DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,463,756

Cõi Về - Đào Hiếu (Chương 10, 11, 12)

Monday, February 24, 201412:00 AM(View: 3700)
Cõi Về - Đào Hiếu (Chương 10, 11, 12)
Cõi Về




blank



Chương 10






Người đàn bà ngồi nghe chuyện với những giọt nước mắt lặng lẽ. Khi Chương dứt lời bà lau mắt, hỏi:
 - Cháu có cách gì trả tự do cho em nó không?
 Chương nói:
 - Điều đó không khó đâu bác ạ. Cái khó là Thục. Cổ dòi phải thả tên Khiêm ra thì cổ mới chịu.
 - Sao nó lại điên như thế.
 - Cô ấy rất nặng tình với người đàn ông ấy. Theo cháu thì bác nên gặp Thục mới được.
 Buổi chiều người mẹ tới gặp cô con gái ở văn phòng của thiếu uý Chương. Buổi gặp gỡ ấy chỉ có người mẹ khóc. Thục giữ thái độ im lặng. Nàng xin lỗi má và tỏ vẻ rất buồn nhưng không ân hận.
 Người mẹ nói:
 - Con không thể tiếp tục sống như hiện nay được. Con phải trở về đời sống cũ, phải là đứa con của gia đình.
 Thục đưa mắt nhìn Chương, chàng hướng mắt về phía khác rồi lặng lẽ bỏ ra khỏi phòng. Bà mẹ nói:
 - Chương nó vẫn còn thương con lắm. Nó nói với má rằng nó sẵn sàng chấp nhận con. Một người có tình như thế con còn chê nỗi gì?
 - Con không chê đâu. Nhưng đời con coi như bỏ đi rồi.
 - Nhưng nó có quan trọng chuyện đó đâu.
 Thục vẫn nhìn xuống đất:
 - Bây giờ thì con cũng chẳng quan trọng chuyện đó nữa nhưng con chán đời quá rồi. Anh Thạch cũng sống liều mạng như con vậy. Tụi con hợp nhau lắm.
 - Đừng ngông cuồng con ạ. Con có biết con hành động như thế thì ai là người khổ nhứt không?
 - Nhưng con không muốn về Sài Gòn.
 - Tao có biểu mày về Sài Gòn đâu. Mày lấy nó thì mày cứ ở Nha Trang. Có sao đâu.
 - Nhưng con không thích người ta đặt điều kiện với con như thế trong chuyện hôn nhân.
 - Ai đặt điều kiện? Đó là ý tao chớ không phải ý nó. Nó chỉ yêu cầu mày chịu ra khỏi tù thì nó thả mày ra thôi. Có ai điên như con đâu con. Tại sao con lại từ chối?
 - Vì con không muốn bỏ ảnh một mình trong tù.
 - Nó là cái gì mà mày mê nó quá vậy?
 - Con yêu ảnh.
 - Con cho tình yêu là cái gì ghê gớm lắm sao? Chuyện gì rồi nó cũng sẽ qua hết con ạ. Rồi con sẽ quên. Nó còn quên con sớm hơn nữa.
 Thục ngước nhìn má, nói một cách lạnh lùng:
 - Không bao giờ.
 Người đàn bà thở dài. Nhưng trong thâm tâm bà chưa chịu thua. Rồi chợt một ý nghĩ lóe sáng.
 - Thôi được. Cứ cho là con và nó yêu nhau cao đẹp lắm đi. Nhưng ở tù mỗi đứa một nơi thì tụi bay giúp đỡ gì được nhau.
 - Nhưng con không thể về Sài Gòn bỏ ảnh một mình ở đây được.
 - Con khỏi về Sài Gòn. Nhưng con phải ra tù, má cho con ở đây một thời gian để thăm viếng nó.
 Thục suy nghĩ một lát rồi nói:
 - Vậy thì con chịu.
 Chương bước vào văn phòng của mình. Chàng nói:
 - Bác có cần cháu đưa về không?
 - Thôi, để bác về xích lô cũng được. Thục nó muốn nói chuyện với cháu đấy.
 Chương mỉm cười, anh nói:
 - Con cũng đang rất muốn nói chuyện với Thục.
 Khi người đàn bà ra khỏi phòng thì Chương trở lại bàn làm việc của mình. Anh nói:
 - Thục à, hôm trước chúng ta nói chuyện với nhau là với tư cách bạn bè chứ không phải hỏi cung đâu. Hôm nay cũng không hỏi cung nhưng dù sao thì cũng phải có một tờ khai của Thục để lập hồ sơ. Thục đừng có phiền nhé.
 Thục cười, dịu dàng hỏi:
 - Nhưng em sẽ khai như thế nào?
 - Em hãy khai rằng em chỉ là một người đi nhờ xe của anh ta mà thôi. Mọi việc sẽ rất dễ dàng cho tôi.
 Chương mở ngăn kéo lấy ra một xấp giấy và đưa cho Thục cây bút bi.
 Thục cầm bút lên suy nghĩ giây lát rồi cắm cúi viết.
 Chương ngồi lặng thinh, hút thuốc lá.

Chương 11




blank



Vẩn Thạch rít hơi thuốc cuối cùng cho đến khi hai đầu ngón tay nóng bỏng hắn mới chịu ném cái tàn thuốc nhỏ xíu ấy đi. Nắng xế đã lên tới đầu bức tường trước mặt gần đụng hàng rào kẽm gai phía trên. Hắn để ý tới vệt nắng ấy đã gần một tiếng đồng hồ và rõ ràng hắn thấy thời gian bò đi như con rắn mối. Hắn khám phá ra thời gian không còn trừu tượng nữa mà có thực, chững chạc từ tốn, lạnh lùng trườn đi từ mấy triệu năm nay và hắn cũng cảm thấy có một cái gì trong hắn đang trườn đi theo từng nhịp đập trái tim, từng hơi thở, trườn đi về phía bên kia hoàng hôn, qua một cõi gió bụi hôn mê trước khi về thế giới của lãng quên.
 Hắn hoàn toàn chán nản có lẽ không hẳn vì cuộc sống tù túng này nhưng vì hắn thất vọng cuộc đời. Xã hội con người lộn xộn, sống như ăn cướp, sống khốn nạn còn hơn con vật. Vì thế hắn ngồi nhìn thời gian trôi đi với tâm trạng dửng dưng. Cả ngày hắn ngồi nhìn vệt nắng trườn đi từ một xó xỉnh nào đó, bò qua đống rác, leo lên chiếc xe hơi phế thải mục nát rồi mới đến bức tường xám ngoét.
 Ngày ngày hắn nhìn bọn can phạm bằng con mắt xa lạ thẫn thờ, con mắt ấy cũng đã từng nhìn những kẻ đang đi ngoài phố kia.
 Buổi sáng khi các phạm nhân được thả ra sân để làm vệ sinh thì Thạch ngồi lặng yên nơi thềm giếng nhìn loài người tranh giành nhau giữa những gánh chè cháo bún xôi để tìm một chỗ ngồi ăn trong bụi bặm. Người nào người nấy tóc tai rối bù, bẩn thỉu. Những phạm nhân già chống những que củi khô khẳng khiu, xê dịch qua lại như ma quỷ.
 Chín giờ điểm danh. Mọi người xếp hàng ngồi dưới đất. Cán bộ nói chuyện dài dòng, giảng giải lẩm cẩm một hồi, rồi lùa mọi người vào trong những khung sắt.
 Xong một buổi sáng.
 Vẩn Thạch bắt đầu quan sát vệt nắng quen thuộc của hắn từ lúc ấy cho đến xế chiều.
 Vệt nắng bây giờ chỉ còn là một vệt mờ phất phơ trên ngọn dừa cao. Một lát nữa nó sẽ biến mất. Người cai tù đi tới với xâu chìa khoá lủng lẳng. Tiếng chân của ông ta càng lúc càng gần rồi bóng ông hiện ra ngay trước cửa phòng giam Thạch. Phía sau lưng ông là một thanh niên trắng trẻo khá đẹp trai nhưng ủ rủ. Dường như anh ta mới khóc nên đôi mắt đỏ hoe.
 Người cai tù mở cửa, rút cây sắt ra. Ông ta già cả, lụm khụm, phải cố gắng lắm mới đẩy được cánh cửa. Giọng ông đầy mùi rượu:
 - Vô đi. Quỷ nhỏ.
 Người thanh niên lách mình vô phòng. Lão già lại hì hục đóng cửa rồi chầm chạp bỏ đi.
 Thạch hỏi người thanh niên nọ:
 - Thẩm vấn gì lâu vậy?
 - Không. Em mới về nhà.
 - Sao sướng vậy?
 - Có người bảo lãnh.
 - Vậy mà khóc nỗi gì?
 Nhưng anh bạn trẻ lại ràn rụa nước mắt, ngồi bệt xuống góc tường ngay sau lưng Thạch. Thạch hỏi:
 - Người yêu bỏ đi lấy chồng phải không?
 Người thanh niên chồm tới:
 - Trời ơi! Sao anh biết? Chắc em chết quá anh ơi.
 - Thôi, nín đi. Kiếm người khác.
 Anh ta khóc rống lên.
 Thạch gom được một ít thuốc lá lấy từ những tàn thuốc người ta vứt xuống đất. Hắn hỏi người thanh niên nọ:
 - Có giấy không. Xin một miếng.
 Anh bạn trẻ không trả lời, mò mẫm trong túi một lúc rồi lôi ra một tờ giấy bằng bàn tay đưa cho Thạch. Hắn tiếp lấy, thấy tờ giấy có đóng dấu đỏ liền đưa ra ngoài sáng coi. Thì ra đó là cái giấy phép xuất trại. Tờ giấy đơn giản đến độ làm Thạch ngạc nhiên. Nó chỉ vẻn vẹn có mấy hàng chữ viết tay của viên quản đốc nhà giam, nội dung như sau:
 Quản đốc Trung tâm K.35. Cho phép phạm nhân Lê Xuân Cang được ra cổng. Lý do: Về giải quyết việc nhà. Kể từ 14 giờ ngày 20 tháng 8 năm 1987 đến 16 giờ cùng ngày.
 Phía dưới chỉ có một con dấu đỏ và chữ ký nguệch ngoạc của người quản đốc.
 Thạch vấn tờ giấy cho thành điếu thuốc nhưng cất vào túi áo, không hút, mặc dù hắn đang thèm thuốc đến chảy nước miếng.
 Hồi kẻng vang lên báo hiệu giờ ăn chiều.
 Thạch không tham dự vào cuộc giành giựt ấy. Hắn cầm cái ca nhựa ra sau bếp đứng nhìn đống rác.
 Những người nấu bếp la lối:
 - Đi chỗ khác, lẩn quẩn làm gì đó.
 Thạch nói:
 - Có miếng gỗ nhỏ nào cho xin miếng.
 Gã đầu bếp nói:
 - Cơm cháy thì có.
 Thạch bỏ đi, dùng chân xới đống rác lên như gà bươi. Lon bia, gốc rau muống, đầu cá, lông gà, dép đứt quai… A! Một chiếc guốc mộc gãy, Thạch nhặt lên bỏ gọn vào túi quần rồi vội vàng chạy lại bàn ăn nơi bọn cướp giựt đĩ điếm xì-ke đang tranh giành. Thạch xúc một chút cơm vô cái ca nhựa, đứng lùi ra sau nhai uể oải cho hết giờ.
 Những dãy người lại ngồi san sát nhau, đen thui như mộ bia ngàn đời bị bỏ quên trong nghĩa địa.
 Bài giảng đạo đức kết thúc và mọi người trở vào phòng giam. Lát sau Thạch được gọi ra gặp người nhà.
 Đó là một người đàn bà xa lạ. Bà ta nói:
 - Tôi là má của Thục.
 - Chào bác, Thạch nói. Bác đã thăm được Thục chưa?
 - Rồi. Tôi ra để bảo lãnh cho nó về Sài Gòn. Đáng lẽ nó đến đây thăm anh nhưng nó bận đi công việc với chồng nó nên nhờ tôi đến gởi anh chút quà và chúc anh gặp nhiều may mắn.
 Thạch ngồi lặng thinh, rồi hắn nói:
 - Những điều bác nói làm cháu rất bất ngờ. Thế Thục có viết thư cho cháu không?
 - Không. Thôi, chúc cậu khỏe nhé. Tôi phải về đây.
 Người đàn bà nói xong quay lưng đi liền.
 Thạch nhún vai, không ngó ngàng gì đến giỏ quà nhưng vì hắn không được phép để giỏ quà lại nên phải xách vào trại. Hắn lục soạn các thứ xem có thư từ gì của Thục không nhưng chỉ có mấy thứ đồ ăn, trái cây và thuốc lá.
 Khi đi ngang chỗ lão già gác cổng ngồi, Thạch chuồi cho lão mấy bao thuốc jet và một lô thịt cá hộp. Lão già hơi ngạc nhiên nhưng hắn nói:
 - Cháu có nhiều lắm.
 Rồi hắn xách giỏ quà vô trại.
 Người thanh niên bị bồ bỏ đang ngồi khóc thút thít trong xó. Thạch thảy cho anh ta trái táo rồi lấy điếu thuốc rê vấn lúc nãy ra, đổ bỏ hết thuốc xong nhét tờ giấy vào túi áo. Hắn nằm dưới đất ngủ thiếp đi.
 Nửa đêm tất cả đều im lặng. Ngoài sân trại giam không một bóng người. Gió rầm rì thổi. Hắn cảm nhận sự xa cách khốc liệt với bên ngoài và hiểu ra rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại Thục nữa. Cũng như những người đàn bà khác. Thục cũng sẽ chỉ còn là kỷ niệm. Hắn thao thức cho tới sáng, cho tới lúc mặt trời vừa ló và hồi kẻng vang lên inh ỏi.
 Vẩn Thạch ngồi dậy, xem xét lại tờ giấy trong túi áo, xong nối đuôi theo mọi người ra xếp hàng ngoài sân điểm danh.
 Sau đó hắn đi vào cầu tiêu lấy mẩu gỗ, mảnh giấy và một con dao nhỏ ra, cất ở một chỗ kín trên mái rồi bước ra sân.
 Cái cầu tiêu chật hẹp và hôi thúi ấy biến thành phòng làm việc hàng ngày của hắn. Làm con dấu giả là nghề của hắn, nhưng làm trong một điều kiện khắc nghiệt như thế thì hắn chưa từng trải qua. Trên mảnh gỗ của đôi guốc mộc, mỗi ngày khắc một vài chi tiết, hắn rị mọ làm suốt tuần mới xong công việc. Sau đó là phải giả tự dạng của viên quản đốc trại giam. Đến chiều ngày thứ tám hắn mới hoàn tất công trình của mình. Dĩ nhiên tờ giấy mang tên hắn, ngày giờ ra cổng được hắn nghiên cứu cẩn thận. Hắn chọn giờ ăn trưa để hành động và nếu mọi việc trôi chảy thì hắn sẽ ra đến thành phố chậm nhất là 13 giờ.
 Hắn dùng thuốc đỏ để in con dấu. Thuốc đỏ ấy hắn xin được ở trạm xá. Tuy dụng cụ thô sơ nhưng con dấu hắn làm cũng khá sắc sảo và giống như thật.
 Đúng như hắn dự tính, khi kẻng báo giờ ăn vang lên và lão già xách xâu chìa khoá đến mở cửa thì hắn bám ngay lấy lão. Thấy mặt hắn lão biết rằng mình sắp được món nhậu hay ít ra cũng gói thuốc như thường lệ. Lão vui vẻ hỏi:
 - Đêm qua ngủ được không?
 - Ngủ ngon lắm. Nhưng ăn thì không được. Bác thấy cháu thường ra ăn ở căng tin.
 Lão nói:
 - Đó là cậu có tiền nếu không thì cũng như người ta.
 Thạch vỗ vai lão:
 - Xin phép bác cháu lại căng tin một tí nhé.
 Lão phất tay cho Thạch đi.
 Nhưng hắn không đến căng tin. Hắn tiến ngay ra cổng, chìa tờ giấy phép.
 Hắn tưởng mình sẽ bị hạch hỏi lôi thôi nhưng không, người lính gác chỉ nhìn qua tờ giấy rồi phất tay cho Thạch bước ra.
 - Nhớ vô đúng giờ. Người lính nói.
 - Bảo đảm mà.
 Thạch biếu anh ta một gói jet rồi xăm xăm đi ra đường cái. Khi đã đi khuất sau những lùm cây hắn bước nhanh như chạy. Năm phút sau hắn đón được một chiếc Honda thồ và bảo chở về Cam Ranh.
 Hơn hai giờ chiều hắn đã có mặt trong khu vườn của mình, nơi túp lều tranh hắn và Thục đã sống hai tuần lễ thần tiên. Hắn nằm gục mặt xuống chiếc giường tre đầy bụi bặm. Vất vưởng trong trí hắn mùi thơm quen của mái tóc dày.
 Tuy vậy hắn biết là mình không có nhiều thì giờ nấn ná ở đây. Hắn bật dậy ngay, ra sau bếp lấy cái cuốc chim, đi lẫn vào vườn chuối. Hắn dừng lại chỗ cây chuối tiêu nhỏ nhất và bắt đầu đào bới. Hắn lôi từ dưới hố lên cái hộp sắt trong đó có một gói giấy được bọc nylông bên ngoài. Hắn mở gói giấy, kiểm tra lại số vàng và những giấy tờ tuỳ thân rồi bỏ gọn vào túi.
 Nửa giờ sau hắn đã có mặt trên một chiếc xe tốc hành chạy đường Nha Trang Sài Gòn. Hắn ra đi với một cái tên mới.


Chương 12



blank



Hơn bảy giờ tối xe mới đến Sài Gòn. Vẩn Thạch gọi xích lô đến trung tâm thành phố thuê một căn phòng trên lầu bốn một khách sạn sang trọng. Người nữ thư ký của khách sạn mặc áo dài đen quần đen mặt đánh phấn lòe loẹt tiếp hắn một cách mệt mỏi. Hắn thuê căn phòng 403 với cái tên mới: Trần Dũng.
 Bồi phòng là một cô bé trạc mười lăm mười sáu tuổi ăn mặc cũn cỡn, ngổ ngáo. Cô bé dẫn Trần Dũng lại cửa thang máy. Hai người bước vào và khi đi lên, cô bé hỏi:
 - Anh cần người ngủ chung không?
 - Cám ơn. Đi đường quá mệt.
 Hắn nói một cách lơ đãng. Lúc vào phòng hắn không cần xem xét phòng ốc giường nệm toa lét ra sao cả, hắn đóng ập cửa lại rồi để nguyên quần áo giày vớ như thế nằm bất động nhắm mắt. Hắn ngủ đến chín giờ tối mới sực tỉnh. Hắn dậy tắm rửa và định thay quần áo sạch để đi phố nhưng chợt nhớ ra rằng mình chẳng có một tí hành lý nào cả ngoài cái gói giấy trong túi quần. Hắn đành mặc quần áo cũ trở lại nhưng không mặc đồ lót vì quá bẩn thỉu.
 Có tiếng gõ cửa bên ngoài, hắn nghĩ là cô bé lúc nãy nên không mở cửa. Tuy vậy tiếng gõ cửa lại vang lên lần này lại gấp rút hơn. Hắn bực mình đến mở cửa thì chạm mặt một người ngoại quốc.
 - Xin lỗi, tôi lộn phòng.
 Trần Dũng nhún vai đóng cửa lại, lại giường mang giày và đi xuống phố. Hắn ghé nhà hàng ăn cơm và vào một cửa hàng ở đường Lê Lợi mua tạm một bộ đồ tây may sẵn với mấy cái đồ lót. Xong việc hắn về ngay vì đã khuya.
 Lúc bước ra thang máy hắn gặp lại người ngoại quốc lộn phòng lúc nãy. Anh ta có vẻ trầm ngâm, đứng tì tay lên bao lơn ngó xuống khoảng sân nhỏ. Thấy Trần Dũng đi ngang qua gã gật đầu chào, nụ cười rất dễ mến. Những ý nghĩ xấu về gã chợt biến đi. Trần Dũng hỏi gã bằng tiếng Anh:
 - Anh là người Liên Xô?
 - Không. Tôi là người Ý.
 - Vừa rồi anh có xem những trận tranh tài Italy 90 không?
 - Có. Nhưng chỉ qua truyền hình.
 - Vậy anh sang đây đã lâu?
 - Vài tháng.
 - Anh ở Hà Nội mới vào?
 - Không. Tôi vừa đến từ Pleiku. Tôi có một người bạn Pháp ở Sài Gòn.
 - Một người Pháp? Tôi quen khá nhiều người Pháp ở Sài Gòn. Trước giải phóng tôi làm ở đồn điền cao su Plantation de Terre rouge.
 - Ồ, gã kêu lên rồi ngưng bặt như thể đã lỡ lời, gã nói:
 - Sài Gòn dạo này buồn hơn những năm trước.
 Trần Dũng cảm thấy câu chuyện như thế đã đủ hắn chào người Ý nọ và trở về phòng mình.
 Sáng hôm sau hắn ăn điểm tâm qua loa rồi đến bưu điện Sài Gòn đánh điện đi Đà Nẵng cho một người bạn, ở đó tình cờ hắn gặp lại bà Monique, người đàn bà Pháp trên chuyến phi cơ bị nạn ngày trước. Bà ta gần như kêu lên khi nhận ra hắn. Và ở cái tuổi bốn mươi, bà trông cũng chưa đến nỗi nào. Bà Monique hỏi:
 - Lâu nay anh không trở lại Đà Lạt?
 - Không. Tôi bận nhiều việc lắm.
 Hai người đã ra đến đường cái. Người đàn bà vui mừng thấy rõ. Bà hỏi đủ thứ chuyện và than phiền là người Việt Nam rất khép kín. Trần Dũng nghĩ ngay đến cái bi kịch “ở vậy” của bà ta suốt bốn mươi năm cuộc đời, hắn nhìn bà ta bằng đôi mắt ái ngại. Hắn hỏi:
 - Về Sài Gòn bà ở đâu?
 - Khách sạn. Nhưng bây giờ tôi sắp đến nhà một người quen. Nếu không có gì trở ngại mời anh cùng đi, sau đó chúng ta đi ăn.
 Hắn thấy một đề nghị như vậy cũng nghe được nên bằng lòng.
 Hai người thả bộ dọc đường Đồng Khởi.
 Nơi đến là một căn lầu thụt sâu phía trong. Phía trước có vẻ chật hẹp nhưng bên trong khá rộng rãi nhờ ăn thông với một cái sân thượng.
 Một người đàn ông da trắng đang ngồi dựa ngửa trên chiếc ghế mây lớn, hai chân lão duỗi ra cho một người đàn bà Việt Nam làm móng chân. Cảnh đó là Trần Dũng thấy khó chịu. Hắn chào lão ta nhưng lão không chào lại, môi ngậm ống điếu to tổ bố, mặt lão đầy thịt, đầu hói. Nói chung lão có đầy đủ vẻ đáng ghét của một tên thực dân.
 Người đàn bà Pháp nói chuyện gì đó một lát rồi đưa cho lão một cái thư không dán tem xong chào hắn, lui ra. Trần Dũng xoay lưng đi thẳng. Hắn nói với bà Monique:
 - Tôi khó chịu về thái độ của ông ta.
 - Ồ, người đàn bà cười, ông ta thuộc lớp trước mà.
 Hai người đi rất nhanh qua dãy hành lang hẹp. Một người đàn ông cao lớn từ phía thang máy đi lại. Khi đến gần Trần Dũng mới nhận ra đó chính là người Ý mà hắn đã gặp ở khách sạn đêm qua. Cuộc chạm trán bất ngờ không thể tránh né được. Hai người chào nhau.
 Không hiểu do kinh nghiệm nghề nghiệp hay do linh cảm mà Trần Dũng lại nghĩ ngay gã là một tên buôn lậu ma tuý. Người Ý nói:
 - Thật bất ngờ.
 - Chẳng bất ngờ gì. Trần Dũng cười. Tôi hiểu:
 Hắn cảm thấy khoái chí khi nói xong câu ấy. Người Ý nọ liền đứng dậy, gã nhỏ nhẹ hỏi:
 - Bạn hiểu à?
 - O.K. Ông nhớ tôi là người Việt Nam mà.
 - Tốt lắm. Sáng mai gặp lại ở khách sạn nhé. Ta nói chuyện nhiều.
 Trần Dũng nghĩ, nghề buôn lậu bạch phiến đối với hắn quả là một nghiệp chướng. Tuy vậy hắn lấy làm thích thú, khe khẽ ngâm:
 Chém cha cái số ba đào.
 Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi.
 Bà Monique tưởng hắn nói gì nghe không rõ nên hỏi lại. Hắn đáp:
 - Tôi chợt nhớ ra hai câu thơ của một thi sĩ thiên tài Việt Nam.
 Thế là người đàn bà hỏi tới tấp về Nguyễn Du. Rồi cũng như lần gặp trên phi cơ cách đây hai năm, bà tỏ ra là một người rất thích thơ văn, âm nhạc. Trần Dũng phải lái câu chuyện sang hướng khác.
 - Trưa rồi. Chúng ta đi ăn một cái gì.
 Trời đang nắng ráo bỗng tối sầm lại. Gió cuốn lá bay tạt vào cửa kính. Đèn trong nhà hàng bật sáng. Trần Dũng cảm thấy thú vị trong căn phòng ấm cúng ấy. Người bồi bàn đến bên bàn, cúi chào và đưa bản thực đơn. Những món ăn Tây đối với hắn không có gì xa lạ. Bà Monique tỏ ra khâm phục sự sành ăn của hắn. Chiều nay hắn muốn ngồi rỉ rả nhâm nhi nhìn mưa rơi bên ngoài để nhớ lại những ngày sống như thú vật ở trại giam, và để gặm nhấm cái cuộc đời ba chìm bảy nổi của hắn từ hồi để chỏm chăn trâu nhịn đói nhịn khát cho đến bây giờ.
 Cơn mưa đến vội vã và ào ạt lúc nãy bây giờ trở nên rả rích, thủ thỉ hiền lành,
 Sài Gòn âm u trở thành người tình xưa rất buồn.
 Bàn tay hắn cầm ly rượu ngọt uống liên tục, chếch choáng. Trong cơn say bao giờ hắn cũng cảm thấy cô độc. Không nhớ ai cả nhưng buồn. Hắn hiện nguyên hình là một trẻ mục đồng ngủ quên trên đồi cỏ. Hắn say đến độ không biết mình đã về khách sạn từ lúc nào chỉ thấy một căn phòng xa lạ và lộng lẫy. Bà Monique đỡ hắn nằm xuống giường của bà. Tuy vậy bà không tỏ ra khó chịu. Bà lấy cho hắn một cốc nước lạnh, hắn uống từ tốn và mỉm cười với bà. Trước mặt hắn không phải là người đàn bà đẫy đà nữa mà là một cô gái trẻ xinh đẹp. Hắn đắm chìm trong mùi nước hoa quyến rũ. Hắn quàng tay ôm lấy thân thể người đàn bà, dường như bà ta nói cái gì đó hắn nghe không rõ. Có lẽ là những lời phản đối. Nhưng sự thèm muốn của hắn mạnh hơn những lời ấy rất nhiều. Một lát sau người đàn bà đã nằm gọn trong tay hắn. Lúc ấy hắn biết là mình đang ôm bà Monique. Người đàn bà bị cuốn vào cơn mê đắm rất nhanh, rất bất ngờ và đầy thú vị. Bởi đó là lần đầu tiên trong suốt bốn mươi năm của cuộc đời, bà biết thế nào là nhục cảm. Bà vùng dậy như một con khủng long sau một ngàn năm ngủ quên. Bà ngây ngất trong cảm giác đê mê và ngượng ngùng, trong sự khoái lạc và cơn đau của trinh tiết. Tất cả những thứ đó làm bà muốn phát điên lên.
 Họ nằm ngủ cạnh nhau từ trưa cho đến tối mịt.
 Trong bữa ăn tối bà Monique có vẻ ngượng ngùng nhưng lại rất dịu dàng với hắn. Riêng Trần Dũng, hắn vẫn chưa ra khỏi những ý nghĩ khôi hài về một đêm tân hôn như thế. Nó kỳ quặc không phải vì mọi sự đã diễn ra khác thường nhưng vì nó đã rất đúng khuôn mẫu: Vết máu trên tấm ra trắng, sự e thẹn. Đó là điều kỳ quắc đối với một người đàn bà phương tây bốn mươi tuổi. Hắn ôm ngang lưng người đàn bà, ngước nhìn bầu trời đã quang mây, lấp lánh sao.
 *
 Trần Dũng tiếp người Ý nọ trong phòng ngủ của hắn. Trên bàn có mấy lon bia Tiger và một cái gạt tàn thuốc. Người Ý nói:
 - Tôi gặp bạn như một định mệnh. Đang cần một người cộng tác lại gặp ngay kẻ rành nghề.
 - Sao anh biết tôi rành nghề?
 - Thì cũng như trường hợp anh khám phá ra nghề nghiệp của tôi. Chúng ta hiểu nhau quá mà.
 - Nhưng tôi không ưa lão ta.
 Người Ý mở to mắt, cao giọng:
 - Lão nào?
 - Lão Tây già ở đường Đồng Khởi. Tên lão là gì. Dường như tôi nghe bà Monique gọi hắn là Rambert thì phải. Nói thiệt với anh, tôi không thích cộng tác với một người như lão.
 - Cộng tác gì. Lão ta chỉ là khách hàng thôi.
 - Ồ, thế à. Trông lão có vẻ là một chủ nhân. Nhưng thôi ta đi vào vấn đề. Bạn cần nguồn tiêu thụ phải không?
 Người Ý nốc cạn lon bia, nói:
 - Không, cái đó đã có người lo. Tôi muốn bàn đến tận gốc.
 - Gốc nào. Trần Dũng hỏi:
 - Tận bên Lào. Dám chơi không?
 - Nói điều kiện đi.
 Người Ý nói:
 - Dễ mà. Bạn tải hàng từ Paksé tới biên giới. Chúng tôi sẽ đón ở đó. Bạn đã từng cầm súng phải không?
 - Việt Nam là xứ chiến tranh mà. Trẻ con cũng biết cầm súng. Mỗi chuyến đi mấy người?
 - Ba người. Chúng tôi áp dụng chiến thuật du kích của Mao.
 - Nhưng các ông sẽ trả công bao nhiêu một chuyến?
 - Ba mươi ngàn đô la.
 Trần Dũng im lặng. Hắn nhíu mày rồi nói:
 - Từ Paksé đến Pleiku cũng phải mất ròng một tháng. Đi bằng voi phải không?
 - Phải. Mỗi chuyến một tấn hàng.
 Trần Dũng khui lon bia mới, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch. Hắn ném cái vỏ vào giỏ rác.
 - Thôi được, hắn nói. Ngày mai cũng vào giờ này chúng ta sẽ gặp lại. Tôi sẽ trả lời dứt khoát.


Đào Hiếu
(còn tiếp)



Biệt Ly. Doãn Mẫn. Thu Hà

 

 

_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank