DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,819,414

Miền Hoang Tưởng (Kỳ 7, 8) - Đào Nguyễn

25 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 1906)
Miền Hoang Tưởng (Kỳ 7, 8) - Đào Nguyễn

Miền Hoang Tưởng




blank
Đào Nguyễn


 

Ngà ơi!

 Anh thèm viết thư cho em quá. Anh hứa với Mai sẽ không bao giờ gửi cho em một dòng chữ. Anh nhất định sẽ không gửi. Nhưng có ai cấm anh viết những “ lá thư không gửi” đâu. Nhiều người ở nông trường về bảo em rất buồn. Người ta nói con vượn dạo này hú trên đầu nhà em rất nhiều. Có khi nó hú suốt đêm. Mai giết chồng nó, con nó, nó oán hờn Mai. Kẻ yếu đang dùng tiếng khóc để giết kẻ thù. Người ta kể lại rằng Mai đeo súng trên vai suốt đêm ngày. Anh ta định dùng súng để dập sự oán hờn. Mai đêm ngày chỉ nghĩ đến máu ấy chắc chắn rất điềm tĩnh. Mai là con người luôn điềm tĩnh và tự tin vào sức mạnh của mình đến mức cuồng nhiệt. Con người sùng bái sức mạnh ấy đã đeo súng đến gặp tôi. Có lẽ anh ta nghĩ súng đẻ ra tình yêu. Với một khẩu súng và một gói bạc, anh ta gặp tôi đường hoàng quá.

 Bông hoa ban trắng trong mảnh dẻ của anh ơi! Chẳng lẽ con người như Mai lại đem đến cho em sự bình an.

 Chúa Trời đêm qua đến gặp anh:

” Con thấy chưa? Con không chịu giã từ những suy nghĩ điên rồ, con không chịu noi theo đường ta, nên bây giờ con là kẻ thất bại.

Tôi im lặng, chẳng muốn tranh cãi với Chúa về câu chuyện cũ rích ấy nữa. Còn Chúa thì tươi cười, hôm nay Chúa có bộ mặt vui vẻ khác hẳn mọi khỉ. Chúa hớn hở rút trong ngực ra một vòng hoa, vòng hoa nhiều màu tím, vàng, trắng đỏ… vòng hoa tươi tắn, vui mắt, đẹp đẽ và đậm đà đến nỗi sắc màu của nó thoát ra khỏi hồn hoa để tạo thành một vầng sáng lấp lánh quyến rũ.

” Con coi vòng hoa này đẹp không?

” Thưa Chúa, nhìn nó tâm hồn con ngây ngất.

” Lòng của Cha các con bao giờ cũng rộng rãi. Con người rơi xuống hỏa ngục, Cha các con còn giơ tay cứu vớt. Ta ban cho con chiếc mũ đội đầu, cái mũ xua tan những buồn phiền trần tục. Đó là vòng hào quang ta tặng thưởng những người có linh hồn trinh bạch. Con lạc đường nhưng con vô tội, con lạc đường nhưng lòng con bao giờ cũng hướng về sự tốt lành. Ta yêu con, ta muốn ban cho con hạnh phúc. Con hãy đón nhận và đội lên đầu món quà thưởng. Ta hiểu con là kẻ xứng đáng….

 Sao Chúa tôi nói ngọt ngào đến thế ! Nghe những lời hứa hẹn ban phát dịu dàng, mà chưa một lần tôi được hưởng, lòng tôi bỗng ngây ngất. Tôi cảm động:

” Thưa Chúa: Con là kẻ có tội.

” Con vẫn xứng đáng được đội vòng hào quang rực rỡ.

 Tôi băn khoăn, ngạc nhiên vì thái độ quảng đại hiếm có ấy. Tôi cúi xuống. Chúa âu yếm đặt vòng hoa lên đầu tôi. Chao ôi! Choáng váng! Cảm giác như vừa được uống một ly rượu quái dị chưa bao giờ từng nếm. Đầu óc chợt như quên phiền muộn. Nhưng tính tôi khiêm nhường, tôi cảm thấy ngượng với vòng hoa sáng chói trên đầu. Tôi lúng túng gỡ vòng hoa rực rỡ khỏi đầu. Bỗng nhiên, tôi thoáng nhìn thấy nét mặt Chúa cau lại.

 Kỳ lạ chưa! Tôi bỗng nhiên phát hiện ra được một điều lý thú: Đội vòng hoa lên đầu, tôi thấy gương mặt Chúa sao mà đẹp đẽ. Tháo vòng hoa ra, bộ mặt hiền vui của Chúa lập tức thay đổi ngay.

 Chúa có hai mặt sao? Tôi sợ hãi cầm vòng hoa trên tay, lòng bối rối: “ Có phải đây là vòng hoa ma quái mà Chúa định lừa dối tôi? Hay là đôi mắt đau ốm của từ ít lâu nay đã làm tôi nhìn sai lệch?”

 Tôi còn đang mải suy nghĩ bỗng nghe thấy tiếng chim hót lanh lảnh trên đầu. Ngẩng lên, bỗng trông thấy con sơn ca quen thuộc, con chim ủ rũ trong bức tranh “Chúa chơi chim” của Minh. Con chim trước kia bị Chúa ràng buộc bằng sợi dây xích sắt, giờ đây chim đã được tự do. Sợi dây xích đã biến mất. Con chim đang lượn vòng quanh Chúa mà hát một bài tụng ca. Ca rằng:

 Cảm ơn Chúa đã cho ta đời sống

 Cảm ơn Người đã vạch lối ta đi

 Cảm ơn Chúa Trời, Người là chân lý

 Trên đầu con chim sơn ca của Minh cũng thấy đội một vầng hào quang. Cầm chiếc mũ lóng lánh của Chúa ban trên tay, tôi nhận xét sự vật được bình tĩnh hơn. Trong đầu tôi bỗng nảy ra một so sánh. Chiếc dây xích buộc chim sơn ca đã biến mất, thay vì vào đó là chiếc mũ hào quang. Trước kia chim u buồn, bây giờ chim ca hát. Tôi chợt hiểu ngay tác dụng màu nhiệm của vòng hào quang. Tôi hiểu chúng ta đang bị Chúa cầm tù bằng sự ngọt ngào. Con chim khi bị cầm tù bằng sợi dây xích, nó u buồn phản đối. Nhưng khi bị cầm tù bằng ánh hào quang rực rỡ, lập tức chim liền hát bài tụng ca Chúa. Ôi chiếc mũ hào quang! Nhiệm màu thay vòng hào quang!

 Trong khi hai thầy trò Chúa và chim còn đang mải mê ca hát với nhau, tôi lặng lẽ lẩn vào bóng tối mất. Tôi sợ ánh hào quang tạo – nô của Chúa. Ánh hào quang làm họ quên hết, say tiếng ngọt ngào họ quên trời đất, say tiếng tụng ca họ quên nốt cả tôi.

…. ….

Mới đi được nửa tháng, Ngọ đã trở về Hà Nội. Gặp tôi, Ngọ dẫn ngay đến quán bia. Anh tâm sự:

 – Mình không thể sống xa Hà Nội, bây giờ Lan cũng nhận ra điều ấy. Mình là “phó thường dân” không có giấy tờ. Mà ở đâu người ta cũng đòi hỏi mình phải có một mảnh giấy chứng nhận. Mình đến nhà một người bạn ở Yên Bái. Vùng ấy đất rộng. Người bạn bảo sẽ tạo cho mình một mảnh đất. Nhưng mới đến hôm trước, hôm sau đã có người đến hỏi giấy. Mình nhũn nhặn trả lời: “ Báo cáo thực với ông, tôi không có giấy tờ gì cả”. Người cán bộ xã kinh ngạc: “ Sao? Con người ở thời này mà lại không có giấy tờ?’’Anh ta lạ lùng tròn mắt nhìn mình từ đầu đến chân. Mình vạch đùi, vạch bụng phô bày những vết sẹo ở chiến trường ra và nói : “Báo cáo đồng chí, tôi chỉ có thứ giấy tờ này chứng nhận’’. Anh cán bộ xã cười rộ: “Những vết sẹo không có mồm. Làm sao chứng minh nổi cho công trạng của anh và đảm bảo nổi về mặt chính trị cho anh”. “ Sẹo không có mồm, nhưng tôi có mồm”. Mình liền kể cho người hỏi giấy nghe những từng trải trong chiến trường miền Nam của mình. May thay, anh cán bộ này cũng đã là bộ đội cũ và cũng đã ở chiến trường B. Một vài nơi mình kể anh ta đã đi qua. Ngôn ngữ bộ đội lại có màu sắc riêng biệt, nên anh ta dễ nhận ra ngay. Anh bảo : “Cũng may mà anh gặp tôi. Anh không có giấy, nhưng tôi công nhận đúng anh là người đã tham gia đóng góp cho Tổ quốc. Thôi ! Anh nên về Hà Nội. Ở đây không có lợi cho anh. Gặp người khác, dù anh giở những vết sẹo này ra, người ta cũng không thể thông cảm được”.

Mình nghe anh ta. Hôm sau, hai vợ chồng rời ngay khỏi đấy. Đi bộ trở về. Không dám vào nhà ai nữa. Suốt mấy hôm liền, vợ chồng ngủ ngoài đồng vắng. Chúng mình đã yêu nhau giữa đồng. Mình thì chẳng sao, nhưng đối với Lan, chuyện đó thành vấn đề. Lan tế nhị, cô ấy không muốn thân thể bị lõa lồ dưới ánh trăng. Lan thuộc dạng người đàn bà yêu đằm thắm, nhưng phải có bóng tối che chở. Lan mảnh dẻ quá ! Bây giờ mình mới hiểu thế nào là giá trị của một cái “Vòm”. Mình buồn phiền biết bao, nhất là sau lúc yêu đương. Lan thì thầm bảo: “Dù có cái nhà chỉ là một túp lều rách em cũng quý. Có cái nhà mới thành vợ chồng được. Chúng mình lấy nhau, ăn ở với nhau song em có cảm giác như đôi ta chỉ là một cặp tình nhân vụng trộm”. Nghe cô ta nói, lòng mình cứ nhoi nhói.

 - Vậy bây giờ anh định tính sao ?

 – Còn ra sao ? Bây giờ Lan phải tạm về nhà cha mẹ cô ấy. Còn mình thì lại ngủ ga. Ngọ cười.

Một thanh niên ăn mặc rất hợp thời trang đi qua hỏi:

 - Anh Ngọ cười gì thế ?

 - Xin chào anh bạn! Cười vui thôi.

Tôi hỏi Ngọ:

 - Ai đấy ?

Ngọ nói nhỏ vào tai tôi:

 - “ Mú chim”

Một người cầm một cuộn sách dầy cộp trên tay, điệu bộ như ông nhà văn Hoàng Liên Sơn con gật đầu chào Ngọ:

 - Sao lâu nay vắng mặt anh ở quán bia ?

 - Tôi có việc bận ít ngày.

Tôi hỏi lại:

 - Ai đấy?

 - “ Mú văn hóa”

 Tôi tròn mắt ngạc nhiên. Ngọ ghé miệng vào tai tôi:

 – Có lẽ ở quán bia, men vào, người ta hay nói nhiều. Vả lại, ở đây, đông cánh văn nghệ, thêm vào đó là những kẻ kiếm được nhiều tiền, cho nên công an ở đây khá nhiều. Ví dụ tay mặc áo bờ lu dông bộ đội kia là một, tay béo phị, đầu hói, đeo kính trắng là hai, tay lực lưỡng đang cười kia là ba…Nói chung mình quen biết họ, và nói chung, họ nể mình.

 – Nể ông ? Tôi ngạc nhiên rồi thành thực buột miệng một câu đến ngốc nghếch. Có lẽ cậu cũng là “mú” ? Có thể cậu giả vờ làm “ phó thường dân”?

Ngọ bật cười to :

 - Ở đây rất nhiều người cũng nghĩ như thế. Họ tưởng mình là “ mú”. Cả đến “mú” cũng tưởng mình là “mú”. Logich là thế này: Thằng Ngọ suốt ngày ở quán bia, nó sống bằng gì? Tại sao nó đàng hoàng như vậy? Ai chu cấp cho nó? Ai cho phép nó được nói năng một cách tự nhiên và tự do về nhiều vấn đề? Hắn sống được như thế chắc chắn chỉ vì hắn là “mú”. Thì cứ cho người ta tin như thế, mình thản nhiên sống đàng hoàng. Họ thích gán cho mình là gì cũng được. Mình sống rất bằng vai phải lứa với các loại người. Mình đi lại chơi bời với “mú”, coi họ cũng giống như mọi người. Và mình càng tự nhiên như thế thì mọi ngươì càng tin mình là “mú”. Mặc cho ai nghĩ về mình thế nào cũng được. Điều chắc chắn là những ý nghĩ ấy cũng không thể làm thay đổi mình đi. Có người khinh mình, có người yêu mình, có người phục mình, thậm chí có người nể mình. Mình là người ở ngoài lề cuộc sống nên những đánh giá ấy hầu như là những ngộ nhận, vì thực ra có ai hiểu mình đâu. Điều quan trọng là phải gìn giữ sao cho mình vẫn là mình.

Ngọ im lặng rồi hỏi tôi:

 - Người ta nghĩ như thế, còn riêng anh, anh có tin tôi như thế không ?

 - Riêng tôi không tin.

 - Vì sao ?

 - Khó phân tích. Tôi cảm thấy thế… Nhất là sau khi đọc “Đi tìm nhân dạng…” của anh.

Ngọ nhìn tôi:

 – Cháu Lê…

 - Vâng, cháu Lê cho tôi đọc. Xin lỗi Ngọ. Đáng lẽ phải mượn Ngọ mới đúng.

 - Thôi, không sao. Sở dĩ tôi chưa muốn cho mọi người xem vì thực ra tôi còn đang lần mò…suy nghĩ

Ngọ chợt ngồi im lặng tư lự, anh nhìn cốc bia trước mặt mà anh chưa hề nhấp môi. Hình như anh nghĩ đi đâu, lãng quên cả mọi người chung quanh. Hồi lâu, bỗng anh sực tỉnh, anh lặng lẽ móc túi lấy ra một tờ giấy :

 - Nhân tiện… tôi đưa anh thử đọc một đoạn tôi vừa ghi chép trong chuyến Yên Bái.

Nạn hồng thủy

Hàn Phi Tử là nhà lý luận, người tổng kết của phái Pháp gia.Thương Ưởng là người đã thực hành lý thuyết đó trước Hàn Phi, thời Tần Hiếu Công. Ông là người sáng tạo ra phép “ Ngũ gia liên bảo”. Năm nhà thành một nhóm kiểm soát lẫn nhau, tố cáo lẫn nhau. Nền pháp trị Thương Ưởng lúc đầu đã làm nhà Tần hưng thịnh lên. Nhưng càng về sau lòng dân càng ta thán. Thương Ưởng nằm trên đống lửa mà không biết sợ. Khi mà Tần đổi chủ, Thương Ưởng trốn chạy, không có chốn dung thân. Chính nhân dân đã tố cáo Thương Ưởng. Phép Ngũ gia liên bảo do ông sáng tạo nay chính nó lại giết ông.

Điều đáng quan tâm hơn hết ở đây không phải là số phận Thương Ưởng. Cái nghiêm trọng là: ông ta, trong pháp trị, đã khơi dậy cái tâm lý hèn kém và dã thú của người dân. Đó là lòng đó kỵ moi móc; đó là sự tố cáo,vu khống, đó là sự nghi ngờ tràn lan đến nỗi người chẳng tin người.

Cái hại trước mắt có khi không thấy. Thậm chí người cai trị thấy lợi vì dân nem nép sợ sệt. Cái di họa mới là khủng khiếp. Con người sẽ quen thói bạo tàn ti tiện. Con người chỉ chăm lo dòm ngó đố kỵ đồng loại, dẫm đạp lên xác đồng loại mà tiến. Tâm lý ác được khơi gợi và dung túng dẫn đến chỗ phá tan rường cột đạo lý. Con tố cáo cha, vợ tố cáo chồng. Rồi lường thầy phản bạn…Tâm lý độc ác dã thú thống trị.

Ôi nạn đại hồng thủy!

Chợt nhớ tới một ông vua nước Pháp đã có câu nói trắng trợn nổi tiếng: “Sau ta là nạn hồng thủy”. Đó là sự nổi tiếng về sự vô trách nhiệm, phi đạo lý. Chỉ cần cái trước mắt thôi ư ? Sau ta, là nạn hồng thủy cũng mặc xác ư ? Đáng đào mồ lên kẻ nào dám nghĩ trong lòng câu nói đó.

Kìa trước mặt tôi, trên đỉnh Hoàng Liên Sơn thấy một đám cháy. Người ta đang đốt rừng làm nương. Hỡi kẻ đốt rừng ! Ngày mai ngươi sẽ được củ sắn, nhưng ngươi có biết rằng, mười năm sau hoặc vài chục năm sau, những vạt rừng cháy sẽ gây nên những cơn lũ lớn. Những vạt rừng cháy sẽ gây nên nạn hồng thủy.

Hỡi kẻ đốt rừng ! Ngươi đang đốt đỉnh nhà chúng ta đó. Ngươi có biết không.

…. ….

Tôi giật mình khi bước vào xưởng họa của Minh. Hai bức tranh sơn dầu khổ to được treo cạnh nhau trên mảng tường chính giữa nhà. Bên trái là bức tranh cũ “Chim ngủ trên tay bé nghèo” màu nâu. Em bé gầy, mắt to thơ ngây chìa bàn tay xinh xắn cho con chim sẻ lông sù đậu. Hình như con chim đang chiêm chiếp giải khuây cho cô bé gầy với vẻ mặt ưu phiền.

Bức tranh bên phải là bức tranh vẽ mới. Màu chủ đạo của bức tranh là màu xám nhạt. Điều làm tôi giật mình chính là bức tranh này. Không biết có một cách giao cảm nào cả mà Minh lại vẽ đúng cái cảnh đêm hôm qua tôi gặp Chúa. Chúa cầm cây thánh giá nơi tay. Trên vai Chúa, con chim đội vầng hào quang đang đậu. Điều lạ lùng: Tôi thấy hình như con chim đội hào quang kia đang xòe cánh, quay đầu về phía con sẻ lông sù trên bàn tay em bé nghèo và mắng mỏ:

 - Em sẻ lông sù! Sao em khóc?

 - Em có khóc đâu, em hát đấy. Em và chị bé nghèo cùng hát. Chúng em hát bài hát ru của mẹ. Buồn lắm hả chị Sơn ca? Chị nghe buồn, nhưng khi hát bài hát ấy thì lòng chúng em lại vơi nhẹ.

 - Sao em chả nghe chị? Bỏ chị bé nghèo mà bay đi… chị sẽ dạy em hát bài của Chúa. Bài hát diệu kỳ! Chị hát lên là Chúa vui mà mình cũng vui. Xưa kia chị ngốc nghếch, chị không chịu học bài ca của Chúa, chị cũng hát như em. Chúa bảo chị hát bài buồn là còn nhớ rừng sâu. Chúa thích loài Sơn ca nhà chị, nhưng Sơn ca chỉ ưa đồi cao, rừng thoáng, không con nào chịu ở với Chúa. Chúa đành phải giữ chị lại bằng sợi dây. Bây giờ, chị được tự do, chị lại được đội mũ thiên thần có hào quang lóng lánh.

Ôi ! Nghe chị nói em sung sướng quá và sinh thèm muốn. Nhưng chị Sơn ca ạ. Nếu em bỏ chị bé nghèo ra đi với chị, thì chị bé nghèo sẽ buồn chết mất. Chị bé nghèo làm lụng khổ sở suốt ngày. Đêm về phải sẽ hát ru lời mẹ cho chị nghe… Mẹ chị ấy chết rồi.

 - Mặc chị bé nghèo. Em hãy lo lấy thân em.

 - Em không bỏ bạn đâu… Nghèo em cũng chịu. Chắc Chúa sẽ hiểu em.

 - Anh lẩm bẩm gì ? – Minh hỏi tôi

Tôi giật mình tỉnh lại. Tôi đang mê ư? Sao nghe Minh nói, hai con chim bỗng dưng đối thoại. Không phải tôi mơ, rõ ràng hai con chim trong tranh biết nói. Kìa mắt con Sơn ca đội mũ hào quang còn đang lóng lánh nhìn, ý như đe dọa không cho phép tôi tiết lộ bí mật! Hừ! Con chim ma quái! Tôi hỏi Minh.

 - Tại sao anh không cho con sơn ca đeo xích như lần trước.

 - Chúa là bậc đại trí, người rất thâm trầm. Sợi dây chỉ là mối ràng cơ học. Khối óc mới là mối ràng buộc máu thịt, nhất là khối óc được đội ánh hào quang.

Đôi mắt con Sơn ca bỗng nhìn tôi hằn học, tay tôi run lên.

Đêm ! Chúa từ bức tranh bước ra. Con Sơn ca bay xung quanh tôi ra lệnh:

 - Anh hãy đàn đi cho Chúa vui.

Tôi cầm cây ghi ta, đánh đoạn Trương Chi mà tôi mới sửa lại. Chim Sơn ca hét lên giận dữ :

 - Hỏng! Hỏng to! Chẳng qua anh là con sẻ lông sù. Anh hát lời quỷ dữ. Hãy bật tiếng đàn và nghe ta dạy từng nét nhạc. Nào, hãy tấu nhạc đệm lên!

 … Cảm ơn Chúa đã cho tôi đời sống

Cảm ơn người vạch lối ta đi

Cảm ơn Chúa trời, người là chân lý.

Tôi run lên, vừa tức, vừa sợ. Tôi không đàn nổi, tôi hoảng hốt vác đàn lên vai lồm cồm chạy trốn. Con chim ma quái vỗ cánh đành đạch và hô hoán:

- Bắt lấy nó! bắt !bắt!

Tôi như tuyệt vọng, hết lối, trước mặt tôi là bức tường đen kịt. Chính lúc ấy,bỗng một bàn tay ấm áp nắm tay tôi. Có tiếng người dịu dàng :

 - Anh đi đâu?

 - Cứu tôi với ! Kìa! Anh Minh!

 - Anh mê ngủ hay sao ?

 - Tôi không mê. Tôi đang tỉnh táo.

Ánh điện bật sáng. Tôi nhìn vào bức tranh. Con Sơn ca đã bay về đậu trên vai Chúa hiền từ. Nó nhìn tôi vẫn bằng cặp mắt đe dọa. Nhưng tôi không sợ! Đã có Minh, ông chủ bức tranh này đây rồi. Nếu cần, tôi sẽ bảo Minh xóa sạch con chim quỉ quái ấy đi bằng một nước sơn dầu trắng toát.

Tôi về nhà Hưng với tâm trạng lo lắng, khắc khoải cao độ. Cả chiều nay, tinh thần tôi căng thẳng như sợi dây đàn được vặn hết cỡ, đến giới hạn. Tôi giở quyển sách nhạc định sửa lại mấy nét nhạc mà tôi đã ghi chép từ mấy hôm trước. Không viết nổi lấy một nốt. Tôi vứt bút, bỏ đi chơi, và không thể phân tích nổi tại sao lòng mình lại bồn chồn đến thế.

Ốm ư? Không! Sáng nay tôi ăn rất ngon ba bát cơm. Tôi lang thang đến mấy nơi quen thuộc. Mấy tay nghệ sĩ cuồng đương khật khưỡng nói những câu to tát. Nghe họ huênh hoang, càng thấy mệt thêm. Thấy mình vô duyên, mà họ thì lẩm cẩm. Lại càng chán ngán!

Hay tại chiều nay trời nóng quá? Trong nhà 38 độ. Hà Nội như sốt. Không gian hầm hập lò nung. Cái nóng, cái oi bức làm đầu óc sưng tấy nhức nhối. Những cây me, cây sấu, cây phượng đứng im tăm tắp. Hồ Gươm mặt phẳng lừ. Thêm một sợi gió – Thôi ! Đi tắm giải nồng. Nhưng lạ thay! Ở nhà tắm ra vẫn cứ lo lắng, bồn chồn.

Hay tại bức tranh “Chúa chơi chim”, vì con Sơn ca ma quái cứ ốp lấy tôi ? Đến lúc này, không ở nhà Minh, không đối mặt với bức tranh, mà vẫn nhìn thấy trong óc đôi mắt láu lỉnh của con Sơn ca thần linh. Đôi mắt ấy lúc này hiện ra, tinh quái nháy tôi.

“ Ái chà ! Cứ ra vẻ! Cứ làm điệu ! Chúa cho mũ hào quang sao không đội? Anh tưởng dễ được Chúa ban cho mũ ấy hẳn. Phải là bậc đại trí, hoặc đại ngu, hoặc đại nhân, hoặc đại ác, hoặc đại thông minh, hoặc đại điên loạn… mới hòng được Chúa để mắt tới. Anh bạn ngẩn ngơ của tôi ơi! Hãy thôi đi cái trò lẩm cẩm…”

Hay là tại không khí nhà Hưng ?…

Cách đây mấy hôm, một anh bộ đội trẻ đến thăm gia đình Hưng. Với dáng điệu tần ngần, anh bộ đội nói:

 - Cháu cùng học Bách khoa với Hùng, cùng xung phong nhập ngũ một ngày với Hùng…

Hưng sung sướng được gặp bạn của đứa con trai. Anh không phải là người sành tâm lý, nỗi sung sướng làm anh mất đi khả năng quan sát. Anh không nhận ra cách nói ấp úng, tần ngần của anh bộ đội.

Nhưng vợ Hưng thì nhận ra ngay. Người đàn bà, người mẹ đêm ngày nhớ thương con, nên những giác quan luôn luôn được mài nhọn. Chị nghe tiếng anh bộ đội trẻ nói chợt rùng mình. Chị vội vã bỏ nồi cơm, lên nhà. Chị đứng ở cửa và nhận ra ngay cái dáng cúi đầu buồn bã của người khách trẻ, nhận ra cả hai bàn tay run run của anh ta đương xoay đi, xoay lại chiếc mũ. Chị hốt hoảng chạy tới, dồn dập hỏi :

 - Thằng Hùng… con của cô…nó làm sao rồi phải không?

Thế là anh bộ đội đứng ngây ra, không nói nổi nữa.

- Hùng ơi! Con ơi!

Người mẹ bỗng dưng hiểu hết. Chị không đợi trả lời nữa. Chị òa lên khóc nức nở. Anh bộ đội trẻ cũng rơm rớm nước mắt.

Anh bạn Hưng của tôi, ngốc nghếch nhưng can đảm hơn bà vợ. Can đảm phi thường. Khi nghe tin về cái chết của đứa con anh, Hưng mời anh bộ đội trẻ đi uống cà phê. Họ không vào cửa hàng mậu dịch. Uống cà phê chui ở cái quán bẩn thỉu trong một ngõ hẻm. Chủ quán là một lão nửa già nửa trẻ, râu rất dài mà lại đen nháy. Mất điện. Đèn thắp là một chai dầu hỏa tuôn giẻ vào làm bấc. Trong cái không khí kỳ dị ấy, anh bộ đội kể lại.

… Chúng cháu đã tham dự những trận chống càn hiện đại. Đánh nhau với lĩnh Mỹ. Trực thăng rợp trời như lũ chuồn chuồn… Xe lội nước…Máy bay đổ đạn bom xuống đầu chúng cháu. Trong một trận, Hùng một mình đã hạ hai trực thăng. Cậu ấy được thưởng huân chương.

Những trận to như vậy thì chẳng hề gì. Hùng bị chết trong khi tiểu đội anh đi lấy gạo. Họ đã rơi vào ổ phục kích của một trung đội ác ôn ngụy. Bị bao vây bất ngờ, nhưng họ đã anh dũng chống trả. Đánh giáp lá cà. Vì bị phục kích trong khi đã mệt mỏi và trên vai còn mang nặng nên toàn tiểu đội người bị giết, người bị bắt. Quân Sài gòn treo ngược năm người lính bị bắt lên cành cây và giết họ rất dã man.

 - Dã man?

 - Vâng! Chúng đã cắt tiết cả năm người, mổ bụng lấy gan. Khi chúng cháu đến hãy còn thấy những chiếc ống bơ đựng máu và những xác người bị treo ngược, cổ bị cắt, bụng bị phanh.

Từ hôm nghe tin con chết, chị Hưng đâm ra cáu gắt. Bất cứ ai chị cũng gắt gỏng, không kiêng nể. Chị mắng chồng là lóng ngóng, chị mắng con gái là lười biếng khi bữa ăn chậm, chị mắng đứa con út, đứa trẻ mà chị vẫn dỗ dành chiều chuộng là hư đốn là lêu lổng chơi bời, chị mắng con chó vàng là suốt ngày chạy rông, chị đá con mèo vì ăn vụng cá kho, chị vạc cả với bà hàng xóm vì vay mì không chịu trả đúng hạn, chị phê bình gay gắt bà giám đốc phân xưởng bánh kẹo, nơi chị làm việc, là sự tư lợi khi bà này mua quá tiêu chuẩn hai quả cam. Và còn tôi… thi thoảng chị lại bĩu môi, lẩm bẩm…

Trong nhà Hưng như cơn mê hoảng. Vợ Hưng cáu gắt mắng mỏ, la hét suốt ngày. Có mặt chị là có tiếng nói ồn ĩ. Bệnh cáu kỉnh lây sang cả cô con gái nhu mì của chị. Tuần lễ vừa qua, thiếu gạo, bệnh la hét lại tăng thêm độ trầm trọng.

Nỗi buồn phiền làm Hưng không muốn ở nhà nữa. Tối nào anh cũng vác xe đạp đi biến. Anh lại tái phát bệnh lang thang cố hữu. Anh đến nhà bạn bè, để rồi ngồi lì ra câm lặng. Anh có nghe mọi người nói chuyện, hay chẳng nghe ai nói, cũng chẳng biết nữa. Đi chán, anh quay về nhà, suốt đêm vùi đầu đọc sách. Anh Hưng, niềm kiêu hãnh của chị bây giờ chị cũng luôn gây chuyện, rồi mắng mỏ. Mới đầu chị còn mắng nhẹ, hômqua mắng to. Chị bảo anh là lẩm cẩm, là mọt sách, là vô tích sự, là sự chẳng nghĩ đến con cái, là vô trách nhiệm để gia đình nghèo túng. Lần đầu tiên anh Hưng nổi xung, anh bảo chị là ngốc, anh bắt chị “câm họng đi”. Anh gầm lên, con sư tử tàn nhẫn bắt đầu thức dậy trong anh. Không gian nhà anh bỗng dưng chết lặng cái ấm cúng, và ngấm độc hằn thù.

Đêm, anh khóc. Tôi nằm cạnh anh, run lên đau đớn, cứ nghĩ xa nghĩ gần : “Không gian ta đang ở đang bị ô nhiễm tàn nhẫn, tình thương vào lúc này ai nói đến là thằng ngốc, thậm chí còn mắc tội. Chúa nhân danh tình thương cũng nhắc đến sự tàn nhẫn. Tàn nhẫn đã len lỏi để đột nhập vào căn nhà nhỏ của Hưng, thánh đường của tình thương. Sẽ giúp gì được cho bạn? Giúp ai? Thân giúp thân còn chả xong. Bao nhiêu người đã băn khoăn lo lắng về vấn đề này, để cuối cùng lại buông tay, tự an ủi: Nó cũng chỉ như một cơn sốt thôi, cơn sốt cao ắt phải thế, nóng xong nhiệt độ ắt phải hạ. Có thực như vậy không? Người ta đã quên nhắc tới trường hợp: Nóng cao quá, tim sẽ đập rối loạn, mạch đập rất nhảnh rồi trầm đi, mạch yếu ớt, chân tay sẽ lạnh toát, mồ hôi sẽ vã ra, và con bệnh sẽ thở nhẹ, thở nhẹ dần cho đến lúc hơi thở biến mất, và cuối cùng bóng tối sẽ trùm xuống… Tôi không thích hơi thở nhẹ dần và bóng tối. Vậy thì hãy hết sức tận lực chống chọi cho đến những khả năng cuối cùng… Hãy đắp nước vào trán, hãy châm cứu, hãy tiêm thuốc hồi sinh, hãy cho uống thuốc giảm nhiệt, và nhất là hãy dùng kính hiển vi mà soi, mà tìm, mà truy lùng cho ra giống vi trùng, giống virus nào đã gây nên căn bệnh hiểm nghèo hiện đại này”.

Trong cơn khắc khoải, tôi bỗng nhớ cây đàn. Tôi trở về nhà anh chị Trần, trở về với cây đàn. Một phút sung sướng đầu tiên trong ngày. Cảm giác được nghỉ ngơi, được xa lánh cái bồn chồn quái đản cứ bám dính lòng tôi. Cảm giác được trở về quê nhà. Cảm giác sắp được gặp gỡ một người bạn hiền lành đã chia tay từ lâu và vẫn luôn mong gặp lại. Cây đàn, nơi ở ẩn của tâm hồn tôi. Khúc Trương Chi còn dang dở, khúc nhạc yêu dấu, đứa con mang nặng trong lòng từ bao lâu chợt lại hiện ra.

… Anh Trương Chi đang nằm trong con đò nát. Anh hấp hối. Hầu như anh không hát nổi nữa. Trương Chi mặc cho con đò trôi ngang lầu hoa, để được ngắm những chiếc đèn lồng, để được chiêm ngưỡng cái dáng cao kỳ của người đàn bà đã đẩy anh tới bên bờ cái chết. Tiếng hát Trương Chi, cái sức mạnh đặc biệt nhất của anh đã làm đảo điên trái tim người đàn bà đẹp nhất trần gian ấy, chẳng lẽ lại đành bặt lịm hay sao? Con vật sắp chết vùng vẫy mạnh mẽ nhất. Tiếng hát lúc sắp chết cũng phải hay nhất, và thế là Trương Chi cất tiếng… Anh mới chỉ hát một câu thôi… Người đàn bà kiêu kỳ kia bỗng ôm lấy mặt, gục xuống bên chiếc đèn lồng. Trương Chi hộc ra một bát máu – Bóng tối lan dần rồi trùm xuống ánh mắt anh… Phải chăng sự tàn nhẫn đã thắng thế?


Miền Hoang Tưởng (kỳ 8) – Tiểu thuyết của Đào Nguyễn

X

Tôi vừa đi về nhà anh Trần, vừa suy nghĩ miên man như vậy. Lại liên tưởng đến Ngà, đến Mai. Lại lởn vởn trong óc những ý nghĩ về lòng cao thượng. Lởn vởn trong óc cả lòng vị tha nhân hòa… Chợt nghe tiếng cười rúc rích của con chim đội mũ hào quang. “A! Con chim quỷ quái mày lại rình mò cả tư tưởng ta nữa hay sao?”

Ông anh rể Trần đón tôi rất thân mật:

 - Cậu về thật may. Định sai cháu Lê đi đón cậu.

 - Nhà ta hôm nay có chuyện vui?

 - Gia đình chuẩn bị bữa ăn vui để cháu Lê sang Đức.

 - Đi Đức hay đi bộ đội?

 - Cháu sang Đức. Anh Trần trả lời tôi tuy có vẻ bực bội nhưng vẫn rất điềm tĩnh.

Có lẽ anh cho là tôi định móc máy anh, thực ra tôi rất thành thật. Tôi thành thật đến ngốc nghếch, vì đã nhiều lần cậu Lê tâm sự với tôi về chuyện đó. Tôi nói:

 - Cháu Lý đã xuất ngoại rồi, đúng ra anh phải cho cháu Lê đi bộ đội mới là phải.

Anh Trần cáu kỉnh:

 - Cháu Lê hoàn toàn có quyền được hưởng những ân huệ đặc biệt. Con tôi được hưởng mà không chút nào phải hổ thẹn…

 -???…

Đột nhiên, hai anh em rơi vào cái im lặng nặng nề. Tôi thì buồn phiền. Còn anh Trần thì đưa mắt nhìn vào cõi xa vời. Có lẽ anh đang tìm những lý lẽ để tự bào chữa. Và cách tốt nhất là quay trở về quá khứ, cái quá khứ đáng trọng, đầy ánh hào quang…

Những ngày đấu tranh hào hùng ở nhà tù Sơn La năm 1938. Toàn trại tù chính trị tuyệt thực phản đối chính sách dã man của đế quốc Pháp đối đãi tàn khốc với những người yêu nước. Bọn giặc kiên quyết đàn áp tù nhân. Chúng cầm súng, cầm gậy mở cửa trại giam hùng hổ tràn vào. Anh Trần được phân công đứng vòng ngoài bảo vệ cho anh em ốm yếu đứng vòng trong…

Xô…đẩy, đánh đập… Tiếng hô… tiếng chửi… Anh Trần vẫn xiết chặt bàn tay đồng chí làm một hàng rào bảo vệ vững chắc. Chiếc gậy cao su đánh vào vai anh. Những vòng hoa xanh đỏ bay trước mắt anh, máu chảy ràn rụa mặt anh. Anh như muốn quỵ xuống nhưng vẫn xiết chặt bàn tay đồng chí…

 – Phản đối khủng bố!

 - Phản đối tàn ác!

Anh Trần bật đứng thẳng lên, nghiến răng lại, ưỡn ngực ra. Chiếc gậy cao su liên tiếp bổ vào đầu anh. Bọn Tây đánh mãi, đánh mãi…cho đến khi anh quỵ xuống mê man…

Đấy! Lý do đấy! Tại sao con anh lại có quyền hưởng đặc ân.

Đấy! Cái lý do hùng hồn nằm ở đấy…

……….

Bây giờ thì anh rất tự tin và bình tĩnh. Anh hút thuốc lá rồi chậm rãi nói:

 - Cậu Tư ạ! Phải đi sâu vào quá khứ mới có cái nhìn độ lượng và đúng đắn.

 - Em tưởng rằng anh không hề bao giờ nghĩ đến những đặc quyền.

 - Sao…?

 - Đặc quyền rất gần với suy đốn. Và khi đặc quyền được phổ quát nó sẽ dẫn đến sự phân tầng xã hội… Anh ơi cái di hại ngàn đời đấy.

 - Không! Thời kỳ đồ đá, kẻ thắng trận được hưởng những nô lệ làm của cải riêng tư. Thời phong kiến, Lê Phụng Hiểu, Trần Khát Chân có công đều được thưởng theo lệ Thác dao điền. Vậy người cách mạng, theo lẽ công bằng, cũng phải được đối đãi thích đáng với sự hy sinh của mình chứ.

 - Cách mạng thắng lợi vì nó nhân danh công bằng xóa bỏ đặc quyền của kẻ giàu. Sự hình thành những đặc quyền mới là điều không thể giải thích nổi.

 - Cậu đang rơi vào chủ nghĩa bình quân.

 - Không, tôi đang nhân danh sự công bằng.

 - Cậu đang bị ám ảnh bởi những tư tưởng tư sản suy đồi.

 - Anh ơi! Anh đang rơi vào bi kịch.

 - Tư tưởng suy đồi đã dẫn cậu đến con đường sa đọa.

 - Tôi sa đọa hay anh sa đọa?… Mà thôi! Có lẽ em chẳng thể thuyết phục nổi anh…chỉ có điều là tóc anh đã bạc rồi. Thuở trẻ khi còn tràn trề sinh lực, người ta dễ dàng cao thượng, hy sinh… Thực ra, khi còn sự hy sinh vì công bằng, người ta còn là người cách mạng, khi lòng đã dửng dưng đối với lý tưởng công bằng, người ta hết là người cách mạng…

 - Cậu ăn nói kiêu căng đến thế ư?

 - Em đang chân thành tâm sự với anh.

Mắt anh Trần bỗng quắc lên. Lần đầu tiên, tôi thấy anh cáu kỉnh, tức giận. Cứ cảm giác như anh muốn giết tôi. Những quan hệ tốt đẹp giữa tôi với anh đang dần bị xóa bỏ, những quan hệ tư tưởng giữa anh em đang bị phủ định, những ý nghĩ tàn nhẫn đang được hình thành. Bàn tay anh nắm chặt lại, hàm răng anh nghiến chặt lại, con mắt anh như lưỡi dao đang được mài, được rã, được bào nạo để trở thành sắc ngọt… Một giác độ của tâm hồn anh chợt bộc lộ làm tôi kinh ngạc. Phải chăng cái cuồng nộ phi – nhân?

Chán nản đến cao độ. Lại thêm một bóng dáng tàn nhẫn hiện hình. Hôm nay, chỉ một ngày hôm nay thôi, tôi đã gặp bao nhiêu bóng dáng tàn nhẫn.

Tôi ghê sợ và thất vọng: Cái con người đang đứng trước mặt tôi, con người mà đã bao năm tôi phụng thờ trong tâm tưởng, hóa ra lại biến đổi đến thế ư?

Bao nhiêu năm nay, tôi coi ông như một mẫu người cao thượng. Hóa ra, ông đã đánh lừa tôi, đã bôi nhọ cả tâm hồn trinh trắng của tôi.

Còn bây giờ, ông định giết tôi ư? Ông anh ơi! Sự thực, tôi là đứa con đẻ tinh thần của ông. Anh có nhớ tới những ngày đầu tiên anh em mình gặp nhau không? Anh đã bao đêm ngồi tâm sự với tôi. Anh đã kể lại cho tôi nghe những quãng ngày tù tội, kể cho nghe những ngày sôi nổi đi cướp chính quyền ở Bắc Bộ phủ. Hôm đó anh bắn một tên Việt gian, anh giẫm chân lên cái xác còn nóng hổi của nó, anh giơ khẩu súng, hô to cùng đám quần chúng sôi động: “Hỡi đồng bào, giờ phút vinh quang của dân tộc đã đến! Ta thà chết không chịu làm nô lệ!” Anh còn kể lại những ngày chiến đấu bảo vệ Hà Nội, vui như hội. Anh vừa nấp bên những đống bàn ghế ngổn ngang, chướng ngại vật trên đường phố, vừa hát to cái bài hát đơn giản mà hấp dẫn:

Cùng nhau đi hồng binh.

Liều thân cho đời sống…

Anh kể lại những ngày nằm rừng Việt Bắc, sốt rét, chia nhau củ sắn lùi, rồi tiếp đó là những phút hào hùng vây Pháp ở Điện Biên.

Tôi đã say sưa nghe, nói đúng hơn, tôi đã ừng ực uống những lời nói của anh như uống dòng sữa mát ngọt.

Và tôi đi theo anh. Tôi đã bỏ hết những gì gọi là ngọt ngào êm ấm lại sau lưng. Tôi bỏ cả cô nữ sinh ngây thơ bạn cùng phố với tôi từ bé. Tôi bỏ nhà trường, bỏ những mộng bút nghiên, mà với trí thông minh của tôi, tôi thừa sức đạt. Tôi bỏ dẫy bàng, dẫy sấu, dẫy me, bỏ nốt những cột đèn thân thuộc của quê hương Hà Nội. Tôi lên đường, lăn vào những cuộc chinh phục, nhằm cái đích công bằng mà tiến. Tôi đã vạch rừng, lội suối, leo núi làm anh công nhân địa chất. Rồi vào bộ đội, cũng gối đất nằm sương, cũng đói no gian khổ, cũng xông vào những nơi lửa đạn, được hưởng những phút hấp hối bên bờ cái chết. Máu tôi đã chảy ra vì sự công bằng. Rồi tôi lên Tây Bắc. Tôi lặn lội đêm ngày tận tụy cứu người bệnh. Đã có lúc tôi tưởng mình sắp được hưởng một phần thưởng quý báu: lấy một người đàn bà hiền hậu làm vợ. Nhưng, Ngà đã bỏ tôi… Và Mai, người bạn chiến đấu, đã cướp mất người đàn bà tôi yêu mến.

Tôi trở về quê hương Hà Nội, trở về với anh, trở về với người cha đẻ tinh thần của tôi. Cuối cùng, chính anh lại làm tôi thất vọng. Hóa ra anh cũng là một con người quá ư phàm tục. Xưa kia anh nói đến sự công bằng hấp dẫn biết bao. Bây giờ, anh lại chỉ muốn thành quả của sự đấu tranh vì công bằng ấy thuộc về anh. Chẳng lẽ những mơ tưởng đẹp mà anh đã tô vẽ cho bộ óc ngây thơ của tôi ngày xưa, bây giờ chỉ là hoang tưởng. Chẳng lẽ bây giờ anh lại là hiện thân của sự giả dối. Mới đây thôi, tôi vẫn dè dặt, không dám tin anh là giả dối, tôi vẫn cố tự ru ngủ mình, để kính trọng người đã dẫn dắt tâm hồn tôi đi. Nhưng lúc này, thì tin anh làm sao được nữa!

Kìa! Đôi mắt anh nhìn tôi hằn học. Anh muốn giết tôi ư? Giết tôi, tức là anh tự giết cái phần đẹp đẽ nhất trong anh. Giết tôi, tức là anh tự giết cái phần trắng lý tưởng nhất trong anh. Giết tôi thì anh còn gì? Tâm hồn anh lúc đó sẽ chỉ có một màu đen, màu đen kinh khủng khiếp sẽ làm anh tàn lụi, sẽ bóp nghẹt trái tim anh. Anh sẽ cô quạnh trong những phù vinh nghèo nàn. Anh sẽ như ông vua ngày nay sống trong tiếng tung hô náo nức, nhưng thực chất lại cô đơn. Chẳng lẽ cuối cùng tâm hồn anh chỉ còn sót lại những tia mắt hằn học như thế kia? Không! Tôi không muốn anh như thế. Tôi không tin anh như thế. Chẳng lẽ, về phần tôi cũng bị lừa lọc mất hết, và chỉ còn lại những âm thanh vô hình là chân thực và hồn hậu? Không! Tôi yêu thế giới âm thanh vô tư ấy, nhưng cũng rất yêu cái thế giới đầy những con người công bằng thực sự.

Anh ơi! Tỉnh lại!

Cơn điên loạn tinh thần của anh Trần chỉ dịu đi khi chị Trần, người chị hiền hậu của tôi từ dưới bếp đi lên. Chị tôi lấy anh Trần năm mười bẩy tuổi. Năm chị mười chín, anh Trần bị Tây bắt, chị tôi đã cô đơn sống chờ đợi anh hết năm này qua năm khác. Cách mạng tháng Tám thành công, anh chị ăn ở với nhau được ít tháng, sau đó anh Trần nam tiến. Chị tôi lại tiếp tục chờ đợi. Mãi đến năm 1952 anh chị cuối cùng mới được sum họp. Chị tôi là người đàn bà cả đời chờ đợi. Chị chỉ sum họp được với chồng lúc tuổi sắp già. Cũng may chị còn sinh được cháu Lý, cháu Lê.

Thằng Lý đã đi Liên Xô. Bây giờ đến lượt thằng Lê lại tiếp tục lên đường xuất dương.

Hôm nay, chị tôi mặt mày nở nang. Tôi vẫn quý chị nhưng hôm nay tôi phiền muộn vì chị ở Việt Nam, có biết bao nhiêu người đàn bà vất vả như chị tôi, nhưng so với chị, nỗi đau khổ của nhiều người còn gấp bội. Chị tôi đợi chờ, nhưng chưa hề biết tang tóc. Chị có được hưởng thụ, còn rất nhiều người cả đời chỉ biết đắng cay, thậm chí cả đời chỉ là vùi dập. Ở nước ta bao nhiêu là đau khổ! Nỗi đau này chồng lên nỗi đau khác. Những thây đau lớp lớp chồng lên thành núi.

Người ơi!

Hãy chia đều niềm vui!

Hãy chia đều nỗi đau, nỗi buồn!

Chị Trần bảo:

- Em ạ! Hôm nay ngày vui, em đánh đàn cho cả nhà nghe.

Tôi đến trước đàn, lòng tràn trề khích động. Hôm nay, nhà anh chị Trần vui. Nhưng tôi lại muốn chia thêm nỗi buồn cho anh, cho chị. Cháu Lê từ nãy ngồi im ở xó nhà nhìn tôi ngơ ngác. Tôi hiểu có lẽ ở đây lúc này, chỉ có cháu là lòng trắng nhất. Lê ạ! Cháu hãy nghe tiếng đàn của cậu. Khúc tâm tình cậu gửi riêng cho cháu:

Có thấy gì không? Một khúc sông lạnh mênh mông. Những xác chết gục bên bờ nước. Quan quân sang đò. Phải giết nốt những tên tù cho đỡ vướng.

Vị phò mã quyền quý đang đem chiến thắng về đặt dưới chân Mị Nương.

Còn Trương Chi vẫn chở con đò rách trong đêm hoa đăng.

Anh hát rằng:

Con sông vui chừ lòng ta vẫn lạnh

Họ bơi thuyền rồng chừ ta con đò rách

Kẻ đem máu dâng nàng chừ ta đem tiếng hát

Tiếng hát chừ đượm máu thịt ta

Những âm hồn vang vọng bao la

…Cháu có thấy gì không?

Mùa đông về. Rừng bàng bên sông, màu áo lá đỏ tím bầm. Cái cò trắng so vai lủi thủi. Tiếng súng Tây càn nổ lốp đốp. Những cành tre trước nhà phải đạn, gục đầu. Dạo ấy mẹ cháu tản cư ở làng Trầm, bố cháu đang đi chiến dịch. Mẹ cháu ở nhà sinh thằng Lý, anh cháu. Giặc vây kín khắp vùng. Mẹ cháu giở dạ đẻ, tự đỡ lấy con, tự cắt rốn cho con. Thằng Lý khóc ngằn ngặt, mới sinh ra nó đã khóc không ngừng, mẹ cháu dưng dưng nước mắt dỗ:

“Con ơi! Nín đi! Con khóc vì mẹ không còn giọt sữa. Mẹ nhịn đói đã hai ngày”

Mẹ cháu ôm thằng Lý sang nhà bên cạnh. Người hàng xóm còn hai bắp ngô, đem cho hết. Mẹ cháu nhai ngô non, mớm sữa ngô cho con như con chim mớm mồi. Thằng Lý nín. Hôm sau, người đàn bà hàng xóm lại bỏ ra ruộng đi kiếm thức ăn để nuôi mẹ cháu, anh cháu, và một đàn con lít nhít năm đứa của bà.

Một viên đạn đã bắn vào tim bà. Bà ta chết đi, tay vẫn còn ôm một bị ngô đẫm máu. Đưá con lớn chừng mười tuổi bò ra ruộng kéo xác mẹ về, không quên kéo theo cả bị ngô thấm máu. Năm người con bà hiện nay làm gì? Ba người con trai lớn đi bộ đội, một người đã hy sinh, hai người vẫn ở chiến trường. Cô con gái làm nghề nuôi lợn và nuôi luôn cả một đàn con lít nhít cũng như mẹ cô khi xưa. Người con trai út, sung sướng hơn, được ra Hà Nội học nghề thợ tiện…

Cháu cần phải nghe tiếp nữa…

Những âm thanh trầm trầm và cứng nhắc của cậu đang kể một đoạn chiến hào loét lở vì nắng mưa vì mảnh bom đạn…

Bố cháu, một trung đoàn trưởng lúc đó, đang đi trong chiến hào cùng với anh liên lạc, đề kiểm tra trận địa. Một loạt đạn đại bác từ vị trí địch bắn tới. Mưa đạn. Đất bốc khói, rùng mình rồi lay chuyển. Đạn rơi trùm khắp vùng chiến hào bố cháu đang đi.

 - Nằm xuống! Người liên lạc ra lệnh cho cấp chỉ huy.

Anh Trần áp mặt xuống lòng chiến hào đầy bùn. Người liên lạc bình tĩnh nằm trùm lên lưng bố cháu.

 - Đồng chí làm gì vậy?

 - Tôi có nhiệm vụ bảo vệ cho anh. Chỗ chiến hào này nông.

 - Không cần thế, đồng chí xuống đi.

 - Anh cần phải sống. Tôi chết là thường. Anh chết, ai chỉ huy đơn vị?

 - Ôi! – Người liên lạc kêu khẽ.

 – Sao thế?

 - Em bị thương.

 – Có sao không?

 – Hỏng bàn tay rồi anh ạ.

Người thương binh cụt tay ấy hiện nay vẫn đến chơi nhà cháu. Mẹ cháu vẫn thường nhặt nhạnh những quần áo cũ trong nhà, gọi là chút quà để người thương binh ấy đem về cho vợ và một lũ con. Điều đó chẳng sao. Nhưng cần phải đi sâu về gia đình ông thêm một chút. Ông có năm người con thì hai người là liệt sĩ. Đứa thứ ba mới mười lăm tuổi đã phải đi cải tạo vì tôi giết người… Điều đó chắc cháu không để ý.

Đừng trách cậu ác độc.

Cậu đang chia nỗi buồn cho cháu đấy. Cậu muốn cháu tìm đến cái cao thượng trong nỗi buồn. Sao cháu lại rung đôi vai? Và mắt cháu vẫn không giọt nước? Khóc trong lòng ư? Những tiếng khóc thầm bao giờ cũng chua xót. Cậu hiểu cháu giấu băn khoăn.

Cậu cũng giống cháu. Chúng ta đang đi giữa những con đường lắt léo, những con đường mà ta phải tỉnh táo khi đặt bước chân. Chúng ta đã lớn lên rồi cháu ạ. Đã hết thuở ấu thơ! Không còn là những bước chân thơ nhiên vô thức. Bước chân đi cần sáng suốt, ưu tư.

Tiếng đàn của tôi bỗng chậm rãi. Những thanh âm trầm và đục dắt tôi lạc về một khu rừng hoang nguyên thủy.

Lê ơi! Cháu hãy nghe nốt tiếng đàn của cậu kể chuyện ngày xưa. Chẳng phải là cổ tích. Một chuyện gần đây thôi. Một chuyện chính cậu đã trải qua.

Cháu đã thấy hiện ra trước mắt khu rừng dại có con suối len chảy dưới những lùm cây rậm rạp? Con suối chảy trên sườn núi đá, lẩn khuất bên những bụi nứa. Nhiều dây leo sà xuống, có chỗ che kín mặt nước trong vắt. Rồi đến chỗ, nước từ trên cao chảy tràn qua một phiến đá lớn, tạo thành một tấm lụa nước uốn cong, đổ xuống một cái vũng nhỏ hơn chục mét vuông. Tiếng đàn của cậu sẽ kể nốt cháu nghe một câu chuyện hãi hùng đã xảy ra ở ngay kề cái vũng nước đẹp đẽ thơ mộng đó.

Anh Mai lúc ấy là đại đội trưởng, còn cậu tiểu đội trưởng. Đơn vị chúng tôi bắt được hơn hai mươi thằng lính ngụy. Những thằng lính trẻ măng đóng trên một cái chốt ở rừng Trường Sơn. Sau một giờ chiến đấu, bọn lính ngụy chết quá nửa mới chịu hàng. Mai rất cáu kỉnh quát hỏi:

 - Sao chúng mày ngoan cố thế?

Thằng lính Sài Gòn quê ở Hà Nội gãi đầu.

 - Còn viên trung úy chỉ huy, chúng tôi hàng sao được. Anh ta bị trúng đạn chết, chúng tôi mới bảo nhau lấy cái áo trắng buộc vào nòng súng.

Mai gắt to:

 - Hàng chậm một phút là có tội. Đằng này các anh bắn một giờ mới hàng. Chắc các anh hiểu mức độ tội lỗi của mình!

Bọn lính ngụy im lặng.

Vừa lúc đó, được tin bọn Mỹ cho trực thăng đổ quân xuống giải nguy cho đồng bọn. Trời còn tối. Phải nhanh chóng rút đơn vị ra khỏi vùng chiến đấu trước khi trời rạng sáng. Chúng tôi chụm đầu lại hội ý chớp nhoáng. Mai nghiêm nghị:

 - Phải giải quyết bọn tù.

 - Thả chúng ra à? Có họa là muốn tự sát. Mai ý kiến:

 - Tình thế cấp bách lắm. Phải rút thật nhanh. Vướng bọn tù thì chết cả nút. Bọn này cũng chẳng tốt gì. Chúng ta đã hi sinh năm đồng chí… Thôi… đành phải… vậy thôi.

Chúng tôi nhìn nhau. Mai thì thầm.

 - Phải làm thế nào cho chúng không kêu lên một tiếng.

Không được bắn. Bọn Mỹ đã vây kín khu rừng. Một tiếng động to sẽ làm lộ tất cả.

Chúng tôi nghĩ ngợi: “Giết làm sao để tên tù không kêu một tiếng? Khó lắm! Lại phải giết chết hàng chục đứa. Càng khó!”. Mai như đoán được ý nghĩ của chúng tôi, anh cười khẽ:

 – Không cậu nào làm được việc ấy ư? Thôi! Lại phải tay mình.

Mỗi cậu dẫn một thằng lần lượt ra bờ suối. Hãy nói dối chúng là ta phải phân tán để dẫn chúng ra vùng an toàn.

Chúng tôi mỗi người canh một tên tù đứng cách xa nhau.

Đêm mù mịt, bọn Mỹ thỉnh thoảng lại bắn pháo sáng hoặc bắn một loạt đạn. Sau đó, là cái câm lặng rợn người. Côn trùng cũng không dám kêu chỉ còn nghe tiếng rừng che cót két và tiếng dòng suối chảy từ phiến đá xuống cái vũng nước rào rào.

Cứ mỗi phút lại dẫn đi một thằng tù. “ Đi đâu? Đi đâu? ” bọn ngụy run rẩy hỏi. Tôi đợi chừng mươi mười lăm phút. Mặc dù biết rõ mình không phải là kẻ chờ chết, mà lòng tôi vẫn thấy hồi hộp. Thằng ngụy của tôi là thằng lính trẻ nhất, sẽ chết cuối cùng. Nó run rẩy thì thào:

 - Anh ơi! Em có bố ra tập kết ngoài Bắc.

 - Sao?

 - Bố em là Việt minh, tập kết.

 - Nói láo!

 - Em nói thật.

 - Sao mày đi lính Mỹ?

 - Họ bắt đi.

 - Thôi im đi! Tao không biết!

Tôi bỗng trở nên bối rối vô cùng. Tôi sẽ làm gì bây giờ nhỉ? Nhưng tôi không được phép rời tù nhân cũng không được phép đưa nó đi đâu một bước. Mai lúc này đã ra lệnh.

Thằng lính ngụy vẫn rì rầm:

 - Anh… định đưa em đi đâu?

 - Bí mật!

Có tiếng tũm ở đâu đây. Thằng lính giật mình. Và bỗng nó ôm mặt hu hu khóc. Tôi cáu kỉnh.

 - Có im đi không?

Nó sụt sịt:

 - Em sợ!

 – Vớ vẩn!

Đến lượt bị dẫn đi nó lẩy bẩy nói không ra hơi:

 - Các anh đừng… giết em.

 - Vớ vẩn!

Tôi cử trả lời lúng túng và đơn điệu như vậy. Tiếng súng giặc mỗi lúc một gần. Tôi vừa nóng ruột, vừa mệt mỏi. Thằng bé vừa đi vừa van xin.

 - Các anh cho em sống… Bảo gì em cũng nghe…em có thích đi lính đâu… Người ta bắt.

 - Vớ vẩn!

Tôi bồn chồn nhai lại câu nói đó, rồi giục thằng bé nhanh chân. Càng đến gần con suối thằng lính càng run. Nó bảo tôi:

 – Có tiếng gì khò khò…

 – Mày mê. Chẳng có gì. Nhanh lên!

 – Anh ơi! tiếng người rên…

 – Mày mê.

Nó bỗng đứng sựng lại hốt hoảng.

 – Chỗ này có gì… nhầy nhầy.

 – Lảm nhảm! Thôi nhanh lên.

 Bỗng thằng ngụy quỳ gục xuống:

 - Em lạy các anh. Tha cho em! Máu! Đúng là máu người dưới chân em. Anh ơi! Bố em đi tập kết ra Bắc…

Nó bíu chặt lấy chân tôi mà van xin. Tôi lúng túng chẳng biết xử trí ra sao, lúc đó Mai đi tới.

 – Làm sao?

Mai hỏi ồm ồm, tay Mai cầm cây tre đực dài sải tay. Vừa nhìn thấy cái bóng hộ pháp của Mai, thằng ngụy bỗng rú lên. Nó ré chân chạy. Tôi bíu lấy áo nó. Nó vùng vẫy điên cuồng hét to: “Cứu! Cứu!”. Tôi vội vã bịt chặt mồm nó. Nó cắn. Tôi cũng mê đi trong cơn vật lộn. Cuối cùng tôi lấy cánh tay kẹp chặt cổ nó. Thằng bé ằng ặc nhưng không kêu được nữa… Nó giẫy, nó đạp, nó cấu xé hung mãnh như con hổ. Mai hiệp sức với tôi bóp cổ thằng ngụy. Cuối cùng thả tay ra thì nó chỉ còn như cây chuối bị chặt đứt gốc, đổ gục xuống. Mai cầm cây gậy tre phang vào gáy thằng lính bé nhỏ.

“Cắc!”. Tiếng gậy gỗ giòn khô. Thằng bé giẫy giụa một chút rồi phì phì thở hắt ra. Mai kéo cái xác còn mềm nóng ấy sềnh sêch đến bên phiếm đá. Tối lờ mờ, chúng tôi đẩy nó xuống vũng nước. Một tiếng “ Tũm!” gọn.

Tôi đứng trên phiến đá rửa tay vấy máu. Đầu tôi nóng bỏng. Tôi vốc nước suối vã vào mặt. Trong ánh sáng nhạt, từ phiến đá nhìn xuống vũng, còn thấy những thây đen bập bềnh.

Một phát pháo hiệu đỏ lừ vẽ một vết cầu vồng trên đầu rừng. Mai rỉ tai tôi.

 - Rút thôi! Bọn Mỹ sắp tới.

Chúng tôi lần bò, luồn lách trong rừng rậm. Cuối cùng, tiếng súng Mỹ lùi lại ở sau lưng. Khi đã chắc chắn an toàn, Mai kéo tôi xuống ngồi nghỉ ở đống lá khô. Anh nói:

 - Tương đối gọn! Cái gậy tre đực đập vào gáy như đập con bò. Đánh cho chính xác, trúng chỗ này là chết ngay.

Vừa nói, Mai vừa lần tay lên đầu tôi để tìm cái gồ nhỏ nhô lên sau gáy. Tôi gạt tay Mai ra, chẳng nói chẳng rằng. Còn Mai vẫn kể lể về cuộc hành hình bọn ngụy:

 - Thằng nào cũng chết tươi. Chỉ có một thằng là kêu ú ớ và một thằng khác cứ hồng hộc giẫy giụa mãi, mình phải bồi cho cậu cú thứ hai. Cái thằng ngụy của cậu bé tí tưởng là dễ hóa ra lại là thằng gay go nhất…. có lẽ… thằng này phải chờ lâu quá… nên biết sẽ chết… vì vậy nó chống cự.

Nhờ bóng tối của khu rừng, tôi may mắn không nhìn thấy bộ mặt sôi nổi của Mai, tôi lấy hai ngón tay bịt tai lại. Tay tôi run lên. Tôi sợ tiếng Mai nói và sợ cả giọng nói của thằng lính ngụy hình như bỗng vang lên trong óc tôi: “Em lạy anh. Tha cho em! Bố em đi tập kết!”.

Lúc nãy, bên bờ suối trong khu rừng tối khi thằng bé cắn tôi, rồi tôi kẹp cổ nó, vật lộn với nó có lẽ bộ óc tôi cũng phải sưng tấy lên và nóng bỏng. Còn bây giờ, nhiệt độ tâm hồn tôi đã hạ, bộ óc sưng tấy cũng xẹp xuống, toi bỗng thấy buồn rầu và sợ hãi. Tôi sợ Mai, sợ cả bản thân tôi.

Ôi chao! Những tiếng đàn man rợ! Thật phiền muộn khi tiếng đàn gợi nhớ chuyện xưa, những câu chuyện mà con người chỉ muốn chôn chặt, chôn sâu vào dĩ vãng.

Sau cuộc hành hình khủng khiếp ấy, tôi lử thử, còn Mai thì ốm, ốm nặng thật sự. Những cơn sốt cao kéo dài mấy ngày đêm liền hành hạ Mai. Hết sốt thì Mai mắc bệnh tâm thần, bệnh khóc. Phải! Đúng là bệnh khóc. Cứ trông thấy tôi là Mai lại khóc. Đến nỗi về sau, muốn chữa khỏi bệnh cho Mai, người ta phải chuyển tôi sang một đơn vị ở xa hàng trăm cây số.

Chúng tôi xa nhau lâu lắm. Mãi khi chuyển về Tây Bắc mới gặp lại nhau. Lúc đó Mai đã khỏi bệnh, và câu chuyện đó, tôi cố quên đi, coi như nó chưa từng xảy ra.

Tôi rời khỏi nhà anh chị Trần như thế nào cũng không rõ nữa. Những âm thanh làm tê dại tâm hồn cứ như theo tôi đến vườn hoa vắng lặng. Những phiền muộn tích tụ từ lâu, hôm nay được giải phóng khỏi lòng. Tôi như hiểu mình hơn. Mang máng nhớ lời dặn Ngọ bảo tôi mắc bệnh u uất, cần phải bộc lộ lòng mình ra mới được nhẹ. Nhưng khổ nỗi, tôi lại là người ít nói. Hôm nay, tiếng đàn đã nói hộ lòng tôi phần nào. Tôi vẫn cảm thấy chút buồn, nhưng lòng đã thanh thản phần nào. Cảm giác được trút bỏ một phần gánh nặng. Một người nào đó, có lẽ giáo sư dạy nhạc của tôi đã có lần khuyên nhủ: “Cuộc đời đẹp lắm! Sao cậu lại buồn? Cái buồn ở thời đại này không hợp. Cái vui là chính”. Lời nói của người thầy nổi danh làm tôi băn khoăn. Ừ! Có thể tôi là kẻ hèn yếu, một người lỗi thời. Thú thật, nghe ông thầy nói, tôi có chút xấu hổ, tôi cố vui, nhưng cố mãi không nổi. Cái buồn cứ đến. Có lẽ cái vui thuộc về những người như thầy tôi, như anh Trần. Còn tôi, thằng cùng đinh, thằng phó thường dân, làm sao tôi có quyền đến dự xứ sở của niềm vui, và nếu tôi có lẻn mà đến thì tôi cũng chỉ là kẻ ăn trộm niềm vui.

Đêm dịu dàng khoác vai tôi. Những ý nghĩ giận hờn cay đắng dịu dần. Đầu óc căng thẳng của tôi được mềm mại lại.

Bóng Ngà, bóng Mai, bóng anh Trần, rồi những đêm ga, những lần đối thọa với Chúa, những xác chết trên vũng suối, những cốc bia cay đắng của Ngọ, những quát tháo mê sảng của chị Hưng khi đứa con chết trận, những bức tranh màu xám của Minh, nhũng tiếng hát ngờ vực của Trương Chi tung chén trà xanh…. tất cả chìm nổi, mờ ảo như cuốn phim diễu hành trong tâm tưởng. Tất cả tưởng như rất xa mà lại gần gũi. Có lẽ lòng tôi đã có những phút cay nghiệt quá chăng? Lúc này chợt nhận thấy mình rộng lượng hơn. Phải chăng căn bệnh tàn nhẫn đã nhập và tôi dưới dạng hình thức: nhìn cảm khắt khe?

 “Ngủ đi! Ngủ đi!

Chúa hiện về thì thầm bên tai:

 “Lòng con đã vơi nhẹ rồi ư? Con đã khôn ngoan hơn. Nếu nỗi buồn cao thượng làm lòng con trong sạch và nhẹ gánh, thì con cứ buồn. Miễn là con đừng bướng bỉnh với ta.

Ngọ cũng đứng cạnh tôi, và ngắt lời chúa:

 - Chắc Tư biết đấy! Sự rộng lượng là họ hàng với vô trách nhiệm.

Tôi lắc đầu… Thôi! Thôi! Xin các người hãy thôi lý sự. Xin cho tôi được bình an, nghỉ ngơi. Cho tôi nghỉ ngơi chỉ một đêm nay thôi.

Ngà đấy ư? Anh buồn ngủ lắm, em về với anh hay sao? Cho anh được dựa đầu vào vai em mà ngủ. Rồi ngày mai, anh lại thức dậy, lúc đó người ta lại muốn giằng xé anh ra sao cũng được…

Một cảm giác mềm mại ở đầu. Có tiếng thì thầm xa vời, ấm áp của Ngà ru tôi ngủ. Một bài hát ru của mẹ, mà tôi đã quên đi từ lâu lắm. Mắt trĩu nặng. Tôi đã ngủ một giấc ngon lành chưa từng có. Ngủ dưới vòm cây. Đâu đó, mùi hoa dạ lan hương thoảng tới. Đêm nay mùi hoa nhẹ nhàng chứ không nồng hắc…

Ở một góc kín đáo nào đó trong óc tôi, bỗng nhòa nhòa hiện lên một dòng chữ mờ ảo. Tôi rón rén lại gần và đọc. Hóa ra lại một đoạn của Ngọ trong cuốn sách “Đi tìm nhân dạng”

“ Nhân nghĩa là gì? Cái gì có lợi cho nhà vua, cái đó là nhân nghĩa”

Trời ơi! Lại Hàn Phi Tử! Ông Hàn Phi lại gọi tôi thức dậy.

Đào Nguyễn

(còn tiếp)


 




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn