bù thêm nước,

Núi sợ trời nghiêng đỡ lấy mây.

 
Trước cái chết của vị anh hùng dân tộc Việt Nam, người Pháp tỏ ra rất khâm phục. Đối thủ trực tiếp của Hoàng Diệu là Đại Tá Henri Riviere, trong bản tường trình lên thượng cấp ở Pháp ngày 24 tháng 4 năm 1882 đã viết: “Buổi sáng 26 tháng 4, chúng tôi được tin viên Tổng Đốc đã tự tử. Viên ấy là một người điềm đạm và cương quyết…...” Trong một bức thư khác, Riviere nói thêm: “Quan Tổng Đốc là người quân tử. Sự tự tử của Ông đã chứng minh điều đó...” (8). Trong nhật ký của mình, Henri Riviere còn cho rằng thế lực của Hoàng Diệu làm cho người Pháp bối rối, nhất là Hoàng Diệu biết hiệp lực với Hoàng Kế Viêm lúc đó đang đóng ở Sơn Tây, gần Hà Nội (9).


Về phía triều đình Huế, vua Tự Đức đã ra chỉ dụ ngày 10 tháng Năm năm Tự Đức thứ 35 (25 tháng Sáu, 1882) khen ngợi Hoàng Diệu: “……... Tổng Đốc Hoàng Diệu đã thề cố thủ, có chết cũng không đổi chí ...” Vua Tự Đức còn ban cho thân mẫu Hoàng Diệu một ngàn quan tiền và sai tỉnh phần Quảng Nam tổ chức một lễ tế trọng thể khi gia đình đưa Hoàng Diệu về an táng tại thôn Xuân Minh trong ngày 5 tháng Mười, 1882.


Rất nhiều quan chức và thân hào nhân sĩ trong cả nước đã viết những bài điếu văn, những câu liễng đối bi ai hùng tráng để tưởng nhớ Hoàng Diệu như những bài của Phan Đình Phùng, Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Giai ...


Quan trọng hơn cả và trên tất cả, đó là lòng thương mến kính trọng của nhân dân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung đối với Hoàng Diệu. “...Khi thành đã phá xong, trong hàng phố được tin quan Tổng Đốc tuẫn tiết, rất lấy làm thương xót. Ông thượng Kim, một thân hào, cùng dân hàng bang góp tiền mua áo quan đem chôn ở gần miếu trung liệt...”


Trong điếu văn khóc Hoàng Diệu, một người họ Ngô viết: “... Nếu ai cũng như Ông, Hà thành đâu đến thế. Vì ai cũng khác Ông, Hà thành nên thế ấy...”


Còn sĩ tử Hà Nội đã hết sức ca tụng Hoàng Diệu:

Cô thành độc thủ chích thân đan,

Khảng khái như ông, thế sở nan.

Cựu lục thiên thu truyền liệt tiết,

Cô thần nhất tử tiết trung can.

Thâu sinh thử nhật tâm do quý,

Nghịch tặc đương niên cốt dĩ hàn.

Thiên tải Nùng sơn tiêu chính khí,

Anh hùng đáo xứ lệ tương can.


Hoàng Xuân Hãn dịch thơ (10):


Cô thành chống giữ một mình thôi,

Khảng khái như ông được mấy người.

Cựu lục nghìn năm gương tiết rọi,

Cô thần một chết tấm trung phơi.

Sống thừa ngày nọ tâm còn thẹn,

Giặc nghịch năm nao sợ rụng rời.

Nghìn thuở Nùng sơn nên chính khí,

Anh hùng đến thế lệ cùng rơi.

 

Nổi bật nhất là hai bản trường ca của các tác giả vô danh là Hà Thành Thất Thủ Ca theo thể song thất lục bát và Hà Thành Thất Thủ Chí Công Quá Ca thường được gọi là Hà Thành Chính Khí Ca hay còn gọi tắt là Chính Khí Ca theo thể lục bát. Hai bản trường ca này đã hết lời xưng tụng tiết tháo và lòng tận trung của Hoàng Diệu. (Nghe nói hai bản này đã được dịch ra Pháp văn, nhưng chúng tôi chưa tìm được). Ca dao chúng ta có câu: Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Hai bản trường ca này là hai tấm bia miệng dân gian thiết tha như nhạc hồn đất nước mãi mãi vinh danh vị anh hùng dân tộc Hoàng Diệu, vừa là một văn quan lỗi lạc, vừa là một võ tướng can đảm xuất chúng đã suốt đời tận trung báo quốc.

 

Trần Gia Phụng

 

Chú thích:


1. Tự Đức lên ngôi năm 1847, nhưng lấy năm 1848 làm Tự Đức Nguyên Niên.
2. Ân khoa là khoa thi gia ân bất thường khi trong nước có việc vui mừng như lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quãng Hàm, Trung Tâm Học Liệu Sài Gòn 1973, trang 87).


3.Gia Phả Tộc Hoàng, Đà Nẵng, 1972, trang 42.


4. Gia Phả Tộc Hoàng, trang 78. Trong sách có văn cổ về Hà Thành thất thủ và Hoàng Diệu (Sông Nhị, Hà Nội, trang 20), Hoàng Xuân Hãn viết Hoàng Diệu có 6 anh em ruột đều đỗ đạt là không đúng. Ngày trước, trong gia tộc có một người đỗ đạt là một niềm vinh hạnh lớn, con cháu không thể quê ghi vào gia phả. Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm chứng bằng sách Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục quyển III và quyển IV.
5. Năm 1829 (kỷ sửu), vua Minh Mạng (1820-1840) đặt thêm ngạch Phó Bảng dưới Tiến Sĩ trong kỳ thi Hội (Dương Quãng Hàm, sđd, trang 87).
6. Đại Nam Thực Lục Chánh Biên Đệ Tứ Ký, trích dẫn bơỉ “Hoàng Diệu 1829-1882”, bảng đánh máy, tài liệu do con cháu tộc Hoàng sưu tầm, trang 68. Hồng Tập là em chú bác ruột vua Tự Đức (tưc Hồng Nhậm), con của Hoàng Thân Miên Áo, âm mưu nổi loạn vào năm 1864 (giáp tý) bị bại lộ và bị lên án tử hình.


7.Hoàng Diệu 1829-1882 trang 31.


8.Hoàng Xuân Hãn, sđd, trang 67.


9. Phan Khoang. Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Sống Mới, Sài Gòn, 1961.
10. Các trích dẫn sau cùng theo Hoàng Xuân Hãn, sđd, trang 21, 50, 51 và 60.






Nhẫn Cỏ Cho Em - Trường Vũ

Nhạc sĩ Vinh Sử bị ung thư ngặt nghèo - Lê Quý An


_____________________________________________________





Trang Quảng Cáo



qc_0-content


qc_1-content



Quí vị ở các tiểu bang xa

Quí vị H.O. sẽ hay đã nghỉ hưu

Quí vị từ VN mới sang định cư...

Muốn về sống ở Nam Calif nắng m

(Little Sai Gon, Orange County, Los Angeles)

Muốn mua một căn nhà vừa ý, hợp với túi tiền

Xin liên lạc:



Marvin Tran


(714) 768-8810



Sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


*



hoang_anh-content



ha_1-content


hoang_anh_1-content


11031 Acacia Parway

Garden Grove Civic Center

Garden Grove, CA 92840




Chuyên mọi dịch vụ về Răng


Người Lớn, Trẻ Em

B
ền, Rẻ, Đẹp

Uy Tín


Liên lạc lấy hẹn
:

D.D.S Ho
àng Anh

(714) 724-5699

Cindy Tr
ần

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20188:03 SA(Xem: 12)
Trong clip thâu âm Nguyễn Quốc Chánh đọc thơ của mình, thực sự, ta có thể nghe những âm thanh của một thành phố: tiếng vù vù của những chiếc xe máy lướt trên đại lộ, tiếng còi sốt ruột của những chiếc taxi đang cố gắng luồn lách qua đoạn đường ùn tắc, một giọng nói mạnh mẽ, dứt khoát vang lên giữa đám đông vừa kết tụ lại đồng thời vừa tản mát ra như một đám mây đơn lẻ. Đối với tôi, đấy chính là âm thanh của thành phố Hồ Chí Minh. Độ rỗng của căn phòng nhiều tiếng vang nơi thâu âm bài thơ có thể được cảm nhận rất rõ ngay từ giữa dòng thơ thứ ba ở bài thơ đầu tiên trong tập thơ được xuất bản dưới hình thức samizdat của Chánh – Ê, Tao Đây (2005): “Sài Gòn bị thủng, cái xác chưa chôn, thủ đô lún mỗi ngày vài phân, chính trị cũng nên cổ phần… Ký sinh vào thuật giả kim là đám chữ ruồi bu… Bí mật quốc gia là những bữa tiệc trên vận may của hoa anh túc, làm người nghĩa là nhục, làm người Việt nghĩa là siêu nhục… Một người rao trên mạng: cần một đối tác tình dục có ý tưởng và hành vi
10 Tháng Mười 20188:40 CH(Xem: 152)
Thí dụ cụ thể như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn, nhân vật chính là một nhà giáo trẻ muốn lấy một cô gái có chồng ở lại ngoài Bắc, xin phép cha xứ, cha không cho, đành chịu. Yêu cô khác vậy…Trai ngoại đạo lỡ yêu phải một cô gái công giáo, kể như tình yêu sẽ lỡ dở, trừ phi theo giải pháp xoay xở mà ca dao đã diễn tả: “Tôi quì lạy Chúa trên trời, Tôi lấy được vợ tôi thôi Nhà Thờ”. Nhà văn/nhà thơ đâu có đóng kịch, giả trá như vậy được, nên thường chỉ có một cách rời bỏ xóm đạo ra đi, sống trà trộn với dân vô đạo tà đạo bên ngoài, hay bằng cách kêu ầm lên như ở Âu châu một thời nào đó, là “Chúa đã chết rồi, chúng tôi tự do”, hay tối thiểu cũng bằng cách thôi không đến nhà thờ nữa, thôi giữ đạo trong mọi sinh hoạt thường nhật. Nhưng bỏ đạo công khai, đối với mọi cộng đồng giáo dân, là truyện to lớn, không mấy người muốn làm và làm được. Bởi thế cách hay nhất vẫn là giữ im lặng, tìm cách ra khỏi xóm đạo một cách nhẹ nhàng, như trong Xóm Đạo của Nguyễn Ngọc Ngạn,
08 Tháng Mười 20189:35 SA(Xem: 106)
Mấy ngày nay dân làng Hoa Đào xôn xao về lễ tang ông Đại Vĩ. Ngôi làng trồng hoa ven đô tỉnh H, nằm bên vệ hồ Đông yên bình thơ mộng bỗng nhiên ồn ào huyên náo khác thường. Dòng người sang trọng từ các nơi về phúng viếng đông như kiến cỏ. Xe ô tô đời mới đủ loại, đắt tiền bạc tỷ cứ nối đuôi nhau xếp hàng trước cổng làng dài hàng cây số. Đường làng bay rợp cờ phướn màu vàng, ở giữa thêu quẻ Thuần Càn, ý nói người quá cố vĩnh biệt thế giới này vào giờ đại cát sẽ để lại cho dân làng nhiều điều may mắn, phúc lộc dồi dào. Làng Hoa Đào xưa có tên nôm là làng Kình. Chữ Kình có nghĩa là chống đối nên trong các loại đào thế, người chơi hoa cây cảnh làng Kình công phu tìm cho được cây đào có thế Kình thiên độc trụ đắt mấy cũng mua, để tưởng nhớ và tôn vinh truyền thống bất khuất của làng bao đời nay. Thời nào gặp buổi vận nước suy vi, kỷ cương băng hoại trong làng đều xuất hiện một bậc hào kiệt lãnh đạo dân làng nổi lên đấu tranh chống lại cường quyền ác bá. Ngay trong tổng, có ngôi làng lớn
05 Tháng Mười 20187:50 CH(Xem: 112)
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với “ve áo” đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê “Hiền quá hoá đần”. Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác. Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái “Lọ”. Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được.
28 Tháng Chín 20186:59 CH(Xem: 192)
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều người nổi tiếng đã lần lượt rời bỏ cuộc sống: nhạc sĩ Tô Hải, nhà báo Bùi Tín, cựu Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, và gần đây nhứt là chủ tịch nước Trần Đại Quang. Mỗi cái chết đều tạo nên những phản ứng xã hội khác nhau, tùy theo góc nhìn. Trong truyện ngắn dưới đây của nhà văn Khuất Đẩu: Chôn đứng, người chết chỉ là một kẻ vô danh, bình thường. Điều không bình thường là bởi quá giàu, nên ông ta không cam chịu vô danh, phải có được cái danh mình muốn, bằng cách đi mua. Và không chỉ khoa trương trong lúc sống, ông ta còn nghĩ ra lắm chuyện cầu kỳ trong cái chết, buộc con cháu phải làm những việc kỳ quặc chưa ai từng làm… Tất nhiên, ông có thể sai khiến con cháu trong nhà bất cứ điều gì, nhưng lại không thể sai khiến thiên nhiên, trong đó có mưa bão, sấm sét…