DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,340,449

Tướng Phạm Ngọc Sang - Phượng Hoàng gãy cánh - đỗxuântê

Wednesday, May 13, 201512:00 AM(View: 4261)
Tướng Phạm Ngọc Sang - Phượng Hoàng gãy cánh - đỗxuântê


Tướng Phạm Ngọc Sang

Phượng Hoàng gãy cánh



Image result for tướng không quân Phạm Ngọc Sang

Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang

 

Bốn mươi năm nhìn lạì ngày Phan Rang thất thủ, tôi lại nhớ một khuôn mặt tướng lãnh cựu tư lệnh sư đoàn 6 không quân (bản doanh đóng tại Pleiku), người đã bị địch bắt tại chiến trường, bị đem ra Bắc và trở thành người tù có thâm niên cao nhất (17 năm).

Trong số các sĩ quan bị trả thù sau cuộc chiến, ông là người vào tù sớm nhất (16-4-75) và ra trại trễ nhất (11-2-92). Thân tàn lực kiệt ông sống thêm được 10 năm và mất tại Quận Cam năm 2002. Trước khi mất ông dồn sức cố viết một hồi ức về trận đánh Phan Rang và làm một điều chẳng ai bắt ông phải làm là tỏ lời cáo lỗi cùng đồng bào qua mấy dòng bi tráng, ‘Tôi cảm nhận rất có tội với đồng bào, vì làm tướng mà không giữ được thành.’

Nói đến quân chủng Không quân người ta nhắc nhiều đến những khuôn mặt vừa hào hoa vừa gan dạ, lấy không gian làm nhà, lấy nghiệp bay làm lẽ sống, và trong hàng tư lệnh mang sao đã có hai ông một thời làm tới Phó tổng thống và một ông làm tư lệnh cảnh sát đã tự tay bắn chết tên VC trong tết Mậu thân (mà sau này hãng CNN đã chọn là một trong số 100 ‘sự kiện’ nổi bật của…thế kỷ 20!).

Nhưng dư luận và báo chí ít chú ý đến vị tướng gốc Nam bộ này, tên ông chỉ được nhắc khi được đề bạt làm tư lệnh một sư đoàn sau chót của không quân mới thành lập cuối năm 1972 nhằm yểm trợ cho chiến trường cao nguyên và trở thành bại tướng khi ‘Phượng Hoàng’ (danh xưng chỉ huy của ông) gãy cánh tại Phan Rang hai tuần trước ngày mất nước.

Ngược dòng tiểu sử ít ai biết tướng Phạm Ngọc Sang, người đã có gần 25 năm quân vụ, nguyên xuất thân là một sĩ quan bộ binh (khóa 1 Thủ Đức), sau được tuyển sang không quân du học tại Pháp, trở thành một phi công chuyên lái vận tải. Nhờ tài năng và tác phong gương mẫu, ông được tin cậy và là một trong ba người được chọn lái riêng cho tổng thống Diệm. Sau 63 trả về không quân ông tiếp tục bay và có thời đã làm Chỉ huy trưởng trung tâm đào tạo phi công tại Nha trang. Ông cũng là chánh võ phòng cho tướng Kỳ khi ông này làm chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương.

Trước khi vào quân ngũ ông cũng từng là nhà giáo, có kiến thức văn hóa, song hành với nghiệp bay, ông là sĩ quan cấp tá duy nhất tốt nghiệp các khóa quân sự về chỉ huy tham mưu và quốc phòng nổi tiếng của Việt nam và Hoa kỳ, đáng kể là khóa cao đẳng quốc phòng (VN), chỉ huy tham mưu cao cấp tại Leavenworth (Kansas) và quản trị quốc phòng tại trường đào tạo hậu đại học của Hải quân Mỹ tại Monterey (California).

Cứ dựa vào thâm niên và tài năng ông xứng đáng trở thành Tư lệnh của quân chủng, nhưng vốn không có tham vọng, lại khiêm tốn, không phe cánh, mãi đến 1972 mới lên tư lệnh và được thăng một sao một năm trước ngày gãy cánh. Cũng năm này được tuyên dương trước toàn quân với Anh dũng bội tinh kèm nhành dương liễu về công trạng yểm trợ không lực hữu hiệu cho chiến trường cao nguyên.

Là người hay viết về ‘chân dung tướng lãnh’ của Quân lực VNCH khi các vị nằm xuống, tôi hụt viết về chuẩn tướng Sang khi ông từ giã bạn bè và người thân vì ngày ấy tôi chưa quay lại làng văn làng báo. Nhưng cũng may tôi có dịp gặp ông hai lần trớ trêu thay trong cùng cảnh tù của một trại giam hắc ám nhất miền Bắc, trại Nam hà, rồi khi ra hải ngoại lại có dịp được biết thêm về ông qua các sĩ quan thuộc cấp đã gần gũi ông tại Pleiku và những tháng ngày cuối cùng trước ngày Sài gòn tắt thở.

Viết về ông hơi khó vì bản thân ông không thích người khác ca ngợi mình, lại càng kín tiếng vì không thích chuyện chính trị, ông là một mẫu quân nhân thuần túy, dù là một phi công mang tiếng hào hoa nhưng cá nhân lại hết mực nghiêm túc, trọng quân phong quân ký, có thể vì gốc nhà giáo và luôn tỏ ra gương mẫu trong nếp chỉ huy của quân trường, nơi một lần ông đã uốn nắn các sinh viên sĩ quan theo đuổi nghiệp bay cả về kỹ thuật lẫn tác phong.

Tôi nhớ lần lén gặp ông trong khu biệt giam tướng lãnh, khó ai ngờ ông là tướng một sao, cảm tưởng nhìn ông cặm cụi tưới mảng rau thơm và rau cải để tự cải thiện trong một khu đất khép kín của trại tù, người ta hình dung giống như một ông giáo già người Nam bộ đang chăm sóc mảnh vườn nhà èo uột dưới quê.

Nhưng bên trong con người này là một nhân cách đáng kính, lầm lỳ ít nói, ngay cả khi địch bắt cũng chẳng khai thác được gì, bảo lên đài nói để kêu gọi binh sĩ ta đầu hàng buông súng ông không chịu làm, bảo thành khẩn khai báo quá trình bản thân để sớm được tha ông vẫn an nhiên tự tại, ông không dại gì mà chống khi cánh bay đã gãy, nhưng phía cán bộ địch vận ở trung ương và quản lý trại giam nơi nhốt ông, họ biết người này khó mà ‘chiêu hồi, cải tạo’, có thể vì vậy mà khi trại giam tù cải tạo cuối cùng trên đất Bắc đóng cửa, người ta đem ông về Nam để nhốt thêm. Ông là người cuối cùng ra khỏi trại giam sau 17 năm, chính thức khai tử cái chính sách khoan hồng mà cộng sản rêu rao dành cho những kẻ cựu thù của chúng.

Trở lại những ngày cao nguyên di tản, ông là nhân chứng đầu tiên ngoài tướng Nguyễn Văn Phú, người nhận lệnh từ tổng thống Thiệu. Ông vẫn hận về cái lệnh quái đản bằng miệng từ người tổng tư lệnh cho một tư lệnh quân đoàn qua đường điện thoại (từ Khánh Hòa Nha Trang), áp đặt một quyết định sinh tử cho việc tháo lui bỏ ngỏ một vùng cao nguyên chiến lược mà chính người thi hành chỉ có không đầy… 72 tiếng đồng hồ để sắp xếp!

Ông vẫn còn nhớ như in trong cuộc họp tham mưu tại văn phòng tướng Phú, cú điện thoại gần như độc thoại từ đầu dây bên kia và phía đầu dây bên này chỉ có những độc âm…dạ, dạ, dạ,…rồi ngưng, không kịp để phát thêm một lời xin giải thích và nhu cầu thời gian cho một cuộc di tản chiến thuật vô tiền khoáng hậu. Mặt buồn như người đưa đám, người tư lệnh cấp cao hơn ông chỉ đạo các đơn vị tự lo lấy phương tiện chuẩn bị băng qua con lộ 7, mà mấy ngày sau thành tử lộ trên đường rút về Tuy hòa, một thị trấn gần Nha Trang, nơi chưa đầy một tuần trước ông Thiệu và đoàn tùy tùng có cả đại tướng Cao Văn Viên đã có mặt tại đây.

Chưa đầy một tháng sau, bản đồ miền Nam được vẽ lại, Phan Rang trở thành tuyến đầu của lãnh thổ cộng hòa. Tướng Thiệu cho gom góp các đơn vị vừa tản hàng sau cuộc di tản, từ cao nguyên đổ về, từ miền Trung dạt xuống, bằng mọi giá phải bảo vệ thị trấn này cũng là hometown của ông, không để cho Bắc Việt lấn chiếm thêm. Từ đây, tướng Sang thêm một nhiệm vụ mới, làm phụ tá cho tướng ba sao Nguyễn Vĩnh Nghi, một cựu tư lệnh đồng bằng sông Cửu đang bị thất sủng nên chịu giữ chức tư lệnh tiền phương phòng thủ Phan Rang.

Có một giai thoại là tại mặt trận tiền phương, tướng Nghi đã chỉ định tướng Sang đặt bộ chỉ huy trên không để dề bề điều động phối hợp, nhưng ông đã nói đùa, ‘tướng 3 sao dưới đất, tướng 1 sao trên trời coi sao tiện’, ông đã xin cùng ngồi ở bộ chỉ huy đóng gần phi trường, để rồi cùng số phận ít ngày sau khi Phan Rang thất thủ cả hai ông trở thành tù binh có cấp bậc cao nhất bị bắt tại chiến trường. Một thuộc cấp cũng là bạn của tôi thuật lại nếu Phượng Hoàng cứ ở trên không thì chiếc vận tải biết đâu đã quay hướng Sài gòn và số phận của mấy thầy trò đã có ngả rẽ khác.

Viết lại về ông điều đáng nói không phải muốn đề cao một khuôn mặt từng được kính nể cả về tài năng lẫn phẩm chất, cái đáng phục dù không được nhắc nhớ như năm vị tướng đã chết theo thành, nhưng Phuợng Hoàng khi gãy cánh đã trả giá bằng những tháng năm tù đầy gian khổ qua các trại giam của kẻ thù từ Bắc vào Nam, rồi trước khi về cõi đã dũng cảm nhìn lại bằng tri nhớ của mình và nhờ các thuộc cấp bổ sung, ông đã viết được một tài liệu mang tính hồi ức thuật lại trận đánh Phan Rang mà những chi tiết có thể dùng làm tư liệu cho người viết quân sử.

Theo dư luận chung ông chẳng có lỗi gì, trái lại đã làm hết sức mình trước tình hình vận nước đã đến hồi mạt vận, dù ông đã tự thân xin lỗi đồng bào vì đã để mất Phan Rang. Các đồng đội vẫn tự hào khi nhìn lại thấy Thầy mình sống chết có nhau, hơn nhiều kẻ chóp bu đã bỏ thành trước giờ tàn cuộc.

Mọi sự đã thuộc về lịch sử, thắng thua để các người sau phân giải. Bên thắng cuộc họ mới kỷ niệm ầm ỹ 40 năm Sài gòn mất tên, nhưng cảnh đói nghèo tụt hậu vẫn còn là vết thương nhức nhối của một quê hương tan nát.

Tôi mượn lời của các thuộc cấp trong lễ truy niệm với đầy đủ lễ nghi quân cách trong ngày tiễn ông ra đi, “Thôi thì, ân đất nước đã đền, nghĩa đồng bào đã trả, xin Tướng quân thanh thản ra đi”. Chúng tôi, những người lính không cùng quân chủng, với lòng quí mến của các cựu tù xin Phượng Hoàng cứ yên nghỉ ngàn thu.



Viết tại quận Cam 16-4-15

Đỗ Xuân Tê

(tác giả gởi)

 



 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
Monday, August 3, 20205:04 PM(View: 160)
Tôi mang cái túi xách trên vai, nhẹ hèo. Bước khỏi chiếc xe vespa của anh Tôn. Chiếc xe kềnh càng, to đùng, nhưng chạy máy êm re. Anh Tôn làm việc ở nhà máy điện Quảng Ngãi, nay mới đổi về làm tại Đà Nẵng được khoảng một năm. Anh có nhà cửa đàng hoàng, vợ con bảy, tám đứa, nhưng anh sống rất bạt mạng, nhậu nhẹt lu bù. Tuy vậy, anh là người làm ra tiền, quảng đại, hào sảng. Tôi nói với anh Tôn: - Thôi em đi nghe anh Tôn. Cảm ơn anh đã giúp em, hồi hôm nhậu với anh một bữa đáng đời. Vui quá. Anh Tôn nói nhỏ bên tai tôi: - Thôi em đi vào đi. Khi nào được phép ra chơi, nhớ ghé nhà anh, đừng ngại gì hết, nhé. Em nhớ địa chỉ, đi xe ôm có mấy chục bạc. Tôi dạ nhỏ rồi bước vào chỗ bên phải cánh cổng của Trung Tâm 1 Tuyển Mộ Nhập Ngũ, có chòi canh với người lính gác đứng bên trong. Tôi lục túi lấy cái Thẻ Căn Cước và cái Sự Vụ Lệnh, cầm tay. Rồi đến gần nói với người lính gác: - Thưa anh, tôi có Sự Vụ Lệnh vào trình diện ở đây. Xin anh cho vào. Người lính gác đưa tay cầm lấy 2 tờ
Thursday, July 30, 20203:33 PM(View: 275)
Nói đến lính là nói đến sự cơ cực, nhọc nhằn, luôn luôn chạm mặt với cái chết, hoặc đỡ hơn thì bị thương, bỏ một phần thân xác nơi chiến trường...như bản nhạc "Ngày trở về" của Phạm Duy: "Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre nắng vàng hoe..." và "Ngày trở về, có anh thương binh chống nạng cày bừa...". Lứa tuổi của chúng tôi trong khoảng thời gian thập niên 60, 70...thì miền nam không còn bình yên nữa, mà đúng là thời đại chiến tranh, nhất là dịp sau Tết Mậu Thân, 1968. Tôi nhớ, khoảng tháng 5/68, tôi đã nộp đơn thi vào cả 2 nơi: Trường Võ Bị Quốc Gia, khóa 25. Và trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Khóa 2. Tất cả 2 trường đều tổ chức thi (hình như) tại trường Kỹ Thuật, Đà Nẵng. Đà Nẵng, nơi tôi đến chỉ có 2 lần. Lần thi tú tài 1 và lần thi tú tài 2. Tôi không có bà con thân thiết ở Đà Nẵng. Hai lần thi tú tài 1 và 2, tôi đi (ăn) theo một người bạn học cùng lớp. Bạn tôi dẫn tôi ra cùng ở trọ nhà một người bà con của bạn ấy, ở đâu khoảng khu đường rầy
Saturday, July 25, 20207:28 AM(View: 359)
Đó cũng là những ngày Tết Mậu Thân, 1968. Tết Mậu Thân, tôi vê Tam Kỳ ăn Tết với cha mẹ. Lúc này cha mẹ tôi đã tản cư từ Quán Rường xuống Tam Kỳ. Cha mẹ xin dượng Liệu, một người bà con xa với mẹ tôi, một khoảnh đất nhỏ sau vườn nhà dượng, cùng cậu Tiến (em trai mẹ) làm cái nhà tranh nhỏ để có chỗ tạm trú cho gia đình. Cái nhà nhỏ làm chung, nhưng chia làm hai, bằng tấm vách là tấm cót tre. Cậu Tiến tôi lúc này đang làm xã trưởng xã Kỳ Mỹ, nên buổi sáng cậu về quê làm việc, buổi tối, cậu và các con trai cậu về đây ngủ. Tết Mậu Thân, tôi về ở đây, và trong đêm mùng một, nghe đạn bắn tứ tung, từ tiểu khu Quảng Tín, từ Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 6 BB, không biết địch tấn công ở đâu, mà từ nhà cha mẹ tôi, đạn bắn gần như sát sạt. Mẹ tôi hoảng quá, ra ngoài chạy lung tung, khiến tôi sợ quá, phải ra dẫn mẹ tôi vô nhà. Lúc đó tôi thấy chiến tranh thật quá gần kề. Cũng nửa tháng sau, tôi vào lại Quảng Ngãi định để thăm trường cũ. Tôi chưa vào Mộ Đức, vì tình hình trong đó nghe nói còn
Wednesday, July 22, 20206:35 AM(View: 433)
Không biết chữ "lính lác" có từ bao giờ? Có lẽ sau ngày 30 tháng tư bảy lăm. Thời gian đi qua lâu quá, tôi cũng không còn nhớ nổi. Chữ "lính lác" - lính là người gia nhập trong quân đội, lính bắc việt gọi là bộ đội. "Lác" theo tiếng bắc là bệnh hắc lào, theo tiếng miền nam, miền trung, là bị bịnh ngứa nổi lên như đồng tiền. Từ này dùng chỉ những anh lính lội rừng, lội núi, qua truông, qua khe, tháng này qua tháng khác, có lúc không có nước tắm rửa nên bị bịnh "lác". Từ này cũng nói lên với tính cách vui cười là, lính nghèo, lính cực khổ trăm bề, nên lính bị "lác". Tôi dùng từ này với tính cách vui cười, không chê bai hay làm xấu người lính. Chuyện lính thì trăm hình vạn trạng (lính miền nam hay bộ đội miền bắc...). Ý của tôi trong hồi ức này là muốn nói đến lính miền Nam, nơi tôi đã tham gia ở đó hơn bảy năm, từ ngày trình diện nhập ngũ (23-10-1968) đến ngày miền nam tan hàng, quân đội cũng tan theo (30-4-1975). Tôi đi lính ngày 23 tháng 10 năm 1968. Một buổi chiều từ Tam Kỳ chạy
Saturday, July 18, 20202:28 PM(View: 218)
Hôm nay, Giáo sư Kê phải sang làng Ao Xá dự lễ tế thành hoàng, nên ngài dậy từ sớm. Mới khoảng năm giờ sáng, mà ngài đã lục đục chuẩn bị đầu tóc, quần áo, giày tất… Đóng bộ complet chỉnh tề, đứng trước gương soi. Tự cảm thấy hài lòng với mình. Vẫn phong độ lắm. Ngài xịt tí keo lên mái tóc thường xuyên được nhuộm đen nhức, rồi dùng lược chải hất ra đằng sau, bóng mượt. Ngài ngắm nghía dung nhan lần nữa và lẩm bẩm một mình: “Kính thưa ngài Giáo sư Kê, à không, Giáo sư Gà! Thay mặt toàn thể dân làng Ao Xá, nhiệt liệt chúc mừng và cám ơn ngài…”. Hài lòng. Ngài đi sang làng Ao Xá. Thật ra, họ và tên đầy đủ của ngài là Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kế. Có điều, ngay từ buổi đầu tiên đến lớp vỡ lòng của thày giáo Hà, ngài giáo sư tương lai đã bị nhầm tên, Kế thành Kê. Kể ra thì cái sự nhầm ấy cũng dễ giải thích, hai chữ ấy khác nhau mỗi dấu sắc. Mà tay thư ký, khi làm giấy khai sinh cho con ông chủ tịch uỷ ban, lại hứng khởi sao đó, viết kiểu chữ phăng-tê-di (Fantaisie) Nên dấu má chả đâu vào