DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,819,665

Bá láp - Võ Công Liêm

06 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 2735)
Bá láp - Võ Công Liêm

 

 BA LÁP


lam_tinh_0

TRANH VẼ: ‘Làm Tình / Making- love’ Khổ: 8’ X 10’ Trên giấy học trò. Viết chì. Vcl# 122012

 LÀM TÌNH / MAKING-LOVE



1- THỜI SỰ VIỆT NAM

 

 Mấy tháng qua; khắp nơi trên thế giới có người Việt cư ngụ, kể cả trong nước đồng loạt đứng dậy hừng hực phẩn nộ, dương cao khí thế bảo vệ non sông cho một đất nước anh hùng có từ bao thế kỷ qua. Lịch sử và sự kiện này đã chứng minh lòng yêu nước vô bờ bến của con dân Việt; có nghĩa rằng không một quốc gia nào có quyền xâm lược đất nước Tiên Rồng. Dù hôm qua, hôm nay hay ngày mai dưới bất cứ danh xưng nào hay một ngụy biện nào đi chăng nữa. Chỉ có một đất nước và một con người ViệtNam duy nhất mà thôi. Sự thế đã chứng minh nhiều lần cho những kẻ xâm lược, bá quyền chủ nghĩa, mưu lược đều đánh bại và tiêu diệt. Vai trò khống chế thuộc điạ ở kỷ nguyên này trở nên lỗi thời, hủ lậu không còn một tác động nào hơn giữa chính trường quốc tế. Thế nhưng lũ tham tàn vẫn không thức kinh hồn viá với sức mạnh vô địch của một dân tộc ngàn đời không chịu khuất phục. Những lời thề quyết tử, hịch chiêu quân; dẫu máu đổ, thịt rơi nhưng đất nước không đổ, không rơi. Dân tộc ViệtNam là dân tộc hiếu hòa, yêu chuộng hòa bình, kinh bang tế thế là một tinh thần đại đồng, một tinh thần sống chung hòa bình. Nhưng bọn xâm lược vẫn không ý thức điều này; ngang xương, tự thị xông vô nhà như kẻ cướp giữa ban ngày. Dân ta không khoanh tay chịu trận để nô lệ hóa. Chúng ta không nhịn để hứng nhục. Bài học để đời một Hưng Đạo Vương, Ngô Quyền những Trưng Trắc, Bà Triệu, những Lê Lợi, Nguyễn Trãi và không biết bao nhiêu anh hùng khác từ gậy tầm vông, dao mát, súng lớn, súng nhỏ đều đánh bật chúng ra khỏi biên cương. Chịu cực, chịu khổ một lòng một dạ giữ nước, dựng nước là điều không thể nói không có ở người Việt. Dù sống, chết ở đâu đều hướng về tổ quốc đó là cội nguồn, vì thế; khó đồng hóa, khó thuộc điạ. Một ngàn năm, một trăm năm hay mãi mãi đi nữa; nước Việt của người Việt!

Nói cho ngay; chả vị Cộng Sản, năm 1979 thằng Tàu muốn dẫm chân lên bài học cũ, xua quân với cấp độ đại sư đoàn tràn xuống vùng cao mở màn cuộc chiến xâm lược, dù hô hào ‘môi hở răng lạnh’ nghĩa vụ quốc tế anh em cùng chiến tuyến… Tình là tình nhưng lấn đất dành dân là không được! Khí thế đó như sẳn sàng; không phải có bác, có chú mới làm nên. Ông già, thanh niên, thanh nữ, đàn bà, con trẻ lắp vào đó để đánh. Cuối cùng bọn chúng phải ‘thoát hoan’. Hận thù đó thằng Tàu không nguôi; ròng rã mấy thập kỷ vẫn còn nuôi mộng bá quyền, đó là truyền thống ngàn đời của bọn chúng. Ngày nay; một lần nữa toa rập với tình hình kinh tế toàn cầu, cá lớn ăn cá bé, cậy thần, cậy thế khơi chiến với dân ta, biển đảo thuộc ta cũng dành giựt, căn cứ trên những tư liệu vô thừa nhận, đóng chốt khai phá tài nguyên thiên nhiên của chúng ta một cách trái phép. Đó không phải quyền tối hậu để đe dọa. Căm phẩn trào dâng thế mà đầu tàu chưa chịu rẽ sóng tống khứ đám ma trơi, đần độn, ngu si ra khỏi biển cả. Phẩn nộ đó là những ngọn lữa phần phật cháy giữa ban ngày như kêu oan. Vậy thì công pháp thế giới mở cửa chưa? Hay tại ‘vua’ ta gởi sứ thần đi triều cống làm cho bản án xâm lược phớt lờ?. Nếu thế thì đó là tội ‘tổ tông’ đối với dòng giống Tiên Rồng. Phất cờ, trưng biểu ngữ, phóng loa ‘China back off’ không chuyển thời dồn quân tới Nữu Ước, tới Hoa Thịnh Đốn chưởi xối vào bọn chúng để cho thế giới thấy tường tận đâu tà, đâu chính. Trong lúc ba chuyện nhỏ của mấy quốc gia Phi châu, Ấn độ, Bắc Hàn, chuyện ngoài văn chương thì lại ùm lên đòi bảo vệ, che chở cho là trái phép với loài người. Tại sao ta đang cần đòi hỏi, yêu cầu thì phớt lờ? Nhớ cho; đi với Phật mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy. Với tà đạo ta phải là chính đạo. Sá gì cái ‘kung-fu’ đó mà ta ngại, ta vẫn có ‘công-phu’ thâm hậu hơn. Điều đó sẽ làm nên; dồn vào mà đánh. Đánh hoài, đánh mãi cho tới chết chớ đừng đánh bằng mồm, múa đao trong bị; đứng ngoài mà đánh là ‘ba láp’ tốn đạn chữ, đạn mực. Vô bổ! Cái ba-láp đó trở thành phi nghĩa; như là trò đùa, hùa theo không ‘phê’ một chút nào cả. Chúng ta đánh bằng chánh nghĩa chớ đừng đánh bằng a tòng, đạp đuôi. Có thế mới thắng. Ngoài hải phận chưa yên, nay biên giới Việt Trung, thằng Tàu đang dàn quân, bố trận bằng xe tăng, đại pháo như cảnh cáo ta một lần nữa chăng? No-fear!*

Chúng ta hy vọng những người cầm quyền Trung Cộng có một ý thức quốc tế hơn là mộng bá vương. Bởi; điều này không làm cho họ mạnh bằng thế lực hiện đại: khoa học, kỹ thuật, văn hóa. Dù nhu cầu kinh tế, vật chất thiên nhiên là cần thiết; nhưng không vì thế mà mất đi lòng danh dự của nước lớn và chịu tiếng cho một tinh thần đại Hán bá quyền cố vị mà lịch sử Trung quốc đã lưu lại tới ngày nay.

*(The Epoch Times (23-29 May/2014). Chinese Military massing near the Vietnam border by Joshua Philipp)

 

2- CHUYỆN CÁI LÔ-HUYỀN-NỜ.

 

 Lô-huyền-nờ là cái chi? Trong văn chương ViệtNam và văn chương thế giới chơi chữ này chưa? Chơi rồi! Nhưng thanh tao vô cùng và đã đời vô cùng. So ra không bằng nữ văn thi sĩ họ Lê. Siêu đẳng tối thượng thừa. Khiếp! Nếu vua tả chân Vũ Trọng Phụng sống dậy cũng chào thua, Henry Miller hay Anais Nin (Mỹ) đội mồ cũng chào thua. D. H. Laurence (Anh) có chết đi sống lại cũng xin bái và tôn lên hàng tổ sư bồ đề thuyết: ‘Lô-huyền-nờ’. Dịch đúng văn phạm và mỹ ngữ văn chương cho thanh tịnh đại hải là Lỗ Châu Mai hay Lỗ Lồ thời quá quắt lắm đi chơ!; thầy bói mù nghe qua cũng đoán được quẻ gì rồi , thằng Đẽo thọc huyết heo cho tới ông thầy dạy học Hán Nôm, Tây Tàu ngu chi đi nữa cũng hiểu là cái chi chi mà mấy ai không màng tới. Rứa thì còn gì thắc mắc nữa đâu. Nhưng nhà văn nữ này siêu ở chỗ không e lệ như hầu hết phụ nữ trên thế giới, ngay cả bà Eve có thoát tục cách mấy bà cũng phải đậy nắp vung trước khi bước ra khỏi vườn Điạ Đàng để về với thế gian. Thậm chí cái thuở xa xưa ngút ngàn mây khói thời Cỗ đại hay trước AD, BC nghệ thuật điêu khắc tượng đá, gỗ, đất như tượng đá ở truồng của Hy Lạp ‘Colonna Venus’ (Tk.3 c.354 BC) tới khúc dưới cũng lấy tay che lô-huyền-nờ. Tượng đá cẩm thạch ‘Venus di Milo’ Hy Lạp (Tk.5 c.100 BC) trên phơi nhưng gần tới nơi lại che bằng tấm vải mỏng, chỉ thấy sương sương trên mu lô-huyền-nờ là nhứt lắm rồi. Con đĩ đứng đường nó câu khách, đĩ miệng bằng mọi cách nhưng nó không khoe cái lô-huyền-nờ to nhỏ mập ốm (chờ vô buồng nó mới phơi mở cho xem chơi), con gái nhảy (strip-girl) ngang khúc quẹo nó cũng khép kín hoặc nửa úp, nửa mở là cao qúy lắm còn đòi bành chành như Lê thị Thấm Vân là coi như loạn cào-cào. Đồng ý; nói được, huỵch toẹt được là nhứt, thời thượng, ‘hoành tráng’ văn chương chữ nghĩa chớ không phải dễ nói mà ai cũng nói được. Nữ sĩ này bạo còn hơn Lady Ga Ga hồi mới ra lò. Hay là đưa ra đây như một ‘avant-garde’ một hiện tượng hơn những người đi trước? Không hiểu ý đồ Lê văn sĩ này muốn bình giải cái lô-huyền-nờ nầy tới mức nào. Thoáng đọc thấy vui vui, tả chân, nhưng càng nhai nhẵn tự nhiên thấy ‘lệng’, chơi kiểu này lần sau gặp đàn bà: hai chữ tình thanh cao không còn nữa. Thực lòng mà nói; tôi cũng có máu ‘erotism/sexsual’ trong người kể cả trong thơ văn. Khoái đọc, nghe, xem mấy thứ đó. Mỗi khi chụp là chụp ngay như mèo đớp mở. Khoái viết ra những gì của đàn ông và đàn bà để diễn tả tột độ cái sướng của mình, nhưng ngại bị chưởi là ‘già dê’ nên nặn chữ lồng ý và đôi khi phải dùng ẩn ngữ vừa che, vừa giấu cái dâm tục để thấy cái hay, cái đẹp trong văn thơ. Nhưng suy đi nghĩ lại không dám làm dơ não, chớ không sợ dơ chữ, dơ cái miệng phải bú sửa bình hay thổi kèn cu-su; hình như nữ sĩ quên nhắc đến bú sửa lô-huyền-nờ? hay tôi ham nghe ‘call-girl’ dạy cách ra sân chơi mà quên đọc? Chắc có; vì cái chi cũng có không nhẽ quên hút nước ‘hột-dzịt-lộn’. Tôi ghiền lắm thế mà sơ sót. Hứa dịp sau đọc lại thơ văn của Lê Thị Thấm Vân cố tìm nguồn khoái lạc đó để tức cảnh thành thơ. Người Tàu có quan niệm giống Lê nữ sĩ; mua em về trước bổ, sau hên là ở chỗ đó. Ròng rã mấy câu văn/thơ ‘trích đoạn’ của chủ nhân E.E. đưa vào, nhâm nhi thấy khoái tỉ, sướng ơi là sướng giữa ban ngày, ban mặt. Lê nữ sĩ nặng lòng với lô-huyền-nờ cho tới mấy sợi lông mọc ra từ hồi mới hú, đến già đều được vuốt ve, chải chuốc, ‘gò’ trước gương soi coi bộ đắc ý để đi vào đời. Thiệt ra thì cái ‘đạo dụ’ này nói chơi cho vui thôi chớ đem ra mà luận thì hóa ra thứ văn chương cạn cợt, vạ lậy cho cái văn hóa loài người. Tục mà thanh người đọc vẫn thấy đã đời con cóc, cần gì phải đưa lô-huyền-nờ vào thơ văn mà tội cho ngữ ngôn. Nhưng vì ức hay sao mà văn nhân Lê Thị Thấm Vân ‘don’t care’ chơi tới. Sướng cái đã! Nhà văn họ Lê có đầy đủ bộ sậu, trên dưới đề huề, vừa vặn cân đối, ngó đã thèm; rứa thì sợ chi hè. Big sale!

Mạng E.E. diễn đàn này thường hay giới thiệu tác phẩm tác giả văn nghệ sĩ Việt Nam có tên tuổi một thời sống hay chết đều được sưu tập ‘đóng’ thành bộ; phần lớn chủ nhân đi lùng kiếm từ Đông sang Tây, mỗi khi chớp được là cho lăng tay ‘càfê’, đóng mộc, chụp hình và kê tiểu sử, rất chi ly kèm theo mấy website, đã vàng ố đều là chứng từ có thật. Không chừng việc làm này có lợi mai sau. Tuần nay (30/5/2014) E. E. gởi qua emails, ‘mời xem’ nhà thi văn nữ Lê Thị Thấm Vân, sanh năm 1961 tại VN, hiện sống ở Mỹ đã có nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, ký sự (XB từ cuối thập niên 80 cho tới gần đây). Hầu hết thơ văn đều nói lên cái trời cho, nơi dành cho ‘cây-nhân-sinh’ nương tựa để ‘xuất khẩu’ giống nòi. Ngoài nhiệm vụ cái trời cho là tặng phẩm trân qúy, nâng niu mà qúy Sir ‘xổ’ xong là ngoảy lưng đi, nhiều khi chạy làng là đằng khác. Nữ sĩ Lê ức điều đó là phải; cho nên không sót một câu thơ, câu văn nào mà không động tới lô-huyền-nờ, ngoài cái chức năng của lô-huyền-nờ là nhiệm vụ, lô-huyền-nờ được tác giả diễn tả trọn vẹn từ trong ra ngoài, từ độ sâu, kích cở, méo, xìu, phồng, chảy nước nhờn thi văn sĩ cho đưa lên bàn mổ, bành chành rọi đèn xem ông Tạo sanh ra cái chi chi mà nhiều Sir phải lụy. Lê thị Thấm Vân còn nói cho mẹ mình biết để mà trân qúy…(thơ/văn nói về ‘Lồ’nhiều vô số kể không dẫn ra đây được; quá dài cho một tùy bút, tạp văn) Chủ nhân E. E. lồng vào đó trên dưới 10 tấm hình của nữ sĩ từ khi bé cho tới khi mọc cánh. Ngoài ra nữ sĩ Lê kề vai, sát cánh chụp hình với mấy văn nhân tên tuổi, ý chừng nữ sĩ cho mình cũng ngang tầm cở, nhiều khi siêu hơn nữa là khác; mà mấy vị được chụp thấy ‘poor’ ghê! À quên; có hình chụp hôn lên má đại thi sĩ Bùi Giáng, cái đó mới ăn tiền. Lại kềm thêm họa chân dung; dầu có, màu nước có nhưng không có tranh quẹt. Chụp, vẽ làm chi rứa? horse-shit! Chỉ có cái lô-huyền-nờ mà toáng lên. Có ai trong chúng ta chưa thấy cái đó? Và; có ai trong chúng ta chưa một lần thử lửa hay làm tình? Nếu chưa bao giờ tìm tới nhà văn. Riêng hình chụp Lê nữ sĩ trông rất đẹp và duyên dáng lạ lùng, ăn khách, dòm vô là ‘mặt sao ngao vậy’. Thấy ham liền; ‘born-to-lô-huyền-nờ’ chớ không phải ‘born-to-writer’. Hay đây là hiện tượng thời thượng? Dzỗm; ba láp!

 

3- LĂNG MỘ.

 

 Tục ngữ ViệtNam có câu: ’sống nhà thác mồ’ tưởng như một chỉ định từ, bắt buộc, ắc có và đủ toán học quá. Chết là hết, ở là tạm. Rứa thì ai làm người cũng phải như rứa hay răng? Nói thế là võ đoán không hợp với thời đại chút nào cả. Thế kỷ này ít ai coi đó là trọng. Sống đâu không đặng mà đòi hỏi phải có nhà và chết đâu cũng đặng cần gì phải này nọ; rồi ai cũng ‘under 6 feet’ có ai sâu hơn và có ai cạn hơn, ngoại trừ chôn sấp, dập ngửa thời không nói chi. Con mèo, con chó nó cũng có mồ êm, mả đẹp huống hồ con người. Răng rứa? Tại con người lắm thứ lăng nhăng cho nên sống chết đều nhăn răng, mà phải thế mới khác với con vật. Ụa! bởi; việc sanh tử là lẽ thường tình, đó là luật tạo hóa. Nói theo văn chương mỹ ngữ thì nó nằm trong phép ‘nhị nguyên’ mà ra cả: có trời thì có trăng, có đẹp thì có xấu, có tà thì có chính, có Chúa, Phật thì có ma qủy…để rồi đi vào ‘nhất thể’; thời mới gọi là đời bằng không gọi đời làm chi cho lắm chuyện. Nhưng đời phải lắm chuyện mới thấy đời đáng sống. Vì thế cả thế gian này cần có đời để sống và để chết. Siêu lý hơn gọi là ‘một thời’ cho nó hào phóng một kiếp người. Không nhẽ ‘homeless’ suốt đời và ‘unknown’ chả ai biết tới. Dài dòng lắm! Còn dựa theo tục ngữ mà luận thì quả là cực đoan. Không! tại mình theo thuyết Lão Trang, coi đời là vô-vi chớ Đông Tây coi cái sống chết là trọng. Mỗi thứ nó có cái cách riêng của nó; nhiều khi cần ăn không cần ở, cần sống không cần chết, ngược lại cần ở hơn cần ăn, cần mồ hơn chết dập ‘dead man flat’; cho nên chi mới có câu: ‘ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật, ngủ giường Tây, chết Việtnam’ là ở chỗ đó. Rứa thì có phải đây là tứ khoái không? Có hai ba loại tứ khoái. Đừng lấy cái này xỏ vô cái kia mà làm lộn não nhà văn ‘lô-huyền-nờ’. Không có sao đời nói thế!Thì ra sống trên trần đời ba món kia là lẽ sống còn lẽ chết thì về quê ta. Ừ!

Đúng thế; ăn chơi là phù phiếm, chết mới là trọng. Không trọng sao xây lăng, đắp mộ, mở hội đạp-thanh, giỗ chạp hằng năm làm chi rứa. Có lý, có tình người ta mới làm. Nói tới đây thì tội cho mấy người vì dân vì nước mà mang tiếng vô danh, chôn chung một nấm mồ (nghĩa trang quân đội) qúy lắm xây cho cái đài tưởng niệm, lắm khi không nhớ ngày để gặm hoa, không chừng quật mồ dọn đi chỗ khác chôn cho sạch công viên. Tội lút đầu! Đó là nói tử còn nói sanh thì thê thảm vô cùng, muôn hình vạn trạng, ngồi mát ăn bát vàng, lục thùng rát kiếm miếng ‘hamburger’ thừa làm bữa (meal) chiều nay…

Và; đừng tưởng chết là hết. Linh lắm! nhớ có lần về thăm quê, cảnh đời thay đổi từ sống và chết. Nhân một hôm về Thuận An (ở Huế quê tôi) hóng nắng, hóng gió, ngửi mùi nước mặn cho đã đời sau đó gã xe thồ nói bên tai: -thuận đường ghé thăm thành phố nghĩa điạ. Làm chi có cái gọi là thành phố chết, hay tôi nhầm Pompeii. Thật quả là như thế. Ôi! vĩ đại lắm; cũng ‘lầu son gác tiá’ lô nhô lúc nhúc dưới ánh sáng mặt trời. Xưa không nghe thấy mà nay nghe thấy, dơn do cũng tại hai chữ ‘đổi đời’; chài lưới, đánh cá có ghe, tàu nghe nói vượt biên thì vượt thôi, chờ yên hàng vô sự ‘tàu đưa ta đi , tàu đón ta về’ rồi trở về mái nhà xưa có sao đâu. Không về được vì cây đã mọc rễ, nên chi ‘cày’ gởi tiền về trả ơn, xây lăng, đắp mộ là thế. Có kẻ xây xong ‘ứng’ giàu to, có kẻ ‘động’ mạt cả đời. Quan mồ ở Ngự Bình xưa thanh thoát nhưng nay cũng lô nhô lúc nhúc nhiều khi mộ thằng cha chòi chú chóp nào đó lại kề cận bên mộ vua quan khó mà phân định đâu dân, đâu quan. Đìu hiu vô cùng. Có nhớ thắp cây hương cũng không có chỗ đứng, ngồi. Bên Tây (Pháp-Lăng-Xa) có nhiều nghĩa trang, phần lớn danh nhân văn nghệ sĩ nằm ở đó, cũng xây lăng tẩm đàng hoàng nhưng sạch và bóng mát, êm đềm không nghe một tiếng động rì rào , lặng đứng ngỡ như người nằm đang đứng dậy chào mình; đèn hoa rực sáng ngày và đêm. Dân ta lại khác lu bu sự cho nên quên luôn, mấy bửa đầu thì than khóc thảm nhưng sau đó ‘xa mặt cách lòng’ nhiều lúc nhìn thấy quạnh hiu lắm. Hết linh! Biết thế cho nên hoài vọng của kẻ biệt xứ cứ trăn trối: ‘chết đưa tôi về quê nội, hỏa táng, đóng gói đưa tôi về đó’. Có kẻ biết không về được thời trối: ‘đưa tôi ra biển’, nói rứa thì sống là tạm chết là biển? Nghe ra thấy một chút gì là triết lý. Đúng! Như vậy không tốn công, tốn của chọn một chỗ nằm ‘mười ngàn dặm dưới đáy biện’ của J. Verne là xong khỏi phải ai thăm viếng, chụp hình. Đã nói chết là hết thế mà cũng đòi cái áo quan phải lộng lẫy, cao sang, bông hoa ngập trời, xe đưa đón rầm rộ, theo xe tang có kịch khóc cho xôm tụ, quên luôn việc ‘tiếp dẫn đạo sư’. Tây khác Ta ; dư sức chơi nhưng quan niệm sống chết là định hệ con người, có thê thảm cũng không sống lại cho nên đòi hỏi của cái chết là ‘thiền định’ mới cao qúy, thanh cao diệu vợi; còn phủ lên đó bằng nước mắt cá sấu thì ba láp vô cùng. Thế nhưng có kẻ xây lăng, tạc tượng cở lớn, cở nhỏ đều có tượng. Một đời rách như thi sĩ Bùi Giáng nay cũng có tượng bên mồ mả xanh tươi. Tục ngữ ta lại có câu ‘sống không cho ăn cho mặc, chết làm chay tế ruồi’ nhưng đại thi sĩ BG không buồn chi ba chuyện nhỏ, sống ‘homeless’ chết có ‘tombstone’ hương khói khách thập phương mộ điệu là ‘ôi! thiên thu sao người xanh màu lá’(vcl) là vậy. Cái đó là một biết điều. Gần đây bắt gặp mộ và tượng ở một vài nơi xa thành phố. Có khách đến thăm, hương hoa quả phẩm đàng hoàng, lại còn đứng bên tượng mỉm cười chụp hình lấy le, tợ nhà văn nọ cũng ké một ‘pô’ cho đủ mắm, muối, cho đủ bộ văn thi nhạc hoạ với đời. Có mộ thì tạc tượng đồng đen ngang ngửa tượng cụ Phan ở Huế. Nhưng vô tư mà xét có đáng ghi công với núi sông hay chỉ là một thời trang thời thượng mà thế gian ưa nói tới để rồi hùa nhau ca ngợi. Ôi! ‘khổ quá nói mãi’. Nên để cho đời tưởng và nhớ thì cái đó dài lâu hơn và cao qúy hơn…

Nếu có về quê nên nghĩ tới những người đã hy sinh cho vận nước đổi thay, nghĩ tới những người đã hy sinh trên biển cả chống ngoại xâm hơn là đứng tựa vai mỉm cười bên lăng mộ. Ôi! Cái đó đại ba láp. Đại ‘the absurd person’. Không nên! Tuồng như cái đó là bản chất của con người? Háo danh, ưa có tên tuổi đăng đàn diễn tế nhưng không tên tuổi với núi sông. Rứa mà cứ ham. Đôi khi thấy vô duyên lạ!

 

VÕ CÔNG LIÊM

(ca.ab.yyc. 1/6/2014)

(tác giả gởi)




Mời đọc Quảng cáo

 

 

*


 

Nha Khoa


Tin cập nhật về MediCal


Từ ngày 01-05-2014, những cư dân tại tiểu bang California có MediCal cần chữa răng


MediCal sẽ chi trả:


Chụp Phim Răng, Nhổ, Trám, Clean, Trồng nguyên hàm…


Xin Mời Đến Phòng Răng:


Dream Dental Place


Anh D. Hoang D.D.S., Inc.


Uy Tín


Tận Tâm


Vui Vẻ


Đẹp


(Gia đình H.O)


Trân Trọng Kính Mời


Liên lạc lấy hẹn:


Hoàng Anh: (714) 724. 5699


Cindy Trần: (714) 724. 5799


Trần Yên Bình: (714) 854. 4261




blank

 



*

 


Mua Bán Nhà


L/l: Marvin Tran


(714) 768 - 8810




blank