DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,820,577

Tô Hoài trước 1945 - Hoàng Yên Lưu

08 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 6256)
Tô Hoài trước 1945 - Hoàng Yên Lưu

Tô Hoài trước 1945

 

 

to_hoai-nguyen_sang
Chân dung Tô Hoài
tranh Nguyễn Sáng



Đề cập tới Tô Hoài trước 45 nhiều người mỗi khi nhắc tới Quê người, Xóm Giếng ngày xưa, Giăng thề, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký… đã mỉm cười thích thú. Không ít độc giả ở miền Nam giai đoạn 55-75 vẫn có cảm tình với tác giả tập hồi ký Cỏ dại (1944).

Sau 1945, khi nghe đâu đó cái tên Tô Hoài, nghĩ tới Nhân văn giai phẩm, Vợ chồng A phủ, Cát bụi chân ai, Chiều chiều và Ba người khác… không ít độc giả cau mày ngẫm nghĩ, “Tô Hoài của năm xưa hay một người khác xa lạ trùng bút hiệu”.

Mỉm cười, cau mày tùy độc giả, ở đây chúng ta chỉ gợi lại hình ảnh nghệ sĩ và chân thực của Tô Hoài ở tuổi hai mươi mà thôi.

Tô Hoài sinh năm 1920 là nhà văn trẻ của thế hệ 32-45 và trước Thế chiến II, với một số tác phẩm kể cả truyện dài và truyện ngắn như Quê người (1942), O chuột (1942), Dế mèn phiêu lưu ký (1941), đã chinh phục được khá nhiều độc giả ở nhiều lớp tuổi.

Khi ấy, Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khi giới thiệu tác phẩm Quê người đã ca ngợi cây bút trẻ: “Quê người là một tiểu thuyết có tính chất đặc thôn quê. Phải là một nhà văn có tài quan sát lại sống gần gũi người dân quê mới viết được về cái xã hội ấy những trang có giá trị. Từ ngôn ngữ, cử chỉ, thói tục cho đến những cách sinh hoạt của những người dân quê sống về nghề dệt cửi ở vùng Bưởi, Tô Hoài đều đã tả với một nghệ thuật chân xác”.

Còn về tác phẩm truyện ngắn O chuột của Tô Hoài, nhà phê bình họ Vũ nhận xét: “Tập O chuột là tập truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho lối văn đặc biệt của ông, một lối văn dí dỏm, tinh quái, đầy những phong vị và màu sắc thôn quê. Cái tinh ma và cái thực có lẽ gặp nhau ở đây”.

Ngày nay đọc lại Quê người và O chuột cũng như Dế mèn phiêu lưu ký, ai cũng phải công nhận bước đầu của nhà văn có tên thực dễ thương “Nguyễn Sen” đã gặt hái được nhiều thành tựu hơn hàng trăm tác phẩm ông cống hiến cho đời sau 1945.

Tô Hoài xuất thân trong hoàn cảnh nghèo khó, học ít nhưng lại ham học. Thế hệ 32-45, khi nền văn học chữ quốc ngữ phát triển vượt bậc, nghề văn bút được coi trọng cho dù “nhà văn an nam khổ như chó” như Nguyễn Vỹ từng than. Khổ nhưng mà đẹp. Nhiều trí thức trong ngục tù nô lệ thời đó tìm tới văn học và hưởng thụ như một lối thoát. Không ít người mơ tưởng một cuộc sống giang hồ, di chuyển đó đây và sinh nhai bằng ngòi bút hay sân khấu. Hình ảnh Tản Đà ra Bắc vào Nam, cuộc sống của Nguyễn Tuân, trong Một chuyến đi, bóng dáng người chinh phu, người chiến sĩ trong thơ mới và tiểu thuyết của Nhất Linh đã lôi cuốn biết bao thanh niên thành thị.

Tô Hoài thông minh, tài hoa và nuôi giấc mộng, xê dịch và sinh nhai bằng văn bút, nhưng không có cơ hội nhiều năm cắp sách tới trường và cũng không đủ điều kiện vào thư viện thời Pháp để đọc sách. Trong hồi ký, nhà giáo Nguyễn Đăng Mạnh kể lại theo lời Tô Hoài tâm sự: “Thời Pháp thuộc đọc sách tại thư viện lớn ở Tràng Thi phải có bằng thành chung (diplôme). Tô Hoài chỉ học hết cấp tiểu học. Ông đến Vũ Ngọc Phan nhờ giới thiệu với thư viện Hà nội để đọc sách. Vũ Ngọc Phan có một biệt thự ở Thái Hà Ấp. Phan nói cứ đến đọc sách tại thư viện riêng của ông, ông hướng dẫn cho. Tô Hoài thành ra rất thân với gia đình Vũ Ngọc Phan, nhiều khi cùng ăn cơm với gia đình. Nhà Vũ Ngọc Phan cũng gần nhà cụ Lê Dư-Sở cuồng là bố vợ của Phan. Mấy chị em Hằng Phương, Hằng Huân, Hằng Phấn… con cụ Lê Dư đều rất đẹp. Các cô ngồi xe nhà đi học, bao nhiêu thằng bám theo. Bọn Đinh Hùng ghen với Tô Hoài về cái số may mắn của ông. Nhưng lúc bấy giờ Tô Hoài chỉ là một chàng trai nhà quê, mặc áo dài thâm đi guốc, ăn thua gì! Ở nhà Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài đã đọc được nhiều tiểu thuyết Pháp”.

Bước vào nghề viết, đồng thời tập tành nghề ăn chơi, Tô Hoài theo cánh đàn anh là Vũ Hoàng Chương (sinh 1916) và Nguyễn Bính (sinh 1918), đều là những nhà thơ đã có tên tuổi và có khả năng tài chính, thường rộng rãi với bạn văn.

Nên nhớ, thuở ấy nhà văn cho rằng muốn ngòi bút của mình sâu sắc thì phải nếm trải đủ mọi mùi sướng khổ. Nhưng muốn từng trải “cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài, tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt” như Trần Tế Xương từng viết, thì phải có tiền. Vũ Hoàng Chương lúc đó đã đi làm “sếp ga”, lại thuộc gia đình giàu có ở Nam Định nên thường là đầu tàu kéo theo mấy bạn làng văn tuổi nhỏ như Nguyễn Bính và Tô Hoài vào bước “giang hồ vặt”.

Trong hồi ký “Ta đã làm chi đời ta”, nhà thơ lừng danh thế kỷ XX đã kể lại một giai thoại lý thú giữa ba cây viết trong một lần đi tìm thú “lạc phách” với ả đào và ả phù dung như sau:
“Không nhớ rõ năm 1942 ấy đã đi đến tháng thứ bao nhiêu. Chỉ nhớ chắc rằng chuyện xảy ra khoảng mùa Hạ. Vì, nếu không phải mùa Hạ, thì sao có mục “dạo mát trên bờ sông Thương” và mục “ngồi quạt cho người đẹp tỉnh Đông” chứ!

Chiều hôm đó, Hoàng định lên Bắc Ninh, thăm “Biệt phòng” ở xóm Niềm. Mà đã phải nghĩ tới chuyện này, là trong túi đã xu hào không còn rủng rỉnh nữa. Cần một chỗ nằm yên, có người cung phụng đủ thứ, và rủ rỉ đôi lời ân ái suông!

Ai ngờ, cái số thật trớ trêu! Vừa ra khỏi căn nhà phố hàng Cót, để tiến tới ga Đầu Cầu, thì đụng ngay hai gã: Tô Hoài, Nguyễn Bính.
Tác giả Lỡ bước sang ngang tự mắc luôn vào Hoàng, điều này đâu có lạ gì đối với nhà thơ cát bụi ấy. Lạ là lạ ở chỗ anh chàng học trò mặt trắng, hiền lành như con gái kia, là Tô Hoài, cũng nhất định xin kết thành bộ ba “Giang hồ vặt”.

Hoàng cảm thấy hơi nguy, cái nguy của một đầu tàu đang lúc cạn than, củi. Không lẽ chạy toàn bằng nước lã hay sao?

Nhưng, đã đi thì phải đi cho trót. Đến đâu thì đến đâu. Hãy biết một điều: Không mất tiền mua vé cũng cứ “đi” và cứ “đến” được. Hoàng quen khắp mặt các “xếp tanh” (Chef de train) trên quãng đường sắt này mà.


* * *


Bính và Tô lang thì thích thú lắm, mặc dầu riêng chàng Tô có hơi run…

Bánh sắt quay thong thả, chừng 30 cây số một giờ, nhưng rồi thoáng cái đã đến ga Bắc Ninh lúc nào không biết.

Trên sân ga chỉ thưa thớt mấy chục hành khách; Hoàng nhận ra ngay trong số những tà áo màu tung bay phấp phới một dáng vẻ quen quen. Thì vừa đúng kịp đôi mắt lá răm nhìn lên, và tiếng reo lớn được ném ra, át cả tiếng “xình… xịch” của máy hơi nước.

“Anh Hoàng đấy hả? Chị Tuyết vừa xuống Hà Nội rồi. Em ra đón người quen nhưng chưa thấy bóng vía đâu cả. Anh xuống chứ?”.

Hoàng đẩy vội hai ông bạn quý vào trong toa rồi cũng vào theo; và ló đầu ra ngoài khuôn cửa, nói một cách uể oải lừng khừng:

“Xuống làm gì bây giờ? Thôi để ít hôm nữa Tuyết nó về hẵng hay”.

Cô đào rượu ở nhà hát của Tuyết xóm Niềm nhe răng cười, có vẻ thông cảm lắm.

Cờ lại phất. Còi lại thổi. Và chuyến xe lại tiếp tục lên đường, đem theo ba gã hành khách bất đắc dĩ…

Nhưng chỉ một giờ đồng hồ sau thì đến chỗ “sơn cùng thủy tận”. Vì chuyến xe lửa này chỉ đi đến Phủ Lạng Thương là hết nhiệm vụ. Mà đây, Phủ Lạng Thương rồi. Nguy chưa!…

Đành kéo nhau xuống vậy. Mặt trời cũng đang xuống. Màu nắng quái lê thê trên tỉnh lỵ Bắc Giang. Ngày mùa Hạ dài thật. Và như thế, đêm nay sẽ ngắn. Lời tục nói “Tháng năm chưa nằm đã sáng”; âu cũng là một điều may cho Hoàng.

May nữa là Tô Hoài chợt nhớ ra một người, chắc chắn đang có mặt trong dãy phố yên tĩnh của phủ Lạng, sông Thương. Người ấy là Bàng quân Bá Lân, có nhiều thơ đăng báo và in thành sách, lại có nhà cửa ruộng nương, đồn điền trang trại, khét tiếng vùng này.

Khốn nỗi cả ba đều chẳng ai từng có dịp nhất kiến với ông Bá họ Bàng cả. Không biết đến quấy rầy người ta có tiện chăng?

Nhưng suy đi xét lại, đằng nào cũng là trong văn giới với nhau. “Tương phùng hà tất tằng tương thức”. Bạch Cư Dị chẳng đã bảo thế là gì!…

Quả nhiên khi gặp nhau, chẳng một ai bỡ ngỡ; khách thì rất tự nhiên, mà chủ thì cười nói liên hồi, ra chiều thích thú, an nhiên tự tại lắm.

Rồi cơm được bưng ra, khả dĩ ăn no bụng. Câu chuyện thơ văn cũng được đề cập, khả dĩ thêm hương vị cho chén trà mạn đàm…

Và rồi chủ nhân mời khách cùng ra đường:

“Chúng ta đi dạo phố một lát cho tiêu cơm. Đến cầu sông Thương sẽ quay về ngủ cũng còn sớm chán!”.

Câu nói giản dị này đã tác động với ba chiều hướng khác nhau trong tâm lý rất phức tạp của bộ ba Hoài, Hoàng, Bính.

Chàng Tô thì mãn ý quá. Nhà văn thư sinh này chỉ phiêu lưu theo kiểu Dế Mèn. Bỗng nhiên được ngao du không mất tiền, lại được ăn ngon và hứa hẹn một giấc ngủ kỹ; thế là nhất rồi!

Còn Hoàng, chẳng vui chẳng buồn. Công trình dự định đã sai bét cả, thôi đành lẽ phó cho định mệnh đẩy đưa. Đối với Hoàng, cái tỉnh lỵ Bắc Giang này quá quen thuộc. Cả đến con sông Thương nước chảy đôi giòng kia, đục phía nào trong phía nào Hoàng cũng nhắm mắt mà thấy được. Lại thấy cả trong ký ức những nhà ai nơi xóm hát bên kia cầu! Nhưng thôi, gió chưa lên, hãy dạo mát đôi ba vòng rồi về ngủ cũng tạm ổn. “Đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục” mà!

Tuy nhiên, Bính thì hận lắm. Nhà thơ này cứ tưởng thế nào chủ nhân cũng đãi một chầu hát linh đình, gọi là đánh dấu cuộc hội ngộ “Tứ bất tử” mới đích đáng chứ! Đi khắp thiên hạ, mòn gót giầy gẫy bánh xe để tìm “tri kỷ”, mà “tri kỷ” lại bảo dạo phố rồi về ngủ sớm, trước mười giờ tối; hỏi có ức không?

Thế rồi lỉnh kỉnh suốt đêm hôm ấy, Bính cứ ngồi dậy hút thuốc lào vặt hoài.

“Lắm muỗi quá, Hoàng nhỉ?”

“Ừ thì lắm muỗi. Ở đây gần rừng rồi mà! Phủ Lạng còn khá đấy, chứ lên chút nữa, như Bố Hạ, Bắc Lệ thì phải biết, thiếu màn, không nhắm mắt được yên đâu!”

“Thế mà Tô Hoài nó ngả lưng xuống là “kéo gỗ” liền. Chịu thật!”

“Thì đang sức ăn sức ngủ của người ta”.

“Đành rồi! Nhưng chúng mình khác”.

Làm thế nào cho qua được đêm nay đây?… À, Bính với Hoàng liên ngâm một bài chơi đi. Thử lấy vần điệu làm binh lực phá cái thành Sầu này xem sao!

“Phá thì phá. Ra quân trước đi! Cho nó “Lỡ bước…” một thể”.

“Khó gì. Đây câu đầu: Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương”.

“Vần này dễ. Hoàng nối đây này: Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương”.

“Hay! Tiếp câu ba luôn đi; rồi Bính sẽ đối cho thành câu bốn và ném câu năm ra liền”.

“Thong thả! Ý thì sẵn nhưng vận dụng chữ nghĩa hơi khó. À, đây rồi: Sở tại bàng quan chầu xuống xóm”.

“Chữ “bàng quan” nhẹ quá, nhưng chữ “Sở tại” thì hay, hay!… Bính đọc tiếp câu bốn câu năm nhé!”

Nói vậy thôi chứ Bính loay hoay mãi, hút đến cả chục mồi thuốc lào, và bị Hoàng giục đến lần thứ ba rồi Bính mới cười vang lên, và lấy giọng đọc:

“Thi nhân bá ngọ chuyến lên đường.
Hai giòng trong đục thêm ngao ngán”.

Hoàng trầm ngâm một phút:

“Dùng chữ “bá ngọ” người ta tưởng mình là sư thì sao? À mà… “Anh hùng mạt lộ án vi tăng [1]”; làm sư một nửa thì “bá ngọ” được lắm!

Nhưng “Hai giòng trong đục”, khó đối cho Hoàng quá! Đề nghị sửa thế này:

“Giòng trong giòng đục thêm ngao ngán,

Và Hoàng sẽ đối:
“Chùm chín chùm xanh uổng vấn vương”.

Bính nhảy dựng lên:

“Tài lắm. Gợi cảm đến chết người! Hoàng làm cho Bính càng hận vô tả. Nghe rõ từng tiếng đàn đáy đang “chùm chín chùm xanh” ở bên tai…”

Thế rồi cả hai cùng nằm xuống giường nghĩ nốt hai câu kết. Loanh quanh thế nào ngủ quên mất. Chắc chắn là Bính ngủ sau Hoàng.

Mãi đến khi cáo biệt Bàng quân ra ga Phủ Lạng để “hồi đô”, mới hoàn tất được bài Liên ngâm, trước sự ngạc nhiên của tác giả O Chuột và Dế mèn phiêu lưu ký.

Chép lại toàn bài như sau:


Tô Hoài, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương
Còi thét vào ga Phủ Lạng Thương.
Sở tại bàng quan chầu xuống xóm,
Thi nhân bá ngọ chuyến lên đường,
Giòng trong giòng đục thêm ngao ngán,
Chùm chín chùm xanh uổng vấn vương.
Nằm muỗi qua đêm chờ sáng dậy:
Còn xe Phong hỏa xé màn sương!”


Hoàng Yên Lưu
Nguồn: Blog Hoàng Yên Lưu


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 20187:43 SA(Xem: 64)
Nhà văn Phạm thị Hoài đồng lứa với Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp… nghĩa là những người lớn lên trong chủ nghĩa xã hội
11 Tháng Mười 20188:14 SA(Xem: 139)
Trên đường về nguyên quán Quảng Nam - tôi có đọc ở tạp chí Văn một bài thơ của Vũ Hữu Định...
05 Tháng Mười 20187:18 CH(Xem: 78)
GIỖ THỨ BA NHÀ VĂN VÕ PHIẾN 20/10/1925 - 28/9/2015. Thế giới trong tác phẩm của Võ Phiến là thế giới bề bộn chi tiết: việc có, sự việc có, vật có, sự vật có, rồi những ý nghĩ thoáng qua
01 Tháng Mười 20187:56 SA(Xem: 173)
Tên thật: NGUYỄN THIỆU HÙNG. Nơi sinh: Hà Nội. Năm sinh: 1937. Năm mất: 20/02/2002 tại MD, MỸ.
27 Tháng Chín 20187:23 SA(Xem: 201)
Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo