DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,870,164

THU VÀNG LẠI NHỚ VÀNG THU của MỘT TRẦN VÀNG SAO - Võ Công Liêm

13 Tháng Mười Một 201412:00 SA(Xem: 5290)
THU VÀNG LẠI NHỚ VÀNG THU của MỘT TRẦN VÀNG SAO - Võ Công Liêm


 

  THU VÀNG LẠI NHỚ VÀNG THU

 của MỘT TRẦN VÀNG SAO


 

blank

 


 Chúng ta không thể nhận ra một màu vàng thu tuyệt đối trong Trần Vàng Sao. Anh ‘lớn lên cùng giông bão’* trong một tiếp cận sống thực của sân trường đại học Huế; của cái thời ‘Sóng Thần’ ,’Chính Luận’ cuồn cuộn trong tinh thần của những sinh viên, học sinh và nhà giáo; bên cạnh đó khói lửa không dập tắt cái gọi là kỷ nguyên thời của La Dolce Vita cho một Sàigòn-không-chiến-tranh; thành phố hầu như mở ra cái dáng hào phóng cho một thời hiện đại của thập niên 60/70. Cái thập niên làm nên lịch sử của đôi bờ là nhân tố đẩy con người vào một phản kháng trong ý thức ‘vận nước’, bởi; hai chữ vận nước là di sản truyền lưu từ mấy ngàn năm cứ sống dậy như cái ‘germ’ di truyền.


Vì thế hào khí đó là một phản kháng có thể xẩy ra dưới mọi trạng huống tình người. Người ta tự hào về điều này. Đúng! Cái trào lưu văn hóa đã thủ vai trò thích khách, thời sá chi đường gươm mũi đạn; họ lấy đó để hành trang vào đời như chiến sĩ ngoài trận tuyến. Ở thời điểm mà ‘thép-đã-tôi-thế-đấy’ cho những con người phi thường và những thành viên chuyên nghiệp cùng với anh: ‘-he forged an extraordinary personal and professional partnership with Trần Vàng Sao’1. Bọn chúng tôi sanh ra ở một thôn đất nứt và lớn lên cùng sỏi đá; hấp thụ bởi rặng Trường Sơn trải dài sau lưng và trước mặt là con sông bất tử Hương Giang lặng lờ trôi trong tư thế lãng mạn của tháng năm…chính vì thế mà bài hát đưa tình: ‘ai đi mô cũng nhớ về Hà Tịnh…’* là chết trong lòng một ít của đám văn nhân cố đô thời bấy giờ; huống là Nguyễn Đính Trần Vàng Sao một người đa cảm với quê hương sông nước, đa tình với mối tình thầm kín không nói ra lời; rồi hành trang mang theo.

Nhà tôi ở trước, nhà anh ở sau; nhưng hai mực nước khác nhau khi mùa lũ tới. Mực nước của sách đèn sớm tối, mực nước tôi phiêu lãng trăng sao. Nhưng; cả hai chúng tôi lại nằm trong cái đất văn vật nơi chôn dấu bao tàn tích ‘chế độ’ mà chúng tôi đã hấp thụ và nhân chứng. Kỷ niệm khó quên! Thế rồi; giữa hai chúng tôi chia xa vì hoàn cảnh hay vì chí hướng khác nhau nhưng cùng một trăn trở trước tình thế. Đó là thời điểm chúng tôi trưởng thành. Khi biết anh với tên thường gọi Nguyễn Đính chuyển sang bí danh Trần Vàng Sao tôi ngạc nhiên vô cùng. Anh thuộc dạng mẹ quá con côi nhưng được cái anh học hành tới nơi tới chốn.


Tác phong hiền lành, ăn nói từ tốn, không thấy gì nơi anh một tham vọng nào khác hơn hay hướng tới bưng biền để làm nên sự nghiệp như những kẻ khác. Anh đuổi theo nghiệp văn; ra trường sư phạm kiếm cơm nuôi mẹ. Tình cảnh của gia đình anh được bà con qúy mến và lấy đó làm cái gương trung trinh ‘thờ chồng nuôi con’. Và; ngay bản thân tôi cho đến nay vẫn là niềm tự hào về khí thế của người bạn hiền chuyên làm thơ tình, thơ nhân thế đúng chức năng nhà mô phạm. Không thấy nơi anh một dấu hiệu ‘đấu tranh’ hay lý tưởng nào hết; nhưng dần dà anh trở chứng như tên ‘trốn lính’ trầm tư mặc tưởng, bữa thấy, bữa không, nhận nơi anh có nét suy tư hơn là niềm nở và lần hồi anh tỏ ra thân thiện với những người bạn ‘chủ nghĩa’. Không! anh vẫn dạy ngoan ở thị xã Truồi, huyện Phú Thứ điạ danh này cũng đã từng bốc khói, cũng từng là chông, gai, lồ ô, mã tấu.



blank



Không ngờ ngọn gió bấc thổi tạt vào anh, không làm anh lạnh mà ấm lại; đánh thức quá khứ anh đứng dậy như một anh hùng liệt sĩ, anh đâm ra phẩn nộ từ trong ra ngoài; anh mồ côi cha ở tuổi mới lên mười với lại thành phần vô sản. Nhờ đó về sau anh được chú ý và ‘chiếu cố’. Khí thế đó gieo vào người anh. Những năm mới lớn, thường khi chơi chung hay đối diện với anh tôi tìm thấy trong anh một nỗi niềm u uẩn, giấu kín. Rồi về sau; tôi một ngả, anh một đàng. Chúng tôi là bạn nhưng ‘hai phương trời cách biệt’. Tôi giữ mãi tình bạn cao qúy giữa tôi với anh dù có ‘nghìn trùng xa cách’. Sau trận tổng tấn công mùa xuân; anh đội nón tai bèo, khoát vải dù lần mò trong đêm tối tìm hướng Bắc mà đi cho kịp kỷ niệm mùa thu. Anh mơ cái tên Trần Vàng Sao sẽ là đỉnh cao; nhưng đến nơi thì lá mùa thu đã rụng đầy trên đường phố che khuất những gì thơ mộng thuở xưa. Tuyệt vọng; anh đâm ra làm thơ, viết văn hơn là viết khẩu hiệu và sau đó anh đi ‘chiến dịch lâu rồi…’.Trộm nghe nhạc xanh mà nhớ quê nhà. Lòng quặn đau mỗi khi phải ‘lên lớp’ hay đi ‘thực tế’ những từ ngữ quen thuộc lần lần biến mất, tiếp thu, du nhập một ngôn ngữ mới có tính ‘cách mạng văn hóa’ hơn. Anh học thuộc lòng!

Cái tên Nguyễn Đính trở nên ‘theo dõi’ (bởi hai chữ Vàng Sao là biểu tượng cho một đối nghịch) Và; lần hồi Trần Vàng Sao được chú ý nhiều hơn. Ngày đất nước về một mối; bọn chúng tôi trông gặp anh cũng như mẹ anh mỏi mòn năm tháng. Được trao đổi: ’anh bận công tác xa’ hiểu ngầm là Nguyễn Đính còn đâu đó trên mạn ngược, miền xuôi hoặc có khi còn ở ‘Bê’ hay ở ‘Rờ’ hoặc còn trên con đường mòn huyền thoại một thời. Bọn chúng tôi mong sao anh về sớm để có chén thù chén tạc.


Lâu lắm anh mới được trở về thăm mẹ lần đầu; sau gần thập kỷ đi làm ‘nghĩa vụ quốc tế’. Anh về trong nước mắt, vì để mẹ già ướt lệ đợi chờ. Trong nỗi đau đó anh dướng đôi mắt với gọng kính bạc mầu, đục ngàu nhìn trời như thầm sợ một cơn bão khác chuẩn bị ập tới. Lần này anh sợ còn hơn thời chống Mỹ cứu nước. Không! anh không sợ mấy thứ lổn ngổn đó mà anh sợ mất người mẹ một đời tận tụy, hy sinh, chịu đắng, nuốt cay, dọa nạt như kẻ phạm tội, hết khảo cung lại lên ‘làm việc’ nhiều ngôn ngữ quá hóa khùng! Tôi thấy anh xuống cấp từ thể chất đến tinh thần. Không có con ngựa nào khoẻ mãi mà không già. Trần Vàng Sao sanh 42 (ngựa) tôi 43 (dê) cả hai con giáp này chỉ làm cảnh cho vui với đời; nỗi đoạn trường đó nếu được đem ra so sánh với Kiều thì may ra có người thương khóc. Có lần; tôi nói bên tai anh thuở còn đi học. Không biết anh còn nhớ hay anh đã quên như tựa đề của một nhạc khúc ru đời. Trong đám bè bạn cùng chí hướng với anh; giờ này cũng cùng một cảnh ngộ. Uống chanh đá! Không biết có chút đường đọng lại ở cuối ly?


blank

 


Tôi ra đi hơn 20 năm sau trở lại quê nhà thì gặp anh. Một Trần Vàng Sao gầy gò, tóc tai rối bời như một A. Solzhenitsyn, gương mặt buồn, khỏng kheo với hai đôi chân khô khấp trong quần rộng ống như một tượng đồng ‘Walking Man’ của Giacometti hay đây là một ‘Dead-Man-Walking’? Ấn tượng này làm tôi nghĩ đến bí danh Trần Vàng Sao như một thách đố, nay là bút danh cho sử liệu văn nghệ, bởi; trong mỗi thứ nó chứa cái tinh túy của nó. Tôi ngồi ở quán bên đường.


Nguyễn Đính nhận ra tôi. Đến gần; mắt cười chào tôi: -nghe mi đi đã lâu. Có rượu không? Tao cần rượu. Đính nói. Bi chừ anh làm chi? Tôi nói. -Tao chạy công văn ở xã đội. Vui thôi! Đính nói. -Có còn Trần Vàng Sao không? -Ẻ vô! Anh cầm tay tôi không nói. Từ đó mỗi khi về, tôi âm thầm tìm đến anh. Đến không phải thương hại, đến không phải thần phục người bất khuất. Mà đến trong một tinh thần ‘hoà âm điền dã’ để ngẫm cái thế thái nhân tình; những lần gặp sau này anh trở nên ‘phản động tư tưởng’ chính anh, anh hóa thân như để chuộc tội trong căn nhà từ đường, nơi anh sinh ra và lớn lên ở đó, nơi mà tôi thường vô ra ở tuổi nhỏ, ngủ trên cành cây nhà anh và để nghe lũ chim rột-rột líu lo xây tổ trên cây, trên mái hoặc nghe tiếng chim lạ thánh thót hót ‘tây về cho hết’*.Tới với anh trước để hoài niệm tuổi thơ, để nghe anh đọc thơ những bài thơ anh làm là huyết lệ.


Anh ngắt từng con chữ trong thơ, núc rượu đọc thơ chưởi đời, chưởi như chưởi tình phụ, chưởi không sót một thằng. Thiếu đường đào mồ. Anh chưởi nhuyễn, chưởi chuẩn, chưởi chuyên nghiệp. Nghe đã vô cùng. Đọc thơ chưởi của Nguyễn Đính mới thấy được cái chất siêu phàm nơi anh, bởi; cuộc đời quá chua chát dành cho anh. Anh thấy anh, thấy những gì anh đã đi qua đều không thực như anh nghĩ; ngay cả bí danh Trần Vàng Sao cũng không thực với Trần Vàng Sao; tợ như có cái gì mơ hồ, ảo ảnh nằm trong đó hay Trần Vàng Sao đã thánh hóa (icon) như đã đóng đinh vào linh hồn anh.Giờ này anh lại quay qua họa.


Lấy họa để ẩn mình như phép tu của kẻ thất tình? Hay tỏ tài năng người xưa: trong thơ có họa, trong họa có thơ của Vương Duy? Không phải thế! Anh vẽ chuyên đề về Bồ Đề Đạt Ma. Anh không vẽ ông Phật này để thờ, mà anh vẽ trong cái chân lý tuyệt đối; lấy cái xấu xí, cái trí tuệ của Tổ mà an ủi phận mình. Biết đâu lối sống của một người thất chí lại là một ‘bồ tát’ như Tổ. Đó cũng là lối phá cách của người tu Thiền. Bởi; anh cho rằng Thiền là phá chấp, quan ngại làm chi nữa. Đúng! Anh phản ảnh toàn diện về thể cách và tinh thần trong sanh hoạt của anh thuở xưa cũng như thuở nay là tiếng nói trung thực của con người trung thực đứng trước cục diện; dẫu là cục diện bi thảm. Tôi xem những đường cọ trong tranh anh vẽ về Tổ mà thấy được chí hùng tráng ‘thép đã tôi thế đấy’.Tôi khâm phục cái khí khái xử thế của Nguyễn Đính.

Bây giờ; bí danh Trần Vàng Sao không còn xa lạ với quần chúng mà nay trở nên một bút danh sáng giá; điều này đã gợi ý trong tôi: tên tuổi của một nhà thi họa hiện đại đã đi qua trong kinh nghiệm sống của cuộc đời. Thơ là tiếng thái cổ vang dội, hoạ là tiếng chày kình thức tỉnh. Đáng lắm chứ. Đâu có ngoa!

 

VÕ CÔNG LIÊM

(ca.ab. yyc. cuối 10/2014)

(tác giả gởi)

 

* Ý thơ: Thanh Tâm Tuyền.

- ‘La Dolce Vita’ Tựa đề phim của Federico Fellini (1960/ Italian).Diễn tả một thời ăn chơi quên đời.Bóng tối tràn ngập không thay đổi được.

1. Rút từ bản Anh ngữ của vcl

* Lời nhạc: Nguyễn Văn Tý.

* ‘tây-về-cho-hết’ không phải là thành ngữ và cũng không phải là tục ngữ. Tiếng hót của loài chim không tên. Lạ! nhưng có thực. vcl

* ‘Bê’ : là Bưng-biền. ‘Rờ’ : là Rừng/Cục-Rờ. Ẩn ngữ dùng trong thời chiến tranh ý thức hệ Bắc Nam Việt Nam.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn