DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,931,640

VN: Cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn... và Thái giám

27 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 13941)
VN: Cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn... và Thái giám

Cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn

Trải qua hơn nửa thế kỷ, những cung nữ từng hầu hạ trong hoàng cung dần khuất núi. Nhân chứng cuối cùng về cuộc sống nơi cung cấm của cung nữ là bà Trần Thị Vui, hiện sống ở đường Chi Lăng, thành phố Huế.


cung-content

 Bà Trần thị Vui

Ở tuổi 84 bà Vui vẫn khỏe mạnh, trí nhớ minh mẫn. Khẽ vấn mái tóc bạc, giọng bà Vui chầm chậm, ánh mắt xa xăm như hoài niệm về quá khứ: “Mới đó mà đã gần 70 năm ròng, ngày đó vào cung tôi mới tròn 16…”.

Là con cháu Hoàng tộc, mẹ bà là cung nữ Tôn Nữ Thị Biên thuộc dòng trưởng của chúa Nguyễn Phúc Tần, đời thứ 5, bà Vui được vào phục vụ trong Hoàng cung. Ngày mới vào, như bao cung nữ khác, bà phải học những quy tắc khắt khe của chốn cung đình như dạy ăn nói, đi lại cho đúng với lễ nghi trong cung cấm; học cách biết giữ chuyện, mỗi cung nữ phục vụ ở cung nào thì lo bổn phận ở cung đó. Thời vua Bảo Đại, không còn lệ tuyển cung nữ, chủ yếu người vào cung là do quen biết, làm cung nữ và hưởng lương.

“Nghe mẹ tôi kể lại, từ thời vua Khải Định về trước, cung nữ được tuyển vào cung vô cùng khắt khe. Cung nữ có hai loại danh phận. Thứ nhất là những người con gái còn trinh, được vua tuyển vào để có quan hệ hôn nhân với vua. Thứ hai đơn giản hơn là được tuyển vào để hầu hạ cho gia đình vua, được gọi là cung nữ hay thị nữ, phục vụ việc vặt như quạt, têm trầu, đấm bóp…”, bà Vui kể.

Theo bà Vui, cuộc sống của nhiều cung nữ thời vua Bảo Đại rất êm thấm. Người ở cung này thì không được sang cung khác nhòm ngó. Họ chỉ biết làm việc, không được cười đùa nói chuyện với cung nữ khác, không được nhìn trực diện vào Hoàng thái hậu, Vua, Hoàng hậu và các quan đại thần, nếu nhìn chỉ được phép nhìn sau lưng.

Các cung nữ không ăn cơm, vệ sinh trong cung, khi có người trực thay thì về nhà ăn cơm rồi phải vào cung làm tiếp công việc. Mỗi tháng cung nữ được trả 3 đồng bạc.

Khi vào cung, bà Vui đảm nhận việc quạt, bóp chân, vấn tóc, dâng khăn, dâng nước, bê tráp trầu cho bà Từ Cung, nhờ đó bà biết được tính cách của mẹ vua Bảo Đại. Bà kể: “Hoàng thái hậu rất hiền, các quan lại đến chơi bà nói chuyện rất nhẹ nhàng. Bà hầu như chỉ ở trong cung Diên Thọ chứ rất ít khi ra ngoài”.

Trong các bữa, bà Từ Cung ăn rất ít và chỉ ăn một mình, thức ăn do sở Thiện nấu. Cơm được nấu trong nồi đất nhỏ còn gọi là nồi ngọc phạn, mỗi đĩa thức ăn có 3 tầng. Mâm của bà rất nhiều món từ cá, thịt bò, tôm rim, rau... nhưng bà chỉ ăn một ít rồi cho người bê xuống.


cung1-content


Bà Từ Cung theo Phật giáo nên thi thoảng ăn chay. Bà ngủ rất muộn, tầm 22-23h tối. Lúc ngủ luôn có 2 cung nữ đi theo để quạt và bóp chân, ai biết ca Nam ai Nam bằng (một loại hình dân ca Huế) thì ca cho bà nghe, ai không biết thì thôi. Khi bà Từ Cung ngủ thì các cung nữ ngủ ngồi dưới chân bà, thay phiên nhau cho đến sáng.

Bà Vui kể, ngày đó, mỗi lần vua Bảo Đại đi săn ở Đà Lạt, hay dùng xe hơi đi chơi đâu đó là bà Từ Cung lại bồn chồn lo lắng. Khi vua đi săn rồi bị bắn trọng thương ở đùi do tán tỉnh vợ một ông bạn người Pháp trong một bữa tiệc tại Đà Lạt, bà Từ Cung đã nhiều đêm mất ngủ, viết thư hỏi thăm con.

“Thế nhưng khi vua về, trong cung chỉ dám đồn là vua đi săn bị voi giẫm vào chân, đi lệch chân phải chứ hầu như không ai biết chuyện vua vì ham sắc mà bị bắn”, bà Vui tiết lộ.

Năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị, bà Vui rời cung, về lấy chồng, nhưng cuộc sống mới chẳng mấy suôn sẻ. Cô con gái chào đời không được bao lâu thì mất. Không còn khả năng sinh con, bà Vui chấp nhận cưới vợ hai cho chồng rồi chịu cảnh chồng chung, con riêng. Khi chồng và vợ hai qua đời, bà Vui sống với các con của chồng. “Cũng may là con cái ngoan ngoãn, biết điều nên tuổi già cũng bớt cô đơn”, bà tâm sự.

Ở Huế, người ta gọi tên vợ theo tên chồng, nên cái tên Trần Thị Vui rơi vào quên lãng, và rất ít người biết bà là cung nữ. Một lý do khác, theo nhà nghiên cứu Huế Hồ Tấn Phan, cung nữ triều Nguyễn là những người không có địa vị trong xã hội phong kiến ngày xưa nên rất ít tài liệu ghi chép về họ.

"Bà Vui được xem là nhân chứng sống cho những câu chuyện của cung nữ trong bốn bức tường của Hoàng cung", ông Phan nói.

BVN-TH

Những thái giám trong hậu cung triều Nguyễn


thaigiam1-content

Thái giám trong cung vua Nguyễn (ảnh chụp tại nhà Tả Vu - Đại nội Huế). Ảnh tư liệu.

Ở Huế, kinh đô cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, trải qua những biến cố của lịch sử, câu chuyện về những thái giám triều Nguyễn lặng thầm như chính nghĩa trang lạnh ngắt nơi chùa Từ Hiếu.

Như những triều đại phong kiến khác, triều Nguyễn ở Việt Nam cũng tuyển chọn thái giám để giám sát đội ngũ phi tần, cung nữ, hoàng hậu, công chúa. Những người nam giới phục vụ trong cung phải chấp nhận thân phận “không đàn ông cũng chẳng đàn bà”.

Theo các nhà nghiên cứu, người bỏ nhiều công sức thu thập tài liệu lịch sử và viết sách về triều Nguyễn, việc tuyển chọn thái giám vào cung chủ yếu từ hai nguồn. Một là những cậu bé sinh ra đã không có bộ phận sinh dục nam giới (thái giám tự nhiên). Làng nào có cậu bé như vậy được xem như một điềm tốt, dành để tiến cử cho vua và cả làng đó sẽ được bổng lộc vua ban.

Tuy nhiên, những đứa trẻ “bất lực bẩm sinh” thường khó phát hiện và không an toàn tuyệt đối nên việc tuyển chọn từ nguồn thứ hai khá phổ biến. Đó là những gia đình sinh con nhưng hoàn cảnh quá nghèo khổ, tự nguyện cho con làm thái giám sau khi đã trải qua đau đớn để loại bỏ bộ phận sinh dục nam. Từ đó, những người bình thường sẽ mang thân phận thái giám đến suốt đời.

Qua vòng tuyển chọn, những thái giám nhí được đưa vào cung để một thái giám có thâm niên dạy các nghi thức khắt khe của cung đình, từ việc đi đứng cho đến cách ăn mặc, bẩm, thưa... Có nhiều đứa trẻ mới lên 7 đã được đưa vào cung học phép tắc thái giám và sống trong cung cấm cho đến già.

Tuy là người để vua sai vặt nhưng trong lịch sử phong kiến Việt Nam có những thái giám được triều đình trọng dụng và nhờ có tài, họ nổi tiếng trong chuyện triều chính như Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832). Ông là công thần trụ cột của triều Nguyễn, nhà quân sự tài ba, không những giữ vững bờ cõi miền Nam mà còn phát huy uy lực với các nước láng giềng, tạo quan hệ buôn bán với người Tây ở Gia Định.

Tuy nhiên, sau khi ông mất, nhiều người ghen ghét đố kỵ đã dựa vào việc con nuôi của ông là Lê Văn Khôi khởi binh chống Nguyễn mà ông bị kết án 7 tội trảm, 2 tội xử giảo, một tội phát quân, cho san bằng và xiềng mộ. Mãi đến thời vua Tự Đức ông mới được phục hồi danh dự.

Thời vua Minh Mạng (1820-1841), nhằm tránh tình trạng thái giám nổi loạn chuyên quyền trước đó, vua đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám. Họ chỉ chuyên việc hầu hạ, sai khiến, không được tham dự việc triều chính, không được phẩm hàm quan chức. Ai vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha…

Từ đó công việc của thái giám chủ yếu để vua sai vặt và quan trọng nhất là làm liên lạc cho vua và các bà vợ trong việc “chăn gối”. Khi vua có ý ngủ với bà vợ nào thì thái giám sẽ nhận lệnh vua đến thông báo cho bà vợ đó. Việc tuy đơn giản nhưng thái giám phải tuyệt đối giữ bí mật để không xảy ra việc đố kỵ giữa các bà vợ.

Hàng đêm, thái giám lặng lẽ đến phòng bà vợ được vua chọn ngủ để hộ tống bà đến cung vua. Trong lúc vua và vợ ân ái, thái giám đứng canh gác. Khi cuộc vui đã tàn, thái giám lại hộ tống vợ vua về cung. Công việc trong đêm được các thái giám làm một cách lặng lẽ và mọi hoạt động trong cung cấm diễn ra bình thường vào sáng sớm hôm sau.

Theo nhà nghiên cứu Huế Hồ Tấn Phan, vào giai đoạn đầu triều nhà Nguyễn, mỗi triều đại thường có khoảng 200 thái giám. Con số này tùy thuộc vào sự hưng thịnh của từng triều vua. Thời vua Khải Định, công việc của thái giám có phần bận rộn bởi ông vua này mang tiếng “bất lực”, vua thường giao cho các thái giám chăm sóc 12 bà vợ của mình.

Đêm đến, thay vì đến phòng các bà vợ, vua lại lệnh cho các thái giám và đội nhạc trong cung đến hầu chuyện, chơi đàn cho vua nghe. Ngày ngày, vua có thói quen đi dạo, ngắm cảnh và bao giờ cũng có thái giám đi theo hầu chuyện.

Khi vua Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, chính thức lên ngôi, việc tuyển thái giám không còn nữa. Các thái giám được tuyển từ những đời vua trước đó sống ở trong cung chỉ lo việc quét dọn sân vườn, chơi cây cảnh chứ không phải lo việc “chăn gối” cho vua.

Khi về già hoặc đau ốm, các thái giám không được ở trong nội cung. Hết thời gian phục vụ, họ nhận lương của triều đình và chuyển ra ngoài hoàng thành, cư trú tại một căn nhà gọi là Cung giám viện. Để chống chọi lại sự cô quạnh, nhiều thái giám đã kết nghĩa anh em hoặc nhận con nuôi. Số khác chọn cách lấy vợ, do mất khả năng sinh con, họ lấy phụ nữ già để bầu bạn những tháng ngày cuối đời. Số ít thái giám may mắn hơn thì về quê sống với họ hàng.

thaigiam2-content

 Nghĩa trang thái giám với diện tích gần 1.000 m2, rất ít người qua lại.


Trong xã hội phong kiến, thái giám không thuộc về một giai cấp nào, gần như suốt đời chỉ ở trong cung cấm. Chính vì thế mà theo hai nhà nghiên cứu Huế, tên tuổi của thái giám triều Nguyễn ít khi được nhắc đến. Những sách sử viết về thái giám cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, trong đó chủ yếu viết bằng tiếng Pháp. Những gì của thái giám triều Nguyễn còn lại cho đến ngày nay chỉ là nghĩa trang tại chùa Từ Hiếu (xã Thủy Xuân, thành phố Huế).

Trong cuốn sách giới thiệu về chùa Từ Hiếu ghi rất rõ nguồn gốc việc thái giám được chôn cất tại đây. Lo lắng sự cô đơn nơi mộ phần khi nằm xuống, dưới thời vua Thiệu Trị (1807-1847), thái giám Châu Phước Năng đã đứng ra quyên tiền trùng tu chùa Từ Hiếu, ngôi chùa cổ cách thành phố Huế chừng 5 km, và chọn nơi đây làm nơi yên nghỉ. Từ đó, các thái giám đã công đức tại chùa sau khi chết được nhà chùa mai táng và cúng giỗ.

Trong khuôn viên nhà chùa, nghĩa trang thái giám nằm ở phía bên trái, cách chùa khoảng 30 m với diện tích gần 1.000 m2. 23 ngôi mộ được chôn theo 3 hàng, ở giữa có tấm bia khắc ghi công lao đóng góp của các thái giám.

Ngoài ngày giỗ chung do chùa Từ Hiếu tổ chức vào rằm tháng 11 hàng năm, khu nghĩa trang này vắng lặng không một bóng người qua lại. Cuộc đời của thái giám khi sống phải chịu thân phận hầu hạ trong bốn bức tường của hoàng cung thì khi "về trời” cũng phải chịu số kiếp cô đơn, lặng lẽ nơi bốn bức tường của nghĩa trang này.

thaigiam3-content

 Chùa Từ Hiếu, nơi mà các thái giám đóng góp công đức để được lo hương khói lúc qua đời.


Theo một sư cụ trong chùa, thỉnh thoảng có một vài người họ hàng của thái giám lên nghĩa trang thắp hương. Nhưng họ vội đến rồi lại vội về, mất hút dưới những tán cây. Dường như họ không muốn ai biết mình có bất cứ mối quan hệ nào với thái giám hay nghe ai hỏi về cuộc đời của những con người “sinh ra chẳng được mấy ai chấp nhận”.

BVN-TH

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 6335)
Điều này tôi đã có lời thưa với bạn đọc ở đầu sách
19 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 7576)
Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam
25 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 10059)
Giờ đây các quý bà đã không còn phải tị nạnh với cánh mày râu khi đã có dịch vụ massage yoni chỉ phục vụ riêng chị em.
17 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 13480)
Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh”
04 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 7130)
những người công nhân (CN) tại các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Hà Nội rất khó khăn và bấp bênh