DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,708,366

Gặp Nguyễn Nho Sa Mạc từ Nguyễn Thị Liên Phượng - Luân Hoán

22 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 8136)
Gặp Nguyễn Nho Sa Mạc từ Nguyễn Thị Liên Phượng - Luân Hoán

Gặp Nguyễn Nho Sa Mạc từ Nguyễn Thị Liên Phượng




blank

 


Làm thơ không phải là một cái nghề, hình như ai cũng cho như thế. Nhiều người cho đây là một thú chơi chữ nghĩa. Từ lâu tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng gần đây, tôi nghiệm ra, làm thơ quả thật là cái nghề, giống như mọi việc làm khác. Cái nghề này không nhất thiết phải làm hằng ngày, với mục đích để kiếm sống. Nó, có khi ngược lại, bởi đây là cái nghề làm cho người chọn theo phải hao mòn sức khoẻ, tốn kém tiền bạc và nhiều khi mất cả danh dự. Nhận định này không phải của tôi, của nhiều người đấy.


 Hao sức khoẻ vì phải thức khuya dậy sớm, lười ăn biếng ngủ để theo đuổi cái chất liệu, cái bóng dáng của thơ, rồi vẩn vơ suy tư, cặm cụi chọn chữ, lựa vần, dài lưng ra để viết, như mấy anh “học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại...nằm”: (ca dao)


 Tổn phí tiền bạc vì làm ra thơ rồi không thể để dồn đống, phải nghĩ cách gởi đến bạn đọc. Việc chạy nhật trình, đăng tuần báo, tạp chí chỉ mới là giai đoạn mở đầu. In ấn, xuất bản mới là vần đề cụ thể, thiết thực. Chuyện này đương nhiên đòi hỏi phải động vào túi tiền của chính mình, hay của ai đấy, có thể là bà con, bè bạn. Cá nhân tôi, khi in thi phẩm đầu tay, Về Trời, đã phải xin phép ông già bán bớt một vài sào ruộng chia cho phần mình, mới có cơ hội đẩy đứa con tinh thần chính thức trình diện làng văn. Chẳng phải vô danh tiểu tốt như tôi mới phải trải qua như thế. Vừa mới đây, tôi có xem bộ phim về nhà thơ lỗi lạc Hàn Mặc Tử phát trên đài VTV 4, mới rõ hơn, ông xin tiền của mẹ không thành, phải xoay qua năn nỉ người em trai để cho tập Gái Quê có cơ hội ra đời. Thu vốn về được hay không là chuyện không có nhà thơ nào nghĩ tới. Cái sướng của người làm thơ có lẽ là điểm này.


 Mất danh dự, sao vậy ? Giản dị thôi, thơ in ra chẳng thể để yên ngủ trong nhà, phải gởi bán, phải gởi tặng. Với những tác giả nổi danh thì không nói gì, nhưng những người làm thơ ương ương cở tôi thì không thiếu những ê chề. Đi qua hàng sách, thấy đứa con của mình vẫn nằm yên hóng bụi, chẳng thể không buồn. Gởi tặng bạn bè, trước tiên tốn tiền tem cước. Kẻ nhận, năm bảy người nhìn qua cái bìa rồi để đó, phó thác cho cái dây chuyền đi từ bàn khách, đến một xó tối rồi vào thùng rác. Đôi ba người đọc chín, mười trang, rồi rủa thầm: “thơ với chả thẩn !, rõ dở hơi” Những điều này chẳng lẽ không xúc phạm danh dự.


 Tuy gặp nhiều chướng ngại như trên, nhưng những người làm thơ mỗi ngày một đông, và vào khoảng năm 1962, trong đội ngũ những người làm thơ này xuất hiện thêm cái tên Nguyễn Thị Liên Phượng, qua một bài thơ được đăng tải trên tạp chí Mai, một tạp chí khổ lớn do ông Hoàng Minh Tuynh chủ biên, phát hành tại Sài Gòn. Bài thơ có tên Vàng Lạnh, nguyên văn như sau:


  Vàng Lạnh


  tặng Luân...


 


 “ Chuyện bữa ấy chiều nay em kể lể / màu môi chôn kỷ niệm đã lâu rồi/ mi mắt đó ghi ân tình đổ vỡ/ đời nữ sinh vàng lạnh tháng ngày trôi


 em đã khóc cả buổi chiều hôm trước / chúng bạn đùa đã biết chuyện riêng tư / nỗi yêu thương trong đời người con gái / bảo em buồn nức nở trước trang thư


 mới hôm nao người và em gặp gỡ / chiều Quảng Nam còn khép kín chân em / người bước đi qua con đường phố nhỏ / trời mùa xuân em đứng đón bên thềm


 em thầm bảo em thương người ấy lắm / thương những chiều đại lộ bóng người sang / em đứng đấy với môi hồng má thắm / nhìn phố dài bỗng chốc biến rừng hoang


 chuyện bữa ấy chiều nay em kể lể / dáng mi trầm nuối tiếc những ngày qua / thứ bảy chiều chúng mình mừng sinh nhật / của mối tình sớm nở sớm đi qua”


 Nguyễn Thị Liên Phượng (Tạp chí Mai)


 Bài Vàng Lạnh được đông đảo giới thưởng ngoạn choai choai đồng ý có giá trị nghệ thuật. Riêng với cá nhân tôi, một người cũng đang được đăng bài trên tạp chí Mai, đã đến với Vàng Lạnh trong một "ý đồ" thô nhám, lãng mạn nhưng thiếu văn nghệ hơn. Sở dĩ tôi lâm vào "tật hư" này vì hai yếu tố đứng kèm bên bài thơ.


 Một là tên tác giả của bài thơ, Nguyễn Thị Liên Phượng, một cái tên con gái thật đẹp, đủ để vẽ ra trong tâm hồn và trước mắt tôi một nữ sinh nhan sắc, tài hoa.


blank


 


Hai là, ngay dưới đề bài, tác gỉa đã ghi vài chữ đề tặng, mà theo cảm nghĩ chủ quan của tôi lúc bấy giờ, rất lửng lơ, vừa che vừa mở, đầy ngụ ý : "tặng Luân..."


 Với một tâm hồn lạng quạng, và một trí tưởng tượng lẩn thẩn, tôi cố tình đẩy tôi vào một ngộ nhận rất ngây thơ. Một trong hai chữ đề tặng của Nguyễn Thị Liên Phượng là một nửa của bút hiệu tôi đang dùng. Và tôi đã rất lố bịch quả quyết với chính mình: Phượng rõ ràng đã có tình ý, nhưng còn e ngại chưa dám viết trọn bút danh tôi. Từ một người đang yêu đời, tôi càng thấy đời đẹp thêm ra. Tôi lún sâu vào vũng thi thơ nhiều hơn và không quên bỏ công tìm manh mối "người tình sắp có thật". Dĩ nhiên, tôi cũng không quên chải chuốt, làm dáng nhiều hơn, mặc dù lúc bấy giờ, tôi với mái tóc xù, một đôi mắt thiếu ngủ và một thân thể gầy gò, "già hơn chúng bạn cùng con giáp" rất nhiều. Rất đúng với nét vẽ của chính tôi: “Tay ta gầy quá che không hết / khuôn mặt nhô đầy nét khổ đau”(1960).


 Sau khi thu thập được nhiều nguồn tin khá chính xác, vào một ngày đẹp trời, tôi chia tay hai người bạn chí thân Châu Văn Tùng và Hoàng Trọng Bân từ quán trà cúc Thành Ký trước nhà thờ Con Gà trên đường Độc Lập Đà Nẵng (Trần Phú ngày nay). Một mình, một xe đạp, thuận đường tôi ra ngã Hòa Cường, qua cầu Cẩm Lệ, vượt chợ Miêu Bông, bỏ đồn Quá Giáng, bỏ những ngõ tre Thanh Quýt, quán mì Quảng bên đường... tôi vào Vĩnh Điện.


 Đoạn đường từ Đà Nẵng vào Vĩnh Điện không còn nhớ dài bao nhiêu, nhưng với tôi nó không hơn chiều dài một tiếng gọi tình...vu vơ. Điểm dừng đầu tiên của tôi là cổng trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu. Chính điểm đứng này đã mở đầu cho một loạt thói quen đứng trước các trường Đồng Khánh, Hồng Đức, trường Nữ trung học Quảng Ngãi...của tôi sau này.


 Trường Nguyễn Duy Hiệu nằm bên này cầu Vĩnh Điện. Từ Đà Nẵng vào, trường ở về phía tay trái, muốn vào thị trấn phải qua cầu, một cây cầu đúc hơi vun lên ở giữa dòng và cong cong đổ về hai đầu, rất nghệ thuật. Khi tôi đến, học sinh đang trong giờ ra chơi. Sân trưòng Nguyễn Duy Hiệu rộng rãi, có nhiều cây phượng chưa đủ tầm cao, lá thưa chưa giữ được những làn gió. Ngồi trên yên xe, chống chân xuống đất một chặp, thấy hơi kỳ kỳ, tôi đạp lòng vòng trước cổng trường, đã được đóng cẩn thận. Mặc dù đạp xe, tôi vẫn không quên thả tầm nhìn vào các tà áo dài trắng nhởn nhơ trong sân trường, để thử nhận diện người tôi đang tìm, Nguyễn Thị Liên Phượng. Dĩ nhiên, tôi không thể nào nhận ra, tìm ra. Và trong lúc đó, tôi chợt nhớ đến người bạn từng dạy giờ ở Nguyễn Duy Hiệu, nhà thơ Đynh Hoàng Sa. Bạn thơ này từng khoe với tôi, anh có một cô học trò ở đây, tên Ngọc Thoan, là một tuyệt sắc mỹ nhân. Tôi cũng chợt nhớ tôi đã có lần cùng Đynh Hoàng Sa, Hà Nguyên Thạch, thả bộ dọc theo bờ sông Vĩnh Điện, ngược lên hướng phải để tìm đến nhà Ngọc Thoan. Ba chúng tôi vừa đi vừa nhìn cảnh sắc hai bên đường. Cây lá tươi xanh bao bọc những mái nhà ấm áp khói bếp. Không gian thanh bình ngọt ngào tiếng chim. Ngôi nhà của Ngọc Thoan nằm trong tầm cỡ của địa chủ, giàu cây ăn trái, rộng bóng mát. Chuyến đi thăm Ngọc Thoan hôm ấy, mặc dù chúng tôi đã biết trước, nàng thơ không còn ở quê nhà. Hương sắc ấy đang theo học ở một thành phố xa. Nhưng chúng tôi cũng thực hiện cuộc đi dạo, cốt để ngó qua nơi người đẹp đã ở, con đường dáng hoa đã đi...may ra lượm được trong không gian hơi thở, ánh nhìn nào đó của Ngọc Thoan còn được cỏ hoa lãng mạn sưu tập, gìn giữ. Nhớ đến Ngọc Thoan tôi có thêm một hy vọng rất dễ thương: biết đâu Nguyễn Thị Liên Phượng chính là Ngọc Thoan? Và trong khoảnh khắc, tôi cảm thấy mình đã trúng số độc đắc.


 Thời gian của những giấc chiêm bao tuyệt vời quả rất ngắn. Dù giấc mộng đó đang đến với tôi giữa ánh nắng mặt trời. Tiếng trống trường đã cuốn hết những tà áo trắng vào các lớp. Thiếu điểm tựa để lẩn quẩn chờ người, tôi qua cầu, vào thị trấn. Vừa đi vừa nhận dạng những người qua đường, không phải để tìm Nguyễn Thị Liên Phượng, mà để tìm một khuôn mặt, khả dĩ có thể hỏi thăm về "nhà thơ". Không có ai, chẳng có ai, tôi nhận xét, có khả năng này.




blank

 


 Vĩnh Điện là một thị trấn nhỏ. Đối với tôi, vùng đất này là cõi thân tình, bởi vì nơi dây là quê ngoại ruột của tôi. Tôi phải nói là "quê ngoại ruột" vì tôi có ít ra bốn bà mẹ. Mẹ Cả, mẹ Hai của tôi, mang họ Ông, gốc Phong Lệ, có huyết thống với cụ Ông Ích Khiêm. Mẹ Cả tôi có công nuôi dưỡng tôi trong một thời gian dài. Mẹ đẻ ra tôi là con dân của thị trấn Vĩnh Điện. Mang họ Nguyễn.


 Cách đây mấy năm, ngày mẹ tôi còn sống, tôi vẫn thường về đây trong những ngày kỵ giỗ. Nhà ông ngoại tôi nằm cách ngã ba Vĩnh Điện, Hội An không xa, nằm bên trái hướng xuống Hội An. Từ ngày má (chữ tôi gọi mẹ ruột) tôi qua đời, tôi chẳng mấy khi ghé về, một phần bà con họ ngoại tôi không còn ở đây nhiều, một phần chiến cuộc, một phần lười biếng. Tại Vĩnh Điện thời bấy giờ, tôi có bà chị, con của người dì, buôn bán hàng xén ngay tại ngã ba Hội An, Vĩnh Điện, là nơi tôi thỉnh thoảng ghé lại. Và dĩ nhiên, lần đi tìm Nguyễn Thị Liên Phượng, tôi cũng ghé đến nhà chị Dần, tên con dì Năm tôi.


 Chị Dần là một người cởi mở, vui tính và giao thiệp rộng. Chị không biết Nguyễn Thị Liên Phượng là ai, nhưng biết được một vài người làm thơ ở đây. Qua chị, tôi biết được nhà của các nhà thơ Đynh Trầm Ca, Nguyễn Phú Long và một người, chị khuyên tôi nên ghé đến, là nhà anh Nguyễn Nho Bửu.


 Theo chỉ dẫn của chị Dần, tôi đạp xe về hướng Câu Lâu, bỏ vài ba ngõ hẻm thì vào một ngõ tre rộng. Qua một đoạn đường đất ruộng, non non một ngàn thước, thì rẽ trái, chừng hai trăm thước đường ruộng nữa, sẽ giáp một sân đất rộng, với những cây mai có tuổi thọ rất cao, đứng trong những chậu kiểng lớn bằng sành có hoa văn.


 Anh Nguyễn Nho Bửu tiếp tôi trong vẻ bẽn lẽn như một người con gái. Anh quên cả việc mời tôi vào nhà, dù tôi thấy rõ anh muốn cầm chân khách. Tôi cũng lúng túng không hơn gì. Vờ vịt hỏi xa hỏi gần một hồi mới dám bày tỏ mục đích. Với một chút xíu lưỡng lự, Bửu nói có quen với Liên Phượng và cho biết cô ấy hiện ở Tam Kỳ. Anh hứa thuật lại cuộc tìm thăm của tôi đến chị ấy. Bửu cũng không quên ngần ngại hỏi tôi, có biết Nguyễn Nho Sa Mạc không ? Tôi trực nhớ, và nhìn qua bộ tịch của anh, tôi thăm dò: Anh là Nguyễn Nho Sa Mạc phải không ? Bửu vội vã từ chối, Và tôi cũng thiếu nhạy bén để nhận xét. Với kết quả biết được Nguyễn Thị Liên Phượng đang ở Tam Kỳ, hình như đã quá đủ trong chuyến đi tìm mỹ nhân của tôi. Khi chào Bửu ra về, tôi còn nhận thêm một niền vui: được anh xin địa chỉ để đưa cho Nguyễn Thị Liên Phượng.


 Trở lại Đà Nẵng không lâu, tôi nhận được thư đầu tiên của Nguyễn Thị Liên Phượng với con dấu của sở Bưu điện Tam Kỳ. Nguyễn Nho Bửu đã nói thật. Ảo tưởng Nguyễn Thị Liên Phượng có tình ý với tôi càng được củng cố. Thư Phượng viết trên giấy vở học trò, được xếp làm đôi theo chiều dọc. Với màu mực tím, nét chữ nhỏ và đều, lời lẽ thùy mị, lồ lộ mùi hương con gái, mà là con gái đẹp nữa...Tôi tha hồ vẩn vơ. 


 Thư đi thư lại liên tục...Tôi vào chơi nhà Nguyễn Nho Bửu nhiều hơn, nhưng chưa lần nào được gặp Nguyễn Thị Liên Phượng. Trong các chuyến vào Vĩnh Điện, thường là vào cuối tuần đó, tôi làm quen được với anh em Nguyễn Phú Long, Nguyễn Phú Mỹ. Anh Long đang làm hiệu trưởng trường trung học Nguyễn Duy Hiệu. Anh Mỹ cũng dạy ở trường này. Một hôm nằm trong phòng sách tại nhà anh Long chờ ăn cơm trưa, tôi mở một cuốn sách, hình như là bản dịch tác phẩm Con Đường Thuốc Lá, một tờ giấy chép một bài thơ rơi ra làm tôi giật mình.


 Đồng hành với Nguyễn Thị Liên Phượng, vào thời này, tại Đà Nẵng Quảng Nam, còn có Hoàng Thị Bích Ni, Châu Thị Ngọc Lê...Châu thị Ngọc Lê đăng thơ ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy, ở Thời Nay...thì tôi biết rất rành rồi. Còn Liên Phượng mới có chút đầu mối. Hoàng Thị Bích Ni thì hoàn toàn bí mật. Trong bữa cơm, với "thông minh" bất ngờ, tôi đã phát hiện được Hoàng Thị Bích Ni là một nhân dáng thong dong cao đến gần một thước ...tám, tính tình hiền hậu vui vẻ và rất tỉ mỉ, ý tứ. "Chị" đang làm hiệu trưởng một trường trung học gần đây. Khổ một nỗi, Vĩnh Điện chỉ có duy nhất trường trung học Nguyễn Duy Hiệu của anh Nguyễn Phú Long, của anh Nguyễn Kim Phượng trong nhiều dịch phẩm và biên khảo sau này của làng văn nghệ Sài Gòn.


 Do sự khám phá ra Hoàng Thị Bích Ni, Nguyễn Thị Liên Phượng cũng đã nhích gần lại với tôi sát hơn, thân tình hơn. Và chẳng bao lâu sau tôi được diện kiến, đi đến việc chơi thân với “nàng”. Giờ này, chắc các bạn đã biết tác giả của Vàng Lạnh là ai rồi. Tôi nói phứt ra cho xong. Cô ấy chính là nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc và cũng chính là anh Nguyễn Nho Bửu, hiền lành và nhút nhát của đất Vĩnh Điện.


 Nguyễn Thị Liên Phượng hay Nguyễn Nho Sa Mạc, tên thật Nguyễn Nho Bửu, sinh năm 1944 tại La Qua huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình trung nông. Tuy làm nông, nhưng thân phụ anh có theo học chữ thánh hiền và chữ quốc ngữ, trông ông như một cụ đồ nho, khỏe mạnh. Thân mẫu anh đúng là mẫu người gói ghém đủ mấy chữ: bà mẹ Việt Nam, với sự hiền lành, bao dung, chan chứa tình yêu thương và cũng không mất những nét lam lũ, vất vả. Cả hai ông bà đều rất thương quí bạn của con trai. Nguyễn Nho Bửu có hai người anh. Anh Nguyễn Nho Qúy, phục vụ cho chính thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Anh Nguyễn Nho Quang, làm việc cho Việt Nam Cộng Hòa, hiện sinh sống tại Pleiku. Sáu người em của Bửu gồm Nguyễn Nho Châu, có sinh hoạt hội họa, Châu bị tai biến mạch máu não, đang trong thời kỳ bình phục. Kế tiếp Châu là hai người sanh đôi Nguyễn Nho Kim, đã qua đời. Nguyễn Nho Ngọc, hiện sống tại Sài Gòn. Ba cô em gái, hai cô hiện ở quê nhà là Chín và Bích Quân. Cô Tâm, chi của hai cô kia, hiện sống tại Đà Nẵng.


 Với chiều cao chừng một mét sáu mươi bảy, Nguyễn Nho Sa Mạc có dáng người thanh nhã, hồng hào da thịt đủ để đứng vào loại khỏe mạnh, không thiếu điều kiện khi tham dự trưng binh quân dịch. Nếu không có một chút khuyết điểm về hàm răng, anh bạn làm thơ của tôi rất đẹp trai. Không biết hút thuốc, không mấy khi nhấm rượu và chuyện tư tình nam nữ còn nằm trên giấy trắng, mực tím, nhưng anh có đầy đủ phong cách của một trang nam tử hào hoa, rất hợp thời. Anh từng vẽ vài nét về mình:


 “Ta đứng tựa lũ cột đèn châm thuốc


 rất vô tư nhìn năm tháng thay màu...”


 (Nguyễn Nho Sa Mạc)


 Sau khi biết được Nguyễn Thị Liên Phượng là ai, tôi không phiền Bửu chút nào, trái lại chúng tôi càng chơi thân với nhau hơn. Nhân đây, tôi cũng xin nói qua "sự cố" của việc đề "tặng Luân..." của bài thơ Vàng Lạnh.


 Nguyễn Nho Sa Mạc có hai người bạn thân. Một là anh Hồ Luân, thỉnh thoảng có làm thơ, nhà ở ngay ngã ba Vĩnh Điện, Hội An. Anh Luân là con của bác Hồ Dầu, một gia chủ giàu có. Và Liên, một cô gái, không đẹp nhưng rất có duyên. Một cuộc tình đến với cả ba. Nguyễn Nho Sa Mạc nhường cho bạn, bài Vàng Lạnh như một lời chia biệt, được đề tặng cho (Hồ) Luân và những dấu chấm lửng đó chính là... Liên. Tuyệt nhiên không phải là nửa cái đi trước của bút hiệu tôi, như tôi đã giàu tưởng tượng . Dù sao tôi cũng cảm ơn, rất cảm ơn đã có thêm một người bạn thơ, sau khi trải qua một chặng tìm kiếm rất lý thú. Luân và Liên sau này trở nên chồng vợ. Tôi rất ít được gặp. Tôi ngờ ngợ Hồ Luân là nhạc sĩ Từ Huy ngày nay, nhưng hỏi qua nhiều bạn mới biết mình nhầm. Dù anh Từ Huy hình như cũng dân Vĩnh Điện và có khuôn mặt rất giống Hồ Luân.


 Việc dùng tên con gái của một số tay bút ở tỉnh lẻ, để gởi bài đăng ở thủ đô Sài Gòn cũng là một thú vị. Tôi có hưởng được chút chút niềm vui này khi ký Châu Thị Ngọc Lê. Căn nguyên của bút danh này như sau. Tên thật của tôi là Lê Ngọc Châu. Tôi đảo ngược cách đọc thành Châu Ngọc Lê rồi thêm chữ Thị vào cho tăng phần duyên dáng. Họ Châu cũng là một họ có thật, như Châu Văn Tùng, bạn tôi. Ngoài ra, khi gởi bài đăng, tôi còn mượn địa chỉ của một người đẹp có thật tên Đoàn Thị Bích Hà, trên đường Đông Kinh Nghĩa Thục (Ngô Gia Tự bây giờ) để giao dịch thư từ. Không rõ giá trị những bài tôi viết dưới tên Châu Thị Ngọc Lê ra sao, nhưng được một số tuần san, nguyệt san tại Sài Gòn đăng tải, trong đó có Ngàn Khơi, Thời Nay... Thơ của Châu Thị Ngọc Lê có lẽ cũng được nhiều người ghé mắt, nên cũng có người ghé tìm, tuy không cố tình, mất công như tôi và có lẽ chỉ là một sự thuận đường. Ông khách tìm người nữ làm thơ thật đáng kể, đó là một nhà phê bình nổi danh mang họ Đặng từ Sài Gòn về thăm nhà. Sau cái lần suýt gặp tai nạn ấy, tôi khai tử ngay cái tên đảo ngược, dùng một tên hơi hám nữ nhi mới Lê Quyên Châu, để phổ biến thêm một số thơ huê tình nữa. 


 Nguyễn Nho Sa Mạc, từ khi bị phát giác, anh gần như không còn dùng bút hiệu Nguyễn Thị Liên Phượng. Anh đang theo học ở trường trung học Trần Cao Vân ở Tam Kỳ. Biết tôi là một người hơi ham chuộng nét đẹp nữ giới, anh dụ tôi vào Tam Kỳ với lời rủ rê khá hấp dẫn. Anh cho biết, Nguyễn Thị Liên Phượng đúng ra, có thật bằng xương bằng thịt. Cô ấy đang là hoa khôi của Tam Kỳ. Anh có quen biết và hứa giới thiệu cho tôi để... "làm thơ".


 Tam Kỳ đối với tôi không phải là vùng đất xa lạ. Lúc bấy giờ thị xã này chỉ là một đoạn đường phố độc nhất. Đoạn đường này cũng là một phần của quốc lộ số 1. Những hàng quán hai bên đường thân mật đứng bên nhau, không lề đường, không vỉa hè. Tôi đã đến thị trấn này vào một năm thuộc thập niên năm mươi. Hồi đó gia đình cha mẹ tôi tản cư lên trú ngụ tại vùng núi Tiên Phước. Ba tôi làm việc tại Kho Bạc Hội An bị điệu theo kháng chiến. Má tôi không bỏ nghề thương mại. Bà buôn bán tiêu, chè, quế, đá lửa, vải kaki...hầu hết đều thuộc loại bị cấm. Má tôi thường có những chuyến trao đổi hàng hóa tại Tam Kỳ, nên một đôi lần tôi được theo chân bà ghé chơi phần đất nằm trong vùng được gọi là “tự do” thời bấy giờ . Tam Kỳ cũng là nơi tôi đã cư ngụ vài tuần lễ trong thời gian theo học tại trường Trần Cao Vân. Lúc đó tôi ở trọ nhà một người bạn hàng cũ của má tôi. Bà bạn má tôi người Việt, nhưng có chồng người Tàu. Gia đình họ khá sung túc với ngôi nhà nằm dưới gốc một cây bàng lớn. Cây cổ thụ này đã cho tôi những buổi trưa tuyệt vời:


 “Nắng khoan thủng ngọn lá bàng / đụng con cà cưỡng, đụng hàng keo xanh / đụng tôi đang ngủ ngon lành / giữa hai coi võng đỡ nhành ca dao / đưa tay bốc hạt nắng đào / xoa trên mặt rửa vết cào chiêm bao / trưa Tam Kỳ ngã mũ chào...


 (Trôi Sông trang 32)


 Tuy ở trọ tại ngôi nhà dưới gốc bàng, nhưng tôi ăn cơm tháng tại quán ăn bà Cả Huế. Trong những giờ ăn, tôi có để ý một viên chức hành chánh. Ông ta là Quận trưởng hay phó quận gì đó, cũng ăn cơm tháng tại đây. Mỗi lần đến ăn ông mang theo một con sóc nhỏ rất đẹp. Con vật khá khôn, được ông thả chạy tự do trong quán rồi trở về với chủ. Tôi rất thích, cố tình bắt cắp vài lần, nhưng không thành công. Ngoài quán bà Cả Huế, nơi tôi thường ghé lại là quán sách Quảng Thành nằm gần ngã ba dẫn lên Tiên Phước. Sau này tôi mới biết nhà chị Phan Thị Trinh, vợ nhà thơ Thành Tôn, là cây xăng Hòa Phong, cùng cơ sở trà Mai Hạc là của cha mẹ nhà thơ Huy Tưởng, đều nằm trong đoạn phố phát đạt này. Rất tiếc, tôi chỉ có duyên với trường Trần Cao Vân hai buổi học. Chính những sự thân thiết chưa đến độ buồn chán đó, tôi rất thú vị trước lời rủ rê của Nguyễn Nho Sa Mạc, để về thăm một miền đất cũ. Chứ không hẳn phải vì háo sắc, ham chơi.


 Nguyễn Thị Liên Phượng bằng xương thịt của Bửu quả nhiên có nhan sắc tuyệt hảo, với quí danh Thu Thuyền. Người đẹp không làm thơ bằng ngôn từ, chữ nghĩa. Thi phẩm của nàng được in sẵn trong đôi mắt tròn đen lấp lánh, và phơn phớt ở trên hai vành môi vừa hồng vừa mướt. Để thưởng thức những vần thơ trên, tôi đã ghé uống cà phê, ăn mì Quảng khá nhiều lần tại hàng quán của nhà Thuyền. Đôi ba bài thơ của tôi đã từ một cái ghế ngồi, cái vách tựa quán mì Lợi Ký này, mà đến với những trang báo. Dĩ nhiên có bài được đề tặng cho người đẹp đàng hoàng, rất tiếc nay đã thất lạc cả. Việc làm thơ tán gái, có lẽ không tốt đẹp gì theo quan niệm của nhiều người. Nhưng riêng tôi không bỏ được tật xấu này.


 “ Làm thơ để chạy nhật trình / đề tặng em để lừa mình đó thôi / riết rồi thành một thú chơi / được ghiền đến suốt cuộc đời khoái chưa


 (Mời Em Lên Ngựa-trang 28)


 Quả như vậy. Dù thơ của tôi chưa được hân hạnh đăng (chạy) trên báo ngày (nhật trình) bao giờ. Tôi làm thơ vì nhiều góc cạnh của cuộc sống. Trong đó tình yêu trai gái chiếm một phần lớn. Nói đến chuyện trai gái là đề cập đến nhan sắc. Đối tượng để thương yêu không thể không vẽ ra, nhắc tới. Tiếng “nàng” đã có phần xa xưa. Một chữ “em” gọn nhẹ, thân mật và hình như luôn luôn mới, tôi vẫn ưa dùng. Em càng lộng lẫy sắc hương càng chập chùng nguy hiểm, và để ngừa trị những tổn thương chắc chắn xảy ra chỉ có thi ca, như tôi đã từng viết:


 “Em là một loại vi trùng / đục khối tim óc vô cùng hiểm nguy / ác từ vóc dáng em đi /độc từ đôi mắt kiêu kỳ lẳng lơ / trị em, chỉ tạm có thơ / sắc thành thương nhớ vu vơ uống chừng


 (Mời Em Lên Ngựa, trang 39)


 (sắc là động từ, như đun, nấu, cụ thể như sắc thuốc bắc)


Rất may, tuy mê nhiều người đẹp, nhưng chưa dám yêu ai, nên thơ thất tình của tôi hãy còn quá ít. Hoặc không chừng, thất tình thật thì không làm thơ nổi. Phải chăng cái đau hình như cần có một thời gian đủ để ngấm, mới pha cất ra thơ được ?


 Những ngày tháng kế tiếp, cả hai chúng tôi vẫn làm thơ đăng báo đều đều, nhưng chỉ liên lạc với nhau qua thư từ. Để kỷ niệm chuyến lang thang tìm bạn tình, bạn thơ, tôi viết bài “Đi Tìm Nguyễn Thị Liên Phượng”:


 1.


 “ Đạp xe vào Vĩnh Điện / đúng vào giờ ra chơi / trước trường Nguyễn Duy Hiệu / tôi thả lòng đánh hơi


 tóc thề rợp ánh nắng / áo trắng đắp sân trường / cây phượng đang độ lớn / say hút những mùi hương


 tôi thấy cái trống lớn / treo ở cuối hành lang / tôi thấy một cô giáo / gom bầy sáo sắp hàng


 đứng ngoài cổng trường đóng / vói hỏi cái sân trường /ai, Nguyễn Thị Liên Phưọng ? / làm thơ thật dễ thương


 2.


 dắt xe qua cầu gió / vào thị trấn buồn buồn / mắt hỏi từng cửa phố / từng dáng hoa qua đường


 thị trấn nửa cây số / vốn là quê ngoại tôi / bỗng nhiên đâm bỡ ngỡ / như chưa từng ghé chơi /


 đứng giữa ngã ba bụi / ngó xuống hướng Hội An / ngó vào ngã Nam Phước / ngó ra thành phố Hàn


 đi đâu, tìm những đâu ? / bài Vàng Lạnh vì đâu / đề tặng Luân...(chấm chấm)/ phải chăng từng biết nhau ?


 3.


 đã vượt qua cánh đồng / lúa đang trổ đòng đòng / mái nhà tranh, cây mít /xôn xao ngọn gió lồng


 khoe ra những tờ thư /(giấy học trò xếp đô i / mực tím chữ tròn nét / tuồng như tẩm hương môi)


 chàng trai trắng nước da / tiếp khách rất thật thà / nhận chuyển lời gởi lại / tôi nghe lòng trổ hoa


 chiều xuống, Đà Nẵng xa / ghé nhà cậu ngâm nga / bài thơ chưa kịp viết / xổ lòng bay tà tà..”.


 (Trôi Sông trang 94)


 Trong thời điểm này, Nguyễn Nho Sa Mạc sáng tác rất đều tay. Thơ của anh được các tạp chí Bách Khoa, Văn, Mai, Văn Học và nhiều nguyệt san, bán nguyệt san tại thủ đô Sài Gòn phổ biến rộng rãi đến bạn đọc. Cũng như nhiều nhà thơ cùng trang lứa, Nguyễn Nho Sa Mạc bị nhiều chi phối bởi hoàn cảnh xã hội.


 Sau ngày thực sự nắm giữ guồng máy quốc gia, khởi từ 23 tháng 10 năm 1955, Tổng Thống Ngô Đình Diệm thay đổi tên gọi Quốc Gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng Hòa và điều khiển quốc gia một cách xuất sắc: ổn định các lực lượng phản loạn, phát triển vững mạnh kinh tế, đời sống dân chúng sung túc, xã hội thanh bình, an lạc. Giữa những thành công vượt bực của miền nam, và mất cơ hội tổng tuyển cử giữa hai miền được ấn định vào năm 1956, những người ruột thị phương bắc bắt đầu mở chiến dịch chiến tranh du kích với các hoạt động thông thường phá hủy đường sá, cầu cống, giăng mìn bẫy triệt hạ xe đò... Những công việc này được củng cố, đẩy mạnh bởi Mặt trận Giải phóng Miền nam, thành lập ngày 20 tháng 6 năm 1960. Và càng phát triển khi quân đội của tổ chức này thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961. Những hình ảnh làng mạc bị đốt cháy, dân lành bị sát hại đã hằn sâu trong tâm trí, suy tư của những người tuổi trẻ. Thơ văn của họ sáng tác, không thể không phản ánh hoàn cảnh họ đang sống, không khí họ đang hít thở. Nguyễn Nho Sa Mạc cũng không vượt khỏi điều này. Tuy nhiên nội dung thơ của anh không nặng nề thù hận, cũng chưa đến giai đoạn được gọi là phản chiến sau này. Thơ của Nguyễn Nho Sa Mạc mang nặng nỗi buồn của một dân tộc nhược tiểu, được viết nhiều ở thể loại bảy, tám chữ, ngũ ngôn. Anh rất ít sử dụng thể loại lục bát. Tuy không là một bài bình giảng, nhưng tôi xin trích một số bài thơ của anh dưới đây, để bạn đọc cùng thưởng ngoạn. Và vì thơ của anh chưa in thành sách, nên tôi hơi tham lam chép tất cả những bài ít ỏi tôi sưu tập được. Mong bạn đọc không cho đây là một thủ đoạn tăng số trang cho bài viết này:


 Thơ cuối năm 1963


 “Ta đứng trên bờ cao lịch sử / nhìn những người đi qua / khi bức tường đổ xuống / trời Việt Nam nở hoa


 những trái tim không rụng / những bàn tay với lên / những linh hồn ngã gục / những viên đạn bạo hành / những hàng cây thập tự / đất còn vang âm thanh cho cây mầm bén rễ / xanh màu xanh của trời / thơm mùi thơm của đất / giống Lạc Hồng ta ơi


 lịch sử đầy bất khuất / lịch sử đầy đấu tranh /con mắt này lửa đỏ / con mắt này yêu thương


 những mai mặt trời mọc / những chiều xuống mù sương / ta nghe từng tiếng khóc / ta nghe từng tiếng cười / đi vào lòng lịch sử / hỡi anh em bạn hữu / người Việt Nam mến yêu” 


 Mùa xuân của em


 “Rồi xuân sang em nhìn mưa để khóc / kỷ niệm chong đèn thức suốt đêm qua / ngón tay nhỏ lần đan sầu cô độc / tưởng chừng như tuổi trẻ bỏ đi xa


 thứ bảy chiều em rong hè phố cũ / con đường xưa hoa đỏ nở rộn ràng /giòng sông đó bỗng nhiên buồn vô cớ / bơ vơ tìm thương cát sỏi cồn hoang


 em đứng dậy xem mây chiều xuống thấp /trời tháng giêng mưa lạnh thấm vai chùng / sân ga nhỏ con tàu không dừng lại / đôi sao buồn ngủ giữa không trung


 gió thì mệt, mùa xuân đang cúi mặt /hàng dừa xanh xõa tóc đứng âm thầm / em muốn nói trên vòng tròn con mắt / hờn mùa xuân với khuôn mặt sa sầm


 rồi xuân đến sau lưng nhiều bão mộng / buổi em về xanh rừng tóc cao nguyên / đồi chiều xa biểu hiện nét mi hiền /tay trắng muốt nuôi linh hồn thảo mộc


 em ngồi khóc, mùa xuân nhăn mặt khóc / môi em buồn cho thời tiết buồn theo /con sông nhỏ bỗng vô cùng cô độc / trôi về xuân với một ít rong bèo..”. 


 Mùa xuân 21


 “Chiều cuối năm trải buồn lên vỉa phố /trời quê hương nhiều mây trắng sa mù / hai mươi tuổi những ngày nuôi mộng đỏ /đã xanh rồi cây trái mọc suy tư


 thân với máu xin thắp làm sương khói / giữa trần gian về tìm lại con người / vũng tóc đó tháng ngày qua cỏ úa / lửa của đời thiêu đốt tuổi hai mươi


 con mắt trũng hôn vào lòng đất ấm / cọng rác khô da thịt cũng khô cằn / thiên nhiên vẫn mặt-trời-trên-cao-mọc / người tìm chi khu vườn cũ giá băng ?


 tôi gọi nhỏ tên người sa nước mắt / ở trên đời vừa đúng hai mươi năm / máu sẽ khô- xin tim này đừng rụng / giữa hư vô phần mộ nhỏ yên nằm


 lũ bạn tôi đứa còng lưng nằm ngủ / đứa vùng lên trong số phận lưu đày / mỗi trái tim hằn vết thương chia cắt / nỗi nhục này cho con cháu mai sau


 tôi thì vẫn tháng ngày xa phiêu lãng / giữa lênh đênh tìm nắm một bàn tay / trời tháng giêng những ngày sầu nổi gió /nhớ Sài gòn thương Hà Nội mây bay”


 Vàng lạnh 2


 “Đừng nói nữa bài thơ vàng lạnh ấy /tình ngày xưa xin trả lại cho người / kỷ niệm buồn vui một thuở xa xôi / chợt đứng dậy đi lần vào thương nhớ


 anh bỏ đi tìm tình yêu thành phố / những khi buồn muốn nhắc lại tên em / đếm những vì sao rơi rụng bên thềm / chợt thức giấc thấy đời mình cô độc


 làm con trai lần đầu yêu để khóc / tập thư màu xanh nước mắt đau thương /xin trả lại em thành phố với con đường / từng buổi sáng buổi chiều ta qua đó


 hai mươi tuổi hôm nào yêu người em môi đỏ / tình khai sinh bằng tiếng hát hoàng hôn / những âm thanh não nuột chảy qua hồn / em có thấy tình ra đi nhè nhẹ


 em còn nhớ chuyện hôm nào kể lể / đôi bàn tay chưa xiết chặt làm cầu / khi tâm hồn hai đứa chửa yêu nhau / con nước chảy đi xa rồi cát lở


 em có nghe muôn hành tinh đổ vỡ / những mảnh buồn bốc cháy giữa không trung / tình yêu hôm nay mệt mỏi vô cùng / đời vàng lạnh xin em đừng nói nữa”  


 Sinh nhật


 “Bằng đôi tay ôm kín nỗi buồn / ta đi trong trời đất hoàng hôn / mà nghe sữa mẹ chan hòa chảy /máu ở buồng tim cũng loạn cuồng


 ta xiết hình em trong tiếng hôn / im nghe da thịt và linh hồn / giữa không gian rộng ta vùng dậy / cuộc sống đi vòng quanh áo cơm


 ôi nửa cuộc đời ta đảo điên / đêm nằm ru giấc ngủ cô miên / hai mươi tuổi trong hồ suy tưởng / ngửa mặt nhìn trời đi ngả nghiêng”


 Niên khóa 1964, Nguyễn Nho Sa Mạc từ trường Trần Cao Vân Tam Kỳ đổi ra trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng để theo học lớp đệ nhất C. Tại đây, anh có thêm một số bạn văn nghệ như nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, nhà văn Vương Thanh, các nhà thơ Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa, Thành Tôn, Thái Tú Hạp...Thật ra chúng tôi ít dịp được gặp nhau, vì mỗi người phải lưu lạc mỗi nơi tùy theo hoàn cảnh riêng. Cuối năm 1964, để chuẩn bị đón tết nguyên đán, chúng tôi đều có mặt tại thành phố Đà Nẵng. Những ngày cuối năm thật vui vẻ. Gần như hôm nào chúng tôi cũng cùng nhau bát phố. Những con đường Trần Hưng Đạo, Đồng Khánh, Độc Lập... những quán sách Lam Sơn, Sông Đà...ngày nào cũng ấm những bàn chân của chúng tôi. Gặp nhau chúng tôi chỉ tán dóc chung chung về chuyện văn chương, báo chí cả nước. Nhưng gần như không bao giờ đưa cho nhau xem những gì mới viết. Chúng tôi chỉ đọc bài của nhau đã được đăng tải trên các tạp chí Sài Gòn. Chúng tôi không có cái sinh hoạt với tính cách tập thể của một hội, một nhóm văn, thơ như nhiều nhóm bạn văn khác.


 Vào một buổi chiều 23 tháng chạp, ngày gia đình nhà Táo về trời, chúng tôi đang lang thang ở chợ Vườn Hoa, thì Nguyễn Nho Sa Mạc chia tay với lý do chuẩn bị tham dự buổi liên hoan cuối năm của trường Phan Châu Trinh. Chia tay với anh, tôi cảm thấy bứt rứt không yên. Trong lòng nơm nớp chờ đợi một bất trắc nào đó sắp xảy ra. Dẫu vậy, ham vui, tôi vẫn tiếp tục lang thang cùng Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa. Đêm hôm đó cả ba chúng tôi đi dạo rất nhiều nơi. Khi đi ngang bệnh viện Đà Nẵng, trên đường Hùng Vương (bây giờ là trường trung học Y Tế), ba chúng tôi ngồi dưới hàng hiên cửa hàng mè xưởng Song Hỷ để ăn hột vịt lộn. Hột vịt lộn là một món ăn thường được bưng đi bán dạo về đêm, rất thịnh hành trong thời điểm này. Sau khi ăn xong, chúng tôi cùng về ngủ tại nhà của Hà Nguyên Thạch. Bộ ván gỗ lên nước bóng đen, giữa gian nhà, sau bàn khách của nhà Thạch đã bén hơi tôi nhiều lần. Nhưng đêm đó tôi trằn trọc mãi không yên. Mờ sáng hôm sau đang mệt mỏi thiếp đi, thì Châu Văn Tùng vội vã đến cho chúng tôi biết, Nguyễn Nho Sa Mạc đang nằm trong bệnh viện với tình trạng nguy kịch. Chúng tôi vội vã vào thăm anh. Bệnh viện Bửu đang nằm ở ngay trước mặt cửa hàng mè xửng Song Hỷ của ông Lý Nghiêu (hiện ở Montréal Canada), nơi chúng tôi đã ngồi ăn hột vịt lộn. Không biết Bửu được đưa vào đó vào giờ nào, có cùng lúc với giờ chúng tôi ngồi thong dong hưởng thụ?


 Nguyễn Nho Sa Mạc ra đi trước khi chúng tôi đến nơi. Thi thể của anh đã được chuyển xuống nhà xác, nằm lạnh lẽo, không hương đèn. Có lẽ vì cận Tết, nhân viện bệnh viện có phần vắng hơn. Công việc cấp cứu của họ chắc chắn giảm bớt nhiệt tình rất nhiều. Không biết Bửu có được cứu chữa đúng mức bình thường hay chỉ làm lấy rồi ? Cái chết của Bửu được ghi trong hồ sơ bệnh án vắn tắt: mê man, chết. Không nêu ra một căn bệnh nào, một lý do cụ thể nào, như trúng độc chẳng hạn. Dù như vậy chúng tôi cũng chẳng biết làm gì hơn. Quá đột ngột, quá bối rối, chúng tôi chỉ đứng nhìn nhau hoang mang, thỉnh thoảng rờ qua cái xác đã lạnh của Bửu và thầm thở ra. Ngoài bốn chúng tôi lúc này còn có nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ ghé đến. Anh bình tĩnh và từng trải hơn. Chính anh phân chia những việc cần làm cho chúng tôi. Ai vào Vĩnh Điện nhắn tin cho gia đình. Ai đến nơi Bửu ở trọ để hỏi rõ ngọn ngành. Tôi và Châu Văn Tùng làm công việc này,


 Nhà của Bửu ở trọ nằm trong một con hẻm, nhưng chỉ cách đường Ông Ích Khiêm chừng năm mươi thước. Đó là một căn nhà tường đúc, lợp ngói có vườn cây ăn trái bao bọc, khá xinh xắn. Bửu quả thật rất khéo chọn. Chỗ Bửu thường ngủ là bộ ván gõ đặt tại nhà trên rất thoáng mát, với cánh cửa sổ đứng liền với những cành ổi xanh tốt.


 Theo lời chủ nhà, Bửu không tỏ vẻ gì khác thường trước khi mất, ngoài việc về nhà hơi muộn hơn thường lệ. Dù muộn anh cũng chào hỏi mọi người ân cần và không quên cho biết sáng hôm sau sẽ về quê. Gia đình này chỉ có hai vợ chồng và một đứa con vị thành niên. Họ nghỉ đêm ở căn nhà dưới, cũng rất thoáng mát. Người chồng cho chúng tôi hay khuya hôm đó, ông có tình cờ ra sân, ngó vào chỗ Bửu nằm, hơi ngạc nhiên thấy anh đắp chiếu thay vì đắp mền. Ông có đứng quan sát và đã cười trong bụng khi thấy bàn chân Bửu nằm ngoài chiếu, nhịp nhịp như đang theo âm điệu của một bài ca nào đó. Tuy ngỡ người khách trọ của mình phấn khởi vì ngày Tết sắp đến, nhưng ông chủ nhà cho biết lòng ông có vẻ không yên khi trở lại chỗ nằm, nên chừng một giờ sau, ông lên nhà trên và phát hiện tình trạng không ổn của Bửu. Ông đã đưa anh đến bệnh viện và ghé nhà Châu Văn Tùng để báo tin dữ. Sở dĩ ông biết nhà Tùng vì Tùng rất thường ghé qua chơi với Bửu, từng có nói chuyện và cho ông biết anh là con ai. Bác Châu Văn Chỉ, một thời giữ chức Phó Thị Trưởng Đà Nẵng được nhiều người biết, hơn nữa nhà của Tùng chỉ cách nhà Bửu ở trọ một mặt đường và đoạn đường xóm ngắn băng qua Triệu Nữ Vương.


 Thật đáng tiếc cái chết có thể gọi là bất đắc kỳ tử của Nguyễn Nho Sa Mạc lại được lặng lẽ bỏ qua, không một điều tra đại khái nào để minh chứng nguyên nhân cho rõ ràng. Mạng sống của người Việt Nam hình như thời nào cũng được coi nhẹ. Với cái chết này, nếu xảy ra ở nước ngoài, người chủ nhà ít ra cũng bị làm phiền đôi lần. Cảnh sát của chúng ta hình như cũng không được báo tin. Bệnh viện chỉ cần có thân nhân nhận xác là xong mọi thủ tục.


 Dĩ nhiên sự đau đớn của gia đình và hai thân sinh Bửu rất lớn, nhất là năm hết, Tết tới đến nơi. Tất cả chúng tôi đều theo xác Bửu vào Vĩnh Điện. Hình như có tục lệ không đưa người chết đường về sân nhà, nhưng thương xót con, ba mẹ Bửu đã bỏ đi điều kỵ này. Thi thể anh được nằm dưới một dàn lá xanh mới cắt, chung quanh bao bọc những tấm vải mang những dòng chữ đưa tiễn, phân ưu. Chuông mõ kinh Phật báo tử, tống tiễn man man trong mấy ngày cuối năm. Huyệt mộ của anh được đào giữa một vạt ruộng của gia đình. Điều này tôi nhớ trong thơ anh đã từng nói tới. Trong giờ hạ huyệt cũng như giờ mở cửa mả vào ba ngày sau, tôi và nhiều bạn văn khác của anh không cầm được nước mắt. Chúng tôi thương tiếc một người bạn, thương tiếc một thi tài đang sung sức, hứa hẹn góp tay rất ngoạn mục cho nền thi ca Việt Nam. Dòng họ Nguyễn Nho ở Vĩnh Điện của anh có đến mấy người thi sĩ, nhưng đã có hai người mệnh yểu. Nguyễn Nho Nhượn và anh, không thoát qua lời tự tiên đoán:


 "Ở trên đời vừa đúng tuổi hai mươi


 máu sẽ khô, xin tim này đừng rụng..."


 (Nguyễn Nho Sa Mạc)


 Chẳng biết cầu xin tha thiết của anh có được như ý anh mong đợi. Bỏ lại Nguyễn Nho Sa Mạc giữa cánh đồng, tôi lững thững về Đà Nẵng. Tự trách mình đã theo Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa, không nhiệt tình giữ anh lại cùng vui. Hoặc không lang thang riêng với anh. Rõ ràng tôi linh tính biết Bửu có một tâm sự gì đó mà tôi đã thiếu trách nhiệm trong tình bạn. Biết làm sao, mọi việc đã rồi.


 Tạp chí Bách Khoa, có dành nhiều trang đặc biệt đăng thơ Nguyễn Nho Sa Mạc như một tưởng niệm. Đứng ké trong cái chết của anh, còn có thơ tiễn đưa của tôi và Thành Tôn. Tất cả những bài này sau đó được Hoàng Oanh diễn ngâm trên Tao Đàn đài Phát Thanh Sài Gòn. Nhưng Bửu đã không thể nghe được, hiểu được. Bài thơ chia tay Bửu không có mặt trong những tập thơ đã in của tôi, anh Thành Tôn giữ được, tôi xin chép lại dưới đây cùng thơ của Thành Tôn dành cho Nguyễn Nho Sa Mạc:


 Hoài Niệm


 “Cũng vô nghĩa như hương đèn vàng bạc /lời buồn này trang trí giữa làn tro / hơi góp gió mênh mông đầy nỗi nhớ / ôi điêu tàn từ giã ngón tay thơ


 muốn gọi Bửu bằng anh cho trang trọng /sao như còn e ngại mất lòng nhau / tình bạn hữu thẹn người xưa đâu nỡ / khách sáo san bằng âu yếm mi tau


 xin một phút vẽ vời đôi tiếng lệ / hồn trong hồn lưu luyến mắt môi nhau / tay vô vọng quàng vai trời giá lạnh / thôi một vĩnh viễn với mai sau


 hẹn vun đắp mộ anh bằng tất cả / thương yêu về trên mỗi đứa em trai / không nỡ khóc sao nước đầy dòng mắt / thềm cửa chào, cha mẹ ngỡ con trai


 ba hoa thế để làm gì hở Bửu / mình đã thành một kẻ lắm điêu ngoa ? / thương nhớ bạn xanh xao lời thơ nhỏ /viết vào lòng hay vào khoảng bao la ?


 thôi cũng mặc lũ chim rừng ca ngợi / mặt trời lên từng tiếng xót xa này / vần điệu sống trên bàn tay hai đứa / đã muôn đời nức nở với loài mây


 ( Sau Cái Chết Của Bửu, 25 Tết, 1964, Luân Hoán)


 Nghìn năm sa mạc


 chiêu niệm Nguyễn Nho Sa Mạc


 “Người nằm xuống hoang vu hồn sỏi cát / có nghe chăng lời nói hắt hiu này /kẻ ở lại nhìn đời e thẹn mặt / nên vô cùng mỏi mắt cánh chim bay


 còn một chút buồn vương lên cỏ mọc /một chút hồn thất lạc phố tình xưa / thấy gì khác hơn giọng cười tiếng khóc / chợt bâng khuâng xanh vầng mắt giao mùa


 một năm đó còn gì trong cỏ mộ /tình đã đi ai kẻ nhớ về thăm / còn âm hưởng bước chân mòn mấy phố /cũng ngậm ngùi như hơi thở xa xăm


 người nằm xuống giữa vô cùng sa mạc / chiếc hồn thơ bé bỏng ghé nơi nào/ ai thắp khói cho bóng chiều râm mát / để canh trường thao thức mấy vị sao


 còn nhớ gì khi mùa xuân tìm đến / khi tình yêu đánh thức giấc nghìn năm / làm chút nắng vàng cho dòng mắt thẹn/ nghe hoang vu hồn sa mạc yên nằm”


 (Thành Tôn - Thắp Tình)


 Những năm sau ngày Nguyễn Nho Sa Mạc qua đời, tôi thỉnh thoảng ghé thăm cha mẹ anh, thắp vài nén nhang ngậm ngùi trên mộ bạn. Gia đình anh vẫn là chỗ thân tình của tôi, nhất là Nguyễn Nho Châu. Ngày tôi dắt cô bạn tình vị thành niên tị nạn tình yêu, Châu đã thưa với phụ mẫu cho chúng tôi tạm trú một vài đêm. Cuộc tình của chúng tôi thành tựu tốt đẹp, một phần đã nhờ sự cưu mang của gia đình Nguyễn Nho Sa Mạc.


 Tôi và Thành Tôn có sưu tập một số thơ của anh định ấn hành dưới cái tên Vàng Lạnh, một cái tên Bửu rất thích. Nhưng lòng vòng trong không khí sinh hoạt văn nghệ tỉnh lẻ, chưa tạo được điều kiện thuận tiện, tôi đã ngã ngựa. Thành Tôn tiếp chân tôi vào quân đội. Rồi những biến động quá lớn của lịch sử làm chúng tôi bất lực. Ngày nay, Thành Tôn còn giữ một bản chép Vàng Lạnh. Tôi đang tìm cách liên lạc với Nguyễn Nho Châu, xin phép gia đình anh cho in tác phẩm độc nhất của Bửu để gởi đến bạn đọc. Việc in thơ, văn tại hải ngoại, ngoài những nhà xuất bản chuyên nghiệp, không mấy ai dám lãng mạn dính vào, nhất là thơ. Có rất nhiều người làm thơ mới xuất hiện. Có rất nhiều tập...thơ được ấn hành bởi những người thành công trong lãnh vực thương mại và nhiều lãnh vực khác, một cách dễ dàng. Nhưng với chúng tôi, gia tài vẫn đơn sơ là một tấm lòng, việc in thơ dễ hay khó thật rõ ràng. Tại quốc nội, thơ đăng báo được trả nhuận bút nghiêm chỉnh. Tại hải ngoại, chủ bút được trả tiền để in thơ là điều không hiếm thấy. Đa số tuyển tập thơ, thậm chí có những cuốn mang tính cách phê bình, giới thiệu, chọn lọc do một vài người có chút danh hoặc chưa có gì thực hiện, vẫn phải tính trang chồng tiền mua sự có mặt. Dĩ nhiên cũng có một vài ngoại lệ như tờ Việt Nam Thời Báo.


 Việc in thơ của Nguyễn Nho Sa Mạc coi vậy mà không phải dễ dàng. Sau khi nhờ nhà thơ Uyên Hà Lê Đình Ba liên lạc với Nguyễn Nho Châu, tôi nhận được email của Uyên Hà, chuyển lời nhắn ưng thuận của Nguyễn Nho Châu. Nhưng chúng tôi chỉ có thể thực hiện, nếu không phải thanh toán phí khoản bản quyền. Thi phẩm của Nguyễn Nho Sa Mạc chúng tôi sẽ dành tặng cho bằng hữu, bạn đọc là chủ yếu.. Cũng qua điện thư của Uyên Hà, nhà thơ kiêm nhạc sĩ Đynh Trầm Ca có nhắc: sinh thời Nguyễn Nho Sa Mạc đã từng chọn tên sách cho tập thơ mình là Bế Mạc Tình Yêu. Điểm này rất đúng, tôi đã nhớ ra. Cảm ơn anh bạn thơ Mạc Phụ (tên khác của ĐTCa). Nếu in được có lẽ nên chọn tên sách của chính tác giả đã chọn.


 Dù sách có in được không, thơ của Nguyễn Nho Sa Mạc, Nguyễn Thị Phương Phượng có đến được với bạn đọc một cách cụ thể hay không. Tôi vẫn tin người bạn của tôi đã có một chỗ ngồi trong lòng người yêu thơ, trong thi ca Việt Nam.


Luân Hoán

Ngày Xưa Hoàng Thị - Quang Dũng Thanh Trúc Loan Châu

 

 

*

 

Sắp tới ngày QLVNCH (19-6).

Xin mời nghe nhạc quân hành:

Ghi chú: SVSQ/TĐH/CTCT/ĐL - mặc đại lễ quần xanh kẹp xám, áo đại lễ trắng, thắc lưng cổ truyền đen trên nền xanh, cầu vai tua xanh, đội nón kép pi có hình lục đại chiến.

(toán thứ 2 trong nhạc phẩm "Anh Về Thủ Đô" và sau đó nữa...)



_____________________________________________________





Trang Quảng Cáo



qc_0-content


qc_1-content


Quí vị ở các tiểu bang xa

Quí vị H.O sẽ hay đã nghỉ hưu

Quí vị từ VN mới sang định cư ở Mỹ

Muốn về sống ở Nam Calif nắng m

(Little Sai Gon, Orange County, Los Angeles)

Muốn mua một căn nhà vừa ý, hợp với túi tiền


Xin liên lạc:


Marvin Tran


(714) 768-8810



Sẽ được hướng dẫn và giúp đỡ tận tình

Quí vị sẽ có được căn nhà vừa ý


*



blank



ha_1-content


hoang_anh_1-content


11031 Acacia Parway

Garden Grove Civic Center

Garden Grove, CA 92840




Chuyên mọi dịch vụ về Răng


Người Lớn, Trẻ Em

B
ền, Rẻ, Đẹp

Uy Tín


Liên lạc lấy hẹn
:

D.D.S Ho
àng Anh

(714) 724-5699

Cindy Tr
ần

(714) 724-5799


(nói xem QC ở BVN sẽ được discount)


ph_6_0-content
từ trái, Cindy Tran và Tina Tran
(Tran Yen Hoa's daughters)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Năm 20187:42 SA(Xem: 26)
Ông sinh ở Hải Phòng năm 1937, tên khai sinh là Phạm Văn Rao…Di cư vào Nam
19 Tháng Năm 20186:18 CH(Xem: 112)
Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là ‘bọn tay sai của địch…”
15 Tháng Năm 20186:49 CH(Xem: 141)
Tháng Năm, 1969, tuần báo Khởi Hành, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội, số 1
09 Tháng Năm 20187:20 SA(Xem: 238)
Tên thật: Huỳnh Văn Hiến. Nơi sinh: Đà Nẵng. Năm sinh: 1942. Năm mất: 1995
05 Tháng Năm 20189:32 SA(Xem: 344)
bìa Uyên Nguyên. kỹ thuật typesetting Trần Yên Hòa. nhà xuất bản Bạn Văn Nghệ. phần phục lục: thơ Luân Hoán giới thiệu TYH