DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,379,529

Thử phân biệt bài hát có tính truyện... - TRẦN VĂN NAM

Tuesday, January 28, 201412:00 AM(View: 8247)
Thử phân biệt bài hát có tính truyện... - TRẦN VĂN NAM

alt

http://thuvietblog.files.wordpress.com/2009/12/slide0003_image001.gif



Thử phân biệt bài hát có tính truyện, lời thơ bâng khuâng, và ca-từ

huyền diệu

 

Ta lưu ý thấy những bài hát thường được ca sĩ trình bày, quần chúng thích nghe, ngoài giai điệu hay còn nhờ vào chất tình ca gần gũi với nhân sinh. Tình ca ở đây có nghĩa rộng, gồm tình trai gái, tình quê hương, tình gia đình, tình non sông đất nước khi nguy biến… Chất tôn giáo, chất xã hội nhân bản, chất triết lý, thường chỉ được dành cho những trường hợp nào đó. Nghe hát là để thưởng thức có tính cách làm thư giãn cuộc đời (entertainment), xin không dùng từ ngữ giải trí như có vẻ hạ thấp giá trị của sự thưởng thức văn nghệ. Cho nên những lời yêu cầu mời gọi của tôn giáo, phấn đấu cho xã hội, chỉ dẫn về tư tưởng, xem chừng nằm ngoài mục đích giải trí. Nhưng ta cũng cần lưu ý ở cách sống của các dân tộc ít người (như người Tây Nguyên ở Việt Nam), ca nhạc thường gắn liền với tôn giáo cầu trời khẩn đất cùng các thần sông núi, xin được mùa màng; cho nên ca nhạc vừa là dịp vui vừa là lễ hội cầu nguyện tạ ơn các đấng thần linh. Cho nên ca nhạc với họ là ca nhạc tôn giáo, dĩ nhiên họ cũng có tình ca trai gái thuần túy nhưng không dồi dào. Tình ca trai gái của người dưới miền xuôi thì trái lại quá phong phú so với các loại ca khúc khác.   

Gần gũi với nhân sinh, gần gũi với cuộc đời (đề cập đến tình trai gái, tình gia đình, tình quê hương…) thì bài hát mới được quảng bá vào quần chúng, tự động từ người thích trình bày đến người thưởng ngoạn. Rất dễ nêu ra những so sánh để làm thấy điều này, như sau đây là hai ví dụ. So sánh hai bài hát cũng nói về thôn xưa của cùng một tác giả là nhạc sĩ Thu Hồ, bài “Quê Mẹ” và bài “Hoàng Hoa Thôn”: ai cũng biết bài trước, còn bài sau rất ít người từng nghe. Bài Hoàng Hoa Thôn nhạc điệu rất hay, nhưng chỉ thuần tả cảnh đồng quê, và đặt những lời hát quá văn chương như xa cách quần chúng. Bài hát này thấy lần đầu tiên trên báo Việt Ngữ của Hồ Hữu Tưòng in ấn tại Paris vào năm 1952 (do nhà xuất bản Minh Tân Paris), trong báo đó cũng có in bản nhạc Trách Người Đi của nhạc sĩ Đan Trường (hay của nhạc sĩ Thông Đạt, không nhớ rõ). So sánh thứ hai để thấy sự gần gũi hay xa cách người thưởng ngoạn, như giữa bài “Nương Chiều” của Phạm Duy và bài “Tiếng Vọng Chiều Vàng” của Văn Phụng. Bài Nương Chiều gần gũi với quang cảnh trời Việt Bắc, nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số nhưng cũng là nơi tá túc của người miền xuôi lên lập chiến khu chống Pháp, gần gũi với tình tự dân tộc thời kháng chiến, trở thành một kỷ niệm đẹp khó mờ phai trong tâm khảm của nhiều người. Thế hệ từng đi kháng chiến truyền những rung cảm ấy cho thế hệ sống nơi vùng kiểm soát của chính quyền trong tay người Pháp; thế hệ lớn truyền những rung cảm cho thế hế trẻ mãi đến thời định cư nơi hải ngoại; cứ thế mà bài hát mãi được trình diễn. Trong khi bài “Tiếng Vọng Chiều Vàng” với nhạc điệu thật hay của đời sống du mục trên miền đồng cỏ dọc dài theo những dãy núi đá Nam Mỹ (gần giống như nhạc điệu của bài hát O’Cangaceiro của Mexico hay Argentina gì đó), nhưng nó chỉ hay đối với những ai hơn một lần rung cảm với đất trời hoang mạc trong các cuốn phim sắc màu tuyệt vời của điện ảnh Hollywood (từng quảng bá ở Miền Nam trước 1975); hay từng nghe bản nhạc O’Cangaceiro một thời phổ biến theo quân đội Mỹ đến Miền Nam. Đã qua rồi thời kỳ ấy, nên bản nhạc Tiếng Vọng Chiều Vàng thật hay nhưng chịu ảnh hưởng loại nhạc của vùng trời xa lạ; nó gần như bị lãng quên, không mấy người trình diễn nên ít người nhớ đến. 

Ta lưu ý thêm nữa, lại thấy các khúc tình ca thường chỉ là những mảng tình cảm của cuộc vui, những mảng tình cảm của chuyện buồn, những mảng tình cảm của sự chia ly, những mảng tình cảm của điều trách hận; nghĩa là những mảng tình cảm lấy ra từ những toàn truyện có nhiều chi tiết. Ví dụ buồn tình trong chiều mưa; vui cùng nhau trên chuyến tàu về quê ăn Tết; hận người đã bỏ đi để lại một người với bến sông xưa; khóc chia ly khi tiễn ai về phương trời nghìn trùng xa cách… Những mảng tình cảm phối hợp cùng bối cảnh ngoại giới như vậy chỉ là một chi tiết lấy ra từ một chuyện tình, dù phức tạp hay đơn giản cũng đều là một cuộc tình có tính lịch sử, nghĩa là có đầu đuôi của một câu chuyện. Nhưng người thưởng thức cũng chỉ thích nghe một mảng tình cảm ấy thôi, vì mảng tình cảm ấy (vui, buồn, chia ly, trách hận…) tuy riêng mà cũng là chung cho mọi người; còn tình tiết câu chuyện thì riêng biệt cho mỗi trường hợp. Khi nghe hát điều riêng biệt của người khác thì giới thưởng thức như đứng bàng quang ngoài câu chuyện, không thấy tự đồng hoá mình vào như khi nghe một mảng tình cảm mà ai trong đời cũng gặp phải…

 Đến đây, ta gặp một vấn đề cần bàn thêm: vấn đề bài hát gồm một truyện có tình tiết và bài hát chỉ như một mảng tình cảm. Triết gia Nietzche đã từng công kích tính truyện trong nhạc phẩm của Richard Wagner, người nhạc sĩ mà suốt một thời gian dài ông vô cùng ngưỡng mộ. Nhưng trong nhạc kịch “Tristan and Isolde” sáng tác năm 1865 thì Richard Wagner đã đưa vào nhạc cả một chuyện cổ tích thời Trung Cổ của dân tôc Celtes (tộc người nói tiếng Ấn-Âu sống rải rác khắp Âu Châu, tập trung nhiều nhất tại các đảo quanh nước Anh). Chuyện tình buồn đó như sau: Chàng trai hiệp sĩ Tristan được nhà vua của dân Celtes (hay Celtis) giao cho nhiệm vụ đi rước công chúa xứ Aí Nhĩ Lan về cho vua Mark. Trên đường trở về, đi lạc hướng, và uống lầm thứ rượu tình yêu do hoàng hậu Aí Nhĩ Lan pha chế sẵn cho con gái và vua Mark, nên họ đã vướng vào tình lụy. Khi trở về, Tristan bị lưu đày, và sau một thời gian thì lấy vợ, nhưng vua Mark vẫn theo dõi. Tristan bị thương do vũ khí độc, và chỉ có Isolde mới giải cứu được (không rõ bằng thuốc giải độc hay bằng tình yêu mầu nhiệm). Tristan nhắn tin khi hấp hối nằm chờ bên bờ biển, nếu nàng đến cứu thì giăng buồm trắng, còn từ chối thì giăng buồm đen. Biết đuợc mật hiệu ấy, và vì ghen nên vợ của Tristan báo tin có một cánh buồm đen đang tới. Mầu nhiệm của tình yêu không đến, vì vậy Tristan quay mặt vào tường trút hơi thở cuối cùng. Và Isolde cũng chết theo người tình ràng buộc do số mệnh khi đến nơi quá trễ. Có nhiều dị bản về truyện tình Tristan và Isolde (hay Iseult), tình tiết trên cũng chỉ là một trong nhiều lời kể thêm thắt…. Triết gia Nietszche phê bình truyện lồng vào nhạc không phải là nhạc cao cấp, thứ nhạc mà Nietszche ca ngợi phải là nhạc mê-hồn-ca theo “Tinh thần Dionysos” (hay Dionysius: thần say, thần cuồng nhiệt, trong thần thoại Hy Lạp).

Trong ca nhạc của Việt Nam thì cũng có lắm tác phẩm là nhạc truyện, và đã được trình diễn hoài; bổ khuyết cho nhận xét khởi đầu của bài viết này thì chỉ những mảng tình cảm mà thôi mới được nhiều phổ biến do ca sĩ, do quần chúng ưa thích. Những nhạc truyện đó như Những Đồi Hoa Sim, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Bên Giàn Thiên Lý… Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, không do từ thi ca phổ nhạc mà hoàn toàn do nhạc sĩ đặt lời, ta để ý thấy không có câu nào đậm dấu tu từ pháp thi ca, không có đoạn nào được gọi là những câu thơ tân kỳ. Vậy bản nhạc được phổ biến là do cốt truyện oan trái lấy ra từ tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan; do bi thảm lấy ra từ tiểu sử nhà thơ Hàn Mặc Tử. Nhạc điệu làm người nghe ưa chuộng; mặc dù cũng đã có nhiều phê phán và phân biệt cao thấp giữa nhạc kể lể với nhạc thính phòng. Còn bài hát Những Đồi Hoa Sim và Bên Giàn Thiên Lý do từ các bài thơ của các thi sĩ hữu danh; và nếu là thơ thì không thể thiếu vài câu thơ xuất sắc, ví dụ ở câu mô tả cảnh đồi núi tím ngát màu thương nhớ (đi kèm với câu ca dao nhớ vợ: Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà). Nguyên tác là bài thơ Màu Tím Hoa Sim của nhà thơ Hữu Loan. Hay trong bài Bên Giàn Thiên Lý thì với các câu thơ gợi cảm tả lúc từ trên cao điểm chuẩn bị tấn công nhìn về làng cũ xơ xác với tre cau lả ngọn; lờ mờ bóng đồn địch đang đóng chốt; lo lắng bích-kích-pháo sẽ bắn rót vào làng có người vợ hiền đang ở đó. Nguyên tác là bài thơ Nhà Tôi của Yên Thao, nổi trội với câu thơ đẹp như ca dao bên giàn thiên lý (thiên lý là loại cây leo như mướp, bầu, bí, khổ qua, dưa leo):

 Anh rót cho khéo nhé

Kẻo lại nhầm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn đồi* 

Có giàn thiên lý, có người tôi thương.

 (* Có trích dẫn ghi là: thôn Đoài)

Tính truyện trong Màu Tím Hoa Sim và Nhà Tôi kể ra cũng khá đơn giản, nhưng nhờ điểm xuyết vài câu thơ hay, nằm trong bối cảnh thời chinh chiến được toàn dân hổ trợ những lên đường vào chiến khu (hoàn cảnh phải để lại người vợ hiền trong vùng địch đóng, rồi có khi mất mát, trở thành nét buồn dễ làm nao lòng ngươi); dĩ nhiên phải nhờ điệu nhạc hay. Điệu nhạc hay do tài của nhạc sĩ phổ nó thành ca khúc trung thành truyện kể (nhu Dũng Chinh trong bài Những Đồi Hoa Sim); hoặc do tài của nhạc sĩ biến nó thành bi-hùng-ca (như Phạm Duy trong bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà). Nên kể thêm tài của nhạc sĩ biến một truyện kể thật đơn giản thành đại kiệt tác âm nhạc, như Hòn Vọng Phu của Lê Thương (chỉ là chuyện người vợ bồng con chờ chồng đi chinh chiến mãi không về, chờ mòn mỏi đến hóa thành đá). Nó khác với sự tích Hòn Vọng Phu với nhiều tình tiết hơn về bi kịch gia đình (anh em thất lạc từ nhỏ, lớn lên không biết nên thành đôi vợ chồng). Được biết, núi Hòn Vọng Phu ở tỉnh Lạng Sơn mới là nguồn cảm hứng cho Lê Thương. Còn sự tích bi kịch gia đình thuộc Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi cao 1476 mét, gần thị trấn Khánh Dương, nằm ở vị trí giữa đoạn đường tỉnh lộ 21 từ Ninh Hoà đi Buôn Mê Thuột (có ghi rõ trong bản đồ Việt Nam khổ lớn treo tường của Tạp chí National Geographic Magazine, ấn hành năm 1967. Tỉnh lộ 21 nay thành tỉnh lộ 26).

Ta cần bổ túc thêm vấn đề thơ cần đạt cấu trúc toàn diện hay thơ chỉ cần những giàn trải từ ngữ tân kỳ, hay chỉ giàn trải từ ngữ trau chuốt, hay cố ý dùng toàn từ ngữ trần trụi của đời thường trút bỏ tất cả chất thơ. Thơ với câú trúc toàn diện gồm có tứ thơ phải hiện hữu (muốn nói vấn đề gì), và bố cục diễn tả (để thành truyện kể đơn gỉản, vì trong thơ không nên thành truyện nhiều tình tiết), và cần sáng tạo từ ngữ thơ (phải có ít nhất vài câu thơ xuất sắc trong cách dùng chữ, hoặc tân kỳ về thi ảnh, hoặc tạo được nhạc tính mới cho câu thơ). Thơ không cần cấu trúc toàn bài thì đặt nặng vấn đề từ ngữ, và vì chú trọng nhiều quá về chữ diễn tả nên có khi làm người đọc như lạc vào một trưng bày hỗn tạp, khó hiểu. Vài lờ mờ ý nghĩa kèm với vài lờ mờ thi ảnh mới thức tỉnh cho ta biết đó là thơ. Vậy theo thiển nghĩ, thơ chú trọng về từ ngữ diễn tả nên theo thể tự do và nên thật ngắn mới làm người đọc không chán ngán. Chỉ cần vài câu với ngôn ngữ lạ cũng đủ cho ta đánh giá tác giả có tài dùng chữ hay không; tứ thơ không cần phải hiện diện vì tác giả đâu cần diễn ý, chỉ cốt diễn lời mà thôi. Ví dụ bài thơ thật ngắn sau đây, quả là thật khó hiểu, quả là quá chú trọng về lời lạ lẫm, nhưng ta cảm tính thấy nó hay mà không rõ tác giả muốn nói gì (xin nhắc lại: nếu quá dài sẽ làm ta không muốn đọc tiếp):

 … túi mắt đựng trời

 trưa trắng

co quắp ký ức 

nén tiếng rên 

phố chết nửa ngày. 

(tác giả: Chim Hải)

 Một loại thơ được phổ nhạc khác, ta nên đề cập tới. Cũng với cảm tính thấy hay, nhưng nó không mơ hồ vì ta tiếp nhận rõ ràng chủ đích của tác giả muốn giàn trải sự bàng bạc, giàn trải cảm giác mơ hồ cho người đọc. Nó không gần gũi nhân sinh hiểu theo nghĩa có đề cập đến tình trai gái, hay tình quê hương, hay tình gia đình; nhưng tại sao bài hát cứ được trình diễn, người nghe vẫn thích nghe. Theo thiển nghĩ thì đây là loại nhạc vô cùng thích hợp với lời, nhà thơ và nhạc sĩ đồng điệu cố tâm diễn tả mông lung, làm bài hát tuy xa cách hiện thực (trai gái, quê hương, gia đình) nhưng gần gũi tâm trạng đôi khi vẫn có trong tâm hồn ta: tâm trạng lâng lâng không có ý thức điều gì cần thiết phải nói lên. Ví dụ như tâm trạng khi đứng dựa thành cầu thoải mái thả làn khói thuốc, ngó về xa xa chân trời lúc xế chiều, lúc ấy nào có ý nghĩ gì trong đầu óc. Nội tâm không nhất thiết phải nhớ nhà, nhớ người yêu; không phải lo lắng mưu sinh… chỉ là bâng khuâng trong trạng thái ngơi nghỉ tinh thần. Không có điều gì tiếp cận thực tiễn, vậy tại sao bài hát cứ vẫn muốn được nghe, cứ vẫn được trình diễn từ lâu rồi cho đến nay. Bởi vì trạng thái vô thực tiễn cũng là một trạng thái phải có của con người song hành cùng vô vàn trạng thái khác. Nếu không có lúc ngơi nghỉ mà cứ suy nghĩ hoài thì không phải thuộc con người chân thực. Cho nên bài hát với lời bâng khuâng sống mãi trong cuộc đời thực tế. Rõ ràng lời hát cũng chẳng phải mơ mộng về cõi nào, chẳng phải mơ mộng đến ai, chẳng phải mơ mộng đạt ước nguyện; vì mơ mộng mà có đối tượng rõ ràng thì không là lời hát bâng khuâng. Nhà thơ Huy Cận viết “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã diễn tả đúng tâm trạng ấy; còn như Tản Đà viết “vàng bay mấy lá năm hồ hết” thì nỗi buồn không phải là bâng khuâng, nỗi buồn đó có nguyên nhân. Không hiếm gì bài hát buồn, nhưng lời bâng khuâng vô định về tâm trạng thì chỉ có vài bài, như bài thơ “Chiều” của Hồ Dzếnh (do Dương Thiệu Tước phổ nhạc) và bài thơ “Màu Thời Gian” của Đoàn Phú Tứ (do nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc). Đến đây ta có dịp so sánh lời thơ của hai bài cũng đều bâng khuâng, cũng đều là hai bài thơ nổi tiếng, nhưng lời thơ của bài Màu Thời Gian sử dụng ngôn ngữ thơ có vẻ vương giả thuộc về thời quá khứ thật xa mãi tận bên Tàu, như “quân vương, dâng nàng, nép mày hoa, thiếp phụ chàng, tóc mây một chiếc dao vàng…”. Ta cảm tính thấy lời thơ tuy bâng khuâng, nhưng không phải bâng khuâng mơ hồ mà bâng khuâng một cuộc tình xa xăm cả về thời gian lẫn không gian. Bài hát không bâng khuâng đời thường nên ít được trình diễn và thưởng thức. Trái lại, bài thơ “Chiều” trở thành bài hát luôn được yêu cầu vì hợp với sự cần thiết thư giãn, lúc đầu óc ngừng lại hết mọi suy tư:

 Trên đưòng về nhớ đầy

Chiều chậm đưa chân ngày 

Tiếng buồn vang trong mây 

Tiếng buồn vang trong mây  

….. 

Tôi là người lữ khách  

Màu chiều khó làm khuây 

Ngỡ lòng mình là rừng

Ngỡ hồn mình là mây

Nhớ nhà châm điếu thuốc 

Khói huyền bay lên cây.

Trong thực tế, có những lời hát bâng khuâng như đã nói và những lời ca huyền diệu thuộc lãnh vực chưa nghiêng quá về tôn giáo, cũng được người đời yêu thích. Xem kỹ lại những bài hát huyền diệu, ta thấy đó là những bài tình ca trai gái nhưng vượt lên một bậc làm chúng như nằm giữa tôn-giáo-ca (thánh ca) và phàm-tục-ca. Tình ca được nâng lên thành những cứu rỗi thiêng liêng. Vậy huyền diệu ca là một hình thức của tình ca đôi lứa, đưa yêu đương lên cao vời. Cho nên huyền diệu ca khác với tôn giáo ca đã đành; mà còn khác với huyền ảo ca thường gắn liền với không gian, với quang cảnh. Huyền diệu ca gắn liền với nhân gian, hiển hiện bóng nam nữ. Và vì vậy mà người ta thích nghe, chúng không xa xôi lắm dù mang tên huyền diệu, thậm chí rất thực vì khi còn trẻ nếu yêu ai quá thì họ có khuynh hướng tôn thờ:

 Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời  

Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời

…..

Thuở ấy tôi như con chim lạc đàn  

Soải cánh cô đơn bay trong chiều vàng

…..

Tình yêu đã vỗ cánh rồi  

Là hoa rót mật cho đời

Chắt chiu kỷ niệm dĩ vãng  

Em nhớ gì không em ơi! 

(Nhạc Trần Trịnh, lời Hà Huyền Chi)

 Rút ra từ cảm thức những lần nghe hát bài ca này, thực sự khi chưa nghe rõ hết từng lời, nhưng ta bị lôi cuốn vào những lời huyền diệu như “đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời”, hoặc “gió phiêu du qua bao đỉnh trời”, hoặc “soải cánh bay trong chiều vàng”. Ta không mấy lưu ý những lời tình ca đôi lứa như “ái ân bây giờ là nước mắt”, hoặc “đọc lá thư xưa một trời luyến tiếc”. Tại sao như vậy? Vì những lời tình ca đôi lứa ấy đã có bao nhiêu người nói tới, chúng không đưa ta vào lãnh vực nằm lưng chừng giữa siêu hình và đời thường. Hẳn không phải chỉ nhờ tính độc đáo, từ ngữ mới lạ. Độc đáo mà không làm hồn ta đong đưa trong cảm thức tuyệt vời thì độc đáo ấy chỉ là lạ lẫm, chưa mang chất huyền diệu… Trường hợp nhà thơ Hà Huyền Chi sáng tác bài Lệ Đá khá đặc biệt: nghe bản nhạc chưa có lời, nhà thơ đặt lời nương theo âm điệu (ngược chiều với thơ phổ nhạc). Bài hát “Chiều Tím” hình như cũng trong quá trình sáng tác tương tự: nhạc có trước (của Đan Thọ) và lời đặt sau (của Đinh Hùng). Nếu vậy thì lại có thêm một trùng hợp. Nghe bài hát Chiều Tím, hồn ta chưa bị níu giữ do những lời trữ tình thông thường như “Chiều tím, chiều nhớ thương ai”  hoặc có hơi hướm chia tay thời chinh chiến cổ xưa “người ấy, lòng hướng trăng sao, hồn say chiến bào…”. Huyền diệu của bài hát tiềm phục ở những câu như có ma lực: “người em tóc dài, tình vương không gian, mây bay quan san, có hay”, hoặc xa xăm trong hành trình nhưng không thuộc cổ thời: “người đi hướng nào, tóc bay dài, gió viễn khơi”. 



 TRẦN VĂN NAM

 City of Walnut, California, tháng 4 năm 2009

 

Mùa Xuân Đầu Tiên (Tuấn Khanh) - Lê Uyên

 

_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 

 

nha_kmd_4-content

 Nhà ở Garden Grove, Nam Cali, USA


 


 

 Rộng 1713 Square feet, đất rộng trên 8000 square feet, gần Little Saigon

 Giá: $480,000.


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank