DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,709,529

Miền Hoang Tưởng (Kỳ 11, 12 hết) - Đào Nguyễn

30 Tháng Năm 201512:00 SA(Xem: 1919)
Miền Hoang Tưởng (Kỳ 11, 12 hết) - Đào Nguyễn

Miền Hoang Tưởng

 

 

Image result for miền hoang tưởng

 


Kỳ 11


“Ốm to rồi! Ốm to rồi! Chết mất thôi!

Hễ tôi nhắm mắt là con chim ma quái đậu trên vai Chúa vừa nói, vừa hát như muốn đưa ra một lời tiên tri định mệnh. Hễ tôi mở mắt ra, là con chim lại trở về bức tranh với con mắt cười trêu tinh quái. Con chim ma quái, cái loa phát ngôn của Chúa trong tranh như đang thi hành một chiến dịch nhằm thuần phục tôi, tiêu diệt ý muốn tự do của tôi, bắt tôi phải hoàn toàn theo Chúa. Bây giờ, hình như Chúa trong tranh nghiêm nghị hơn, Người không bước ra khỏi tranh, chẳng nói với tôi nửa lời, nhưng con mắt cứ ốp lấy tôi. Mắt của Chúa hệt như những con mắt bí ẩn ở ga, trên bãi bia, ngoài đời.

Tôi luôn thèm sự có mặt của Minh, bởi vì chỉ khi Minh có mặt ở nhà, buc tranh mới mất vẻ ma quái. Người chủ bức tranh không biết những tác động thầm kín của bức tranh đối với tôi. Anh hồn nhiên đối vối những sáng tạo của mình. Anh công bố một điều mà anh cho là rất lạ lùng:

 - Một người sắp mua bức tranh “Chúa chơi chim” của tôi. Anh biết người đó là ai không? Đố đấy. Anh thử nghĩ có kỳ dị không. Chính ông anh rể của anh, chính ông Trần đã bỏ ra trăm bạc để mua bức tranh. Một chính ủy mà lại đi mua một bức tranh về Chúa!

Tôi cười. Riêng tôi thì hiểu. Tôi hiểu bằng linh giác. Theo tôi, có lẽ anh Trần thích mua vì anh thích đôi mắt Chúa. Có thể anh thích cả con chim đội ánh hào quang kia nữa. Tôi nghĩ thế nhưng tôi lý giải cho Minh theo kiểu khác:

 - Ông anh rể tôi là người sành mầu sắc. Có thể anh ấy thích sự hòa hợp về màu sắc trong đó.

Minh lắc đầu. Anh lấy giấy báo bọc bức tranh lại. Tôi hỏi:

 - Cậu mang đi ngay sao?

 - Minh đang túng. Mới lại, cần giúp anh Hưng tí chút.

Mảnh báo che gần kín hết bức tranh, chỉ còn để hở đầu con chim đội hào quang. Con mắt Chúa, tuy đã bị gói lại nhưng vẫn hiện ra trước mặt tôi trên nền báo. Mắt Chúa nghiêm khắc và hậm hực như đang thầm nói: “Anh đừng tưởng đã thoát khỏi tay ta. Hãy nhớ lấy: ta ở khắp mọi nôi, ta có sức mạnh vô biên. Anh không thể trốn chạy vòng vây ta?”

Còn tôi, tôi cóc cần lời đe dọa của Chúa trong tranh. Khi bức tranh bị đưa ra khỏi nhà, tôi huýt sáo ăn mừng.

Điều rất lại là niềm vui của tôi chẳng được bao lâu. Bỗng dưng tôi lại thấy mệt rã rời. Và nỗi khắc khoải lại đến với tôi.

Tôi cầm đàn và dạo khúc Trương Chi. Lâu lắm tôi mới lại cầm đàn. Từ khi bị con chim quấy phá, tôi bỏ mặc chiếc ghi ta nằm mốc meo ở xó nhà. Hôm nay tiếng đàn lại vang lên để gọi con đò nát về bồng bềnh trong chén trà xanh. Tim tôi phập phồng đập mạnh. Bản nhạc của tôi nhộn nhịp nức nở. Những âm thanh trào ra như muốn tìm cái kết thúc cuối cùng. Đoạn kết Trương Chi sẽ là thế nào đây? Lòng tôi nhoi nhói. Tự cảm thấy day dứt, thấy mình bất lực, bất tài. Cái kết thúc chưa thấy đến với khúc Trương Chi. Phải chăng đó là cội nguồn của nỗi phấp phỏng trong tôi.

Chiều thành phố.

Tiếng xe điện leng keng như tiếng cười con trẻ. Mùa thu về chiều như tím lại. Những cảm giác về mầu chiều đã lâu lắm tôi mới nhận được. Tiếng ghi ta truyền qua ngón tay xuyên vào tim tôi …

Khắc khoải! Khắc khoải!

Cái gì sẽ đến với tôi đây? Một cái gì khủng khiếp? Một kết thúc tàn nhẫn như cái tinh thần tiên tri trong cuốn sách của Ngọ chăng? Một cái gì sẽ rất buồn và rất đẹp chăng?

Chiều sậm lại, mầu tím đã chuyển sang nhờ đèn. Tôi ngồi dựa lưng vào tường, nhìn sắc mầu chuyển nhanh từng khắc. Ngón tay tôi chạm vào dây trầm. Một giọng trầm bỗng vang lên trong óc.

” Ốm to! Ốm to rồi …

Con chim ma quái lại gửi tiếng qua không gian về ám ảnh ta. Nhưng tôi không sợ nữa. Dù sao cũng không còn sự hiện diện vật chất của nó trong phòng. Tiếng lảnh lót của nó không còn nữa. Tôi mỉm cười nghe tiếng nó mờ mờ tỏ tỏ. Con sẻ lông xù ngủ trên bàn tay cô bé nghèo trên bức tranh treo ở giữa nhà bỗng giật mình, nó kêu chiêm chiếp. Tiếng kêu thân thương của nó vùi dần tôi vào giấc ngủ.

“Có ai có nhà không?

Tiếng hỏi làm tôi giật mình tỉnh giấc. Ai gọi? Phải chăng con chim ma quái lại bay về, đậu trên cành cây trước cửa sổ, để định hăm dọa, ám ảnh tôi? Ta không trả lời đâu, ta sẽ im lặng. Và con chim thô bỉ đội ánh hào quang kia sẽ hết cách hòng kích dộng ta. Ta không thèm trả lời đâu. Thôi, buông ta ra. Hỡi ông Chúa trong tranh, tôi với ông nào có hận thù gì?

 “Có ai có nhà không?

 Tôi nhìn ra cửa ổ. Cánh cửa có phép lạ từ từ mở toang. Một màn sương đục, trắng như sữa loãng, che kín khung cửa sổ. Một khuôn mặt hiền hậu nhòe nhòa hiện trong màn sương.

” Kìa! Ra là ông? Có phải ông là Chúa hiền lành đã khoác tấm áo sương mù đến an ủi ta khi ta bán máu? Ông là vị thiên thần giấu mặt, một con người chẳng muốn hiện rõ trước mặt ta. Tại sao ông giấu mặt? Phải chăng đây là thủ đoạn mưu mô của một kẻ độc ác nào đã chăng bẫy để chờ ta. Ôi lòng ta đen tối vì nghi ngờ. Ta đang bồn chồn khắc khoải khi nghĩ đến ngày mai. Nào! Hỡi thiên thần trắng! Hỡi thiên thần khoác áo sương giấu mặt! Hãy trả lời ta đi. Hãy đem cái năng lực thân linh mà hé cho ta biết cái gì sắp xẩy ra. Hừ, ông im lặng. Mà tước tiên xin hãy trả lời ta tại sao ông giấu mặt?

Cái bóng trắng nhòe nhòa ấy buồn rầu đáp:

 ” Vì ta là đồng nghĩa với thương xót. Vì ta là đối nghĩa với hận thù. Kẻ yếu chỉ có lòng thương, ta là kẻ yếu. Hãy thông cảm cho ta và thầm hiểu cho ta vì sao ta giấu mặt.

 ” Vậy ông là sứ giả của ai! Của Chúa cơ đốc hay của Phật. Thế gian đã quên mất tình thương rồi. Cả Chúa trong tranh cũng quên.

 Bóng trắng không trả lời, chỉ im lặng cúi đầu. Tôi thì thầm tâm sự:

 ” Ngày xưa, bên Bắc quốc, ông Di lặc đi tu, đắc đạo rồi, người bỗng béo quay ra, cái bụng phệ, cái rốn lồi, đôi má phính, môi nở nụ cười thoải mái. Toàn thân ông Di lặc là một tiếng cười. Ông thành Phật và để lại cho đời một nụ cười hoan hỉ. Thế còn ông? Ông để lại cho đời một màn sương trắng ư? Trông ông như sương mù và ông nói đến lòng thương xót. Thôi, ta hiểu rồi. Biểu tượng của ông là giọt nước mắt, hãy để lại cho đời một cái gì hiệu lực ý nghĩa hơn. À, ta hiểu rồi. Có lẽ ông muốn để lại cho đời những giấc mơ sương. Hôm ta bán máu, ông làm quen với ta, ta cứ băn khoăn, hôm nay ta mới rõ…

…… 

- Có ai có nhà không?

Tiếng gọi cửa, một lần nữa, lại vẳng lên. Tiếng gọi làm cái bóng sương mù trắng chợt tan biến mất. Một bóng người trần thế ở khuôn cửa chợt hiện ra rõ ráng. Tôi kêu lên: “Hưng!”

Hưng bước vào, trông anh như bé nhỏ hẳn lại. Đôi vai gầy so so, cái lưng gù gù, cái đầu cúi cúi. Anh ngồi thỏm vào chiếc ghế bành.

Tôi đã biếu Hưng trăm rưỡi, và hình như Minh cũng giúp anh một trăm. Tôi nghe nói Hưng đã làm xong chiếc gác xép. Anh tằn tiện thu góp, nhặt nhạnh từ lâu, nên làm gác xép xong cũng còn thừa ít tiền thuốc thang cho vợ. Làm xong gác, đáng lẽ Hưng phải vui tại sao anh vẫn trầm ngâm như vậy? Hưng thu mình trong chiếc ghế bành, hút liền mấy điếu thuốc lào. Tôi hiểu rằng Hưng sắp nói chuyện với tôi nên tôi không hỏi. Anh ngồi rất lâu ngắm những bức tranh của Minh, mãi mới lên tiếng:

 – Có lẽ việc sửa nhà, làm gác xép, làm đồ đạc mới của mình chẳng qua cũng chỉ là động tác để che lấp đi những lỗ trống trong đời. Thay đổi không gian? Con người lúc nào cũng mơ ước được đi đến một tâm trạng mới mẻ. Nhưng khi làm xong, lại thấy rơi tõm ngay vào cái chán ngắt. Phải chăng mình vẫn chỉ vá víu?… Bây giờ, mình lại vẫn lang thang. Chỉ được một điều an ủi, từ khi có cái gác, bà vợ mình dịu hẳn bệnh điên. Suốt ngày, bà ấy ngồi trên gác, khâu khâu, vá vá có lẽ ít nhìn thấy đông người, bệnh bà ấy giảm đi trông thấy. Anh bác sĩ quen nói rằng bà ấy sắp khỏi.

Tôi gật đầu:

 - Thế là đáng mừng

 - Bà ấy khỏi, tôi lại mắc bệnh

 - Bệnh gì?

 - Lại bệnh cũ. Không hiểu sao, nằm lì ở nhà, tôi cứ thấy bồn chồn, khi leo lên gác, nhìn thấy vợ, là lòng mình cứ nhoi nhói. Cậu biết không, vợ mình cứ đăm đăm nhìn mình, có lẽ tại thằng con chết trận nó rất giống bố. Lúc nào lòng mình cũng như lửa đốt. Lúc nào cũng cảm thấy như mình đang cần làm một việc gì đấy, nhưng mình chịu không xác định nổi việc đó là việc gì. Nhiều lúc, mình đã lầm tưởng sự nóng ruột đó là nhu cầu đóng một cái giường, làm một cái tủ, xây dựng một gác lửng, nhưng khi xong việc mình mới hiểu mình đã ngộ nhận. Có lẽ mình cũng là kẻ… kẻ điên…

 -…

Minh đẩy cửa bươc vào, tay xách can bia. Anh giở túi sách, lấy ra bọc lạc nóng hổi và vui vẻ mời chúng tôi:

 – Nào, ta liên hoan: mừng cho anh Hưng vừa làm xong gác xép, mừng cho tôi vì vừa bán được bức tranh “Chúa chơi chim”; tiếp thêm nữa, còn mừng cho tôi vì sắp vẽ xong một trăm bức “Tranh mùa thu”.

Minh rót bia ra các cốc, sau đó mắt anh rực hân hoan và anh nhắc lại câu nói cửa miệng khi anh nói về những sáng tác mới của mình:

 - Cái này vui!

Hưng tròn mắt

 - Một trăm bức? Thời giờ đâu mà anh vẽ khỏe thế?

 - Vẽ bất cứ lúc nào … Nào, xin mời các bạn liên hoan bia, đồng thời hưởng luôn cuộc liên hoan màu sắc của tôi.

Minh đặt những tờ giấy trắng làm nền, và trải trên đó những bức tranh sơn dầu vẽ trên bìa nổi … Một cô gái áo vàng đang vuốt ve những bông hoa đen… Một người đàn bà khỏa thân mầu hồng pha chì đang giơ tay cho con chim đậu… Một người hoang dã đang ngồi trong động đá xám… Một bức tĩnh vật trừu tượng gồm những mảnh hầu như chiếc lọ, như quyển sách, như hòn gạch, như pho tượng, như bông hoa …, mầu sắc bức tranh trầm hòa êm dịu, trông rất đẹp và cũng rất thực. Minh giảng giải:

 - Đấy là “Mùa thu êm dịu”. Một bức tranh tổng hợp của tôi trong giai đoạn này. Vẽ xong, tôi thấy nỗi bực bội trong người bỗng tan ra. Bức tranh gợi cho tôi sự thương nhớ, mầu sắc dịu không hận thù, không nổi giận. Sự thương nhớ trong tôi cứ tấm tức làm bút pháp của tôi mềm mại lại. Một danh họa mới nhận tôi làm học trò, đặt cho cái tên “Về nguồn”. Có lẽ sau xê ri mùa thu, tôi sẽ vẽ trăm bức tranh “Gửi cho con”. Các bạn biết không, sau khi vẽ xong bức “Về nguồn”, tôi chợt nhớ đến con tôi quá chừng. Và lạ chưa! Ngay ngày hôm sau, con tôi đến chơi. Con bé mười ba tuổi ấy đã bẽn lẽn tặng ba nó một đôi dép. Con gái tôi tặng quà cho tôi; còn tôi cho nó được những gì? Tôi cho con tôi… chẳng đáng là bao. Tiền bạc ư, của cải ư, tôi có gì cũng có thể cho con được tất. Nhưng ngoài những thứ đó, tôi còn muốn để lại cho con tôi những bức tranh. Một trăm bức tranh tặng con gái! Ôi chao! Cứ nghĩ đến chuyện được làm những việc như thế, lòng tôi bỗng rộn ràng vui sướng. Tranh gửi cho con! Chà, bao nhiêu là ý hay …

Hưng gật gù:

 – Anh là người sung sướng nhất đời. Trong lúc chúng tôi khắc khoải thế này, anh là người vô tư nhất.

 – Khắc khoải ư? Lúc này ai chẳng cảm thấy lòng mình phập phồng suy nghĩ. Tôi khác các anh ở chỗ tôi vùi những khắc khoải của mình vào những bức tranh. Tôi không có những ý nghĩ tiên quyết khi cầm bút vẽ, nhưng có điều chắc chắn là tất cả cuộc đời tôi đều được phơi ra bằng màu sắc. Tự nhiên thôi.

Tôi nhắm mắt ngồi nghe cuộc đối thoại giữa hai người bạn. Tiếng nói như xa, như gần. Mệt! Mệt! Mệt! Cái lạnh lẽo bò lan trên bàn chân tôi, trên bàn tay tôi. Tôi không uống bia, tôi không ăn lạc, tôi chẳng thấy thích ăn uống, mồm tôi nhạt nhẽo. Song tôi hoàn toàn dễ chịu khi có tiếng nói của những người bạn vang bên tai. Tôi như thức. Và tiếng thì thào của Hưng:

 – Này Minh! Sao trông mặt cậu Tư bệch đi?

 – Ừ! Có lẽ hắn ốm.

 – Thằng cha mắc bệnh thật rồi

 – Cậu Ngọ bảo Tư là thằng gàn.

Tiếng thì thào bỗng nhỏ hẳn đi:

 – Có lẽ nó ốm to!

 – Mê sảng …

 – Thần kinh …

Tôi chìm dần hẳn vào giấc ngủ. Bên tai tôi là tiếng ghi ta nhỏ giọt, và tiếng hát phấp phỏng của Trương Chi trên một dòng sông hoang ngát …

Tôi ngủ rất lâu. Hết cả đêm hôm ấy, sang đến chiều hôm sau mới tỉnh. Giấc ngủ của tôi đầy xáo động. Suốt giấc mơ đêm ấy, Ngà đến với tôi. Em tôi gầy gò, đứng cách tôi chục bước, dáng tha thủi. Tôi hỏi:

 ” Ngà đấy ư? Kìa, sao em không nói? Em im lặng như pho tượng dá.

Tôi bước lên. Ngà lùi lại, xua tay trước mặt. Tôi lại nói:

 ” Em định đuổi anh sao?

Lắc đầu.

 ” Tại sao em lạnh lẽo thế? Ta đứng cách xa em còn thấy lạnh.

Tôi chợt nhớ: cách đây ít lâu có tin đồn nói rằng Mai hóa điên. Anh ta trở lại bệnh như xưa, khi chúng tôi còn trong bộ đội: bệnh khóc. Hết khóc anh ta lại đập phá. Tôi giật mình, hỏi to:

 ” Hay là có chuyện gì xẩy ra?… Hay là hắn giết em?… Kìa nói đi, nói đi! Ôi chao! Lại ghê tởm đến thế sao? Em nói đi! Nói đi! Mai đã giết em phải không?

Bóng Ngà vẫn cúi đầu khóc. Tôi tiến lên, cái bóng lại lùi. Tôi van vỉ.

” Anh xin em, hãy trả lời anh. Em là người, hay là hồn ma? Không! Anh không tin rằng em đã chết. Hồi chúng ta yêu nhau, em ở đội chăn nuôi, anh tìm em ban đêm, em trêu anh, khoác chiếc áo choàng trắng giả làm hồn ma. Anh còn nhớ như in chuyện đó, em hồn nhiên, tinh nghịch… chứ có héo hon như bây giờ đâu …

Tôi nói đến đây thì bóng con vượn đen hiện ra. Con vượn dùng đôi tay dài đánh đu trong không gian kỳ dị. Vừa đánh đu, vừa hú. Quái lạ! Tiếng hú mọi khi là tiếng khóc, hôm nay lại là tiếng cười. Con vượn cười sằng sặc. Lần đầu tiên con vượn cười. Cái cười điên dại. Ngà sợ hãi, hai tay ôm lấy mặt để khỏi nhìn con vật. Em tôi bật khóc lên thành tiếng. Những giọt nước mắt thánh thót, mưa nước mắt, mưa sương. Màn sương nước mắt xóa nhòa bóng con vượn đen và bóng Ngà. Tôi kêu lên, gọi với theo.

” Đừng đi! Em ơi! Ngà ơi!

Chỉ còn lại màn sương trắng. Tôi chợt thấy lạnh toát, tê dại toàn thân. Tôi run lên và tỉnh giấc. Giấc mơ còn nhiều chi tiết ma quái, lộn xộn, tôi chẳng nhớ hết. Nhưng còn cảm giác lạnh lẽo và tê dại thì vẫn dư đọng, nó chậm rãi bò lan trong khắp chân tôi.

Tôi gọi Minh, anh đi đâu vắng. Ở giữa phòng là cái giá vẽ trùm vải trắng. Sáng nay Minh vừa nói vừa mới vẽ một bức tranh còn dang dở. Tôi tò mò lật vải lên xem!

Đám ma! Đúng là một đám ma

Tôi ngồi dựa lưng vào tường, ngắm bức tranh nói về cái chết.

Đám ma cử hành trên một nền trời đỏ tím. Màu máu bầm. Cái quan tài đen khổng lồ tỏa sáng lung linh do một lũ quỉ không đầu khiêng. Quỉ da trắng, quỉ da vàng, quỉ da đen, quỉ da đỏ, quỉ da nâu. Những con quỉ không đầu nhưng biết khóc. Tiếng khóc phun ra từ những cổ họng cụt. Những tiêng nức nở ồ ồ, kèm theo những dòng máu phun mưa quanh quan tài.

Người theo sau đám ma đông như kiến cỏ. Những con người đủ hạng, đủ dân tộc. Người Mễ Tây Cơ cầm đàn ghi đánh những bài nhạc vui chảy nước mắt. Người Italia cầm thánh giá hát vang điệu cầu hồn nhà thờ. Tiếng đàn oóc trầm ngân dài một âm điệu của Bach. Những anh cao bồi Mỹ cưỡi ngựa, tay ngả mũ rộng vành, cúi đầu. Dẫn đàu đoàn cao bồi Mỹ là tượng thần tự do. Những vị sư Tầu đầu trọc nhẵn bóng, béo phị, mắt sáng quắc, lẩm bẩm đọc kinh tay lần chuỗi tràng hạt hổ phách. Những đạo sĩ Bà la môn Ấn Độ cởi trần, như những bộ xương di động, vừa đi vừa lầm rầm những lời bí ẩn. Người Nam Việt Nam quấn khăn rằn, đánh đàn ghita phím lõm hát những lời ca vọng cổ nẫu ruột. Cô gái Bắc Việt nâu sồng thui thủi với tiếng đàn bầu nôn nao phiền muộn. Người Pháp đeo băng tang, mặc complê, sơ mi trắng, ca vát đen, vẻ buồn mức độ và kiểu cách. Đoàn người giơ tay lên trời, dáng đau đớn quằn quại, họ vừa khóc vừa hùng hồn dọc những bài thơ bi tráng. Người châu Phi xích xiềng, chân bước đi loảng xoảng.

Theo sau cùng là một đám đông đi không thành hàng ngũ. Họ vừa đi vừa xì xào to nhỏ. Tôi lắng tai nghe. Những mẩu chuyện lọt vào tai. Tiếng ông cố đạo:

 ” Hãy đau buồn đi! Hãy khóc đi! Đây là nỗi đau lớn nhất của thế gian.

Tiếng một ông sư:

 “A di đà phật. Người đã thoát phàm. Chúng sinh từ nay tìm đâu cho thấy bóng đức Đại từ đại bi.

Những tiếng thoảng thoảng:

 ” Chao ôi! Người đã chết rồi.

 ” Lũ chúng sinh biết tin vào đâu?

Tôi nhíu mày: Thượng đế chết ư? Thượng đế nào? Chúa của người da trắng? Hay Ma-hô-mét của người Ả rập? Hay Thích ca mầu ni của người da vàng? Có tiếng thét của một đám người cuồng loạn từ xa chạy tới. Đoàn người không đầu say sưa hát một bài ca ma quái.

Chúa chết cả rồi!

Chúa chết cả rồi!

Chúa xưa chúa nay!

Chúa Đông chúa Tây

Chúa Nam chúa Bắc

Chúa hiền chúa ác

Cũng đều chết sạch

Chúa chết cả rồi

Ta cười ta hát

Sau tiếng hát là tiếng dao kiếm vang lên chan chát và tiếng nổ ầm ầm trên nền trời xám xịt. Tiếng nức nở tiếng khóc tiếng vang xin của một đám đông như một hòa tấu ma quỉ vang lên từ một miền âm ti lạnh lẽo. Tôi rởn tóc gáy, nhắm mắt bịt tai lại. Khi mở mắt ra đàng trước tôi thấy một màn sương màu đỏ chói.

Tôi rụng rời hét to.

 ” Mưa máu!

Vô vàn thây người nằm trên những vũng máu màu đỏ. Tôi xỉu đi ngất lặng.

Nhưng bên tai tôi bỗng vẳng lên tiếng ai an ủi.

 ” Tỉnh lại con ơi. Chúa chết ư? Chớ lo. Con người sẽ có những thượng đế mới.

Tôi lẩm bẩm: “Thôi ta van, ta van các người. Hãy tha ta. Hãy buông ta ra. Ta ngấy lắm rồi. Ta kinh hãi lắm rồi”. Tôi đã cạn nước mắt để có thể khóc trong cơn thoát phàm kì dị ấy. Có lẽ tôi đã nằm sóng soài bất tỉnh và sùi bọt mép ra như kẻ mắc chứng bệnh động kinh.

Ốm to rồi! Ốm to rồi!

Tôi ốm cái đầu lâu nóng hổi trong tay. Tôi tự hỏi: sức ta đã kiệt chăng?

Đầu óc ta đã hoảng loạn rồi chăng? Ta đã lâm vào chứng điên rồ? Đám ma Chúa hay là chính đám ma ta?

Tôi lảo đảo bước ra khỏi nhà Minh. Căn nhà ma ám. Tôi lẩm bẩm tự thoại: “Chết ư? Không, ta cần sống, lòng ta vẫn rộn ràng phấp phỏng. Ta vẫn chờ đợi đám ma ư? Không. Đó chỉ là điềm báo một cái gì mới mẻ sẽ đến với ta. Nhất định sẽ thế. Cái mới mẻ có thể rất quằn quại đau đớn, những chắc chắn cũng rất hấp dẫn dịu dàng. Có thể ta sẽ khóc, cũng có thể sẽ cười. Chao ôi! Tim ta nhức nhói, óc ta rôi bời. Ta như muốn vỡ ra vì mong chờ. Cái gi đó ư ơi! Hãy đến đi! Đến đi!”

Tôi đi trên đường phố mưa. Gió lạnh, nhưng đầu tôi vẫn nóng bỏng, Ốm to ư? Cóc cần! Có phải máu ta đã sẻ ra nhiều đến nỗi sức ta kiệt quệ? Đâu có phải ta rất hiểu sức ta. Ta còn cường tráng lắm. Mấy trăm phân khối máu đâu có nghĩa gì.

Sức ta còn rất mạnh. Bỗng dưng một ý nghĩ ngông cuồng: Tôi chợt muốn thử sức mình. Giá có một người đàn bà … tôi sẽ phung phí sức lực của mình trong một tuần… hai tuần… vài ba tuần. Chắc chắn là tôi chịu đựng được. Tôi cười thầm vì ý nghĩ quái lạ ấy. Vì chắc chắn chẳng có người đàn bà nào đến với tôi lúc này. Nhưng còn có những cách thử sức khác. Ví dụ đánh nhau. Ừ, mình có thể đánh nhau lúc này, nhưng đánh ai? Sao lại đánh? Cách thử sức côn đồ ấy liền bị gạt phăng đi tức khắc.

À, tôi nghĩ ra rồi, có một cách thử sức rất hợp với tôi. Một cách thử sức cân não căng thẳng. Tôi sẽ đến nhà anh Trần, người chính ủy đã dẫn dắt đời tôi. Chắc chắn sẽ có một cuộc đối thoại sôi nổi gay cấn. Ha ha. Ở đây tôi còn gặp một đối thủ khác: bức tranh “Chúa chơi chim”. Chắc chắn ông chúa ấy đang rất mong gặp tôi để hành hạ tôi, để thu phục tôi.

Trái với những đoán định của tôi. Anh Trần khi gặp tôi rất vui vẻ, đon đả.

 - Bây giờ cậu mới đến. Anh chị mong cậu từ mấy hôm nay.

Tôi lạ lùng nhận xét:

 - Có điều gì mà anh vui thế?

 - Có gì đâu. Chẳng là… cháu Lê lại được đi Liên Xô.

Tôi ngạc nhiên:

 - Cháu vào bộ đội cơ mà?

 - Đúng. Nhưng bộ đội họ chọn hàng ngàn đứa mới có vài đứa như nó: khỏe mạnh, có văn hóa lớp mười và lí lịch thì … khỏi phải nói!

Mắt anh Trần ánh lên một nụ cười đắc chí. Tôi liền trêu anh:

 - Chắc trong lí lịch cháu Lê sẽ quên ghi tôi là cậu nó. Bởi vì đọc đến đoạn “Nguyễn Văn Tư, cậu ruột, vô nghề nghiệp, thôi việc ở nông trường, sống lang thang không hộ khẩu Hà Nội, phó thường dân, không nhà cửa, chuyên ngủ ga với bọn lưu manh…” thì chắc chắn họ phải xét lại không cho cháu đi.

Anh Trần nhíu ngay đôi mày rậm, còn chị Trần tôi khôn ngoan hơn, chị bóc quả cam mời chúng tôi ăn rồi dàn hòa.

 – Thôi em và anh ăn đi. Cháu nó đi học ai chả vui. Chắc chắn là cậu Tư rất mừng cho vợ chồng mình. Em ăn miếng này, ngọt lắm. Chị tôi nhìn tôi, đôi mắt van nài, tôi thấy thương chị. Lúc mới bước vào, tôi bực bội với thái độ của anh Trần. Tôi muốn trêu tức anh vì thái độ của anh như muốn thách đố. Anh đắc chí vì nghĩ rằng đã thắng. nhưng lúc này ngồi đối diện với anh chị, chợt lòng tôi lạnh tanh, chán ngắt. Tôi nghĩ đến cháu Lê… thì ra thằng bé này nói năng có vẻ nghĩa khí, tự trọng và vô tư, nhưng thực ra chỉ là cách ngụy trang. Chẳng lẽ cháu tôi đã có những đường ban lắc léo, và những động tác giả nhà nghề đến thế hay sao? Không có lẽ! Có thể đây lại là cách xoay chuyển tình thế mới của anh Trần. Khi cháu Lê vào bộ đội có thể anh Trần đã đến gặp những sĩ quan cao cấp, những bạn bè hồi hoạt động bí mật để vận động cho Lê được hưởng những hoàn cảnh như ý anh, nghĩa là được đi học nước ngoài. Dù sao cháu Lê cũng là con anh Trần, tất nhiên nó phải được di truyền những tính cách của bố nó. Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, tôi thật gàn dở. Tại sao tôi lại cứ nghĩ rằng cháu Lê nên đi bộ đội? Số phận của nó dù muốn hay không, vẫn là những bước thang dẫn đến nhà lầu. Tại sao tôi cứ muốn nó hòa cùng số phận dân chúng. Giã từ êm ấm đâu phải chuyện dễ. Những kẻ giã từ những may mắn ở đời. Để chung khối với những nỗi buồn tủi ở đời, chỉ là những giống người hoang tưởng. Công bằng ư? Ai ai cũng biết nói lên chữ đó, nhưng tin vào miệng đời, người ta sẽ đến nhà điên.

Tôi ngồi câm lặng, anh Trần cũng lặng im. Anh hút thuốc không tranh cãi với tôi. Có thể anh còn chút lương tri. Có lẽ những ý nghĩ thầm kín của tôi đã phần nào len lỏi được vào óc anh. Cũng có lẽ anh xấu hổ, anh không dám đắc chí, vênh vênh thô thiển như khi tôi mới đặt chân vào nhà… Ôi! Cái đẹp giã dối!… Ôi! Người đàn bà bán mình, sau đêm dài truy hoan, chợt nhìn tấm thân lõa lồ của mình trong phấn son phai lạt, trong giường xô chiếu lệch… Tôi nhắm mắt lại, không dám nghĩ, cũng chẳng dám nhìn mặt ai nữa.

Tôi vẫn câm lặng đi đến chiếc đàn. Trong óc tôi chợt lóe lên khúc giã từ của Trương Chi, khi anh bơi thuyền trong chén trà xanh. Tôi ngồi xuống và những âm thanh huyền diệu chợt thoát ra như một giấc mơ ngậm ngùi.

… …

Giã từ em! Làn khói trà thơm… Sương mù trên sông…

Mị Nương ơi! Cánh hoa trắng ngần của ta ơi!

Sao mắt người nhòe nhòa giọt khóc? Nàng buồn ư? Ta tin vào nước mắt.

Giã từ em! Một chén trà xanh… Sương mù lung linh…

Ta giã từ cả con sông bạc… Và những màn sương đêm mà ta quen thuộc.

 Ta chẳng tiếc, khi ta nhìn giọt khóc, trong như sương ngọc trên khóe mắt Mị Nương.

Người biết khóc, trái tim chư mất.

Giã từ em! Làn khói trà thơm… Sương mù trên sông…

Ta để lại cho em một gia tài to lớn nhất.

Đó là tiếng hát. Đó là hồn ta, máu ta, thịt xương ta.

Giã từ em! Làn khói trà thơm…

… …

Có tiếng gì rủ rỉ bên tai tôi. Tôi lơ đãng nhì vào không gian… Đó là tiếng con chim thần linh đội mũ hào quang từ bức tranh bay ra. Chim vừa bay vừa thổn thức.

Tôi ngạc nhiên:

 ” Kìa chim Sơn Ca! Sao ngươi cũng khóc?

 ” Chứ sao! Tôi cũng biết khóc, cảm ơn anh! Cảm ơn cả khúc giã từ của anh. Chào anh! Tôi sắp đi đây.

 ” Ngươi đi đâu!

 ” Chủ nhà sắp đem bức tranh tặng một người cao cấp và người cao cấp ấy sẽ tặng chúng tôi cho một người nước ngoài.

 ” Thế ra Chúa và chim sắp đi xa.

Chúa nghiêm nghị nhìn tôi. Trên bức tranh, mắt Chúa bỗng long lanh tức giận:

 ” Đêm qua, anh mơ thấy Chúa qua đời? Anh đừng vội mừng.

 ” Tôi có mừng đâu… Điều đó chỉ giúp tôi thêm hiểu biết. Chúa còn hay Chúa đi, đời tôi vẫn thế.

 ” Chúa đi, lại có Chúa khác đến… Loài người yếu đuối, thiếu Chúa sao được. Chúa sẽ hiện hình trong nhiều dạng vẻ mới. Đời đời các anh cũng chỉ là những con chiên nhỏ bé… đáng thương, cần phải có người chăn dắt.

 Tôi cúi đầu, lặng nghe những lời nói tiên tri.

 Ốm to rồi! Ốm to rồi!

Tôi giơ tay ôm cái đầu lâu nóng bỏng của mình. Sao mà thấy thương thân. Tôi nhắm mắt lại, và vẫn nghe thấy tiếng Chúa quát mắng con chim thần linh:

 ” Sao ngươi lại khóc? Ngươi đã bước chệch khỏi nẻo đường ta chỉ.

 ” Lạy Chúa! Xin Chúa gia ân cho con được khỏe.

 ” Hãy quên tiếng khóc. Đường ma ám đừng theo. Hãy nở nụ cười trên môi và theo chân ta. Nếu con quên lời ta dạy bảo, ta sẽ tước bỏ mũ hòa quang và lại buộc chân con bằng sợi dây xích sắt.

Con chim bé nhỏ nức nở… nức nở… Chim ơi! Ta thương cho ngươi! Ừ! Mà cả ngươi nữa, dù ngươi đội mũ hào quang, ta cũng vần tha thứ cho ngươi, bởi vì… ta đã hiểu.

Hai tay ôm cái đầu lâu nóng bỏng. Tôi đến quán Râu Xồm. Chủ quán mời mọc thô lỗ nhưng ân cần:

 - Nhạc sĩ ốm hay sao? Mặc mẹ đời! Chúng tôi đang nhắc đến ông.

Thiêng thật! Mời vào tiệc rượu. Hôm nay cắm câu. Vớ được chú cá quả to, đem nấu ám. Rượu muôn năm! Cá ám muôn năm!

Ngọ đã có mặt ở đấy. Cả vợ anh, cô sinh viên diu dàng và tốt bụng. Nghe đâu Lan đã chuyển ngành không bán ốc ếch nữa, mà bán hoa quả. Tôi hỏi:

 – Cô không đem hoa quả đến tiệc rượu ư?

 - Có chứ! Tôi còn để phần anh một trái cam và mấy quả hồng xiêm.

 Tôi cảm ơn, rồi phỏng vấn:

 - Nghe nói gánh hoa quả dạo này phát tài?

 - Rất lãi! Đủ miệng ăn, lại còn chút dành dụm.

 - Dành dụm?

Chủ quán rót một ly rượu, chúc mừng cô sinh viên. Ngọ gạt đi:

 - Đừng cho cô ấy uống nhiều cái thứ nước ấy.

 - Sao? Anh chê rượu tôi?

Ngọ nói nhỏ vào tai Râu Xồm:

 - Cô ấy có mang.

Râu Xồm kinh ngạc:

 - Ngọ! Anh mà sắp có con ư?

 - Tôi thích có con, vợ tôi cũng thích.

 - Nó sẽ ở đâu?

 - Ở ga.

 - Ở đâu?

 - Ở bên lề đường. Không sao! Bố mẹ nó sẽ là mái che cho đời nó.

Ngọ quắc mắt uống một cốc rượu đầy. Rồi anh lặng lẽ ngẫm nghĩ, sau đó nắm tay Râu Xồm nói nhỏ nhẻ.

 – Cậu lo cho chúng mình. Cảm ơn. Nhưng ngày mai chúng mình sẽ rời Hà Nội. Cậu có tin không? Chúng mình sẽ lên rừng. Chắc ở đó đủ tre gỗ cho vợ chồng mình làm một túp lều che cho con mình ở. Lên rừng! Bây giờ thì mình hiểu thành phố không phải là phần gia tài mà tổ tiên để lại cho đứa con như mình.

Thế ra bữa tiệc này cũng là một bữa tiệc giã từ. Tôi cầm cây đàn ghi ta lên và nẩy nhạc khe khẽ. Tôi hát bằng những âm thanh bồn chồn:

Mị Nương ơi! Cánh hoa trắng ngần của ta ơi!

Giã từ em! Làn khói trà thơm … Sương mù trên sông …

Nàng khóc ư? Ta tin vào nước mắt.

Người biết khóc, trái tim không mất.

 …

Ta để lại cho em gia tài to lớn nhất: tiếng hát

 …

Giã từ em! Một chén trà xanh… Sương mù lung linh…

 

Kỳ 12

 

Ngọ đã lên rừng nhưng không phải bằng đôi chân. Ô tô nhà nước đã chở cả hai vợ chồng anh đi.

Một đêm, người nhà nước vây ga để bắt đi những kẻ sống lang thang. Lúc đó, vợ chồng Ngọ đang yên giấc trong cái túi ngủ. Người ta hỏi:

 - Anh là gì?

 - Tôi, phó thường dân.

 - Phó thường dân! Làm gì có từ ấy trong từ điển tiếng Việt. Xin nói thực: chỉ riêng nói cái chữ ấy, anh cũng đáng được đi cải tạo. Còn chị, giây tờ đâu?

Người nhà nước nhìn giấy tờ của cô sinh viên, với con mắt ái ngại. Người ta kiểm tra cô ta bằng những câu hỏi, xem xét hồ sơ lưu trữ, rồi khuyên cô bằng những lời chân thành:

 - Tốt nhất là cô nên trở về, về nhà.

Cô sinh viên trả lời rất khiêm tốn:

 - Cảm ơn ông. Tôi hiểu ý ông rất tốt, nhưng sô phận tôi là gắn bó với anh ấy. Xin các ông cho tôi được phép đi cùng với chồng tôi.

Người nhà nước cười:

 - Cô tưởng xin đi cải tạo dễ lắm sao? Phải đủ tiêu chuẩn.

Người ta nghiên cứu Ngọ đến hàng tuần: điều tra lý lịch, cân nhắc công tội, xem xét quá trình. Cuối cùng người ta thấy chẳng có cớ gì và cũng chẳng có lợi gì để bắt Ngọ đi tù lần thứ hai.

Và người ta đã đồng ý cho cả hai vợ chồng anh lên rừng.

Một chiếc ô tô nhà nước đã đưa vợ chồng anh đi.

Ngọ lên rừng, còn tôi, tôi chẳng thích lên rừng. Vì chán núi nên tôi mới hạ sơn. Bây giờ, chỉ nghe nhắc đến núi, tôi đã thấy lòng ớn lạnh. Ngọ lên rừng còn có lý do. Anh muốn làm một cái lều cho đứa con sắp ra đời của anh. Ở đây, anh chỉ là kể không vòm, kẻ ngủ nhờ ga công cộng. Còn lên đó, anh sẽ có vòm cho con anh, anh sẽ có một cái ga cho đời anh, dù đó chỉ là một cái lều – ga. Còn tôi, ngay cả đám tinh trùng trong bụng cũng chỉ là một đám dòi bọ bơ vơ. Làm gì có trứng của một người đàn bà cho chúng gặp gỡ. Tôi là kẻ tuyệt giống. Tôi không có đứa con để mà lo âu. Cái vòm đối với tôi chỉ là một điều háo hức, nhưng thực ra nghĩ đến chỉ thêm chua xót. Tôi hờn giận với đời thế thôi, chứ thực ra tôi rất quí cái vòm. Những hoang tưởng ở đời chẳng qua đều bắt nguồn từ cái vòm.

Ủa! Thế ra có lẽ nỗi khắc khoải của tôi từ bấy lâu nay cũng sinh ra chỉ vì thiếu mọt cái vòm? Nếu thế thì dễ vô cùng. Hưng đã vẽ cho tôi một kiểu nhà sàn, tổng hợp cái hay của nhà sàn Thái và Tây Nguyên. Hưng say sưa:

 - Cái nhà ở thích nhất phải là cái nhà sàn. Các cụ xưa khôn ngoan lắm. Ở nhà sàn: sạch sẽ nhất, ấm cúng nhất, khoa học nhất, độc đáo nhất, mô đéc nhất …

Tôi cười vang, cắt lời Hưng, để ngăn anh khỏi phát ra những tráng “nhất” tiếp theo. Tôi xin đủ! Xin đủ! Tôi rất hiểu mình. Chắc chắn cái nhà ấy không phải là nguồn gốc của nỗi phấp phỏng trong tôi. Vậy tôi đợi chờ gì?

Minh trả lời rất tàn nhẫn:

 – Tất cả chúng mình đều chờ đợi đám ma. Cậu đã xem tranh “ Đám ma” của mình rồi. Mình sẽ vẽ tiếp một sê-ri tranh đám ma. Rất nhiều ý thú vị. Xưa đã có đám cưới chuột, bây giờ có thể có đám ma chuột. Rồi … một đám ma quê… với những lá cờ sặc sỡ giữa cánh đồng xanh, với những bà vãi già lần tràng hạt, với những ông phường kèn nghệ sĩ làm ta sa nước mắt. Rồi… một đám ma lính… một nấm mồ chôn vội, còn để hở một đôi chân trên mặt đất, trong khi đó những ánh chớp giật trên nền trời đỏ sậm… Một đám ma trưởng giả rực những vòng hoa và những khăn ni lông, áo len áo dạ chen chúc chau.

Không, tôi không muốn cái điều định mệnh ấy của cuộc đời. Tôi chờ đợi một cái gì mối mẻ hơn, trong sáng hơn sẽ đến với tôi.

Mấy ngày tiếp theo nằm ở nhà Minh là những ngày căng thẳng. Tôi sốt rừng rực, đầu nóng như bếp than. Mồm tôi khát đắng, nhưng trí óc tôi vẫn không nguôi chờ đợi, tôi mong mỏi cái sắp đến đó sẽ như một dòng nước mát mẻ. Mà chắc chắn cái điều đó sắp đến thật. Con chim thần linh, từ hôm biết khóc bỗng trở nên quý tôi. Nó đã dám trốn Chúa lẻn đến báo cho tôi biết cái tin đó. Trong cơn sốt miên man, thỉnh thoảng kêu lên: “Hãy đến đi” những cơn mê sảng và những giấc mơ đen sì. Những đám ma quái đản mỗi đêm diễn ra một cách khác nhau. Những con quỉ cụt đuôi nhảy múa hét hò, và những lời ngiọt sớt của Chúa chơi chim. Tôi lặng lẽ, giương mắt nhìn những tấn kịch náo nhiệt ấy diễn ra trong bộ óc ốm yếu nhưng vô cùng tỉnh táo. Tôi thầm nghĩ: hết cơn hoảng loạn này, chắc sẽ đến cơn mát mẻ. Cái gì phải đến, hãy đến đi!

Quả nhiên, cơn sốt lùi dần. Mấy hôm nay, tôi luôn trông thấy một màn sương đục như sữa và mỏng tang. Rồi sớm nay, qua màn sương trắng ấy, một bóng người hiền hậu, ông chúa sương, ông Chúa lành mà tôi gặp mấy lần, bỗng hiện ra. Ông ta cầm tay tôi ấm áp. Ông ta đến cùng những tiếng chim ríu rít …

Tôi nhắm mắt im nghe tiếng chim hiền hòa mà nhiều lần tôi đã nghe ở rừng Tây Bắc. Tiếng chim hót hay tiếng người rì rầm. Ô hay! Đúng là tiếng người nói thanh thanh, một tiếng đàn bà… quen thuộc. Tôi giật mình, choàng mở mắt.

Ai thế kia? Một vóc lưng thon thả … một mớ tóc đen nhánh thân thương… Tôi ngồi nhổm dậy, gọi to:

- Ngà!

- Ngà đấy ư? Anh chờ đợi em đã bao lâu nay. Trong những lúc buồn phiền nhất, anh vẫn tin là em sẽ đến. Ngà ôm lấy tôi, cô khóc. Còn tôi, tôi nói với Ngà những lời chôn kín đáy lòng từ bấy lâu nay:

- Anh vẫn gặp em trong giấc mơ. Anh là thằng si ngốc. Cả đời anh, đến bây giờ, anh mới chỉ biết một mình em là người đàn bà. Anh chỉ biết yêu em. Bao nhiêu lần, anh trách định mệnh: Chẳng nhẽ hạnh phúc lại bạc bẽo với tôi đến thế! Em còn gầy hơn nhiều so với giấc mơ.

Ngà vẫn ôm tôi và khóc.

- Em nín đi! Em bé bỏng và gầy guộc! Người ta đã dày vò em đến thế hay sao? Hay là, em tự dày vò? Người ta định cướp mất em khỏi tay anh. Nhưng anh tin là em sẽ từ giã tàn nhẫn và đến với anh hiền hậu. Nín đi! Đừng khóc! Em về với anh và anh không bao giờ thả em ra nữa. Dù có chết, anh cũng không buông rơi hạnh phúc.

Ngà sợ hãi ôm lấy tôi và khóc òa to.

- Em nín đi! Hay là em sợ hãi? Sao từ nãy đến giờ em không nói? Em sợ Mai? Em sợ cái sức mạnh thô lỗ đó sao? Sợ gì? Bây giờ hắn là kẻ điên cuồng.

- Ai nói với anh Mai điên?

- Chẳng ai nói, nhưng anh biết. Qui luật bạo tàn tiên tri cho anh biết. Con vượn ma quái và những vũng máu tiên tri cho anh biết.

Ngà rúm người lại. Tôi vẫn bình tĩnh:

- Cả sắc mặt em. Cả những thây người bồng bềnh trong khe suối lạnh cũng tiên tri cho anh biết.

Ngà thét lên, ôm lấy mặt:

- Em van anh. Em xin anh. Hãy tha thứ cho em. Sao con mắt anh ghê gớm? Đầy âu yếm mà cũng đầy thù hận.

- Không căm thù sao được. Chính vì yêu em quá nên anh càng giận em. Sao em có thể bỏ anh để sống với Mai? Sao em có thể giã từ một mối tình chân thật nhất, cuồng dại nhất để đến với Mai?

- Anh ấy là người tốt.

- Em không cần bào chữa. Dù sao anh cũng tha thứ cho em rồi. Nhưng hãy để cho lửa căm giận ào ra và tan đi để yêu thương có chỗ mà ngập đọng trong từng thớ thịt anh. Em khóc ư? Hãy khóc nữa đi, cho những gì là tì ố, cho những vết nhơ trên tâm hồn em được rửa sạch.

Ngà quỳ xuống. Tôi nâng Ngà dậy. Tôi vuốt ve. Tôi yên lặng vuốt ve, và những giận hờn trong lòng tôi dần chìm xuống đáy.

Cái bóng người mờ sương nhòe nhòa hiền lành trong những cơn hoang tưởng gần đây bỗng hiện ra trước mắt, Chúa lành đã đến an ủi:

“Lòng con đã vơi nhẹ. Con hãy vui những ngày vui hiếm có của cuộc đời. Ta hiểu. Giận hờn trong lòng con chỉ là những cơn bão ngắn.”

Những bức tranh kỳ quái trong phòng Minh hôm sau biến mất. Minh đã lặng lẽ gửi những bức tranh ấy đi nơi khác. Buổi sáng tỉnh giấc, tôi hỏi Minh:

- Ngà đi đâu?

- Đi chợ?

- Cậu vẽ gì vậy?

- Tình yêu. Tôi đã gác lại, ngừng vẽ sê ri tranh ma quái. Hôm nay tôi vẽ tình yêu.

- Cám ơn cậu.

- Sao lại thế? Chính tôi phải cám ơn anh chứ. Anh là nguồn cảm hứng của tôi. Sống cùng anh, tôi như đứa lên đồng. Lúc anh mê sảng, tôi vẽ tranh Chúa; lúc anh điên rồ, tôi vẽ tranh đám ma; lúc anh hiền hòa, tôi vẽ tranh thú vật… Còn lúc này… tôi muốn vẽ tranh tình yêu tặng anh. Đừng nghĩ tôi là bản sao của tâm hồn anh đâu. Tôi, anh và Hưng chỉ là những người đồng bệnh.

Tôi gật gù:

- Chúng ta cùng mắc chứng bệnh hoang tưởng. Chúng ta cùng lạc đến những xứ sở hoang vu, lúc nào trái tim cũng phập phồng đợi chờ một cái gì rất huyền diệu sẽ đến.

Minh lùi ra xa, để tôi ngắm bức tranh đang vẽ. Một bức tranh đen trắng. Những nét, mảng đen trên một nền trắng tinh khiết. Một con người đầu cúi xuống đương mê say kính cẩn ôm một con gấu trắng toát. Con gấu cái chăng? Một người đàn bà trần truồng trắng toát cũng nên. Một người đàn bà rất hoang dại rất thơ ngây. Một người đàn bà nguyên thủy, vẻ mặt cuồng dại sung sướng nhưng lại tinh khiết.

Lòng tôi thấy mát rượi.

Đêm hôm ấy, tôi yêu Ngà.

Lần đầu tiên tôi chung sống với một người đàn bà. Cái sức sống bơ vơ, bị lãng quên ở một xó trong lòng tôi bỗng dưng bừng tỉnh sau một giấc ngủ đằng đẵng.

Tôi bỡ ngỡ như một anh học trò mới nhập trường, mà Ngà là người chị cầm tay dẫn dắt tôi đi.

- Anh sợ ư?

- Anh yêu em.

- Còn giận không?

- Hết rồi. Em kể cho anh nghe đi. Mai điên như thế nào?

- Con vượn, chỉ tại con vượn. Đêm nào con vượn cũng từ dãy núi đá chóp nón chuyền xuống. Nó đứng ở đầu nhà để hú và khóc. Mới đầu Mai làm ngơ, nhưng dần dần Mai trở nên bồn chồn tức giận. Mai bỏ em đêm này qua đêm khác, vào rừng săn con vượn. Có đêm em nghe thấy hàng chục phát súng trong rừng, nhưng con vượn vẫn không chết, nó vẫn đến đầu nhà và hú như trêu tức. Mai lại bị tiếng hú ấy cuốn hút. Anh liên tục mất ngủ, và đêm đêm lang thang trong rừng, để sáng về chân tay lạnh ngắt. Con vượn và Mai quần nhau ròng rã suốt ba tháng trời. Một bận Mai mang lương khô bỏ nhà đi hai hôm, lúc về anh cười sằng sặc khoe đã bắn chết con vượn. Từ đó, hết tiếng hú của con vượn trong đêm, hết những âm thanh ma quái. Anh Mai cẩn thận, khi bắn chết con vượn còn xé xác nó ra làm mấy mảnh vứt đi ở mấy chỗ khác nhau, để hồn con vượn hết tìm lại một hình hài ma quái. Nhưng tai vạ này đi, tai vạ khác lại đến. Từ khi đó, anh Mai mắc bệnh cười. Hết bệnh cười, lại đến bệnh khóc. Trông thấy bóng em là Mai xô tới, ôm chầm lấy. Em sợ hãi, chạy trốn. Mai đuổi bắt và đánh đập em tàn nhẫn…

Tôi lặng im, và biết rằng còn có những điều mà Ngà vẫn giấu tôi. Một cảm giác ghen tị nhen lên trong lòng.

Ông Chúa chơi chim ghé về thì thầm trong những phút ân ái của tôi:

“ Cậu thua Mai rồi, cậu làm gì có sức mạnh.

Sức mạnh ư? Tôi thiếu gì. Chỉ có điều, tôi đã quên nó ở một xó xỉnh nào đó trong tôi. Ngà vẫn thì thầm bên tôi. Tôi chẳng nghe rõ gì cả. Chỉ còn thấy làn da mịn màng và đôi vú mềm mại của Ngà. Ôm lấy cái vóc thon thả nhưng lẳn chắc ấy, tôi hiểu vì sao Ngà có thể lấy được Mai.

Tôi ghen! Tôi ghen! Và tôi thì thầm:

- Em nói thực đi, em có yêu Mai không?

- Không! – Ngà trả lời hổn hển.

Tôi biết Ngà nói dối. Tôi nắm lấy đôi vú. Đôi vú căng nhựa ấy làm tôi hiểu Ngà hơn. Tôi giận hờn tự nhủ: Ta mà không có sức sống thật sao?

Tôi sống! Tôi sống! Tôi sống!

Hãy thử xem. Một góc máu, một phần cơ thể tôi bị mất đi, nhưng sức sống có bao giờ cạn. Toàn thể con người tôi chợt bừng tỉnh dậy.

Tôi thèm sống.

Tôi muốn sống.

Tôi rất sống.

Tôi đang sống. Sức sống trong tôi dần điều hòa. Nó trở nên nhịp nhàng uyển chuyển. Vòng tay Ngà siết chặt thêm. Vòng tay người đàn bà quấn quít làm tôi hiểu sức mạnh của bừng tỉnh.

- Anh ơi! – Ngà âu yếm gọi tôi trong giấc mơ.

Tôi sống! Tôi sống! Tôi nhịp nhàng sống.

- Em yêu anh ghê gớm. – Ngà thì thầm.

Tôi sống! Tôi sống! Cơn hạnh phúc lúc sáng rực, lúc đen ngòm kỳ lạ. Tôi chợt hiểu một điều đơn giản: sự sống chỉ dành cho sức mạnh. Điều vừa phát hiện đó làm tôi vừa yêu Ngà vừa ghét Ngà. Tôi yêu vì Ngà cho tôi sự sống. Tôi ghét Ngà vì như vậy Ngà đã phỉ nhổ lên những ước mơ lý tưởng của tôi. Chiến thắng. Tôi cần phải thắng.

Tôi sống! Tôi sống!

Nhịp nhàng sống!

Sức sống cười giòn.

Hạnh phúc… tối lòa…

Chúng tôi sống với nhau đã được một tuần. Ngà đã dần dần tươi tỉnh lại. Mắt Ngà lúc nào cũng sáng. Má Ngà lúc nào cũng đỏ. Ngà cười. Thi thoảng hát. Đôi khi làm nũng. Ngà cho tôi ăn. Ngà cho tôi uống. Nhưng nhiều lúc, trong những phút sung sướng nhất, Ngà lại khóc. Khóc vì hạnh phúc chăng? Khóc vì hối hận chăng? Khóc vì nghĩ đến Mai chăng? Chúng tôi sẽ sống chung với nhau ra sao? Sẽ sống bằng gì? Sống ở đâu? Chúng tôi có được yên lành sống với nhau không, hay là số phận sẽ như Ngọ và cô sinh viên? Chúng tôi sẽ lại lên rừng chăng? Còn Mai nữa, hiện nay anh đang trong cơn điên dại, rồi sau sẽ ra sao? …

Bao nhiêu câu hỏi mà chẳng biết đường nào giải quyết. Cứ như mớ bòng bong. Tôi tặc lưỡi, thì cứ mặc. Cứ mặc cho thời gian tìm cách giải quyết hộ. Hơi đâu nghĩ nhiều. Cuối cùng, chuyện nào cũng có lối đi riêng của nó.

Hơn một tuần đắm chìm với người đàn bà, tôi gầy tọp hẳn đi. Hai con mắt trũng xuống, nhưng đầu óc lại thấy thanh thản, tỉnh táo.

Tôi cầm cây ghi ta và đánh toàn bộ khúc Trương Chi. Từ những nét nhạc bằng an phẳng lặng, tôi đi dần vào những con sóng tâm hồn:

…… 

Vàng ư! Than ư! Vàng thau lẫn lộn!

Nỗi chua xót của cái đẹp bơ vơ trong cõi tục tằn.

Con sông rộng kêu lên: bao giờ bão nổi cho yên?

Hãy khóc đi! Muôn giọt khóc sẽ thành mưa bão.

Mị Nương ơi! Giọt khóc sẽ rửa sạch vết nhơ cho nàng.

Vết nhơ mù lòa làm nàng chẳng nhìn thấy ngọc.

… …

Mị Nương khóc và chén trà xanh kia sẽ bình an phẳng lặng sao? Không! Chẳng lẽ cái kết thúc của những cơn khắc khoải lại là một khúc sông lặng tờ? Chẳng lẽ nỗi đợi chờ chỉ là: Ngà đến? Chẳng lẽ số phận tôi lại là yên vui?

Đêm qua, những nhà sư gậy bị đi ăn mày lại về điều hành trong tâm tưởng. Tôi lại lên cơn rồ dại hay sao? Đêm qua, những giấc mơ khủng khiếp bị giam giữ từ khi Ngà đến, lại sổ lồng vụt qua óc tôi.

Dậy đi hãy dậy đi: Đoàn sư gậy bị đi ăn mày gày gò khốn khổ. Họ vừa tụng kinh vừa gào la: Hỡi nhân thế u mê …

Tôi giật mình toát mồ hôi, nhỏm dậy. Ngà vẫn ngủ ngon. Trong ánh đèn dầu mù mờ, tôi ngồi lặng ngắm Ngà. Nét mặt người đàn bà đăm đăm, hình như hơi co rúm, trong giấc ngủ Ngà còn sợ hãi. Thì ra tiếng cười ban ngày chỉ là tấm áo lành che đậy cho cái bên trong chua xót chưa tan. Vậy, không phải bình an là kết thúc Trương Chi.

Vậy mỗi đợi chờ đến đây vẫn chưa phải là đến bờ đến bến. Chao ôi! Thế ra số phận tôi vẫn là khắc khoải. Trước mặt tôi vẫn còn là cái ngày mai đầy bí ẩn. Khúc Trương Chi vẫn chưa kết thúc. Bản nhạc của tôi vẫn còn viết dở …

Trong bóng tối, Ngà sợ run rẩy nép vào tôi:

- Tư ơi! Em sợ lắm.

- Em sợ cái gù?

- Không hiểu.

- Em sợ ngày mai ư?

- Em sợ đêm tàn. Lúc trời rạng sáng, tỉnh dậy không thấy anh bên cnhj, thế là em lo lắng. lo đến phát điên. Em nhìn đồng hồ, nhìn cái kim cứ nhích, cứ quay mãi…Mà anh vẫn chẳng về. Thế là em khóc. Em cứ nghĩ rằng có chuyện gì đó xảy ra với anh…

- Em lây bệnh của anh mất rồi.

- Bệnh gì?

- Khắc khoải!

- Em không hiểu?

Đang đêm. Chợt thấy một bàn tay vô hình nào đó đâm vào ngực tôi buốt nhói. Tôi tự rút lưỡi dao ra khỏi ngực. Máu phụt ra hai bàn tay đỏ lòm. Tôi thét to, Ngà hoảng hốt:

- Anh ơi! Sao thế?

Tôi giơ tay lên trời, và dùng cùi tay gạt Ngà ra!

- Đừng chạm vào người anh

- Kìa, anh…

- Đừng ôm anh. Máu! … Máu! …

- Trời ơi! – Ngà luống cuống bật điện. – Máu ở đâu?

Tôi nhớn nhác nhìn chằm chằm vào hai bàn tay. Chúng chuyển từ màu đỏ lòm, sang mầu hồng, rồi thành mầu trắng. Hóa ra một giấc mơ điên.

Ngà ôm lấy tôi và khóc:

- Anh ốm mất rồi. Tội nghiệp! Xưa kia, anh khỏe mạnh, vui tươi biết bao nhiêu. Thế mà… em lại bỏ anh từng ấy tháng trời.

Những phút tinh thần xáo động như vậy làm chúng tôi càng thêm gắn bó với nhau. Chưa bao giờ tôi được sống những ngày hạnh phúc đến thế.

Hơn một tuần qua.

Minh đã vẽ được mấy bức tranh tình yêu. Bức “Quấn quít” là bức tranh cấu trúc bằng những nét lượn uyển chuyển. Bức mới nhất là bức “Mẹ con”. Người mẹ với đôi vú khổng lồ, và đôi cánh tay xòa ra như cánh chim: đứa con nằm gọn trong lòng mẹ với đôi mắt đen trong sáng hân hoan như một thiên thần…

Ngà thì thầm với tôi:

- Chúng mình sẽ có đứa con.

Tôi tê tái:

- Anh cũng mong như em.

- Sao anh buồn vậy?

- Anh rất vui.

Tôi nói dối. Tôi bảo thế, nhưng bụng tôi lại nghĩ rằng đứa con sẽ chẳng bao giờ đến với chúng tôi. Lòng tôi mấy bữa nay, bồn chồn như lửa đốt. Đức Chúa cùng con chim đội mũ hào quang đã thấp thoáng lởn vởn quanh nhà.

Hưng đến than thở với tôi:

- Vợ mình hóa câm mất rồi, cả ngày cô ấy không nói một tiếng. Được cái, cô ấy im lặng, thì mình làm việc được.

Anh khoe:

- Mấy hôm nữa mình sẽ tặng cậu cái này … thú lắm.

Cái gì?

Phấp phỏng.

Ai đốt lửa trong lòng tôi?

Ai đánh trống gõ mõ trong long tôi?

Những tiếng động ồn ào suốt đêm ngày. Âm thanh hỗn độn. Phải thật khuya, khi tôi đã mệt lử rã rời, tiếng động trong tôi mới ngừng, và lúc đó tôi mới chợp mắt ngủ được. Giấc chẳng sâu; nó chập chờn, mong manh; chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng đủ tan tành …

Cộc cộc! Cộc cộc!

Tôi choàng mở mắt khi nghe thấy tiếng gõ cửa. Ngà ngái ngủ hỏi:

- Ai đó?

Cộc cộc! Cộc cộc! Cộc cộc!

Tiếng gõ cửa thúc giục dồn gấp. Tôi bật dậy, trống ngực thình thình. Tôi hét to:

- Ai?

Tiếng xô cửa, tiếng đấm cửa ầm ầm. Tôi vội đứng phắt lên. Cánh cửa bị phá bỗng bật mở. Trong bóng tối mờ, có tiếng chân chạy vào buồng tôi ở. Ngọn đèn điện bỗng bật sáng. Một bóng người lưng gù gù, vạm vỡ, đầu tóc bù xù quen thuộc. Ánh đèn quá đột ngột làm tôi chưa nhận được ra ai. Bỗng Ngà thét thất thanh:

- Mai!

Mai à? Tôi chưa định thần và nhận ra con người dã cùng sống với tôi từ Trường Sơn. Mắt Mai hoang dại đỏ rực. Cái ánh mắt ấy, tôi đã gặp. Chợt thoáng nhớ những thây người bồng bềnh trong khe suối lạnh …

Mai không nói một lời. Tôi cũng im lặng. Chúng tôi gườm gườm nhìn nhau.

Rồi thình lình chúng tôi xô lại, ôm lấy nhau vật lộn. Tôi đấm. Mai đấm. Túi bụi, hỗn loạn. Mắt tôi bỗng hoa lên. Tôi loạng choạng. Mai liên tục đánh mạnh vào đầu tôi. Tôi lấy hết sức đạp. Mai bật ra xa, ngã ngồi. Ngà thét to:

- Trời ơi! Dao! … Anh Mai! Bỏ dao ra!

Mai đã rút con dao nhọn từ cạnh sườn. Tôi thụt lùi, tay chợt vớ được chiếc gậy chặn cửa ở góc nhà. Mai nhảy xô tới. Tôi vung mạnh chiếc gậy lim. Tiếng “cốc” ròn, khô và gọn. Đồng thời, tôi cũng cảm thấy một cái gi đó buốt nhói nơi lồng ngực, tôi ôm lấy ngực, ôm lấy lưỡi dao … Máu chảy đỏ lòm đôi bàn tay. Tôi nhìn máu của mình và mắt hoa lên. Tôi lảo đảo, ngã gục xuống.

Ngà thét to điên dại. Tôi ngất đi. Thoang thoảng bên tai tôi tiếng khóc.

Những đám ma, những âm thanh ma quái lại về diễu hành trong tâm tưởng. Tiếng Chúa cầu kinh lầm rầm. Tiếng con chim thần linh thì thầm:

” Ngủ đi! Ngủ đi!

” Ta chết rồi ư?

” Ngủ đi! Ngủ đi! Sẽ bằng an.

Chúa chơi chim ngồi bên tôi:

” Con chẳng nghe lời ta. Con đã thấy chưa? Sự tàn nhẫn đã nổi khùng.

Tôi bình tĩnh:

” Thế ra đó là điều mà tôi vẫn chờ đợi, phấp phỏng?

” Con hãy tự hiểu mình.

Sương trùm lên mi mắt tôi nặng trĩu. Tôi hỏi con chim thần linh, nó vẫn đậu ngay trên ngực tôi:

” Sắp sửa rồi phải không?

” Sắp sửa gì?

Một màn sương thật dày … thật trắng … sẽ phủ kín người ta … rồi lặng lẽ … Và thế là kết thúc chứ gì?

” Hãy tự tin ở nơi mình!

” Thế nghĩa là sao?

” Ngủ đi! Rồi anh sẽ hiểu.

Tôi ngủ, giấc ngủ lơ mơ. Lại thấy sương trắng bay về, lại thấy nhòe nhòa hình bóng … Một hy vọng chợt nhen lên. Tôi thì thào hỏi:

” Ai đấy? Có phải … Ta nghe như hơi ấm phập phồng nơi tay.

” Ta đây …

” Ngươi là ai?

” Là bạn.

” Bạn ư? Bạn nào đến với tôi lúc này?

” Bạn thân nhất của con

” Ta hiểu rồi … Chúa lành … Chúa khoác áo màu sương trắng.

Ô kìa, sao mắt Chúa lại … nhòe nước mắt? Xin cảm ơn. Xin Chúa hãy cho biết mắt người.

Xin người hãy vén màn sương lên.

Chúa lành lắc đầu:

“Ta là bạn của nước mắt. Ta không có quyền hiện thân. Vì nếu ta hiện rõ ràng thì ta đâu còn là niềm phấp phỏng chờ đợi… và lúc đó nước mắt sẽ đuổi ta sang với tiếng cười…

Tôi trầm ngâm:

” Bây giờ tôi hiểu rồi. Xin cảm ơn… Nhưng, còn một điều mà tôi muốn hiểu … Xin Chúa hãy chỉ dẫn cho, bao giờ màn sương đặc sẽ…

Chúa ngắt lời:

” Con sợ cái kết thúc đến thế ư?

Tôi gật đầu:

” Con không thích điều ấy. Nhưng, thú thực, có lúc điêu đứng quá, con lại mong điều ấy đến cho nhanh.

” Con phải chịu đựng… Con chưa giã từ được nước mắt đâu.

” Thế nghĩa là sao?

Màn sương nhòa dần. Chúa lành trắng toát trong vắt chỉ im lặng và lắc đầu.

Có tiếng người reo:

” Tỉnh lại rồi!

Tôi mở mắt. Nhiều người mặc áo trắng xúm quanh.

Tôi gọi:

- Ngà ơi!

- Em đây, em vẫn ở đây.

Tôi chìa tay cho Ngà nắm. Tôi nhắm mắt lại. Đối với tôi thế là đủ. Ngà sẽ chẳng rời tôi.

Hai hôm sau người ta đến hỏi cung:

- Anh đã giết người?

- Mai đã chết rồi ư? – Tôi thì thầm hỏi. – Đáng tiếc! Tôi với Mai nào có hằn thù gì nhau.

- Anh đã giết người? – Tiếng hỏi lắp bắp lại cáu kỉnh.

- Tôi không giết ai cả. Tôi không giết ai bao giờ. Chính sự tàn nhẫn đã tự giết mình.

- Tôi không hiểu ý anh. Anh điên hay sao?

Thì có bao giờ ai hiểu tôi. Tôi im lặng không trả lời nữa.

Một tuần sau, tôi đứng lên được. Người ta đưa tôi đi. Ngà không khóc, lặng lẽ bước theo tôi. Thế là đủ. Tôi im lặng.

Anh Trần đến thăm. Anh ủ rũ buồn. Còn tôi hoàn toàn bình tĩnh. Những cơn khắc khoải đã lắng đi. Anh Trần bắt tay tôi. Mặt anh đầy những nếp nhăn hằn sâu. Anh đã hết tự tin. Hình như anh định nói với tôi một chuyện gì đó, song cuối cùng anh chỉ nói được:

- Cậu hãy… tha thứ…

Tôi trầm ngâm:

- Nếu anh còn có cái gì đó là… lý tưởng thì không bao giờ anh có quyền được tha thứ.

Anh tôi gật đầu khe khẽ…

Hưng đem cho tôi một bản vẽ về một ngôi nhà tương lai… thật tiện và đẹp. Minh khoe với tôi đã vẽ xong xê-ri tranh “Nước mắt”. Tôi mỉm cười và chợt nhớ đến Ngà. Chỉ ít bữa nữa Ngà và tôi sẽ đến một nơi đau buồn nhất. Con chim thần linh đến chào tiễn biệt. Nó đã học được giọng lưỡi của Chúa lành:

“Nước mắt là xứ sở ta đáng đặt chân đến nhất”.




Đào Nguyễn

1973 – 1974

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn