DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
2,044,390

Mặc Đỗ đổi mới - Viên Linh

Saturday, September 26, 201512:00 AM(View: 4472)
Mặc Đỗ đổi mới - Viên Linh
Mặc Đỗ đổi mới


“Theo tôi nghĩ, chết là một dịp đổi mới: thân xác bỏ lại, thần thức bay đi, nhập vô một kiếp khác tươi mới hơn.” Mặc Đỗ (Thư gửi Viên Linh ngày 2 Tháng Ba, 1998, sau đám tang Mai Thảo)

 

Nhà văn Mặc Đỗ vừa từ trần hôm cuối tuần tại Austin, Texas, cô Nguyễn Tà Cúc gọi điện thoại cho tôi biết lúc chập tối Thứ Ba. Thân nhân của nhà văn Nhóm Quan Điểm báo tin bằng một lá thư gửi kiểu next day, (gửi Thứ Hai, Thứ Ba tới), trong có lá thư Mặc Đỗ viết sẵn cho Tà Cúc. Chả là cô từng là chủ biên thực hiện loạt bài đặc biệt về Mặc Đỗ và Nhóm Quan Điểm trên báo mạng Da Màu cách đây mới vài tháng, nên tin tức đến sớm.

 

 

blank
Chân dung, bút tự và thư đánh máy của nhà văn Mặc Đỗ, người cuối cùng của Nhóm Quan Điểm vừa tạ thế (1917-9.2015). (Tài liệu Viên Linh cung cấp)

 

Mặc Đỗ Đỗ Quang Bình (1917-9.2015). Theo âm lịch ông đúng 100 tuổi. Người viết bài này đã viết về ông nhiều lần, trên nhiều tờ báo khác nhau, cũng đã phỏng vấn ông nhiều lần, trên nhiều tờ báo khác nhau, ra hải ngoại thì ngay năm 1975 đã phỏng vấn ông và đăng truyện ngắn “Cái Áo Len Màu Rêu” của ông ngay từ cuối năm 1975 trên Giai phẩm Xuân Lửa Việt Bính Thìn, phát hành tháng 1, 1976. Viết về Mặc Đỗ thì rất dễ, sự nghiệp của ông đồ sộ, nhưng khó hay, vì ông khai tâm ngoại ngữ, Mẹ ông giỏi Hán văn, văn quốc ngữ của ông không phải Việt Văn khởi tâm, nên hơi văn của tác giả “Siu Cô Nương” không có cái mượt mà nhuần nhuyễn của những đồng nghiệp đồng thời, xấp xỉ niên tuế, như Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Nguyễn Đức Quỳnh, Nghiêm Xuân Hồng, hay Vũ Khắc Khoan. Ông là dịch giả hàng đầu của Việt Nam, kể cả Pháp dịch hay Anh dịch, như Người Vợ Cô Đơn - Thérèse Desqueyroux của Francois Mauriac, Nobel Văn chương 1952 hay Ngư Ông và Biển Cả - The Old Man and the Sea của Ernest Hemingway, Nobel Văn chương 1954; dịch giả ấy từng nói với tôi, đại ý: “văn Mai Thảo chẳng hạn không thể dịch ra ngoại ngữ được, vì dịch ra thì chẳng còn gì.” Nhắc đến câu trên chỉ là một cách của người viết bài này cho thấy Mặc Đỗ quan niệm thế nào về từ ngữ trong một câu văn; cái gọi là bay bướm hoa mỹ trong văn chương ngôn ngữ Việt dường như lọt qua kẽ tay cầm bút của ông - thực ra ông dùng máy chữ khi viết bài. Vì trong giờ phút này, khi thân xác ấy còn nằm trên mặt đất, không phải là lúc ta nói tới văn chương Mặc Đỗ, mà chỉ nên nhắc đến vài kỷ niệm, vài lời nói của ông. Từ sau khi vợ ông, người bạn đời của ông ra đi, tôi có cảm tưởng ông hay nói về bà, làm thơ về bà, hơn thế nữa đã tự tay gấp đóng một tập thơ mỏng trong nói nhiều đến bà, cả bìa chỉ có 16 trang, màu tím, nhan đề “Kỷ Niệm Nhớ Thương.”

Kèm với tập thơ mỏng là một lá thư, nửa trang đánh máy, như sau: “Chủ Nhật, 7 Tháng Ba 2010 - Tặng VL món quà đầu năm rất riêng tư (vì VL đã có dịp gặp nhà tôi) để VL cất vào file [hồ sơ] MĐ cho có đủ, không để đăng hay in... Thân mến, [ký tên chữ Đ viết hoa].”

Câu ấy rất rõ ràng, đó là những gì riêng tư của ông, “không để đăng hay in” khi ông còn ở đời này. Cho nên tôi sẽ cho đăng và in sau này, ít ra là sau ngày “mở cửa mả,” sau “thất tuần” - ngày thứ 49, khi vong hồn siêu thoát, “nhập vô một kiếp khác tươi mới” như một lá thư trước ông viết cho tôi. Hôm nay mới là ngày thứ ba ông nằm xuống, những dòng này cũng chưa phải những dòng tưởng niệm, đây chỉ là một bản tin viết theo lối của người cùng làng, đôi khi cùng xóm, người đã năm bảy chục lần đăng bài ông trên các tuần báo Nghệ Thuật (57 số, từ 1965...), tuần báo Khởi Hành (156 số, từ 1969...), là hai tờ tôi làm thư ký tòa soạn, và trên các tạp chí Thời Tập (23 số) trước 1975, và trên các tạp chí ở hải ngoại (Lửa Việt, Đuốc Tuệ, Thời Tập và Khởi Hành (tới nay trên 220 số), do tôi làm chủ nhiệm chủ bút,... một bản tin trong làng chỉ để kiểm điểm một biến cố, một cái tang: nhà văn, dịch giả Mặc Đỗ không còn nữa. Đây là dịp ghi nhớ các công trình tim óc của ông.

Theo cuốn Tổng Quan Văn Học Miền Nam của Võ Phiến và vài nơi khác, viết Mặc Đỗ sinh năm 1920; song ông nói với tôi thì khác. Đây là tiểu sử mà tôi ghi lại trong hồ sơ của mình: “Mặc Đỗ tên khai sinh là Đỗ Quang Bình, giấy tờ ghi năm sinh là 1920, tại Hà Nội, nhưng trong thư riêng với chủ nhiệm chủ bút Khởi Hành ông cho biết thật sự ông sinh vào ngày Thứ Tư, 10 Tháng Giêng năm 1917 [nhằm ngày 17 Tháng Chạp năm Bính Thìn; như thế theo âm lịch, ông đúng 100 tuổi]. Ông tốt nghiệp Luật khoa từ lâu trước 1954, song không hành nghề luật sư. Ông làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông, cơ quan Văn Hóa (nguyệt san) của Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Trường Luật, số 1 xuất bản tháng 9, 1951, số chót (28) tháng 7, 1954. Những sáng tác của ông trên tạp chí này xuất hiện khoảng đầu 1950, mặc dù nhiều truyện ngắn hay kịch bản được viết từ 1939, 1940 như ghi chú ở dưới bài. Sau 1954 di cư vào Nam, ông là một trong vài người đứng chủ trương nhật báo Tự Do, tờ báo tiên phong hô hào “chúng ta đi mang theo quê hương” và thực tế tờ báo ấy cùng các văn nghệ sĩ qui tụ quanh nó và nhà xuất bản Tự Do như Tam Lang, Mặc Đỗ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng (Thần Đăng-Đàn Ngang Cung), và các nghệ sĩ Nguyễn Gia Trí, Phạm Tăng, với cánh ngâm diễn Tao Đàn Hồ Điệp, Quách Đàm, Hoàng Thư,... đã mang theo phong hóa đồng bằng Sông Hồng Núi Tản vào Miền Nam.

Nhóm Quan Điểm trong đó Mặc Đỗ là một thành viên, có chung một nhận định, một thái độ thường được gán cho là có tính tiểu tư sản, của tầng lớp trí thức tiểu tư sản. Tác phẩm của họ khác xa với loại truyện phổ thông của Tân Dân, Tiểu Thuyết Thứ Bảy thời Tiền Chiến ở Hà Nội; hay với các tác giả trong nhóm Sáng Tạo, Văn Nghệ, Bách Khoa,Văn, sau 1954 ở Sài Gòn. Nhân vật của Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ có nét chung là sự ưu tư về các vấn đề thời thế, xã hội, chỗ đứng của người trí thức trong sinh hoạt quốc gia.

Cá nhân Mặc Đỗ, bên cạnh truyện và kịch ông còn viết những bài như “Người đàn bà Việt Nam trong sinh hoạt nông nghiệp” (PT số 14&15), “Tòa Thánh và Chiến tranh” (PT số 4 và 5). Các tác phẩm văn chương nổi tiếng nhất có Động Phù Vân, kịch, Phổ Thông, Hà Nội, 1952, 40 trang; Về Nam, kịch, Hà Nội, 1953; Bốn Mươi, truyện, Quan Điểm, Sài Gòn, 1957, in lần 2, 1958, 218 trang; Siu Cô Nương, tiểu thuyết, Quan Điểm, 1958; 326 trang; Tân Truyện, Quan Điểm, 1965 (truyện ngắn), 326 trang, ông còn là một dịch giả được ca ngợi vào hàng số một tại Miền Nam, với Ngư Ông và Biển Cả, dịch The Old Man and the Sea của Ersnet Hemingway, Một Đêm Trăng, dịch W. Somerset Maugham; Thérèse Desqueyroux, dịch Francois Mauriac, Một Giấc Mơ, dịch Vicki Baum, Truyện Ngắn Hồi Giáo (10 tác giả Ả Rập), Văn, Sài Gòn, 1972; Con Người Hào Hoa, dịch The Great Gasby của Francis Scott Fitzgerald. Đó chỉ là một phần trong rất nhiều công trình dịch thuật của ông. Ông cũng sáng tác một tập thơ in tại hải ngoại: Ba Câu ở Biển Ngoài, theo thể thơ Haiku của Nhật, Khởi Hành xuất bản, 2002. Ở Hà Nội hay Sài Gòn, như thế lúc nào Mặc Đỗ cũng viết, mọi loại, trên ngọn sóng, ở lớp khai mở đầu tiên. Ông còn là giám khảo Giải Văn Chương Toàn Quốc và cộng tác thường xuyên với các báo như Văn của (Nguyễn Đình Vượng, Trần Phong Giao), Khởi Hành và Thời Tập (Anh Việt, Viên Linh).”

Thư Mặc Đỗ:

“Houston, 9 Tháng Giêng 1977

Viên Linh thân,

Hôm nay tôi mới viết được vì thư của bạn phải chờ tôi ở nhà trong khi tôi đi vắng hai tuần.

Tôi có đọc hầu hết những sách in bên Pháp liên quan đến Việt Nam. Không thấy lý thú lắm vì không đem lại cái gì mới hơn phong trào ồ ạt tin tức trước ngày cộng sản đuổi hết nhà báo đi khỏi Sài Gòn. Trong số tôi khoái tiểu thuyết Les Canards de Ca Mao [Bày vịt ở Cà Mâu] của cựu chủ bút Le Nouvel Observateur, Olivier Todd. Cuốn sách duy nhất đụng tới cái diện thật của những người Mặt Trận trong cuộc chiến vừa qua. Theo tôi, có một đề tài đáng khai thác là phong trào đặt lại vấn đề cộng sản qua rất đông sách Pháp đặc sắc mới ấn hành trong vòng hơn một năm nay, khởi đầu là cuốn Le Monde tel qu'il est của Michel Legris, tố cáo lối làm báo thiên vị của tờ báo gạo cội đó [tờ Le Monde]. Tôi có viết một bài cho [một tờ báo kia] hồi đầu nhưng chẳng biết có ông cố vấn nào cũng sợ như trí thức Pháp sợ Le Monde, bài không dám đăng, sau tôi ngán chỉ theo dõi vấn đề cho riêng mình. Tôi cũng có đưa ý kiến với một số bạn hữu, hưởng ứng rất yếu chỉ vì các bạn tôi đa số thuộc lứa tuổi đã mòn như tôi... J. F. Revel của L'Express đã gọi rất lý thú phong trào này là 'le déniaisement'.”

“Tình cờ trước khi đi nghỉ hai tuần bên bờ hồ tôi có ghé qua Austin vớ được một xấp báo tị nạn đủ thứ... có dịp ở một mình và suy nghĩ tôi mới tò mò đọc kỹ báo tị nạn. Không những càng buồn nhớ mà còn cảm thấy hổ thẹn cho thân phận tị nạn. [...] Người viết tị nạn thà làm thợ in, thợ sơn hay rửa chén không ai dám chê còn thấy đáng trọng là khác nếu lao động rồi vẫn lo viết, nhà văn nhà báo tị nạn mà đi làm báo thương mại thì ôi thôi...”

“Missouri City, 8 Tháng Sáu 1990

Viên Linh thân,

Vốn là người được rèn luyện từ tấm bé (qua trường Pháp) và qua lò đúc của riêng mình, tôi bắc cân ngang nhau giữa nội dung và hình thức của tác phẩm. Hồi này tôi thường ngẩn ngơ thấy lan rộng tình trạng buông thả ngòi bút, viết như là đùa với chữ, với ý, không phải là nặn óc, bóp tim, để giãi bày một nỗi niềm, như tự ngàn nằm người cầm bút vẫn làm...”

“Austin, 20 Tháng Hai 2002

VL cho biết thuở bắt đầu yêu văn thơ chứng minh điều tôi tin chắc: Viết nằm sâu trong tim óc từ tuổi bắt đầu lớn chứ không thể là accident giữa đường phá ngang làm thơ, viết văn.

Hồi 1947 tôi từ miền Nam trở lại Hà Nội gặp lại [Lê Quang] Luật, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng sau một tí. Bốn anh em chơi thân, lu bù quanh năm. Vụ [Nhóm] Quan-Điểm Khoan, Hồng bày ra ở Sài Gòn cùng một số anh em khác, hồi ở Hà Nội hoàn toàn chưa 'hoài thai'...”

“Austin, 12 Tháng Mười 2003

Đọc tin trên báo nhà (Khởi Hành), nảy hứng, tặng anh em hai bài haiku:

Đã tưởng đành mất quê
Nhìn về cách mạng làm mất quê
Còn lại múa rối nước.
Đất hương hỏa khôn giữ
Tưởng lập công đào bới nghìn xưa
Đào lên càng dễ bán.”

“Austin, 20 Tháng Bảy 2000

Viên Linh thân,

...Tôi thường nói với các con, tôi muốn bắt chước Henry Fonda muốn vụ ra đi của tôi là một biến cố tuyệt đối gia đình, tôi có đóng góp được gì với đời thì là của chung còn đời tư của tôi là của riêng không đáng làm phiền ai... Thôi, cao hứng viết nhiều quá. Cứ tiếp tục in những vết chân Giao-Chỉ trên mặt đường Việt Nam...”

 

Viên Linh

(từ: NV)


*




Mời đọc Quảng cáo


Mua Bán Nhà

 

 


L/l: Marvin Tran

(714) 768 - 8810




blank

 


Nha Khoa

 


blank