DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,526,978

Vĩnh Biệt Võ Đông Sơ - Hoàng Nga

Saturday, March 22, 201412:00 AM(View: 6374)
Vĩnh Biệt Võ Đông Sơ - Hoàng Nga

Vĩnh Bit Võ Đông Sơ



blank

 


Đưa tiễn nào hay rẽ chia

Cách trở hận muôn đời

Nói nữa chi thêm nghẹn lời…

(Viễn Châu)

 

 

Hai chị, mỗi chị lớn hơn tôi hai, ba tuổi. Tôi học hụt hơi vẫn không thể đứng đầu lớp. Hai chị, chia nhau thứ hạng nhất, hạng nhì mỗi tháng.

Tôi buồn lắm. Bởi vì phải chi tôi học dở gì cho cam. Lúc nào cũng đứng đầu lớp. Nhưng từ khi hai chị vào lớp tôi, một chị thành trưởng lớp, một chị thành người… cạnh tranh với người kia, thì bỗng dưng coi như không kèn không trống, tôi bị… ra rìa.

Tôi buồn hai chị. Tôi buồn cho “thân phận” mình. Sinh ra đời dưới một vì sao xấu, khi không bỗng có hai người học giỏi hơn mình vào học chung một lớp! Tôi không biết nên trách ai, hận người hay hận đời. Hay hận cho chính mình tài hèn sức mọn. Nên vì vậy có đôi khi nghĩ hoài không ra, tôi bèn trở thành… tiểu nhân, cứ mong cho hai chị bị đau ốm, bịnh tật gì đó. Cứ mong được có cơ hội leo lên một thứ bậc nhất nhì trong bảng danh dự cuối tháng. Cứ ước ao được trở lại thứ hạng thường có, “ngày xưa”.

Tôi mong và tôi ra sức học. Nhưng kỳ lạ, bịnh thì bịnh, nghỉ học thì có nghỉ học, vắng mặt thì có vắng mặt, thậm chí có khi đến cả vài buổi không hiện diện trong lớp, vậy mà không hiểu sao hai chị vẫn không chịu… xuống cấp. Không hiểu sao hai chị vẫn bình an như vại, cuối tháng vẫn cứ được cô giáo kêu lên trước lớp để lãnh bảng danh dự trước… tôi!

Tôi học với hai chị hai năm cuối bậc tiểu học, trầm trầy trầm trật như người leo ngược dốc đến tàn hơi kiệt sức, đến buồn không biết để đâu cho hết. Cho tới lúc biết ra thêm một chuyện, là chị nào cũng hát cải lương rất hay, tôi đã trở thành như một con mèo ốm. Từ buồn, tôi chuyển sang… tủi thân. Từ buồn, chuyển qua… tuyệt vọng. Bởi vì tôi biết chắc chắn mình đã không được sinh ra để thành một nghệ sĩ ca cải lương nên muôn đời sẽ không bao giờ có một giọng ca truyền cảm ngọt ngào để lúc xuống xề làm rơi nước mắt người nghe, làm mủi lòng khán giả, trong khi đó thì chị Hòa là người nam, ba đi lính đổi ra miền trung lâu năm nhưng vẫn người gốc “trong đó”, nên tiếng ca của chị mùi mẫn không chịu được. Khi chị xuống xề, chúng tôi, đứa nào nghe cũng muốn rụng tim. Và lúc chị làm Võ Đông Sơ “đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu… Hà”, thì đứa nào cũng muốn vỗ tay! Vào cái thuở tôi mới chỉ biết “gánh nước đêm trăng”, mới chỉ biết hát ca “tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài, hay đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây”, và chỉ mới biết lơ mơ những giọng ca Tấn Tài, Út Trà Ôn, Thanh Nga, cùng vài ba nghệ sĩ khác qua mấy ông cậu vốn mê cải lương, thì hai chị đã thuộc làu “biên cương lá rơi Thu Hà em ơi”, đã biết Thuyền Ra Cửa Biển... Gần như tuồng nào của Thanh Nga, Thanh Sang, hay Lệ Thuỷ, Mỹ Châu, Minh Phụng, Minh Vương đóng, chị cũng biết và có khi còn thuộc nằm lòng từng câu từng chữ.

Chị Hòa thì vậy, còn chị Nga mà cả lớp đều gọi là Nga lớn để phân biệt với tôi, vì chị vừa lớn tuổi hơn, mà vóc dáng cũng cao ráo -chị cao hơn tôi cả cái đầu, là dân Quảng chính hiệu con nai vàng ngơ ngác nhưng cũng được trời phú cho cái giọng hát nức nở không kém gì chị Hòa . Và có lẽ chị còn được chị Hòa chỉ dẫn, nên giọng ca tiếng hát của chị cũng như con nhà nòi, y hệt như những nghệ sĩ cải lương đồng ấu!

Mê cải lương, mê hát, chị Hòa lại rất khéo tay. Chị rủ chị Nga lập… gánh hát, đào kép chính là hai chị và thỉnh thoảng cho đám con nít trong xóm bình thường vẫn là khán giả, được đóng một vai nào đó. Chị Hòa làm vương miện, mão vua bằng giấy cứng rồi dán lên đó những cọng thép có quấn len ở chung quanh với những hạt cườm lóng lánh. Chị Nga thì lấy chỉ thêu tết bím đủ màu, hay nhuộm lông gà thành màu xanh màu đỏ để chị Hòa gắn vào quạt cho quận chúa, công nương. Cái sân khấu nhỏ của hai chị, là một khoảnh đất trống ba chị Hòa đắp khá cao hơn sân để mẹ chị phơi bánh tráng, khi diễn tuồng, hai chị dẹp bớt những liếp tre qua một bên. Khán giả ngồi dưới đất, nhìn thấy rõ cả chân “nghệ sĩ” không mang dép đi qua đi lại ở bên trên. Nhưng điều kỳ lạ ở chỗ sân khấu không có màn, không có cánh gà, nghệ sĩ không được ai nhắc tuồng, vậy mà chưa hề bị… tổ trác bao giờ!

Lẽ ra tôi đã phải ghét hai chị vì bị tranh mất chỗ đứng trong hai năm cuối tiểu học như vậy, nhưng có lẽ khi khám phá ra hai chị tài ba quá, nên từ âm thầm ngưỡng mộ, tôi chuyển qua mến hai chị. Biết nhà hai chị không khá, tôi hay mang lên lớp những thứ đồ hai chị cần dùng cho những “vở tuồng” không bao giờ được trả công ngoại trừ những tràng vỗ tay của con nít hàng xóm. Tôi tặng hai chị từ những thanh “gươm báu” bằng nhựa chôm của hai thằng em, cho đến quạt tẩm trầm hương xin của mẹ, hay len vụn của chị tôi. Có một lần thấy chị Hòa lấy một khúc tre ngắn làm bút lông để diễn tuồng, tôi còn cả gan dám về nhà “dớt” cây viết lông ba tôi dùng để viết chữ Hán đặt mua từ Hồngkông, mang lên cho hai chị. Cũng may mà khi thấy cây viết quá đẹp, được đựng trong hai ống tre óng chuốc đậy vào với nhau và phía bên trên còn có gắn cái ngù bằng lông phượng, chị Hòa trả lại không dám lấy, chứ không chắc thế nào tôi cũng bị vài roi vào đít vì cái tội lanh chanh.

Nhà chị Hòa và chị Nga ở gần nhau. Nhưng lại xa nhà tôi và còn sâu trong hẽm nhỏ, nên mỗi bận hai chị thông báo cho biết sẽ diễn tuồng, là tôi phải xin phép ba mẹ và bị bắt buộc phải đi chung với chị người làm. Lúc đầu bị mất giấc nghỉ trưa, chị người làm có vẻ không thích, nhưng về sau, lúc đã được nhiều lần thưởng thức tài nghệ của bạn tôi, thỉnh thoảng chính chị lại hỏi “sao lâu quá không thấy tụi nó đóng tuồng”. Và cũng như tôi, khi làm “khán giả”, chị đã ngồi xem rất cẩn thận, say mê và về sau thì nhận xét:

- Con Hòa mà được tập dợt kỹ lưỡng và có cơ hội tham gia đoàn hát, dám có thể trở thành đào chánh lắm.

Chị Hòa được khen có triển vọng trở thành đào chánh, những tưởng “tương lai” của chị sáng rỡ lắm. Tôi ngưỡng mộ giọng hát ấm mượt của chị Hòa như ngưỡng mộ một nghệ sĩ thứ thiệt. Cái tiếng ngân của chị mặn mà cho đến cả những thanh âm cuối cùng. Đến nỗi có đôi khi tôi còn tưởng tượng chị được trở thành một ngôi sao sân khấu, như Thanh Nga, Bạch Tuyết…

Tuy nhiên điều oái oăm là khi đóng chung với chị Nga lớn, chị lại không được thể hiện những vai đào thương tuyệt kỹ, mà lại phải làm kép mùi. Lý do chỉ vì chị Nga gầy và cao lêu nghêu, giọng lại hơi lanh lảnh, khi đóng kép mùi bị “khán giả” chê… gà mái quá. Tôi còn nhớ rõ như in lần chị Nga vừa mới kêu lên ba chữ “Bạch Thu Hà!”, bắt chước cách kêu não nề của Minh Cảnh trước khi vào nhạc “biên cương lá lá rơi Thu Hà em ơi”, đáng lý ra phải được khán thính giả động lòng rơi lệ và vỗ tay tán thưởng, thì ngược lại, tụi nhóc ngồi ở dưới khán đài gào lên như ai oán:

- Éo quá, éo quá! Chị Nga nói mấy chữ này éo quá!

“Éo quá”! “Éo quá”! Hai cái chữ thiệt tình không có gì tượng thanh và tượng hình hơn được. Nó gần như lột tả thật chính xác cái cường độ âm thanh phát ra từ thanh quản của chị Nga. Và phần nào đó, đã vẽ lên được một… sự thật rất phũ phàng về cách diễn của người “nghệ sĩ” đóng vai nam…, không trống không mái, mà “éo”! Sau đó, tiếp sau những tiếng kêu ai oán “éo quá”, là một màn phản đối ầm ĩ như thể tụi nhóc đã trả một số tiền vé quá đắt mà lại phải nghe một ca sĩ hạng nhì trình diễn, đến nỗi chị Hòa phải cho ngừng “xuất hát” nửa chừng để xin lỗi, rồi hứa sẽ đổi vai cho chị Nga, hai chị mới được yên thân tiếp tục cho đến hết tuồng.

Tôi thuở đó dẫu không đến nỗi bất lịch sự la làng la xóm như những đứa khán giả láng giềng của hai chị, nhưng cũng phải công nhận chị Nga không thể nào đủ trình độ như nghệ sĩ… Kim Chung hay Phùng Há đóng giả vai nam được. Vì vậy từ đó, ngoài An Lộc Sơn, Lương Sơn Bá, chị Hòa trở thành người… chuyên trị Võ Đông Sơ.

Chị Hòa thuộc nằm lòng Võ Đông Sơ. Chị nhớ đến từng nét chấm phá trong bài vọng cổ. Lạ một điều là ngày ấy không có internet cũng không có CD để nghe đi nghe lại, hay xem đi xem lại vai này đã được diễn như thế nào, nhưng tôi nhớ chị đã diễn xuất thật xuất thần. Từ cái điệu bộ của một Võ Đông Sơ đau đớn khệnh khạng bước ra sân khấu cho đến lúc rút cái tiễn bị ghim vào ngực, thì chị Hòa cũng làm giống hệt như… diễn viên. Lúc chị “cảm thấy một vùng trời đất hình như đảo lộn, máu đào tuôn ướt đẫm nhung bào…”, thì chúng tôi cũng lảo đảo quay cuồng bởi chị đã nhập vai không kém gì Minh Phụng đầy kinh nghiệm sau này .

Chị Hòa diễn hay đến nỗi tôi cũng muốn thuộc làu Võ Đông Sơ. Tôi nói với chị người làm đi mua giùm tôi tập cổ nhạc. Chị mang về một tập giấy mỏng có in hình bìa của nghệ sĩ Minh Cảnh, Lệ Thuỷ, phía bên trong có lời hát. Và không biết tôi đã miệt mài tập bài vọng cổ ấy đến bao nhiêu lần mà cuối cùng tôi cũng thuộc từng chữ kể cả những chữ chẳng hiểu gì hết như câu “từ đây nàng có nhớ đến ta hãy ngâm câu ‘Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu – Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi’…”.

Cuối năm tiểu học, hai chị vùi đầu học thi vào trường công. Ba tôi nói có đậu tôi cũng phải học trường tư, nơi có xe buýt của trường đón đưa như anh chị tôi ngày trước nên tự dưng thế giới của hai chị và tôi bỗng tách rời ra thêm một chặng. Tôi không có cái bận rộn của “tử sĩ”. Tôi hoàn toàn không có cái lo âu của người đứng trước một khúc ngoặc của cuộc đời. Tôi thong dong đi học như chỉ để không quên mình đã được dạy những gì. Thỉnh thoảng nhớ hai chị, tôi muốn nhờ chị người làm dẫn đi thăm nhưng chị người làm nói “người ta bận rộn, không có thì giờ cho em đâu”. Thế là tôi chỉ còn biết rầu rĩ vào ra một mình, “khóc than riêng em một mình”…

Mùa hè năm ấy, hai chị đậu vào trường công của thị xã. Và dẫu ở cùng một thành phố, mà tôi xa hai chị vạn dặm. Chẳng mấy khi tôi gặp lại bạn cũ. Cũng chẳng biết hai chị đã làm gì trong khoảng thời gian ấy, cho đến hôm thấy chị Nga trên đường đi mua sách vở đầu niên khoá. Tôi mừng như bắt được vàng. Tuy nhiên thấy chị Nga mặc áo dài trắng, tóc xoã trên vai, tôi cứ ngẩn ngơ nhìn mãi. Chị, trong mắt tôi, lạ không thể tưởng được. Chị, trong mắt tôi, như đã trở thành một người lớn thật sự.

Mà hình như ngược lại thì chị Nga cũng thấy tôi có vẻ không phải là con bé gắng mãi vẫn không thể vượt hơn được hai chị. Chị đã nhìn tôi như nhìn một người không quen nào đó. Tôi hỏi chị sao đi một mình. Chị không trả lời, nhưng lại tôi có phải là bạn thân của cô con gái bà nhà sách lớn nhất thị xã, nơi tôi và chị đã gặp nhau hay không. Tôi đáp hai đứa chỉ học chung. Chị ngẩn ngơ không nói gì, và có vẻ không muốn nói chuyện thêm. Tôi đã phải gặng mãi, cuối cùng chị mới nói nhà chị Hòa bận rộn, có lẽ sẽ dời đi vì ba chị Hòa đổi ra Quảng Trị.

Những tháng năm ấy, cuộc chiến đã lan tràn mỗi lúc một lớn. Quảng Trị trở thành nơi đầu sóng ngọn gió, tôi có lần tự hỏi tại sao mẹ chị Hòa lại muốn liều mình đổi nhà ra tiền tuyến, đã không hiểu sao mẹ chị Hòa vẫn muốn đến những nơi cái chết luôn cận kề, hơi thở trên môi không biết ngày nào sẽ không còn như vậy. Mà cũng không phải chỉ mình tôi, hầu như ngày ấy, ai nghe chuyện cũng đều thắc mắc tại sao gia đình chị Hòa đã từ miền nam ra trung, rồi mẹ chị lại còn muốn đưa con cái đi thêm một chặng, gánh gồng thêm một đỗi khó khăn và chịu thêm hàng vạn ngàn điều nguy hiểm.

Mười ba tuổi, tôi chẳng hiểu thể nào là tình yêu. Cái cảm nhận về chuyện chia lìa tang tóc của chiến tranh cũng mơ hồ như chỉ xem trên trên phim ảnh. Tuy nhiên dẫu vậy, tôi vẫn thấy lo ngại cho gia đình chị Hòa. Tôi vẫn sợ một viễn ảnh không mấy tốt đẹp sẽ xảy ra cho đời sống chị. Thỉnh thoảng nhìn thấy một chiếc xe nhà binh chở những quan tài phủ cờ vàng buồn bã ngang qua trước nhà, tôi cứ lo lắng không biết có bao giờ một trong những người lính không còn có thể chiến đấu được nữa ấy, lại là ba của người bạn tôi mến mộ hay chăng…

Nhưng mười mấy tuổi, chóng quên. Đời sống vội vàng tạm bợ của một đất nước đang chìm đắm trong chiến tranh, kéo tôi đi càng nhanh hơn. Tôi vội vàng quên mất người tôi từng ngưỡng mộ. Quên mất những bất trắc dễ dàng xảy ra trong đời của chị. Và quên mất súng đạn vốn rất tàn nhẫn và không chừa bất cứ ai.

Cho mãi đến khi tình cờ tôi gặp chính chị Hòa , với áo trắng và khăn tang trắng trên đầu. Tôi nhìn thấy chị trên phố, bên kia đường. Tôi nhìn thấy chị lầm lũi bước dưới cái nắng vàng rực. Nhìn thấy chị trong bóng dáng thật ảm đạm, u buồn.

Tôi sững sờ bước sang đường. Tôi nghẹn ngào dừng lại trước chị. Và tôi nghẹn lời không nói được tiếng nào khi nghe chị bảo ba chị đã mất trước khi gia đình chị chuyển ra tuyến đầu để cả nhà được gần gũi nhau. Tôi chẳng nhớ đó là tháng nào của một năm, ngày nào của một tháng, và giây nào của một giờ, nhưng tôi nhớ tôi đã bần thần đứng im rất lâu. Nếu có thể được, chắc tôi đã hoá thành đá. Chắc có thể được, tôi đã thành tượng muối như vợ của Lot trong Thánh Kinh.

Trước mắt tôi, là chị Hòa, của nhiều năm không gặp, không còn là cô bé thích hát vọng cổ, thích đóng những tuồng tích, thích trở thành những nhân vật trong các trích đoạn cải lương làm rơi lệ người nghe, mà chị biến thành một người lớn. Chị trưởng thành hẳn.

Chị nói sẽ phải nghỉ học để đi làm nuôi em út.

Tôi, vào cái thuở chưa bao giờ tự gập chăn mùng, chưa hề một lần tự tay ủi cái áo, chưa biết nấu một miếng nước sôi để pha cho mình ly sữa, cũng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện tự đi hâm một miếng cơm dẫu đói rát ruột, thì bạn của tôi nói, chị sẽ nghỉ học để đi làm nuôi em! Tôi nhớ tôi đã ngó chị bàng hoàng. Như thể không biết hai chữ “đi làm” có nghĩa là gì, và “nuôi em” là sao. Chúng tôi đã đứng im một lúc rất lâu rồi tôi hỏi tôi theo chị về nhà có được không.

Chị gật đầu. Chúng tôi đi ngược về nhà chị. Vẫn ngôi nhà nằm sâu trong hẽm nhỏ. Vẫn con đường có những lũy tre lạ lẫm ở thành phố. Vẫn những tiếng dế, tiếng côn trùng, tiếng ếch uềnh ồm hiếm thấy ở thị xã. Và ngôi nhà, dường như không hề có gì thay đổi như những năm trước đây.

Hoàn toàn chẳng có gì thay đổi. Chỉ ngoại trừ cái bàn thờ được đặt ngay chính giữa nhà. Sau lư hương là một tấm hình người đàn ông chững chạc trong quân phục, mặt nhìn hơi nghiêng với nụ cười hiền dịu và ánh mắt đầy nhân ái.

Ba chị Hòa , lặng lẽ giữa hương khói. Nhạt nhòa.

Ba chị Hòa , hy sinh vì tổ quốc, không kịp có được những ngày đoàn tụ với cả nhà nơi ông đóng quân.

Tôi về nhà chị Hòa buổi chiều vàng nắng, không biết nên ứng xử như thế nào cho đúng, nên loay hoay một hồi rồi ra ngồi với chị trên bục cửa. Nhà chị vắng tanh. Chị nói mẹ chị ra chợ mua bán gì đó và hai đứa em trai đi học chưa về. Chúng tôi đã im lặng bên nhau rất lâu, như thể đang ngắm cảnh, đang thưởng thức chiều trôi trên hiên nhà. Mười mấy tuổi, lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra cuộc sống không chỉ có những tháng ngày lang thang phố xá với bạn bè, mà mơ hồ nhận ra “hình như” chính mình, và gia đình mình đã được sống, bởi vì có nhiều người đang ngã xuống, ở đâu đó rất xa thành phố. Nhận ra mình may mắn vì có những người đã hy sinh cho cái may mắn ấy.

Tôi ngồi nhìn nắng và nghe chị Hòa kể mốt mai gia đình chị sẽ phải dọn về lại gần nhà ông bà nội hoặc ông bà ngoại ở miền nam vì không có ai thân cận ở thị xã này. Lần đầu tiên tôi nhận ra những từ ngữ “không ai thân cận”, “không có bà con” không chỉ khiến người nghe buồn bã mà còn nhìn ra cả nỗi đơn côi của chị, của gia đình chị. Lệ tôi muốn ứa. Tôi hỏi:

- Vậy làm sao em gặp lại chị?

Chị Hòa nói:

- Không biết nữa. Có thể chị sẽ về lại đây…

Nhưng lát sau chị lại nói:

- Mà cũng không biết nữa. Chắc khó lắm.

Tôi lặng thinh. Hiểu thật rõ làm sao chị Hòa có thể về thăm lại thành phố này khi “không ai thân cận”, “không bà con” và chính chị phải đi làm nuôi em phụ với mẹ. Tôi im lặng rồi tôi thở dài nói:

- Chắc chị phải hát cho em nghe mấy bài vọng cổ kẻo sau này không còn gặp nhau, em nhớ chị thì không biết làm sao.

Chị Hòa cười. Chị im một lúc rồi đằng hắng và bắt đầu một câu trong Nửa Đời Hương Phấn, đoạn cô Hương kỹ nữ gặp lại người yêu xưa sắp trở thành chồng của em gái mình. Có lần chị giải thích cho tôi biết đó là “Hương ca Phụng Hoàng” trong lớp diễn này. Chị Hòa hoá thân thành cô The, hát:

- Dù biết em thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng ráng về với… … Em… Để mừng ngày em xuất giá, Cho vui lòng ba với má, Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con. Còn Dượng Ba đây là một thanh niên có học thức, lại đàng Hòa ng, Chị vô cùng sung sướng thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị ước mong.

Hát hết mười hai câu Phụng Hoàng, vừa dứt xong mấy chữ “chị chính là chị… ruột của em”, chị Hòa buồn thiu nói:

- Không có chị Nga hát một mình không hay.

Tôi đề nghị:

- Hay là chị hát Võ Đông Sơ đi.

Chị Hòa ngồi im. Cái vẻ im lặng hơi bất thường. Nên bỗng dưng tôi nhớ đến đám khán giả nhóc tì của chị, định hỏi có phải vì lý do đám nhóc chê chị Nga hay không mà trông chị có vẻ buồn, thì chị Hòa nói:

- Ca “Mùa Thu Trên Bạch Mã Sơn” nha?

Tôi nhìn ra khóm trúc nhà chị, nơi nắng đã bắt đầu tàn, hơi thất vọng, thứ nhất là không thích tuồng này và thứ hai là nó dài quá. Tôi làm thinh. Chị Hòa cũng im một hồi rồi hát nhảy khúc những đoạn chị thích. Lâu sau, khi chị vừa dừng lại ở một câu nam ai, tôi ngắt ngang, và năn nỉ:

- Em sắp phải về rồi, lần này chị mà không hát Võ Đông Sơ thì chắc không bao giờ em được nghe nữa.

Chị Hòa im không trả lời. Lúc bấy giờ tôi mới để ý cái im lặng của chị không chỉ lạ, mà còn buồn. Buồn áo não. Tôi khẽ khàng nhìn sang chị. Thấy chị chớp mắt nhiều lần, tôi không dám nói gì thêm. Nhưng đột ngột, chị bỗng cất giọng, gọi lên ba tiếng “Bạch Thu Hà” đau đớn nhưng ấm áp, như thể đang gọi tên người yêu rồi chị vào câu “biên cương lá rơi…” thật ngọt ngào, mà mãi cho đến mấy mươi năm sau tôi vẫn không thể nào quên được tiếng gọi thiết tha ấy.

*

Chúng tôi đã ngồi với nhau thêm một hồi lâu sau khi chị Hòa hát hết bài ca. Đúng ra là cái giọng hát buồn bã của chị làm tôi không thể ra về dẫu tôi biết thế nào cũng gặp rắc rối với ba mẹ tôi vì đi chơi mà không xin phép.

Và chúng tôi đã ngồi trên thềm hiên vắng nhà chị như thế cho đến lúc mặt trời tắt hẳn trên khóm trúc. Mãi cho đến lúc hai thằng em trai chị hỏi sao chị không nấu cơm chiều. Tôi buồn bã chia tay với chị. Nhưng trước khi tôi rời khỏi nhà chị, chị Hòa cầm tay tôi bùi ngùi:

- Lâu lắm rồi mình không ca Võ Đông Sơ. Vì mỗi lần ca bài này là mẹ mình khóc. Nhớ ba. Mình cũng nhớ ba. Mẹ nói “vĩnh biệt Võ Đông Sơ” mà y như nói vĩnh biệt ba mình… Chắc mình chỉ ca lần này rồi thôi.

Chị Hòa làm tôi nghẹn ngào. Vĩnh biệt Võ Đông Sơ… Vĩnh biệt người đã ra đi vì đất nước.

Vĩnh biệt Võ Đông Sơ… Chỉ mấy chữ hết sức bình thường ấy, nhưng mỗi bận tình cờ nghe lại bài vọng cổ này, cho dẫu là nghe ai hát, tôi cũng lại muốn khóc. Cũng lại thấy hai đầu con mắt thật cay nồng.

Chiều nay, chiều cuối năm, xa thị xã cũ đến dễ thường đã dài gấp đôi những tháng năm sống ở đó, khi gọi điện thoại về quê nhà, nghe nhỏ bạn kể đang tập hát bài Dạ Cổ Hoài Lang của Cao Văn Lầu và than thở “mình không phải là người Nam, nên hát có nghe được vẫn thấy không hay”, tự dưng tôi bỗng nhớ đến chị Hòa.

Tôi bỗng nhớ điệu buồn vọng cổ. Nhớ những câu hát sầu tê tái. “Thôi thôi lỡ làng tiếng hẹn trăm năm, từ đây nàng có nhớ đến ta, hãy ngâm câu tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu, cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi…”. Và càng nhớ hơn, ánh mắt ươn ướt của chị Hòa trong buổi chiều nắng tắt.

Tôi bật lên tiếng gọi. Tôi gọi tên chị Hòa và nói một mình, vĩnh biệt Võ Đông Sơ…

 

 blank

 

 

 

 

 

 

HOÀNG NGA

 

 

*

 

Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ Phạm Phương Thảo

 

_________________________________________________




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank