DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,508,033

LÁ THƯ VĂN NGHỆ GỞI NHÀ THƠ CÁI TRỌNG TY - Lương Thư Trung

Sunday, December 8, 201312:00 AM(View: 14410)
LÁ THƯ VĂN NGHỆ GỞI NHÀ THƠ CÁI TRỌNG TY - Lương Thư Trung

LÁ THƯ VĂN NGHỆ GỞI NHÀ THƠ CÁI TRỌNG TY

 

 

Mến chào anh Cái Trọng Ty,

Dù cùng nơi cư ngụ với anh ở Houston cách nay cũng vài ba năm, dù cùng có dịp cụng ly với anh vài ly rượu ấm hôm nào, dù cùng ngồi nhiều buổi cà phê Nguyễn Ngọ với anh trong những dịp cuối tuần, nhưng tôi chưa lần nào nghe anh kể về những bài thơ anh viết, những gian truân trong mỗi bước chân đời, những trăn trở về những thời khốn khó mà anh đã có những ngày phải để hết tâm tư mình cố vượt qua nó! Anh thì điềm đạm, khiêm nhường, thích lắng nghe với nụ cười hiền, ít nói, càng làm cho người quen biết quanh anh càng khó nhận ra ở anh có một đời sống tâm hồn vô cùng phong phú qua gần năm mươi bài thơ mà tôi vừa tình cờ đọc được qua một trang nhà...

 

Thật thế, thưa anh. Với tuổi trẻ, anh đã có một thời khoác chiến y với súng trên vai đi vào miền gió cát bụi mù… Và những ngày tuổi đôi mươi ấy có lần anh đã ghi lại vào một buổi chiều trên bải biển Tuy Hòa (Phú Yên) với “cuộc rượu bốn người”:

“năm ấy ra trường về phố biển
trời Tuy Hòa màu áo trận buồn hiu
bờ cát vắng dấu giày saut sóng xóa
quán bên đường nhìn xuống biển mù khơi”

(Cuộc rượu tay tư)(*)

 

Thế rồi, theo dấu binh lửa, ba người bạn của anh từ chiến trường Kontum xuôi về miền duyên hải cùng vui trong “cuộc rượu” ấy nay đã tản lạc hết rồi, để anh ngậm ngùi ngồi ghi lại cái bi thảm của một thời chinh chiến cũ:

 

“soi mình một bóng trên đồi đá
ngọn nến võ vàng áo trận phai
màu nắng chiều vàng màu thuở đó
quán nhậu ngày mưa tìm ở đâu
ta về như nắng về xa lạ
thấy cả chiều xưa cuộc rượu tàn.”

(Cuộc rượu tay tư)

 

Rồi đời lính chiến ấy như mãi hoài làm anh nhớ lại những buổi di hành, những chiều dừng quân, những lúc hiểm nguy, những lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc... Nỗi nhớ ấy mang trong anh biết bao địa danh trải dài suốt dãy đất miền Trung khô cằn qua từng nhịp thở của một người lính trẻ... Hết làng ven biển Lương Sơn với hàng dừa vi vu trong gió chiều của Nha Trang ngày nào rồi quay về Phan Rí Cửa, Tuy Phong của Phan Thiết với gạo trắng hạt dài ngon cơm ngày mùa mới gặt; rồi lại ngược lên Sông Pha bên này chân đèo Ngoạn Mục với núi rừng cao nguyên chớn chở, nhìn về phía bên kia đèo cao vòi vọi, khách lữ hành nhìn thấy quận lỵ Đơn Dương của Đà Lạt nằm ẩn mình dưới chân đèo bao bọc bởi gió thông reo; và anh lại phải trở xuống miền xuôi để xuôi về Nam qua Mường Mán (Phan Thiết) vào những ngày binh lửa sắp tàn với sân ga một thời hiu hắt…

“Lương Sơn xa lắc đồi rỉ máu
ta ngựa cuồng quay quắt chiến trường xưa
đồng đội cũ đâu lưng từ nổi chết
suy gẫm đời chung thân thế phiêu du”

(…)

 

“rừng âm u còn vọng tiếng quân đi
khuya Mường Mán
đường qua Ga hiu hắt
đơn vị tàn
sông núi cũng tàn theo…”

(Tháng tư bẻ súng)

 

Thế nhưng người lính chiến ấy với tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ anh không quên ghi lại những mối tình qua mỗi chặng dừng quân trên đường ra trận:

 

“quê em tận đồng sâu heo hút
lúa ngoài đồng lép hạt gió Lào khô
buổi sáng di quân quay quắt em nhìn
sau tay áo có lệ nhòa giấu kín
trong bụi mù tôi thấy bóng em trôi…”

(Tình em rau đắng)(*)

 

Và rồi, với những niềm riêng thổn thức trong lòng khi cảnh vật chung quanh tiêu điều, hoang phế làm anh chợt nhớ lại quê mình:

 

“đời rong ruổi rừng thâm u muỗi vắt
chút nước sình gạn lọc nấu nồi canh
những gói cơm khô nhai hoài nhạt thếch
thèm bát canh chua. mẹ nấu chiều xưa

 

tình tôi một cánh chim trôi dạt
đáy ba lô mệt nhọc những âu lo
chân bước xuống thuyền lính thú lên ngàn
nghe vượn hú nhớ vườn quê da diết

 

giữa đêm trăng non bãi gò hoang dã
lửa ma trơi nhòe nhoẹt gió đồng không
ngày lưới đạn đêm trói mù hỏa pháo
biết bao giờ em hỡi chút tình quê.”
(Tình em rau đắng)

 

Nhớ quê, nhớ Mẹ, và rồi người lính Cái Trọng Ty ấy lại nhớ bạn, nhớ đồng đội một thời nay đã ra người thiên cổ từ độ nào:

 

“đầm hoang chạy mãi về phương bắc
đơn vị hành quân trục lộ Tuy An
chi khu cằn cỏi kề núi đá
thôn xóm đìu hiu đất triệt người
đường vắng chiều lên dốc Đại Hàn
trường sơn xa hút ngày sắp hết
nương rẫy nhà ai khói thở ra

đất sầu lạnh lẽo mờ hốc đá
quanh quẩn đồng chiều địch bắn nheo”
…..


“ngày đó đơn vị về Củng Sơn
Củng Sơn khí độc da xanh mét
bốn hướng trời tru
đất diệt người
bên kia Trường Sơn cọp gầm rú
chàng bơ vơ giữa núi rừng già
một tối qua đèo địch phục kích
xác nằm phơi suối độc sông sâu
chàng không về lại Nha Trang cũ
biển chiều nay đỏ quạch máu người
mẹ già xa như khói trà hôm sớm
con của mẹ vùi thây nơi xó rừng…”

(Qua đầm Thị Nại)

[*Tưởng niệm Trung Úy Phước.Bạn tôi]

 

Thưa anh,

Theo dấu chân anh, tôi cũng nhận ra trong từng địa danh anh dừng lại dường như nơi nào anh cũng để lại chút tương tư. Chẳng hạn như anh về Sông Mao, Chợ Lầu, Phan Rí thuộc vùng Phan Thiết, anh cũng có “những đêm trăng hoang dại” để thấy đời “bạc bẽo” mà nhớ hoài, nhớ mãi tới tận bây giờ…

“về sông mao
về chợ lầu phan rí
phòng tuyến dài từ dạo ấy sang xuân
sân ga vắng phố chàm trăng hoang dại
tháp hời khuya chìm vô vọng trăm năm
đồi sương đọng dấu giày mờ cỏ lát
trảng lưa thưa mưa xóa bãi mìn chông”
….

 

“đêm hôm ấy trăng khuya đồi bát ngát
tôi theo trăng về muộn trước sân ga
nghe xa vắng còi tàu qua phố chợ
thân xác bọt bèo sống chết như chơi
dòng sông đục nước trôi mù mịt sóng
cuồn cuộn tai ương
đời bạc bẽo vô cùng

(Đêm trăng hoang dại)

 

Trong những ngày lang bạt theo những dấu chân di hành qua khắp các vùng đất khô cằn ấy, người lính-làm thơ ấy ngồi nghĩ lại phận mình cùng thân phận tuổi trẻ của những người cùng thế hệ anh mà đành buông tiếng thở dài “thiên địa bất nhân”, một lời trách mà cũng là một lời ta than đất trời, với tôi, nghĩ cho cùng lời than trách ấy không lấy gì làm quá đáng:

 

“dòng sinh tử dường như đùn ải bắc

cõi nhân quần chuyển động bến lao xao

tôi bơ vơ buổi chiều vàng chướng khí

trên vách đời mờ tỏ dấu chân em

lòng thấm lạnh tôi quay về ấp ủ

đêm vỗ về từ cội rễ tâm linh

 

sao ngơ ngác khi đất trời chuyển dịch

cấy tinh trùng thai nghén cuộc nhân sinh

chí cùn sức kiệt dài mơ ước

bão tố vần xoay thiên địa bất nhân…”

 (Thiên địa bất nhân)

 

Qua những lời trách móc vừa qua, hình như anhmuốn nhìn lại mình thêm một lần để cạn tỏ những suy tư về mình, về tha nhân, về thân phận con người chẳng khác nào một chu kỳ giữa đến và đi qua những làn sóng nhấp nhô vổ vào chân cầu chơi vơi giữa dòng nước mùa nào cũng chảy xiết:

 

“như một lần tôi qua cầu độ nhật
dưới sông sâu nước chảy luân hồi
chỉ thấy tôi trôi
cùng mây về với biển…”

….
“sóng nước vô hồi
chẳng thấy biển về đâu
khúc dạo đầu bên kia cầu phổ độ
mưa hạc vàng thẩm thấu những đời xa…”
(Sóng nước luân hồi)

 

Với dòng nước trôi ngang qua cầu “phổ độ” không hề ngừng lại ấy, anh cũng phải nhận ra rằng sau những mùa chinh chiến tàn dường như cũng đồng nghĩa với những ngày tháng dài dằng dặc phải qua những trại tù Trà Bương, Xuân Phước không hẹn ngày về:

 

“tuyệt đường Kỳ Lộ lưu đày
kiếp tù thay vật kéo cày vỡ hoang
dấu chân mộ huyệt rũ tàn
xó rừng Xuân Phước gian nan nẽo về

xương tàn bóng ngã dài lê 
vàng mai hú vọng Em về đêm mưa
vườn Uyên phương ấy mùa xưa
nhớ người u ám nắng vừa khuất mây

tù qua đây đất loay hoay
nghe trong lao nhục lưỡi cày khổ đau…”

(Bên dòng Trà Bương)

 

Thế nhưng, trớ trêu thay, khi người lính được trở lại nhà thì anh cũng phải chứng kiến bao cảnh đời đổ nát của những người chung quanh trong đó có bạn bè mình mà nghe như “khúc tù ca” còn âm ỉ mãi mãi trong lòng:

 

“ra khỏi trại tù ngỡ ngàng hụt hẫng
quê hương lầm than đoạn đời cơ khổ
gặp lại mày một thời thân aó khố
những ân tình cũ thoáng bơ vơ…”

(Khúc tù ca)

 

Rồi nào là cha đau bại liệt, nào là vợ con nheo nhóc, rồi nào là một hôm người vợ lính ấy lại bỏ quê chồng về lại quê mình, Phan Thiết, thật chia cắt đoạn trường. Đứt ruột kẻ ở đã đành mà còn đau lòng người đi nữa! Quả thật hậu quả của chiến tranh thật bi thảm biết dường nào! Nhà thơ Cái Trọng Ty là người cùng quê với anh bạn một thời gốc Huế ởcố đô, anh thay bạn diễn tả lại nỗi lòng kẻ phải xa lìa vợ con giữa những ngày cam khổ ấy:

 

“Huế nắng Huế mưa nặng tình da diết
mày cô đơn chăn chiếu rộng một mình
bữa đói bữa no từng bữa mong manh
cha mẹ qua đời quê nhà tách biệt…”

(Khúc tù ca)

 

Thưa anh,

Qua những ngày chinh chiến, qua những năm tháng tù đày nhưng dường như với người lính làm thơ như anh không phải không có“một thời để nhớ”,phải không anh? Một thời để nhớ ấy của anh thấp thoáng qua những vần thơ của anh mà tôi vừa bắt gặp, nếu không lầm, có lẽ đó là:

 

“anh thoáng thấy môi em tròn buông xả
nơi nụ cười vô ngại
rót từ tâm…”

…..

 

“ngôn ngữ nào chuyên chở nụ hoa lành
tình cứ thế bềnh bồng thơm hạnh phúc

khi có em
ghé thăm ngày tháng mới
chốn không gian đi ngược với thời gian
những ước ao len lén chợt nồng nàn”

….

 

“đêm có muộn
trăng trôi hoài ra biển
mà ngày mai chỉ tội nhớ nhau thôi
mối tình đó lặng câm thăng hóa
ấp ủ kín bưng thuyền ngược sóng đời

phố phù hoa
đoá phong lan xa quá
cánh tay ngà mơ mộng gối đêm mưa
em đi qua đời anh tình khách lạ
đêm thu mình ôm kín mảnh tình riêng”
(Chỉ là mây sao)

 

Với“Chỉ là mây sao”vừa kể hay chỉ là mộng tưởng trong mối “tình vọng tưởng” sau đây của anh chắc cũng là những kỷ niệm một thời đáng nhớ ấy nữa của riêng anh?

 

“tình u mê làm loài chim bói cá
sóng đong đưa nghìn dặm kiếm tìm em

tình vọng tưởng chỉ là Hương nguyệt mật
dẫu hân hoan chỉ là chốn riêng mình
nơi eo gió hạnh phúc tròn túi mật
nơi cội nguồn cách biệt.móng tăm xa…”

(Tình vọng tưởng)

 

Rồi tôi lại bắt gặp ở anh một thời đáng nhớ nữa qua các vần thơ trong

“Chuyến đò ba bến”, “Tháp hời trăng cổ lũy”, “Sợi nắng”, “ Màu thời gian”, “Bèo chơ vơ tiếng sóng”, “Có một mùa trăng xa như biển”, “ Thư tình trên cát” vân… vân… Mỗi mỗi câu thơ qua những bài thơ ấy đều chuyên chở những kỷ niệm một thời, dĩ nhiên trong những niềm nhớ tưởng ấy có nỗi buồn man mác như gió chiều nhẹ thổi qua vườn nhà cũ mà nghe ra xao xuyến biết dường nào!!! Nhưng bài thơ “Mẹ”mà tôi được đọc có lẽ là niềm thương nhớ trong anh vô bờ bến bởi lẽ trên cõi đời này không ai chiếm trọn trái tim mình bằng người sanh ra và nuôi nấng dưỡng dục mình từ lúc mới lọt lòng mẹ cho chí đến những ngày khôn lớn... Người con có hiếu ấy lại có một tâm hồn nghệ sĩ nữa thì tình thương mẹ tăng lên gấp bội phần qua những vần thơ chan chứa biết bao tình mẫu tử:

 

“đêm ấy giữa mịt mù sóng biển
con đã xuống thuyền
sinh tử đỏ đen
ngoãnh lại bờ xa
thấy lờ mờ phố nhỏ
Mẹ vẫn đứng ngồi dưới ngọn đèn khuya
thắp một nén nhang
trước bàn thờ Tiên Tổ
nguyện cầu cho con sóng nước bình yên…”

 

(…)

 

“đêm nay mưa ướt trong hơi thở
đêm đoạn đành
con phải vượt biên
thuyền đã biển khơi
giữa hai lằn ranh giới
con chỉ muốn quay về hơi ấm Mẹ thôi
nhớ thương mà quay quắt trong lòng
đời Mẹ ngày một héo hon
nỗi mất còn ngày một ngọn gió thu
thăm thẳm trong tim
ngọt ngào tiếng Mẹ
một đời con
con ve sầu chưa lột xác
nhặt nhạnh thu gom
những quá khứ hao mòn
tóc Mẹ ưu phiền thêm bạc trắng ra
như cánh buồm giạt gió mưa nhòa.”

(Mẹ)

Thưa anh,

Qua gần năm mươi bài thơ của anh mà tôi vừa đọc được, theo thiển ý của tôi, có thể đúc kết lại thành một chuỗi thời gian dài tạo thành một dòng sống liền mạch trong tâm hồn anh qua“những ngày lính chiến- những lúc tù đày và một thời để nhớ” với những bài thơ đa phần làm theo thể tự do mà như dòng nước từ trong núi thẳm của cõi lòng anh với chút lãng mạn của người nghệ sĩ nócứ rì rào tuôn chảy mãi hoài bất tận vậy! Dường như ở đó, thơ anh là tiếng nói của lòng anh đã đành mà nó còn cưu mang nỗi niềm của những người lính trẻ một thời với thế hệ của anh giữa những ngày mùa chinh chiến cũ nữa!

 

Như phần đầu lá thư tôi có nhận xét:“Anh thì điềm đạm, khiêm nhường, thích lắng nghe với nụ cười hiền, ít nói…” và có lẽ chính vì cái nét ít nói rất dễ mến ấy khi tôi tình cờ đọc được những suy tư của anh về chiến tranh, về cuộc đời, về những kỷ niệm một thời đáng nhớ với những trăn trở của người lính trẻ ngày nào cùng cách nhìn đời của một người già dặn của anh hôm nay càng làm cho tôi càng thêm thích thú biết bao!

 

Hôm nay qua rồi gần bốn mươi năm cuộc chiến đã tàn mà chừng như nỗi niềm người lính-làm thơ Cái Trọng Ty vẫn man-thiên nỗi nhớ thuở nào! Phải thế không, anh Cái Trọng Ty?

 

Mến chúc anh cùng gia đình luôn luôn bình an và hạnh phúc mãi mãi…

 

Thân mến,

 

Lương Thư Trung

Houston, ngày 06 tháng 12 năm 2013

(Vào một chiều Thu gió lạnh nhiều)

 

 

Cước chú:

(*)Những chữ in đậm trong dấu ngoặc đơn là tựa các bài thơ của nhà thơ Cái Trọng Ty


cai_trong_ty_2_0-content

trái, nhà thơ Cái Trọng Ty, phải, Trần Yên Hòa, hình chụp tại cà phê Factory, nhân dịp CTT thăm Nam Cali

 

 

 

Ta On Em -Tu Cong Phung- Tuan Ngoc

 

______________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà


Ana Real Estate, Ana Funding, INC.


Văn phòng Ana Real Estate chuyên môn bán nhà, Apt, Shoping Center, và những cơ sở Thương Mại như Cây Xăng, Tiệm Rượu, Tiệm Giặt Ủi, Nhà Hàng.

Ana Funding cho mượn tiền mua những bất động sản cho thuê, lấy công làm lời.

- Tuyển chuyên viên có bằng địa ốc của tiêu bang Cali.

- Có bán sách Phong Thủy của Nguyễn Phúc Vĩnh Tung

- Sách Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên

L/l: (714) 636-2299

 

 

nha_kmd_4-content

 Nhà ở Garden Grove,

 Rong 1713 Square feet, đất rộng trên 8000 square feet, gần Little Saigon

 Giá: $480,000.


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810

 


blank

 


Nha Khoa

 


blank