DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,930,994

Rừng Nauy - Haruki Murakami (tiếp theo và hết)

28 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 10547)
Rừng Nauy - Haruki Murakami (tiếp theo và hết)
Rừng Nauy
Haruki Murakami

blank

 

rung_na_uy-content






Chương 7:


Trong giờ thể dục sáng hôm sau, thứ Năm, tôi bơi qua lại nhiều lần chiều dài của cái bể năm mươi mét. Vận động mạnh như vậy làm đầu óc tôi tỉnh táo thêm chút nữa và ăn thấy ngon miệng. Sau khi chén một bữa trưa hậu hĩnh tại một tiệm ăn sinh viên nổi tiếng vì những phần cơm trưa hậu hĩnh ấy và đang trên đường đến thư viện khoa văn để tra cứu vài thứ thì tôi chạm trán Midori Kobayashi. Cô đang đi với một cô gái nhỏ nhắn đeo kính cận, nhưng khi thấy tôi cô chạy đến một mình.

"Cậu đi đâu thế?" cô hỏi.

"Thư viện văn," tôi đáp.

"Này, cậu quên việc ấy đi và hai đứa mình đi ăn trưa với nhau nhé"

"Tớ vừa ăn xong."

"Thì đã sao?" Lại ăn nữa chứ sợ gì."

Cuối cùng chúng tôi đến một quán cà-phê gần đấy.

Cô ăn một đĩa cà-ri còn tôi thì làm một cốc cà-phê. Cô mặc sơ-mi trắng dài tay bên trong một áo chẽn bằng len vàng có đan chìm hình một con cá, cổ đeo một vòng vàng mảnh, tay đeo đồng hồ Disney. Cô có vẻ thích món cà-ri và uống hết ba cốc nước cùng với nó.

"Vừa rồi cậu đi đâu thế?" Midori hỏi. "Tớ gọi không biết là bao nhiêu lần nữa."

"Cậu có chuyện gì muốn nói à?"

"Chẳng có gì đặc biệt. Tớ chỉ gọi thế thôi."

"Tớ thấy rồi."

"Cậu thấy gì?"

"Chẳng có gì. Tớ chỉ thấy thế thôi," tôi nói. "Vừa rồi có vụ hoả hoạn nào không?"

"Hôm ấy hay thật, hả? Chẳng thiệt hại gì mấy, nhưng khói khiếc lung tung trông đến khiếp. Hay thật."

Midori nốc hết một cốc nước nữa, hít một hơi dài, rồi chăm chú nhìn vào mặt tôi một lúc. "Này, cậu có chuyện gì thế?" cô hỏi. "Mặt cậu cứ thẫn thờ thế này này. Hai mắt cứ đờ ra."

"Tớ không sao," tôi nói. "Tớ mới đi xa về và người vẫn còn mệt."

"Trông cậu như người mới nhìn thấy ma."

"Tớ thấy rồi."

"Mà này, chiều nay cậu có phải đến lớp không?"

"Tiếng Đức và văn học Anh."

"Có bỏ được không?"

"Tiếng Đức thì không được. Hôm nay có kiểm tra."

"Lúc nào thì xong?"

"Hai giờ."

"Ôkê. Đi với tớ xuống phố uống rượu nhé!"

"Vào lúc hai giờ chiều ư?"

"Thì đã sao, cho nó khác đi chứ. Trông cậu đờ đẫn lắm. Nào, đi uống với tớ đi cho nó có sinh khí. Tớ cũng muốn vậy - uống rượu với cậu để lấy lại chút sinh khí cho tớ nữa. Được không nào?"

"Ôkê, đi thì đi," tôi nói và thở dài. "Tớ sẽ tìm cậu ở sân khoa văn lúc hai giờ."

Sau lớp tiếng Đức, chúng tôi lấy xe buyt đến Shinjuku và vào một quán bar ngầm dưới đất gọi là DUG ở sau hiệu sách Kinokuniya. Để bắt đầu, chúng tôi gọi hai cốc vodka pha tonic.

"Lâu lâu tớ lại đến chỗ này," Midori nói. "Họ không làm cho mình thấy lúng túng vì uống rượu ngay từ buổi chiều.

"Cậu có hay uống rượu chiều không?"

"Thỉnh thoảng thôi," cô nói, lắc lanh canh mấy cục nước đá trong cốc. "Thỉnh thoảng, khi đời khó sống quá, tớ lại đến đây làm một cốc vodka pha tonic."

"Đời khó sống quá rồi sao?"

"Thỉnh thoảng thôi," Midori nói. "Tớ có những trục trặc nho nhỏ đặc biệt của mình."

"Ví dụ như gì nào?"

"Như gia đình, như bọn bạn trai, những kì kinh nguyệt không đều. Đại khái thế."

"Vậy thì uống nữa đi."

"Tớ sẽ uống."

Tôi ra hiệu cho bồi bàn và gọi hai vodka pha tonic nữa.

"Cậu nhớ không, hôm Chủ nhật cậu đến chơi, rồi cậu hôn tớ ấy?" Midori hỏi. "Tớ vẫn nghĩ đến nó. Hay thật. Thật là hay."

"Đúng thế."

"Đúng thế," cô nhại lại. "Cậu nói chuyện kỳ thật!"

"Vậy ư?"

"Thôi được rồi, tớ đang nghĩ lúc ấy, tớ đang nghĩ giá đó là lần đầu tiên trong đời tớ được một cậu trai hôn như thế thì tuyệt vời biết bao. Nếu tớ có thể đảo lộn thứ tự cuộc đời mình, tớ sẽ dứt khoát, dứt khoát biến nó thành nụ hôn đầu đời của mình. Và rồi tớ sẽ sống để suốt đời chỉ nghĩ đến những chuyện đại loại như: Này, không biết cái thằng cu tên là Watanabe đã hôn mình lần đầu tiên trên sân phơi ấy bây giờ ra sao, mà nó cũng phải năm mươi tám rồi chứ còn gì nữa? Cậu bảo thế có sướng không?"

"Ờ có thế thực," tôi nói, mải bóp cho vỡ vỏ một hạt hồ trăn.

"Ê, cậu làm sao thế hử? Sao cậu đờ đẫn thế?" Cậu vẫn chưa trả lời tớ."

"Có lẽ tớ vẫn chưa hoàn toàn thích ứng được với cuộc đời" tôi nói sau khi đã nghĩ một lúc. "Tớ không biết, tớ cảm thấy đây không phải là cuộc đời thực. Mọi người, cảnh vật, chúng chăng có vẻ thực tí nào."

Midori tựa một khuỷu tay lên quầy bar và nhìn tôi.

"Có một câu nào giống như thế trong một bài hát của Jim Morrison, tớ nhớ như vậy."

"Người thành lạ khi ta là người lạ."

"Vì Hoà bình," Midori nói.

"Vì Hoà bình," tôi phụ hoạ.

"Chắc cậu phải đi Uruguay cùng với tớ," Midori nói, vẫn tựa trên quầy. "Bồ bịch, gia đình, đại học - vứt mẹ nó hết đi."

"Không phải là một ý kiến tồi đâu," tôi cười.

"Cậu không thấy là sẽ rất tuyệt nếu vứt bỏ hết mọi thứ và mọi người để đến một nơi mà mình không biết một ma nào cả ư? Nhiều lúc mình chỉ thích làm như thế. Thực sự là nhiều lúc mình đã muốn, rất muốn làm như thế. Đấy, giả dụ như tự nhiên cậu tốc tớ đến một nơi thật xa, thật xa, và tớ sẽ sản xuất cho cậu một lũ con khỏe như trâu, và từ ấy chúng mình sẽ mãi sống hạnh phúc, cứ việc lăn lộn dưới sàn nhà."

Tôi cười và uống cốc vodka pha tonic thứ ba của mình.

"Tớ đoán có lẽ cậu chưa thật sự thích có một lũ con khỏe như trâu," Midori nói.

"Tớ thấy tò mò rồi đây," tôi nói. "Tớ cũng thích xem mặt mũi chúng thế nào."

"Không sao, cậu không cần phải muốn chúng đâu,"

Midori nói, miệng nhằn một hạt hồ trăn. "Trông tớ đây này, đang uống rượu chiều, nghĩ sao nói vậy. Tớ muốn vứt mẹ nó mọi thứ đi và chuồn đi đâu đó." Đi Uruguay để làm cái quái gì cơ chứ? Ở đấy chỉ toàn cứt lừa thôi."

"Có thể cậu nói đúng."

"Chỗ nào cũng cứt lừa. Đây một bãi, kia một bãi, cả thế giới là cứt lừa. Ê, tớ không thể cắn được cái hạt này. Cậu lấy nó đi". Midori đưa hạt hồ trăn cho tôi. Tôi loay hoay với nó cho đến khi cắn vỡ được lần vỏ. "Nhưng ôi chao, hôm Chủ nhật trước mới thật nhẹ nhõm làm sao! Lên sân phơi với cậu, xem đám cháy, uống bia, hát nghêu ngao bài này bài khác. Tớ không biết là bao lâu nữa vì tớ hoàn toàn tràn ngập trong một cảm giác nhẹ nhõm. Mọi người lúc nào cũng chỉ có ép buộc tớ chuyện này chuyện kia. Vừa mới thấy tớ là họ bắt đầu sai phái. Ít nhất thì cậu đã không định ép tớ việc gì?"

"Tớ chưa biết cậu đến mức ép được cậu."

"Cậu muốn nói là, nếu cậu quen tớ rồi thì cậu sẽ ép tớ cũng như mọi người khác ấy ư?"

"Có thể lắm," tôi nói. "Người ta sống với nhau như vậy trong thực tế mà: ép buộc nhau chuyện này chuyện nọ."

"Cậu sẽ không thế. Tớ biết chứ. Tớ là chuyên gia trong chuyện ép buộc và bị ép buộc. Cậu không thuộc loại đó. Chính thế mà tớ thấy thoải mái khi ở bên cậu. Cậu có biết thế giới này có bao nhiêu người muốn ép buộc người khác và muốn được người khác ép buộc không? Hàng tấn! Mà sau đó họ lại còn làm rùm beng lên nữa chứ, kiểu như "Tôi đã ép buộc cô ấy, "Anh đã ép buộc tôi!" Họ là như vậy đấy. Nhưng tớ không thích thế. Tớ làm vì tớ phải làm vậy, thế thôi."

"Cậu ép buộc người khác hoặc bị người khác ép buộc cậu đại loại những chuyện gì?"

Midori bỏ một cục nước đá vào miệng và mút nó một lúc.

"Cậu có muốn biết thêm về tớ không?" cô hỏi.

"Ờ cũng đại loại thế."

"Ê, nghe này, tớ vừa mới hỏi "Cậu có muốn biết thêm về tớ không?" Cậu trả lời cái kiểu gì vậy?"

"Có, Midori, tớ muốn biết thêm về cậu," tôi nói.

"Thật chứ?"

"Thật. Đúng thế."

"Ngay cả nếu cậu sẽ không dám nhìn vào những gì cậu sẽ thấy chứ?"

"Cậu tệ đến mức ấy cơ à?"

"À, về một mặt nào đó thôi, Midori nhăn mặt. "Tớ muốn uống nữa."

Tôi gọi bồi và lấy thêm tuần rượu thứ tư. Trong lúc chờ đợi, Midori tựa cằm vào lòng bàn tay đang chống trên mặt quầy. Tôi im lặng nghe Thelonious Monk đang chơi bài "Honeysuckle Rose". Có năm sáu khách nữa đang ngồi trong quán, nhưng chỉ có chúng tôi uống rượu.

Mùi cà-phê thơm nức khiến cho nội thất tôi tối của quán có không khí rất ấm cúng.

"Chủ nhật này cậu rảnh không?" Midori hỏi.

"Hình như tớ đã bảo cậu rồi. Chủ nhật nào tớ cũng rảnh. Cho đến khi phải đi làm vào lúc sáu giờ chiều."

"Ôkê, vậy Chủ nhật này cậu đi chơi với tớ nhé?"

"Nhất định rồi," tôi nói.

"Tớ sẽ đến đón cậu ở khu học xá vào buổi sáng, nhưng tớ vẫn chưa biết chính xác giờ nào. Ôkê không?"

"Ôkê," tôi nói. "Không có vấn đề gì."

"Nào, bây giờ tớ hỏi cậu: cậu có biết tớ đang thích làm gì ngay bây giờ không?"

"Chịu chết."

"Thế này nhé, đầu tiên, tớ muốn nằm xuống một cái giường to, rộng, êm ái. Tớ muốn thật thoải mái và say lơ mơ và xung quanh không có tí cứt lừa nào, và tớ muốn có cậu nằm xuống cạnh tớ. Rồi thì từng tí một, cậu cởi quần áo tớ ra. Thật nhẹ nhàng. Như kiểu mẹ cởi quần áo cho một đứa con nhỏ vậy. Thật là nhẹ nhàng."

"Hừmmm…"

"Còn tớ thì chỉ việc mặc kệ và lơ mơ sung sướng như thế cho đến lúc bỗng nhận ra chuyện gì đang diễn ra và hét lên "Thôi đi, Watanabe!" Và rồi tớ nói "Tớ thực sự thích cậu, Watanabe à, nhưng tớ đang có người khác rồi. Tớ không thể làm chuyện này". Tớ rất nghiêm túc trong những việc như thế này, cậu có tin hay không thì tuỳ, nhưng hay làm ơn dừng lại đi." Nhưng cậu không chịu dừng."

"Đâu, tớ sẽ thôi ngay mà," tôi nói. "Không sao, chỉ là tưởng tượng mà. Rồi sau đó cậu làm ra mặt rất buồn thế này này, và tớ thấy thương cậu quá và cố an ủi cậu. Nào, nào, tội nghiệp chưa này."

"Đó là những cái cậu đang muốn làm ngay bây giờ đấy à?"

"Đúng thế!"

"Thôi chết tôi rồi!"

Chúng tôi rời quán bar sau năm tuần vodka pha tonic.

Lúc tôi định trả tiền, Midori vỗ mạnh tay tôi một cái rồi rút trong ví ra một tờ mười ngàn Yên mới toanh.

"Ôkê đi," cô nói. "Tớ mới lĩnh tiền, và tớ mời cậu kia mà. Tất nhiên, nếu cậu là một thằng phát xít nòi và nhất định không chịu để đàn bà trả tiền rượu cho cậu thì…"

"Không, không, tớ ôkê mà."

"Và tớ cũng có để cậu đút nó vào đâu."

"Vì nó to và cứng quá," tôi nói.

"Đúng rồi" Midori nói. "Vì nó to và cứng quá."

Hơi say, Midori bước hụt một bậc và chúng tôi suýt ngã lộn xuống cầu thang. Lớp mây khiến trời âm u nay đã tan. Nắng muộn buổi chiều nhẹ nhàng tràn ngập đường phố. Midori và tôi lang thang một lúc lâu. Cô nói muốn trèo cây, nhưng không may lại chẳng có cái cây nào trèo được ở Shinjuku, còn công viên Hoàng Gia Shinjuku thì đã đóng cửa.

"Chán thật," Midori nói. "Tớ rất thích trèo cây."

Chúng tôi tiếp tục đi bộ và ngó nghiêng các cửa hàng, và chẳng mấy chốc cảnh đường phố có vẻ đã thực hơn trước đối với tôi.

"Tớ mừng là đã chạm trán cậu," tôi nói. "Hình như tớ đã thích nghi hơn được một tí với thế giới này rồi."

Midori dừng ngay lại và nhìn tôi chăm chú. "Đúng thật," cô nói. "Mắt cậu bớt đờ đẫn hơn nhiều. Thấy chưa? Đi chơi với tớ là tốt cho cậu đấy."

"Chắc chắn rồi," tôi nói.

Đến năm rưỡi Midori nói cô phải về nhà nấu cơm. Tôi bảo sẽ lấy xe buýt về học xá, và tiễn cô ra tận ga tàu điện.

"Biết bây giờ tớ muốn gì không?" Midori hỏi lúc chia tay.

"Tớ tuyệt đối không thể biết cậu có thể đang nghĩ gì," tôi nói.

"Tớ muốn cậu với tớ bị bọn cướp biển bắt. Chúng sẽ lột trần truồng bọn mình, ép tụi mình úp mặt vào nhau rồi lấy dây cuốn chặt hai đứa lại."

"Sao chúng lại làm thế?"

"Bọn cướp bệnh hoạn mà," cô nói.

"Cậu bệnh hoạn thì có," tôi bảo.

"Sau đó chúng nhốt hai đứa mình vào hầm tàu và bảo, "Một tiếng nữa chúng tao sẽ ném bọn bay xuống biển, từ giờ đến đó hãy vui thú với nhau đi."

"Rồi sao nữa?"

"Thì chúng mình vui thú, lăn lộn khắp chỗ đó và giãy giụa với nhau."

"Và đó là cái cậu đang muốn làm ngay bây giờ ư?"

"Đúng thế."

"Chết tôi rồi!" Tôi nói và lắc đầu.

Midori đến gọi tôi lúc chín rưỡi sáng Chủ nhật. Tôi vừa mới thức giấc và còn chưa rửa mặt. Có đứa đập cửa tôi ầm ầm và gào lên "Ê, Watanabe, đàn bà đấy!" Tôi xuống sảnh dưới nhà và thấy Midori đang ngồi đó, bắt chân chữ ngũ và mặc một cái váy vải bò ngắn không thể tưởng tượng được, và đang ngáp. Sinh viên nào đi ăn sáng qua cũng phải chậm bước lại để dán mắt vào đôi chân dài thon thả của cô. Quả thực là cô có đôi chân thật đẹp.

"Tớ đến sớm quá phải không?" Cô hỏi. "Chắc cậu vừa mới dậy."

"Cậu đợi tớ mười lăm phút được không?" Cho tớ rửa mặt cạo râu một cái."

"Đợi thì không sao, nhưng bọn nó đứa nào cũng cứ dán mắt vào chân tớ."

"Thế cậu tưởng thế nào nữa, đến học xá nam mà mặc váy ngắn thế kia? Tất nhiên là chúng nó phải dán mắt rồi."

"Ôi dào, thế cũng chẳng sao. Hôm nay tớ còn mặc đồ lót oách nữa cơ - toàn màu hồng và có tua ten đủ cả."

"Thế lại càng tệ," tôi thở dài nói. Tôi trở về phòng rửa mặt cạo râu thật nhanh, mặc một cái sơ-mi xanh da trời cổ bẻ có khuy với một cái áo tây thể thao xám vải tuýt, rồi chạy xuống áp tải Midori ra cửa, toát mồ hôi lạnh.

"Nói tớ nghe, Watanabe," Midori nói, ngước nhìn các toà nhà trong khu học xá, "bọn con trai ở đây đứa nào cũng thủ dâm xoành xoạch thế à?"

"Có thể," tôi bảo.

"Thế các cậu có nghĩ đến gái lúc làm thế không?"

"Tớ nghĩ là có. Tớ nghĩ có lẽ không ai nghĩ đến thị trường chứng khoán hoặc cách chia động từ hoặc Kênh đào Suez trong lúc xoành xoạch thế đâu. Chắc chắn vậy. Tớ chắc có lẽ tất cả đều nghĩ đến các cô gái thôi."

"Kênh đào Suez ư?"

"Là ví dụ thế."

"Như vậy tớ có thể cho rằng họ nghĩ đến một cô gái cụ thể nào đó, đúng không?"

"Sao cậu không hỏi bồ của cậu chuyện này?" Tôi nói "Sao tớ lại phải giang giải những chuyện như thế này cho cậu vào một buổi sáng Chủ nhật"

"Thì tớ chỉ tò mò thế thôi," cô nói. "Với lại, hắn sẽ phát cáu nếu tớ hỏi hắn những chuyện như thế này. Hắn bảo con gái không được hỏi những chuyện ấy."

"Một quan điểm hoàn toàn bình thường, tớ xin nói như vậy."

"Nhưng mà tớ muốn biết. Đây hoàn toàn chỉ là tò mò thôi. Con trai các cậu có nghĩ đến một cô gái cụ thể nào trong lúc thủ dâm không?"

Tôi đành thua không né tránh được nữa. "Thế này nhé, ít nhất thì tớ là như vậy. Tớ không biết những người khác thế nào."

"Thế cậu đã bao giờ nghĩ đến tớ trong lúc làm thế chưa?" Nói thật xem nào. Tớ sẽ không giận đâu."

"Chưa. Tớ nói thật đấy," tôi thành thật đáp.

"Tại sao chưa?" Tớ không đủ hấp dẫn sao?"

"Ô cậu hấp dẫn quá đi chứ. Cậu xinh xắn, và những bộ cánh sexy rất hợp với cậu."

"Thế sao cậu lại không nghĩ đến tớ?"

"Thế này nhé, trước hết là tớ coi cậu là bạn, nên không muốn lôi kéo cậu vào những mộng tưởng tình dục của tớ, và thứ hai là…"

"Chắc hẳn cậu phải có một ai đó để nghĩ đến rồi."

"Cũng gần như vậy," tôi nói.

"Cậu xử sự rất đàng hoàng trong những chuyện như thế này," Midori nói. "Đó là cái tớ thích ở cậu. Nhưng dù sao, cậu có thể cho tớ xuất hiện chỉ một lần rất nhanh thôi được không?" Tớ muốn được có mặt trong những mộng tình hoặc mơ tưởng hoặc gì gì đó của cậu, muốn gọi là gì cũng được. Tớ đề nghị thế là vì chúng mình là bạn nhau. Tớ còn biết đề nghị ai khác được nữa? Tớ không thể bước đến bất kì ai và nói "Khi ông xoành xoạch đêm nay, xin ông hay nghĩ đến em một giây thôi ông nhé". Chính vì tớ coi cậu là bạn nên tớ mới đề nghị thế. Và tớ muốn cậu sẽ kể lại cho tớ biết nó ra làm sao. Cậu biết đấy, cậu đã làm những gì và đại loại thế."

Tôi thở dài.

"Nhưng cậu không thể cho nó vào được. Bởi vì mình chỉ là bạn. Đúng không? Chỉ cần cậu không cho nó vào thôi, còn thì cậu tha hồ muốn làm gì thì làm, muốn nghĩ gì thì nghĩ."

"Tớ không biết, tớ chưa bao giờ làm chuyện ấy với nhiều hạn chế đến thế," tôi nói.

"Thế cậu chỉ nghĩ đến tớ thôi vậy, được không?"

"Thôi được rồi, tớ sẽ nghĩ đến cậu."

"Cậu biết không, Watanabe, tớ không muốn cậu có ấn tượng sai, ví dụ như tớ là một con dâm nữ hoặc không thoả mãn hoặc trêu ngươi hay gì gì nữa tớ không biêt. Tớ chỉ thấy rất quan tâm đến chuyện ấy thôi. Tớ muốn biết. Tớ lớn lên xung quanh chỉ toàn con gái trong một trường nữ sinh, cậu biết rồi. Tớ muốn biết bọn con trai nghĩ gì và thân thể chúng ra sao. Mà không phải chỉ là những thứ như trong mấy tờ phụ trương của đám tạp chí phụ nữ kia đâu, mà phải thực sự là những nghiên cứu thực tế kia."

"Nghiên cứu thực tế ư?" tôi rên rỉ.

"Cậu chỉ phải làm một lần thôi. Hay nghĩ đến tớ nhé, ôkê"

"Ôkê, tớ sẽ thử xem, lần tới này tôi nói, và nghĩ đến một chiếc khăn tắm."

Chúng tôi lấy tàu điện đi Ochanomizu. Khi đổi tàu ở Shinjuku, tôi mua một cái bánh kẹp mỏng ở quầy nhà ga để ăn thay bữa sáng. Cà-phê bán kèm với cái bánh có mùi vị như mực in đun sôi. Sau sáng Chủ nhật đầy những cặp vợ chồng và gia đình con cái đi dã ngoại. Một bọn trẻ trai mặc đồng phục bóng chày chạy rầm rập trong toa. Nhiều cô gái trên tàu mặc váy ngắn, nhưng không có cái nào ngắn bằng cái của Midori. Thỉnh thoảng cô lại phải kéo nó xuống một tí. Một vài ông cứ dán mắt vào đùi cô khiến tôi thấy rất lúng túng, nhưng Midori có vẻ chẳng thèm để ý.

"Có biết tớ đang thích làm gì bây giờ không?" cô thầm thì khi chúng tôi đã đi được một lúc.

"Chịu chết," tôi nói. "Nhưng xin cậu đừng có nói chuyện ấy ở đây nhé. Người ta nghe thấy đấy."

"Chán thật. Chuyện này mới thật là hoang dại,"

Midori nói với một vẻ thất vọng rõ ràng.

"Thôi nào, tại sao mình đi Ochanimizu?"

"Cứ đi rồi cậu sẽ thấy."

Xung quanh ga Ochanomizu có rất nhiều trường học, và Chủ nhật thì khu vực này đông nghẹt trẻ em đi học luyện thi. Midori đi ào ào qua đám trẻ ấy, một tay túm chặt quai túi khoác, tay kia túm chặt tay tôi.

Rồi tự nhiên cô hỏi:

"Watanabe này, cậu có phân biệt được thể giả định hiện tại với giả định quá khứ của động từ tiếng Anh không?"

"Có lẽ được," tôi nói.

"Vậy tớ xin hỏi cậu, những cái như thế thì có ích quái gì trong cuộc sống hàng ngày"

"Chả có gì cả," tôi nói. "Nó chẳng phục vụ được một mục đích cụ thể nào, nhưng nó cũng cho cậu chút gì đó để giúp cậu nắm được mọi thứ nói chung một cách có hệ thống hơn."

Midori bỏ ra chừng một khoảnh khắc để suy nghĩ nghiêm túc về chuyện đó.

"Cậu tuyệt vời thật," cô nói.

"Tớ chưa bao giờ nghĩ được như thế. Tớ luôn cho những cái như gia định thức động từ hoặc toán vi phân tích phân hoặc các kí hiệu hoá học là toàn toàn vô bổ. Một thứ phiền toái khó chịu. Và bấy lâu nay tớ vẫn phớt lờ chúng. Bây giờ thì tớ không biết là đời mình đã là cả một sai lầm hay chưa đây."

"Cậu phớt lờ chúng?"

"Ờ, Kiểu là, với tớ, chúng hoàn toàn không tồn tại. Tớ không biết tí gì về "sin" hoặc "côsin" là ra làm sao nữa."

"Không thể tin được? Làm sao mà cậu đỗ được phổ thông? Làm sao cậu vào được đại học?"

"Đừng giả bộ ngốc thế," Midori nói. "Không biết hết mọi thứ thì cậu cũng vẫn thi đỗ được như thường! Cậu chỉ cần có một chút trực cảm - mà trực cảm của tớ thì khối. "Hãy chọn câu trả lời đúng trong ba câu dưới đây" Thế là lập tức tớ biết ngay câu nào là đúng."

"Trực cảm của tớ không tốt như của cậu, nên tớ phải có khả năng hệ thống hoá đến một mức nào đó. Giống như con sáo thu nhặt những mảnh thuỷ tinh vào một cái hốc cây vậy."

"Nó có tác dụng gì không?"

"Tớ cũng chưa biết. Có thể nó giúp mình làm một vài thứ gì đó dễ dàng hơn."

"Thứ gì?" Cho tớ một ví dụ xem nào?"

"Như tư duy siêu hình chẳng hạn. Hay học nhiều thứ ngôn ngữ một lúc."

"Thế thì có ích dụng gì?"

"Cũng còn tuỳ người. Nó có thể ích dụng với người này, nhưng lại không ích dụng với người khác. Nhưng chủ yếu nó là chuyện đào luyện. Còn ích dụng gì hay không lại là chuyện khác. Như tớ đã nói."

"Hừmmm," Midori có vẻ rất ấn tượng. Cô dắt tay tôi đi xuống đồi. "Cậu biết không, Watanabe, cậu rất giỏi giảng giải mọi chuyện cho người khác hiểu đấy."

"Tớ cũng không biết," tôi nói.

"Thực đấy. Tớ đã hỏi hàng trăm người về chuyện ích dụng của giả định thức trong tiếng Anh, nhưng không ai trả lời tớ rõ ràng và hay như cậu. Ngay cả mấy thầy dạy tiếng Anh cũng vậy thôi. Hoặc là họ lúng túng, nổi cáu, hoặc cười trừ. Chẳng ai trả lời tớ cho đàng hoàng cả. Giá có ai như cậu đã ở gần tớ lúc tớ có thắc mắc, và giảng giải cho tớ hẳn hoi, có lẽ tớ cũng đã có thể biết quan tâm đến cái giả định thức ấy rồi. Rõ khốn nạn!"

"Hừmmm," tôi nói.

"Cậu đã bao giờ đọc Tư bản luận chưa?"

"Rồi. Không đọc hết đâu, tất nhiên, mà chỉ từng phần thôi, như hầu hết mọi người."

"Cậu có hiểu không?"

"Tớ cũng hiểu được chỗ này chỗ kia, nhưng không hết. Cũng phải có đầu óc thế nào đó mới đọc được một cuốn như Tư bản luận. Nhưng tớ nghĩ tớ cũng hiểu được cái tư tưởng chung của chủ nghĩa Mác.

"Theo cậu, một sinh viên năm thứ nhất vốn ít đọc sách thì có hiểu được Tư bản luận không nếu chỉ đọc nó mà không có ai hướng dẫn?"

"Có lẽ khó tớ có thể nói vậy."

"Cậu biết không, lúc mới vào đại học tớ tham gia một câu lạc bộ nhạc dân gian. Tớ chỉ muốn hát. Nhưng tụi thành viên lại là một lũ bịp bợm. Chỉ nghĩ đến chúng nó là tớ đã nổi da gà. Điều đầu tiên chúng nói với cậu khi cậu gia nhập câu lạc bộ là cậu phải đọc Mác. "Nhớ đọc trang này với trang này cho lần họp mặt sau nhé". Có đứa lên lớp hẳn một bài về chuyện dân ca phải gắn liền với xã hội và phong trào cấp tiến như thế nào. Được rồi, tớ nghĩ bụng, đọc thì đọc sợ chó gì, và hăng hái về nhà làm liền, nhưng chẳng hiểu một tí gì cả. Còn tệ hơn cả giả định thức nữa. Được ba trang thì tớ đầu hàng. Như một hướng đạo sinh "thật thà", tớ đến cuộc họp tuần sau đó và nói tớ đã đọc nhưng không thể hiểu được. Từ đó trở đi chúng nó coi tớ như một con ngốc. Chúng bảo tớ không có ý thức phê phán về đấu tranh giai cấp, rằng tớ là một kẻ tàn tật về mặt xã hội. Nghĩa là nghiêm trọng thật chứ chẳng chơi. Mà tất cả chỉ vì tớ nói tớ không hiểu được một cuốn sách. Cậu thấy chúng có kinh khủng không?"

"Ờ," tôi nói.

"Và những cái gọi là thảo luận của chúng cũng kinh khủng luôn. Ai cũng đao to búa lớn và giả vờ như thông thạo tình hình lắm. Nhưng tớ thì hễ không hiểu cái gì là tớ hỏi luôn. "Tình trạng bóc lột đế quốc mà các cậu đang nói đến ấy là cái gì vậy" Nó có dính dáng gì đến Công ty Đông Ấn không?" "Có phải tiêu diệt tập đoàn công nghiệp-giáo dục có nghĩa là chúng ta sẽ không được làm việc cho một công ty sau khi tốt nghiệp không?" Đại loại những chuyện như thế. Nhưng không đứa nào muốn giai thích gì cho tớ cả. Tệ hơn nữa, chúng lại còn nổi giận nữa chứ. Cậu có tin được không?"

"Có tớ tin được," tôi nói.

"Một thằng quát vào mặt tớ, "Đồ chó cái ngu xuẩn, làm sao mày sống được với một bộ óc rỗng tuếch như thế?" Mẹ kiếp, thế là xong. Tớ không chịu nổi nữa. Ôkê, cứ cho là tớ không thông minh đi. Tớ thuộc giai cấp lao động. Nhưng chính giai cấp lao động làm cho thế giới này tiến lên, và chính giai cấp lao động là người bị bóc lột. Cách mạng kiểu gì mà chỉ biết đao to búa lớn những lời lẽ mà người lao động không thể hiểu được thế? Thứ cách mạng xã hội chó gì vậy? Nghĩa là, tớ cũng thích làm cho thế giới này tốt đẹp hơn chứ. Nếu có ai đó thực sự bị bóc lột, mình sẽ ra tay chấm dứt chuyện đó chứ. Tớ tin chuyện ấy, và vì thế mà tớ mới thắc mắc. Tớ đúng hay sai nào?"

"Cậu đúng."

"Chính thế mà tớ vỡ nhẽ ngay. Lũ khốn kia là rởm hết. Chúng chỉ nhăm nhăm phách lối với tụi con gái mới gặp bằng những từ hoa mỹ trong khi thò tay tốc váy bọn này mà thôi. Và khi tốt nghiệp, chúng sẽ cắt tóc ngắn và xếp hàng đi làm cho Mitsubishi hoặc IBM hoặc Ngân hàng Fuji. Chúng sẽ cưới những cô vợ xinh xắn không bao giờ đọc Mác và đẻ ra những đứa con với những cái tên hoa mỹ nghe phát lộn mửa. Tiêu diệt tập đoàn công nghiệp-giáo dục như vậy ư? Đừng có làm trò cười với tôi! Mà bọn thành viên mới cũng tệ chẳng kém. Chúng cũng chẳng hiểu cái mẹ gì, nhưng cứ giả vờ thế và cười vào mặt tớ. Sau buổi họp, chúng bảo "Đừng có ngốc thế! Cậu không hiểu thì đã làm sao?" Cứ việc đồng ý với mọi người là xong". Mà này, Watanabe, tớ còn có chuyện muốn phát điên hơn thế nữa. Muốn nghe không?"

"Có chứ, sao lại không."

"Ôkê, một lần chúng triệu tập một cuộc họp chính trị vào tối khuya, và bảo mỗi đứa con gái phải làm hai mươi cái bánh bột gạo để ăn đêm hôm đó. Mẹ kiếp, còn nói phân biệt nam nữ chó gì nữa? Nhưng tớ quyết định cứ im mồm một lần ấy xem sao, và đến họp như một con ngoan ngoãn với đủ hai mươi cái bánh, đầy đủ cả nhân trong lẫn ruốc ngoài. Và cậu biết tớ được gì không?" Sau đó chúng nó chê là nhân bánh của tớ không đủ vị, và tớ không mang thêm cái gì để ăn kèm với bánh cả! Bọn con gái khác thì nhồi vào bánh của chúng cả cá hồi với cá tuyết, và chúng đem theo cả những miếng trứng rán dày cộp. Tớ nổi giận đến mức không nói được! Bọn cách mạng cuồng này tưởng chúng là ai mà dám chê bai như vậy chứ? Nhẽ ra chúng phải biết ơn vì đã có bánh mà ăn. Cứ nghĩ đến bọn trẻ con đang chết đói ở Ấn Độ mà xem!"

Tôi phì cười. "Rồi cái câu lạc bộ ấy của cậu ra làm sao?"

"Tháng Sáu thì tớ bỏ, tớ tức quá," Midori nói. "Hầu hết những loại sinh viên ấy đều hoàn toàn rởm hết. Chúng sợ nhất là có ai phát hiện chúng chẳng biết cái mẹ gì cả. Tất cả bọn chúng đều chỉ đọc một loại sách và nỏ mồm một loại khẩu hiệu, và chúng thích nghe nhạc John Coltrane với xem phim Pasolini. Cậu gọi thế là "cách mạng" ư?"

"Ê đừng hỏi tớ, tớ chưa thấy một cuộc cách mạng nào bao giờ."

"Mẹ khỉ, nếu đó là cách mạng thì vứt mẹ nó đi. Chúng có thể sẽ bắn tớ vì đã làm nhân bánh không đủ vị. Chúng cũng có thể bắn cậu vì hiểu được giả định thức."

"Có thể lắm."

"Tin tớ đi, tớ biết tớ đang nói gì. Tớ là giai cấp lao động. Kiểu gì thì giai cấp lao động vẫn cứ sống cơ hàn trong những hố cứt cú mà thôi. Mà cách mạng là cái gì chứ? Chắc chắn là nó không phải chỉ thay cái tên của toà thị chính đâu. Nhưng bọn khốn kia không hiểu chuyện đó bọn khốn to mồm ấy! Nói tớ nghe, Watanabe, đã bao giờ cậu thấy một thằng phòng thuế chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Còn tớ thì rồi. Biết bao nhiêu lần rồi. Chúng xông thẳng vào nhà và phách lối om sòm. "Cuốn sổ cái này là gì đây?" "Tôi muốn xem tất cả hoá đơn của ông ngay bây giờ". Trong khi đó thì gia đình tớ chúi ở một xó, và đến bữa tối thì phải đãi chúng sushi hảo hạng - mang đến tận nhà. Nhưng tớ cũng phải nói với cậu rằng bố tớ không bao giờ gian lận thuế. Ông ấy là vậy đấy, một người cổ lỗ ngay thẳng như một mũi tên. Nhưng đừng có hòng nói điều đó với bọn phòng thuế. Chúng chỉ có một việc là đào bới, đào bới, đào bới. "Thu nhập chỗ này hơi thấp đấy, có phải không?" Mẹ kiếp, không kiếm ra tiền thì thu nhập phải thấp thế chứ làm sao! Tớ những muốn gào lên: "Đi chỗ khác mà kiếm chác đi!" Cậu nghĩ nếu có cách mạng rồi thì thái độ bọn phòng thuế có khác đi không?"

"Tớ nghi lắm, rất nghi."

"Thế là xong. Tớ sẽ không tin bất kì một thứ cách mạng khốn kiếp nào nữa. Tớ sẽ chỉ tin tưởng vào tình yêu thôi."

"Hoà bình," tôi nói.

"Vì Hoà bình," Midori phụ hoạ.

"Mà này, chúng mình đang đi đâu vậy?" tôi hỏi.

"Đến bệnh viện," cô nói. "Bố tớ ở đó. Hôm nay là phiên tớ ở với ông ấy cả ngày."

"Bố cậu? Tớ tưởng ông ấy ở Uruguay?"

"Tớ nói phét đấy," Midori nói bằng một giọng tỉnh khô "Bố tớ suốt đời kêu gào đi Uruguay, nhưng chẳng bao giờ đi được. Đi khỏi Tokyo cũng còn khó với ông ấy nữa là."

"Tình hình ông ấy có tệ lắm không?" Tôi hỏi.

"Chỉ còn là vấn đề thời gian nữa thôi," Midori nói.

Chúng tôi im lặng bước.

"Tớ biết tớ đang nói gì. Mẹ tớ cũng bị như vậy. U não. Cậu có tin được không, mẹ tớ chết mới có hai năm, và bây giờ thì bố tớ cũng bị như vậy."

Hành lang Bệnh viện Đại học ầm ĩ và đầy những người vào thăm cuối tuần cùng những bệnh nhân nhẹ, và chỗ nào cũng thoang thoảng cái mùi đặc biệt của bệnh viện, một hỗn hợp của mùi thuốc khử trùng, mùi hoa của khách vào thăm, mùi nước tiểu và chăn nệm, trong lúc đám hộ lí chạy đi chạy lại với tiếng gót giày khua lóc cóc.

Bố Midori nằm gần phía cửa trong một phòng hai giường. Nằm dán trên giường, trông ông như một con vật nhỏ bé bị tử thương. Ông nằm nghiêng, đờ đẫn, cánh tay trái bỏ thõng bất động và có cắm kim truyền ven. Ông nhỏ và gày gò, và có về chỉ có thể teo tóp nữa mà thôi. Đầu ông cuốn băng trắng, và hai cánh tay nhợt nhạt lỗ chỗ những vết tiêm thuốc hoặc truyền ven. Đôi mắt hé mở của ông dán vào một điểm cố định trong không gian, hai con ngươi đầy những tia máu ấy dịch về phía chúng tôi khi hai đứa bước vào phòng. Chúng tập trung vào chúng tôi chừng mươi giây, rồi lại dịch về chỗ cũ.

Nhìn đôi mắt ấy ta có thể biết ông sắp chết. Da thịt ông không còn dấu hiệu gì của sự sống, chỉ vương lại chút dư âm của nó mà thôi. Thân thể ông như một ngôi nhà cũ ọp ẹp mà đồ đạc bên trong đã dọn hết đi rồi để chờ ngày bị dỡ bỏ hoàn toàn. Xung quanh cặp môi khô nẻ, những đám râu đâm lên tua tủa như cỏ dại. Vậy là, tôi thầm nghĩ, ngay cả sau khi ngần ấy sinh lực của một người đàn ông đã tiêu tan, râu người ấy vẫn cứ mọc.

Midori chào một ông béo nằm trên giường gần cửa sổ ông ta gật đầu và mỉm cười, có vẻ không nói được. Ông ta húng hắng ho, rồi sau khi nhấp mấy ngụm nước trong một cái cốc thuỷ tinh để cạnh gối, ông dịch người nằm nghiêng quay mặt ra cửa sổ. Bên ngoài chiếc cửa sổ ấy có thể nhìn thấy một cái cột điện với mấy đường dây mắc qua, không còn gì khác, ngay cả mây trên trời cũng không có.

"Bố ơi, bố thấy thế nào ạ?" Midori nói, ghé sát vào tai bố như đang thử micro. "Hôm nay bố thấy thế nào ạ?"

Ông bố máp máy môi. "Không tốt", ông nói, nhưng không phát âm thành chữ mà chỉ như ọ ẹ trong cổ họng.

"Đầu" ông nói.

"Bố đau đầu ạ?" Midori hỏi.

"Ờ" ông đáp, rõ ràng không thể phát âm quá hai chớ mỗi lần.

"Cũng phải thôi ạ," Midori nói, "Bố vừa mới mổ cả đầu ra mà. Tất nhiên là phải đau rồi. Khổ thật, nhưng phải ráng thôi bố ạ. Đây là bạn con, Watanabe."

"Cháu chào bác ạ," tôi nói. Bố Midori hé môi rồi lại ngậm miệng lại.

Midori chỉ về phía một cái ghế nhựa dưới chân giường và bảo tôi ngồi. Tôi làm theo. Midori cho bố uống nước rồi hỏi ông có muốn ăn một tí hoa quả hoặc mứt không. "Không" ông nói, và khi Midori nài ông phải ăn cái gì đó thì ông nói "ăn rồi."

Trên cái bàn đêm cạnh đầu giường có một cái chai, một cái cốc, một cái đĩa và một cái đồng hồ nhỏ. Midori lấy từ trong một túi giấy to dưới gầm bàn ra mấy bộ quần áo ngủ, đồ lót và vài thứ khác, vuốt phẳng chúng và cất vào cái tủ ở cạnh cửa. Dưới đáy túi là thức ăn cho bệnh nhân: hai quả bưởi, thạch hoa quả, và ba củ dưa chuột.

"Dưa chuột! Sao lại có dưa chuột ở đây nhỉ?" Midori hỏi. "Không biết chị tớ nghĩ gì nữa. Tớ đã dặn trên điện thoại là phải mua những gì, và chắc chắn tớ không nói đến dưa chuột! Đáng nhẽ chị ấy phải mua kiwi kia."

"Có thể chị cậu nghe nhầm," tôi nói.

"Ờ có thể, nhưng nếu bà ấy suy nghĩ một tí thì biết ngay là không nên mua dưa chuột. Bệnh nhân mà ngôi trên giường gặm dưa chuột sống ư?" Bố ơi, bố có ăn dưa chuột không?"

"Không," bố Midori nói.

Midori ngồi cạnh đầu giường kể cho bố nghe những mẩu tin tức ở nhà. Cái màn ảnh TV bị nhiễu và cô đã gọi thợ đến chữa; bà cô ở Takaido mấy hôm nữa sẽ đến thăm; ông nha sĩ Miyawaki bị ngã xe đạp; những chuyện như vậy ông bố ậm ừ nghe.

"Bố không muốn ăn gì thật à?"

"Không?", ông đáp.

"Thế cậu thì sao, Watanabe, ăn mấy múi bưởi nhé"

"Không?", tôi nói.

Mấy phút sau, Midori dẫn tôi ra phòng TV và ngồi trên sô-pha hút thuốc. Ba bệnh nhân mặc quần áo ngủ cũng đang hút thuốc ở đó và xem một chương trình đàm luận chính trị gì đó.

"Này," Midori thì thầm với một cái nháy mắt. "Lão già có cặp nạng kia đã nhìn chân tớ suốt từ lúc mình mới vào. Cái lão đeo kính mặc bộ đồ màu xanh nước biển ấy."

"Cậu mặc cái váy như thế thì còn mong gì nữa nào?"

"Nhưng mà thế mới thích. Tớ cuộc là bọn họ đều đang chán chường cả. Thế này có khi lại tốt cho họ. Biết đâu bị kích thích lại giúp họ nhanh khá hơn."

"Với điều kiện nó không có tác dụng ngược lại."

Midori dán mắt vào làn khói bốc lên từ điếu thuốc của mình.

"Cậu biết không," cô nói, "bố tớ không phải là người xấu như thế đâu. Nhiều khi tớ cáu với ông ấy vì ông ấy nói những điều thật kinh khủng, nhưng tận đáy lòng thì ông ấy rất trung thực và rất yêu mẹ tớ. Theo lối riêng của mình, ông ấy sống với tất cả nhiệt tình và sức lực của ông ấy. Có thể là ông ấy hơi yếu đuối, và không hề có tí đầu óc làm ăn nào, và mọi người cũng không ưa ông ấy lắm, nhưng ông ấy còn tốt bằng vạn những kẻ lừa đảo và dối trá chỉ biết đi quanh mơn trớn mọi thứ bởi vì chúng cứ trơn như lươn thế thôi. Cũng như ông ấy, tớ có tật đã nói cái gì thì không chịu nuốt lời, nên hai bố con cãi nhau nhiều lắm, nhưng quả thật ông ấy không phải là người xấu."

Midori cầm lấy tay tôi như nhặt cái gì đó ai đánh rơi ngoài phố và đặt nó vào lòng cô. Nửa bàn tay tôi nằm trên váy, nửa còn lại chạm lên đùi cô. Cô nhìn vào mắt tôi một lúc lâu.

"Xin lỗi đã đem cậu đến một chỗ như thế này," cô nói, "nhưng cậu có thể ở lại đây với tớ một lúc nữa không?"

"Tớ sẽ ở với cậu cả ngày nếu cậu muốn," tôi nói.

"Cho đến năm giờ. Tớ thích có cậu ở cạnh, va lại tớ cũng chẳng có việc gì khác."

"Chủ nhật cậu thường làm những gì?"

"Giặt giũ," tôi nói, "và là quần áo."

"Tớ chắc cậu không muốn kể cho tớ nhiều về cô ấy, bạn gái của cậu ấy."

"Ờ có lẽ vậy. Rắc rối lắm, với lại, có lẽ tớ cũng chẳng giải thích được đâu."

"Ôkê mà. Cậu không phải giải thích gì cả," Midori nói. "Nhưng cậu có cho phép tớ nói ra những điều tớ tưởng tượng về chuyện của cậu không?"

"Có sao đâu, cậu nói đi. Tớ nghĩ cậu tưởng tượng chuyện gì cũng hay cả."

"Tớ nghĩ đó là một bà đã có chồng."

"Thế à?"

"Ừ, bà ấy băm hai băm ba gì đó, giàu có, đẹp đẽ, mặc áo lông, đi giày hiệu Charles Jourdan, đồ lót lụa, thèm khát tình dục và thích làm đủ những trò lạ lẫm. Hai người các cậu gặp nhau các buổi chiều trong tuần và nuốt chửng thân xác nhau. Nhưng chồng bà ấy lại ở nhà Chủ nhật nên cậu không thể gặp được nàng. Có đúng không nào?"

"Hay! Rất thú vị đấy."

"Bà ấy bắt cậu phải trói và bịt mắt bà ấy lại rồi liếm hết từng xăng-ti-mét vuông trên thân thể bà ấy. Rồi bà ấy còn bảo cậu đút cả những thứ kì lạ vào bà ấy nữa và bà ấy làm đủ những tư thế kì dị không khác gì một diễn viên uốn dẻo rồi cậu thì chụp ảnh bà ấy bằng một cái máy Polaroid lấy ảnh ngay."

"Nghe vui nhỉ."

"Bà ấy thèm khát chuyện ấy suốt ngày đêm, và nghĩ ra trò gì là phải làm cho bằng được. Và ngày nào bà ấy cũng chỉ nghĩ có thế. Bà ấy rỗi việc, nên lúc nào cũng dự tính: Hừmm, lần sau Watanabe đến, mình sẽ làm thế này, làm thế nọ. Cậu lên giường và thế là bà ấy phát cuồng lên, thử đủ mọi tư thế và mỗi tư thế phải sướng đến ba lần. Và bà ấy nói với cậu, "Chẳng phải là tôi có một tấm thân tuyệt cú đó hay sao?" Cậu không thể thoả mãn với bọn gái trẻ được nữa đâu. Gái trẻ không làm thế này với cậu, đúng không?" Hoặc thế này nữa. Sướng chưa nào" Nhưng mà cậu vẫn chưa ra!"

Tôi phì cười: "Cậu xem phim con heo nhiều quá rồi!"

"Cậu biết tớ thích nhất cái gì khi xem phim con heo không?"

"Không dám đoán đâu."

"Mỗi lần bắt đầu một cảnh làm tình, cậu có thể nghe thấy tiếng "Uạp!" một cái khi tất cả mọi người trong rạp đều nhất loạt nuốt nước bọt," Midori nói. "Tớ yêu cái tiếng "Uạp!" ấy! Nghe nó thật ngọt ngào!"

Trở lại phòng bệnh, Midori lại tuôn ra một tràng với bố cô, và ông ta lại ậm ừ đáp hoặc nằm lặng thinh. Quãng mười một giờ, bà vợ ông béo đến thay quần áo cho ông ta, bóc quả cho ông ta ăn và những thứ linh tinh khác. Bà có bộ mặt tròn trịa trông có vẻ rát tốt bụng. Bà và Midori rì rầm to nhỏ với nhau đủ thứ chuyện. Một hộ lí đem một lọ truyền ven mới vào và trao đổi chút ít với Midori và bà vợ trước khi rời khỏi phòng. Tôi để mắt mình thơ thẩn nhìn quanh phòng rồi ra ngoài cửa sổ về phía cái cột điện. Thỉnh thoảng lại có chim sẻ bay đến đậu trên dây điện. Midori nói chuyện với bố, lau mồ hôi trán cho ông, giúp ông khạc đờm vào khăn giấy tán dóc với bà vợ ông bệnh nhân cùng phòng và chị hộ lí, thỉnh thoảng lại nói với tôi mấy câu, và để mắt đến cái van truyền ven.

Bác sĩ đến kiểm tra tình trạng bệnh nhân lúc mười một rưỡi. Tôi với Midori ra đợi ngoài hành lang. Khi ông bác sĩ ra khỏi phòng, Midori hỏi ông về tình trạng của bố.

"À, ông cụ vừa mổ xong, lại phải dùng thuốc giảm đau, nên phải nói thật là cụ hơi kiệt sức," ông bác sĩ nói. "Phải hai ba ngày nữa tôi mới đánh giá được kết quả của ca mổ này. Nếu tốt thì cụ sẽ ôkê, còn không thì lúc đó chúng tôi sẽ phải có quyết định khác."

"Bác sĩ sẽ không mổ đầu bố tôi ra nữa chứ ạ?"

"Bây giờ thì tôi chưa thể nói được," ông bác sĩ nói.

"Trời đất, cái váy cô đang mặc kia mới thật là váy!"

"Hay chứ, phải không ạ?"

"Thế trên cầu thang thì cô làm gì?" ông bác sĩ hỏi.

"Chẳng có gì đặc biệt. Cháu cứ phơi cả ra thế thôi,"

Midori nói. Chị hộ lí cười khẩy một tiếng sau lưng ông bác sĩ

"Lạ thật. Cô phải đến để chúng tôi mổ đầu cô ra xem đang có gì ở trong mới được. Hãy làm ơn giúp tôi một việc: cô hay dùng thang máy khi còn ở bệnh viện này. Tôi không thể có thêm bệnh nhân nữa được. Tôi đã bận lắm rồi."

Sau chuyến đi tua của bác sĩ một lúc thì đến giờ ăn trưa. Một hộ lí đi đến từng phòng, đẩy theo một chiếc xe xếp đầy các suất ăn. Bố Midori được một suất có cháo, hoa quả, cá luộc rút xương, và rau nghiền thành một món như tương thạch. Midori lật cho ông nằm ngửa ra rồi dựng ông lên bằng cách quay một cái tay quay ở phía chân giường. Cô cho ông ăn cháo bằng thìa. Được năm sáu thìa thì ông quay mặt đi và nói "thôi."

"Bố phải ăn ít nhất cho hết chỗ này," Midori nói.

"Để sau," ông bảo.

"Bố này! Nếu bố không ăn hẳn hoi thì làm sao lại sức được" cô nói. "Bố đã muốn đi đái chưa?"

"Chưa," ông nói.

"Ê Watanabe, mình xuống nhà ăn đi."

Tôi đồng ý, nhưng thực tình không thấy muốn ăn tí nào. Nhà ăn đông nghẹt những bác sĩ hộ lí và khách đến thăm. Những dãy bàn ghế kéo dài chật hết cả gian hầm ngầm khổng lồ không cửa sổ và tất cả những cái miệng kia đều như đang mải ăn mải nói, tất nhiên là toàn chuyện bệnh tật, giọng người vang vang như trong một con đường hầm. Thỉnh thoảng loa phóng thanh lại phá tan bầu không khí ấy bằng mấy lời gọi bác sĩ hoặc hộ lí đi có việc. Trong lúc tôi đi tìm và giữ chỗ ngồi, Midori đi mua hai suất ăn và đem tới trên một chiếc khay nhôm. Chả cá với nước xốt kem, rau trộn khoai tây, bắp cải thái chỉ, rau luộc, cơm trắng và súp đậu tương: những món này xếp trên khay trong những cái đĩa nhựa trắng hệt như suất cơm của bệnh nhân. Tôi ăn khoảng nữa suất thì bỏ. Midori có vẻ rất ngon miệng cho đến tận miếng cuối cùng.

"Không đói à?" Cô hỏi, miệng nhấp trà nóng.

"Không đói thật," tôi nói.

"Bệnh viện đấy mà," cô nói, mắt nhìn khắp xung quanh. "Ai chưa quen cũng đều thế cả. Mùi mẽ, âm thanh, không khí tù đọng, mặt mũi bệnh nhân, lo âu, cáu bẳn, thất vọng, đau đớn, mệt mỏi - đó là nguyên nhân. Chúng thắt lấy bụng và làm mất hết dịch vị. Nhưng khi đã quen thì không có vấn đề gì. Với lại, cậu không thể chăm người ốm nếu không ăn uống tử tế. Thật đấy! Tớ biết tớ đang nói gì vì tớ đã phải chăm ông tớ, bà tớ, mẹ tớ, và bây giờ là bố tớ. Không thể biết lúc nào mình sẽ không kịp ăn nữa, nên hễ ăn được là phải ăn cho hẳn hoi."

"Tớ hiểu điều cậu nói," tôi bảo.

"Họ hàng đến thăm và họ đều ăn với tớ ở đây, và họ luôn bỏ mứa đến nữa suất, hệt như cậu. Và họ luôn mồm bảo "Ôi chao, Midori, thật tuyệt là cháu ăn ngon miệng được thế. Bác buồn quá không thể ăn được". Nhưng đừng có vớ vẩn thế nghe chưa, tớ mới là người thực sự phải chăm sóc bệnh nhân! Họ chỉ ghé qua để bày tỏ chút cảm tình mà thôi. Tớ mới là đứa chùi đít, lấy đờm và lau trán. Nếu tình cảm có thể chùi đít được thì tớ còn tình cảm gấp năm mươi lần mấy người kia! Ấy thế mà khi họ thấy tớ ăn hết suất thì họ nhìn tớ bằng con mắt như thế và nói "Ôi chao, Midori, cháu ăn uống khỏe thật đấy!" Họ tưởng tớ là cái gì hả? Một con lừa kéo xe chăng? Họ đều đủ già để hiểu đời là thế nào, mà sao còn ngu đến thế? Đao to búa lớn thì dễ lắm, nhưng quan trọng là có dọn cứt được không kia. Tớ có thể bị tổn thương, cậu biết không? Tớ cũng kiệt sức như bất kì ai. Và tớ cũng buồn đến mức phát khóc nữa. Cậu hiểu không? Cậu hãy thử nhìn một lu bác sĩ xúm vào mổ đầu người ta ra khi chẳng còn hy vọng gì cứu được người ấy nữa, rồi chọc chọc ngoáy ngoáy ở trong đó, rồi làm đi làm lại, và lần nào cũng chỉ làm cho người ta tồi tệ hơn và điên rồ hơn, thì cậu mới hiểu tâm trạng của tớ! Và chưa hết, cậu còn phải thấy tiền dành dụm của cậu cứ hao đi tửng ngày. Tớ không biết mình có đủ sức học thêm ba năm rưỡi đại học nữa không đây còn chị tớ thì chắc chắn là không thể làm đám cưới trong cảnh này được nữa rồi."

"Mỗi tuần cậu đến đây mấy ngày?" tôi hỏi.

"Thường là bốn," Midori nói. "Chỗ này vẫn nói là họ có dịch vụ hộ lí toàn phần, và hộ lí của họ cũng tốt, nhưng họ có quá nhiều bệnh nhân. Gia đình phải có người vào lo những việc họ không làm xuể mới được. Chị tớ thì phải trông cửa hàng, tớ thì phải học. Thế mà chị ấy vẫn đến đây được ba ngày một tuần, còn tớ thì bốn. Rồi thì bọn tớ cũng tranh thủ vào thêm lúc này lúc khác nữa. Cứ tin tớ đi, lịch bọn tớ kín mít hết cả!"

"Cậu bận như thế mà sao vẫn đi chơi được với tớ?"

"Vì tớ thích đi chơi với cậu," Midori nói, tay nghịch cái cốc nhựa.

"Cậu ra ngoài đi dạo lấy một hai tiếng đi," tôi nói. "Tớ sẽ trông ông cụ cho cậu."

"Tại sao?"

"Cậu cần ra khỏi bệnh viện và thư giãn một mình – đừng nói gì với ai cả, để đầu óc sảng khoái ra thôi."

Midori nghĩ một lúc rồi gật đầu. "Hừmm, có lẽ cậu nói phải. Nhưng cậu có biết làm không? Chăm bố tớ ấy?"

"Tớ đã quan sát rồi. Tớ đã hiểu kha khá công việc ấy. Kiểm tra van truyền này, cho cụ uống nước này, lau mồ hôi này, và để cho cụ khạc đờm ra nữa. Cái bô thì ở dưới gầm giường, và nếu cụ đói thì tớ sẽ cho cụ ăn nốt suất cơm trưa. Còn có cái gì tớ không biết thì tớ sẽ hỏi hộ lí."

"Tớ nghĩ thế là được rồi," Midori nói với một nụ cười "Còn có một thứ nữa thôi. Ông cụ bắt đầu lẩn thẩn rồi, nên thỉnh thoảng sẽ nói linh tinh những thứ không ai hiểu được. Cậu đừng phiền nếu cụ làm vậy."

"Tớ không sao mà," tôi nói.

Trở lại phòng, Midori bảo bố rằng cô phải lo mấy việc và rằng tôi sẽ trông cụ trong lúc cô đi vắng. Ông cụ có vẻ chẳng có gì để nói về việc này. Cũng có thể nó chẳng có nghĩa gì với ông. Ông chỉ nằm ngửa ở đó, mắt dán lên trần nhà. Nếu thỉnh thoảng mắt ông không chớp thì người ta có thể nghĩ là ông đã chết. Mắt ông đỏ ngầu như thể vừa uống rượu say, và mỗi lần ông hít một hơi dài thì hai cánh mũi lại nở ra một chút. Ngoài ra thì ông không động cựa tí gì hết, và cũng chẳng cố sức đáp lại Midori lời nào. Tôi không thể đoán biết ông đang nghĩ gì hoặc cảm thấy gì trong những tầng sâu thẳm của cõi thức.

Sau khi Midori đã đi, tôi tưởng mình có thể thử chuyện trò với bố cô, nhưng tôi không biết nói gì và nói như thế nào, nên đành giữ im lặng. Chẳng mấy chốc, ông cụ nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi. Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường và theo dõi những động đậy thi thoảng cửa cánh mũi ông, hy vọng miên man rằng ông sẽ không chết lúc bấy giờ. Sẽ lạ lùng biết bao, tôi nghĩ bụng, nếu người đàn ông này thở hơi cuối cùng khi có tôi bên cạnh. Dù sao thì tôi cũng mới gặp ông lần đầu tiên trong đời và cái duy nhất đem chúng tôi lại với nhau là Midori, một cô gái tôi tình cờ gặp gỡ trong lớp Lịch sử sân khấu.

Nhưng ông cụ không chết, chỉ ngủ yên ở đó. Ghé sát tai vào mặt cụ, tôi có thể nghe tiếng thở yếu ớt của cụ.

Tôi không căng thẳng nữa và quay sang hỏi chuyện bà vợ ông giường bên cạnh. Bà ta chỉ nói về Midori, cho rằng tôi là bạn trai của cô.

"Cô ấy là một cô gái thực sự tuyệt vời," bà nói. "Cô ấy chăm sóc bố rất chu đáo; cô ấy tốt bụng, dịu dàng, nhạy cảm và chắc chắn, và cô ấy lại xinh đẹp nữa. Cậu hãy đối xử với cô ấy cho đúng đắn. Đừng bao giờ để mất cô ấy. Cậu không thể tìm thấy ai như cô ấy nữa đâu."

"Cháu sẽ đối xử tốt với cô ấy," tôi nói, không muốn đi sâu hơn.

"Tôi có một con trai và một con gái ở nhà. Thằng con trai mười bảy, con gái hai mốt, thế mà không đứa nào nghĩ đến chuyện đến bệnh viện thăm bố bao giờ. Hễ tan học là chúng nó tếch đi lướt ván hoặc bồ bịch hoặc gì gì đó ai biết được. Chán thế đấy. Chúng chỉ biết moi tiền mẹ rồi biến."

Một giờ rưỡi thì bà ta ra ngoài đi mua sắm vài thứ. Cả hai người đàn ông đều ngủ say. Nắng chiều dìu dịu tràn ngập gian phòng, và tôi cảm thấy như mình có thể bập bềnh trôi đi bất kì lúc nào khi ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu ấy. Những bông cúc vàng và trắng trong chiếc bình trên bàn cạnh cửa sổ nhắc nhở rằng trời đã sang thu. Trong không khí có mùi thơm của món cá luộc còn lại từ bữa trưa. Đám hộ lí vẫn lóc cóc lên xuống ngoài hành lang, nói chuyện với nhau bằng những giọng khúc triết dễ nghe. Thỉnh thoảng họ lại ngó vào phòng rồi nở với tôi một nụ cười khi thấy cả hai bệnh nhân đều đang ngủ. Tôi ước có cái gì để đọc, nhưng trong phòng không có sách báo tạp chí gì, chỉ có mỗi một tờ lịch treo trên tường.

Tôi nghĩ đến Naoko. Tôi tưởng đến lúc nàng trần trụi, chỉ có dải buộc tóc trên đầu. Tôi nhớ đến đường cong chỗ thắt lưng nàng và bóng tối chỗ lông mu nàng. Tại sao nàng lại phô bày cho tôi xem như thế? Nàng mộng du chăng? Hay đó chỉ là ảo mộng của tôi? Thời gian cứ trôi đi và cái thế giới nhỏ bé ấy lại lùi xa dần ra, và tôi càng không chắc chuyện đêm ấy có thực diễn ra hay không. Nếu tôi tự nhủ nó là thực thì tôi tin là nó có thực. Nếu tôi tự nhủ đó chỉ ảo mộng, nó lại có vẻ là ảo mộng thật. Nó quá rõ và quá chi tiết để có thể ảo mộng, mà lại quá hoàn chỉnh và đẹp đẽ để có thể là thực: Tấm thân của Naoko và ánh trăng ấy.

Bố Midori bỗng nhiên thức dậy và bắt đầu ho, khiến giấc mộng ngày của tôi chấm dứt. Tôi giúp ông khạc đờm vào một miếng giấy lau mặt, và lấy khăn lau trán cho ông.

"Ông có muốn uống nước không ạ?" Tôi hỏi, và được đáp lại bằng một cái gật đầu chừng bốn mi-li-mét.

Tôi giữ cái chai nước thuỷ tinh nhỏ để ông có thể nhấp từng tí một, cặp môi khô run run, cổ họng lẩy bẩy. Ông uống hết sạch chỗ nước âm ấm trong chai.

"Ông uống thêm tí nữa không ạ?" Tôi hỏi. Ông có vẻ muốn nói, nên tôi ghé tai lại gần hơn.

"Đủ rồi," giọng ông nhỏ và khô, còn nhỏ và khô hơn trước."

"Ông ăn chút gì nhé? Chắc ông đói rồi." Ông đáp bằng một thoáng gật đầu. Như Midori đã làm, tôi xoay cái cần dựng đầu giường lên rồi bón cho ông từng thìa rau nghiền và cá luộc thay đổi nhau. Rất lâu mới cho ông ăn hết được độ nửa phần thức ăn, và đến đó thì ông hơi lắc đầu ra hiệu thôi không ăn nữa. Động tác của ông gần như không nhìn thấy được, rõ ràng cử động mạnh vẫn còn làm ông đau.

"Còn hoa quả thì sao ạ?" Tôi hỏi ông.

"Thôi", ông nói. Tôi lau hai bên mép cho ông bằng khăn và hạ đầu giường xuống như cũ rồi dọn chỗ bát đĩa ra ngoài hành lang.

"Có ngon không ông?" tôi hỏi.

"Kinh lắm", ông đáp.

"Vâng," tôi mỉm cười với ông. "Trông cũng chán thật." Bố Midori có vẻ không biết nên mở mắt ra thêm hay nhắm lại khi ông nằm đó và nhìn tôi chằm chằm. Không biết ông có biết tôi là ai không. Ông có vẻ thoải mái với tôi một mình thế này hơn lúc có Midori. Có thể ông tưởng tôi là ai đó. Hoặc giả đấy là tôi thích nghĩ vậy.



"Ngoài kia trời đẹp lắm ạ," tôi nói, ngồi bắt chéo chân trên chiếc ghế đẩu. "Mùa thu rồi, Chủ nhật, thời tiết tuyệt vời, đi đâu cũng thấy đông người ông ạ. Những hôm như hôm nay thì cứ nghỉ ngơi ở trong nhà thế này là tốt nhất. Ra đám đông mệt người lắm. Mà không khí cũng không tốt. Chủ nhật cháu chủ yếu chỉ giặt giũ thôi sáng thì đi giặt, mang lên nóc nhà học xá phơi, chiều thì lại cất hết xuống trước khi trời tối, rồi là chúng thật kĩ. Cháu chẳng ngại là quần áo tí nào. Là cho mọi thứ nhàu nhĩ phẳng ra cho ta một cảm giác thoả mãn đặc biệt. Và cháu làm việc đó khá giỏi. Tất nhiên lúc đầu thì lung tung lắm. Cháu còn làm quần áo bị nhầu thêm nữa. Nhưng sau một tháng thì cháu biết phải làm gì. Cho nên Chủ nhật là ngày cháu giặt giũ và là quần áo. Hôm nay thì cháu không làm được, tất nhiên rồi. Chán thật: mất một ngày giặt là lí tưởng. "Nhưng không sao ông ạ. Mai cháu sẽ dậy sớm và làm bù những việc ấy. Ông đừng lo. Cháu cũng chẳng có việc gì khác vào Chủ nhật.

"Sáng mai, sau khi đã giặt và phơi quần áo, cháu sẽ đến lớp lúc mười giờ. Đấy là lớp cháu cùng học với Midori: Lịch sử sân khấu. Cháu đang học về Euripides. Ông có biết Euripides không ạ? Đó là một người Hy Lạp cổ đại, một trong "Tam Hùng" của bi kịch Hy Lạp, cùng với Aeschylus và Sophocles. Hình như ông ta chết vì bị một con chó cắn ở Macedonia, nhưng không phải ai cũng tin chuyện đó. Đại khái đó là Euripides. Cháu thích Sophoaes hơn, nhưng chắc đó chỉ là vấn đề thị hiếu thôi. Thực sự là cháu không biết ông nào hay hơn ông nào.

"Điều làm cho kịch của ông ta được mọi người chú ý là cái cách ông ấy làm rối tinh sự việc lên và khiến cho các nhân vật bị mắc kẹt trong hoàn canh. Ông có nghe thủng không ạ?" Rất nhiều nhân vật khác nhau xuất hiện, và tất cả đều có hoàn cảnh riêng, lí do riêng và lí lẽ riêng, và người nào cũng đang theo đuổi lí tưởng công bằng hoặc hạnh phúc của mình. Kết quả là chẳng ai làm được gì hết. Rõ ràng rồi. Cháu muốn nói là về cơ bản thì không thể nào có chuyện công lí của ai cũng thắng thế hoặc hạnh phúc của ai cũng thắng thế, và thế là xảy ra hỗn loạn. Rồi thì ông có biết chuyện gì xảy ra sau đó không?" Rất đơn giản - một vị thần xuất hiện vào cuối vở kịch và bắt đầu điều khiển xe cộ trên đường. "Anh này đi ra kia, còn chị này đi ra đây, và cậu thì về với cô ấy, còn cô này thì hãy ngồi yên ở đấy đã". Như vậy đấy. Kiểu như một người đến để giải quyết mọi chuyện, và cuối cùng thì hoàn hảo đâu vào đấy cả. Họ gọi thế là thủ pháp "deus ex machina"<4>. Trong kịch của Euripides hầu như lúc nào cũng dùng thủ pháp, và chính vì thế mà giới phê bình có những ý kiến khác hẳn nhau về ông ta.

"Nhưng thử nghĩ mà xem, giá có được một cái "deus ex machina" ở ngoài đời thực thì ra sao?" Mọi chuyện sẽ dễ dàng biết mấy! Nếu ta thấy bế tắc và mắc kẹt, một vị thần nào đó sẽ từ trên kia lượn xuống và giải quyết mọi vấn đề cho ta. Còn gì dễ hơn thế nữa. Đấy, đại khái Lịch sử sân khấu là như vậy ông ạ. Những cái bọn cháu học ở đại học đại loại cũng như vậy cả."

Bố Midori không nói gì, nhưng ông hướng cặp mắt trống rỗng về phía tôi trong suốt lúc tôi nói. Tất nhiên tôi không thể đoán từ đó xem ông có hiểu tí gì những điều tôi nói.

"Vì Hoà bình," tôi nói.

Sau câu chuyện dông dài ấy, tôi thấy đói cồn cào.

Tôi đã hầu như không ăn sáng và đã chỉ ăn nửa suất cơm trưa. Bây giờ thì tôi hối hận đã không ăn nhiều hơn, nhưng hối cũng chẳng được gì. Tôi ngó vào tủ xem có gì ăn được không, nhưng chỉ thấy một hộp rong biển, vài viên thuốc ho Vicks và xì-dầu. Cái túi giấy vẫn ở đó với mấy củ dưa chuột và quả bưởi.

"Cháu ăn một ít dưa chuột có được không ạ?" tôi nói với bố Midori. Ông cụ không đáp. Tôi rửa ba củ dưa chuột trong bồn nước và rót một ít xì-dầu ra một cái đĩa. Rồi tôi cuốn ít rong biển quanh một củ dưa chuột, chấm nó vào xì-dầu và nhồm nhoàm ăn.

"Ừ ừ, ngon tuyệt!" tôi nói với bố Midori. "Tươi, đơn giản, sực nức mùi đời. Dưa ngon thật ông ạ. Có lí hơn quả kiwi nhiều."

Tôi ăn nhẵn một củ và đánh tiếp củ nữa. Tiếng tôi nhai rau ráu vang khắp cả gian phòng. Ăn xong củ thứ hai tôi mới chịu nghỉ nhai. Tôi ra đun ít nước sôi chỗ cái bếp gas ngoài hành lang để pha trà.

"Ông có muốn uống gì không ạ? Nước nhé? Hay là nước quả?" Tôi hỏi bố Midori.

"Dưa chuột", ông nói.

"Tuyệt!" Tôi mỉm cười. "Với rong biển chứ ạ?"

Ông hơi gật đầu. Tôi lại quay đầu giường lên. Rồi tôi cắt một miếng dưa chuột vừa miệng, cuốn một rẻo rong biển lên nó, cắm một cái tăm, chấm vào xì-dầu, rồi đưa lên miệng bệnh nhân đang chờ. Vẻ mặt hoàn toàn không đổi, bố Midori nhai miếng dưa từng nhát một và cuối cùng nuốt được nó.

"Sao ạ?" Ngon chứ ạ?"

"Ngon", ông nói.

"Ăn thấy ngon là tốt lắm đấy," tôi nói. "Chứng tỏ là mình vẫn còn sống đấy."

Cuối cùng ông cụ ăn hết cả một củ dưa chuột. Ăn xong, ông muốn uống nước, và tôi lại cho ông uống từ cái chai ấy. Mấy phút sau, ông nói ông cần đi đái, thế là tôi lấy cái bô nước giải ở dưới gầm giường ra và hứng cho ông đi. Sau đó tôi đổ bô vào chuồng xí và rửa nó sạch sẽ. Rồi tôi trở lại phòng bệnh và uống nốt chỗ trà.

"Ông thấy trong người thế nào?" tôi hỏi.

"Đầu tôi," ông nói.

"Đau hả ông?"

"Một chút" ông nói và nhăn mặt một tí.

"Không sao đâu ông ạ, ông vừa mổ xong mà. Tất nhiên là cháu không biết được, cháu chưa bị mổ bao giờ."

"Vé" ông nói.

"Vé hả ông?" Vé gì ạ?"

"Midori", ông nói. "Vé."

Không thể hiểu ông định nói gì, tôi chỉ biết im lặng.

Ông cũng nằm yên một lúc. Rồi ông có vẻ như đang muốn nói "Làm ơn". Ông mở to mắt và nhìn tôi rất chăm chú. Tôi đoán ông đang cố nói với tôi điều gì đó mà chịu không thể tưởng tượng ra được. "Ueno" ông nói. "Midori"

"Ga Ueno ấy ạ?"

Ông hơi gật đầu.

Tôi cố tóm lại những cái ông đang cố nói ra: "Vé, Midori, làm ơn, ga Ueno," nhưng vẫn không hiểu ý nghĩa của chúng là gì. Tôi đồ chừng đầu óc ông còn lẫn lộn, nhưng so với trước thì mắt ông bây giờ trông tinh khủng khiếp ông giơ cánh tay không bị tiêm truyền lên và với về phía tôi. Chắc ông phải cố sức lắm, bàn tay ông run lẩy bẩy trong không trung. Tôi đứng lên và nắm lấy bàn tay nhăn nheo yếu ớt ấy. Ông đáp lại bằng một cái nắm tay mà chắc ông đã phải dồn hết sức bình sinh và lại nói "Làm ơn."

"Ông đừng lo," tôi nói. "Cháu sẽ thu xếp cái vé, và cả Midori nữa."

Ông để bàn tay rơi phịch xuống giường rồi nhắm mắt. Sau đó, ông trút một hơi thở nghe như một tiếng kêu to rồi bặt đi vào giấc ngủ. Tôi vội kiểm tra để biết chắc là ông vẫn sống, rồi ra ngoài đun thêm nước pha trà. Trong khi nhấp nháp trà nóng, tôi bỗng thấy lòng mình vừa nảy sinh một tình cảm gần như yêu mến với ông già bé nhỏ đang cận kề cái chết này.

Ít phút sau thì bà vợ ông bệnh nhân kia trở về và hỏi mọi việc có ổn cả không. Tôi nói ổn cả. Chồng bà cũng đang ngủ say với những nhịp thở sâu.

Sau ba giờ thì Midori về.

"Tớ ở ngoài công viên, nằm thượt suốt," cô nói. "Tớ theo lời cậu, không nói chuyện với ai, chỉ để đầu óc trống rỗng đi thôi."

"Cậu thấy thế nào?"

"Cám ơn, tớ thấy khá hơn nhiều. Vẫn còn cảm giác mệt mỏi trì trệ, nhưng tớ thấy người nhẹ nhõm hơn trước nhiều. Có lẽ tớ mệt lắm mà không biết."

Ông cụ còn đang ngủ say, chúng tôi cũng chẳng có việc gì, nên hai đứa mua cà-phê ở một máy bán tự động và đem vào phòng TV ngồi uống. Tôi báo cáo tình hình lúc Midori đi vắng, rằng bố cô đã ngủ tốt, rồi thức dậy và ăn một ít đồ còn lại của bữa trưa, sau đó thấy tôi ăn dưa chuột và đòi ăn một củ, rồi ăn hết một củ và đi đái.

"Watanabe, cậu thật tuyệt vời," Midori nói. "Bọn tớ đến phát điên lên mà không thể cho ông ấy ăn được gì, thế mà cậu cho cụ ăn hết cả một quả dưa chuột! Không thể tin được!"

"Tớ không biết, có lẽ vì cụ thấy tớ ăn ngon lành quá"

"Hoặc có lẽ cậu có tài làm người khác thấy thoai mái."

"Không có đâu," tôi cười. "Sẽ có nhiều người nói với cậu ngược lại về tớ đấy."

"Cậu thấy bố tớ thế nào?"

"Tớ thích ông ấy. Chẳng phải vì người cháu nói gì nhiều với nhau. Nhưng, tớ không biết nữa, ông cụ có vẻ hay lắm."

"Cụ cứ im thin thít phải không?"

"Cậu phải thấy ông ấy tuần trước cơ. Khủng khiếp". Midori lắc đầu. "Như hoàn toàn mất trí và phát cuồng lên. Ném cả một cái cốc vào tớ và gào lên nhưng câu ghê gớm như "Sao mày không chết đi hả con ngu xuẩn kia!" Cái bệnh này nó làm người ta ra như vậy. Họ không biết tại sao, nhưng đùng một cái nó có thể làm người ta thành xấu xa đểu cáng. Mẹ tớ cũng thế! Cậu có biết bà ấy nói gì với tớ không? "Mày không phải con tao! Tao căm thù cái bụng dạ mày!" Cả thế giới đen ngòm mất một giây khi bà ấy nói thế với tớ. Nhưng những chuyện như thế là một đặc điểm của căn bệnh đặc biệt này. Một chỗ nào đó trên não bộ bị chèn ép và khiến người ta mở mồm nói đủ mọi thứ xấu xa. Biết là bệnh thật, nhưng vẫn thấy đau. Biết làm sao được! Như tớ đây này, hầu hạ họ đến lòi cả xương ra mà vẫn phải nghe họ mắng chửi thậm tệ đủ thứ."

"Tớ hiểu," tôi nói. Rồi chợt nhớ những từ kì lạ mà bố Midori đã lẩm nhẩm với tôi.

"Vé" Ga Ueno" "Midori nói. "Là cái gì thế nhỉ?"

"Và cụ còn nói Làm ơn, và "Midori."

"Làm ơn chăm sóc Midori ư?"

"Hoặc cụ muốn cậu đến ga Ueno mua vé chăng?"

"Thứ tự bốn từ ấy loạn xì ngậu cả, ai mà biết cụ muốn nói gì? Ga Ueno có ý nghĩa gì đặc biệt với cậu không?"

"Hừmm, Ga Ueno." Midori nghĩ ngợi một lúc. "Tớ chỉ có thể nghĩ đến hai lần tớ bỏ nhà đi, lần lên tám và lần lên mười. Lần nào tớ cũng đi tàu từ Ueno đi Fukushima. Mua vé bằng tiền tớ lấy ở quầy thu ngân. Có người ở nhà làm tớ rất tức, và tớ bỏ đi để trả thù. Tớ có bà bác ở Fukushima, tớ cũng thích bà ấy, và thế là tớ tìm đến nhà bà. Bố tớ là người đã đi tìm và đưa tớ về. Đi đến tận Fukushima để tìm tớ - hàng trăm dặm chứ ít đâu! Hai bố con ăn cơm hộp trên chuyến tàu về Ueno. Bố tớ kể đủ thứ chuyện trong lúc đi đường, từng mẩu ngắn một và rất rời rạc. Ví dụ chuyện động đất lớn hồi 1923, chuyện hồi chiến tranh, hoặc hồi tớ mới đẻ, những chuyện mà rất ít khi ông ấy nói đến. Nghĩ cũng lạ, đó là những lần bố và tớ nói chuyện tử tế được với nhau, chỉ có hai bố con. Này, cậu có tin được không? - bố tớ ở ngay giữa Tokyo khi xảy ra một trong những trận động đất lớn nhất trong lịch sử mà ông ấy không biết gì cả!"

"Làm gì có chuyện ấy?"

"Thật mà! Ông ấy đang đạp xe qua khu Koishikawa, đèo một cái xe đẩy ở đằng sau, và ông ấy không cảm thấy gì hết. Khi về đến nhà, tất cả ngói trên mái nhà trong khu phố đều đã rơi đầy đường và mọi người trong nhà đang ôm cột run lẩy bẩy hết cả. Thế mà ông ấy vẫn không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Theo lời bố tớ thì ông ấy còn hỏi "ở đây có chuyện quái gì thế này" Đó là "hồi ức âu yếm của bố tớ về trận động đất Kanto vĩ đại!" Midori cười. "Tất cả những câu chuyện ngày xưa của ông ấy đều như thế cả. Không có một tí kịch tính nào. Tất cả chúng đều có vẻ lệch trọng tâm. Tớ không biết, khi ông ấy kể những chuyện ấy, người nghe có cảm giác như nước Nhật trong năm mươi hoặc sáu mươi năm vừa qua đã chẳng có chuyện quái gì quan trọng. Vụ nổi dậy của các sĩ quan trẻ năm 1936, cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, tất cả đều chỉ là kiểu "ồ phải rồi, đúng thế đấy, có lẽ có chuyện đại loại thế đã xảy ra thật". Buồn cười thế đấy!"

"Bây giờ quay lại chuyện hai bố con trên tàu hoả nhé, ông ấy cứ kể từng mẩu rời rạc những chuyện như thế trong lúc đi từ Fukushima về Ueno. Cuối cùng thì bao giờ ông ấy cũng bảo, "Con đã thấy chưa, Midori, con đi đâu thì cũng thế thôi à". Còn bé tí thế mà tớ cũng đã có ấn tượng về những chuyện như vậy rồi."

"Đó là "hồi ức âu yếm của cậu về Ga Ueno đấy à?" tôi hỏi.

"Ờ" Midori nói. Watanabe, cậu đã bao giờ bỏ nhà đi chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Tại sao?"

"Thiếu trí tưởng tượng. Tớ chưa bao giờ có ý định bỏ nhà."

"Cậu lạ thật!" Midori nói, nghếch đầu lên như thể ngạc nhiên thật sự.

"Tớ cũng không biết nữa," tôi nói.

"Thôi được rồi, mà này, tớ nghĩ bố tớ định nói ông ấy muốn cậu chăm sóc tớ thì phải."

"Thật ư?"

"Thật chứ! Tớ hiểu những chuyện như vậy. Trực cảm mà. Vậy nói tớ nghe, cậu đã trả lời ông ấy thế nào?"

"À tớ không hiểu ông cụ nói gì, nên chỉ bảo ôkê, đừng lo, tớ sẽ thu xếp ổn thoả cả cậu lẫn cái vé."

"Cậu hứa với bố tớ thế à?" Cậu bảo cậu sẽ chăm sóc tớ thật à?" Cô nhìn thẳng vào mắt tôi với vẻ mặt nghiêm chỉnh chết người.

"Không phải thế," tôi vội chữa. "Thực là tớ không hiểu ông cụ nói gì, nên…"

"Đừng lo, tớ chỉ đùa thôi mà," cô nói và mỉm cười. "Tớ thích cái tính ấy của cậu."

Midori và tôi uống nốt chỗ cà-phê rồi trở lại phòng bệnh. Bố cô vẫn ngủ say. Nếu ghé sát lại, có thể nghe tiếng ông thở đều. Càng về chiều, ánh sáng ngoài cửa sổ càng đượm vẻ thu nhẹ nhàng dịu ngọt. Một bày chim đậu trên dây điện ở ngoài đó một lúc rồi lại bay đi.

Midori và tôi ngồi trong góc phòng rì rầm trò chuyện. Cô bói tay cho tôi và tiên đoán tôi sẽ sống đến một trăm linh năm tuổi, lấy vợ ba lần, và chết vì tai nạn xe cộ.

"Không đến nỗi tệ," tôi nói.

Khi ông bố tỉnh giấc vào lúc sau bốn giờ, Midori đến ngồi cạnh gối ông, lau trán cho ông, cho ông uống nước và hỏi ông còn đau đầu nữa không. Một cô hộ lí đến cặp nhiệt độ cho ông, ghi lại số lần ông đi giải, kiểm tra thiết bị tiêm truyền. Tôi sang phòng TV và xem một ít chương trình bóng đá.

Năm giờ thì tôi bảo Midori là tôi phải đi. Tôi phân bua với ông cụ rằng mình phải đi làm. "Cháu bán đĩa hát ở Shinjuku từ sáu đến mười rưỡi."

Ông đưa mắt nhìn tôi và hơi gật đầu.

"Watanabe này, tớ không biết phải nói thế nào, nhưng tớ thực lòng cám ơn cậu về ngày hôm nay," Midori nói khi chia tay với tôi dưới sảnh tiếp tân.

"Tớ chẳng làm gì được mấy," tôi nói. "Nhưng nếu tớ có thể giúp cậu thì tuần sau tớ lại đến. Tớ muốn gặp lại ông cụ."

"Thật ư?"

"Thì ở học xá tớ cũng có làm gì đâu, mà đến đây thì lại còn được ăn dưa chuột."

Midori khoanh tay và giậm giậm gót chân xuống sàn nhà trải vải nhựa.

"Tớ thích đi uống rượu nữa với cậu," cô nói, hơi nghếch đầu.

"Thế còn phim con heo thì sao?"

"Mình sẽ xem phim trước rồi mới đi uống rượu. Và mình sẽ nói đủ mọi chuyện kinh tởm thông thường."

"Tớ không phải là người nói những chuyện kinh tởm," tôi phản đối. "Mà là cậu."

"Thôi được rồi, mình sẽ nói những chuyện như thế và đều máu lên rồi rủ nhau lên giường."

"Rồi cậu có biết chuyện gì sau đó không," tôi nói với một tiếng thở dài. "Tớ sẽ định làm chuyện ấy nhưng cậu nhất định không cho. Đúng không nào?"

Cô cười qua giọng mũi.

"Nhưng không sao," tôi nói, "đến đón tớ sáng Chủ nhật tới nhé. Mình sẽ cùng đến đây."

"Tớ sẽ mặc váy dài hơn một tí nhé?"

"Nhất định phải thế đấy," tôi nói.

Nhưng tôi không đến bệnh viện Chủ nhật sau đó. Bố Midori mất vào sáng thứ Sáu.

Cô gọi cho tôi lúc sáu rưỡi sáng để báo tin ấy.

Tiếng chuông cửa báo cho tôi biết có người gọi cho tôi và tôi chạy ù xuống sảnh đợi, chỉ kịp khoác một cái áo len ra ngoài bộ quần áo ngủ. Trời đang mưa âm thầm và rất lạnh.

"Bố tớ vừa đi được mấy phút," Midori nói với một giọng rất lặng lẽ và khẽ khàng. Tôi hỏi tôi có thể giúp gì được không. "Cám ơn," cô nói. "Thực chẳng có việc gì đâu. Bọn mình đã qucn việc tang ma rồi. Tớ chỉ muốn báo tin để cậu biết."

Tôi có thể nghe thấy tiếng thở dài bật ra ở đầu dây bên cô.

"Đừng đến đám ma nhé, ôkê! Tớ ghét thế lắm. Tớ không muốn thấy cậu ở đó."

"Tớ hiểu rồi, tôi nói.

"Cậu sẽ đưa tớ đi xem phim con heo thật chứ?"

"Tất nhiên rồi."

"Một phim thật kinh tởm chứ?"

"Tớ sẽ nghiên cứu vấn đề này thật kĩ"

"Tốt. Tớ sẽ gọi cho cậu," cô nói rồi gác máy.

Một tuần trôi qua và Midori vẫn biệt tăm. Không có cú điện thoại nào, cũng không thấy bóng dáng cô ở giảng đường. Lần nào trở về học xá tôi cũng mong có tin cô, mà chẳng có gì. Một đêm, tôi đã định giữ lời hứa sẽ nghĩ đến cô trong lúc thủ dâm, nhưng không ăn thua. Tôi cố chuyển sang nghĩ đến Naoko, nhưng ngay cả hình ảnh của Naoko cũng chẳng giúp gì được tôi lần ấy. Tôi cảm thấy nực cười và đành bỏ cuộc. Tôi nốc một ngụm whisky, đánh răng, rồi đi ngủ.

Sáng Chủ nhật tôi viết thư cho Naoko. Một chuyện tôi kể cho nàng nghe là chuyện ông bố của Midori. Mình đến bệnh viện thăm bố của một cô gái học cùng một lớp và ăn mấy quả dưa chuột trong phòng ông ấy. Lúc nghe tiếng mình nhai dưa, ông cụ cũng muốn ăn, và ăn quả dưa của ông ấy cũng rau ráu như thế. Nhưng năm ngày sau thì ông ấy chết. Mình vẫn nhớ như in cái tiếng rau ráu nho nhỏ của ông ấy lúc nhai dưa. Sau khi chết, người ta để lại những kí ức nho nhỏ lạ lùng về họ như thế đấy. Rồi tôi viết tiếp:

Mình nghĩ đến cậu và Reiko và nhà nuôi chim trong lúc vừa tỉnh dậy trên giường vào buổi sáng. Mình nghĩ đến con công, bầy bồ câu, lũ vẹt và mấy con gà tây - và cả bầy thỏ nữa. Mình nhớ những cái áo mưa vàng mà cậu và Reiko mặc có mũ chùm đầu buổi sáng trời mưa ấy. Thật dễ chịu khi nghĩ đến cậu lúc nằm ấm áp trên giường. Mình cảm thấy như cậu đang cuộn tròn bên cạnh và ngủ rất say. Và mình nghĩ giá được thế thì hay biết mấy.

Có đôi khi mình nhớ cậu kinh khủng, nhưng nói chung mình vẫn tiếp tục sống với tất cả sức lực có được của mình. Cũng như sáng nào cậu cũng chăm bầy chim và làm ruộng, sáng nào mình cũng lên bộ dây cót của mình. Hễ dậy một cái là mình vặn nó đủ ba mươi sáu vòng, nào đánh răng, cạo mặt, ăn sáng, thay quần áo, rồi ra khỏi khu học xá để đến trường. Mình tự nhủ, "Ôkê, hãy cứ làm cho ngày hôm nay thành một ngày tốt lành nữa đã nào." Trước đây mình không để ý, nhưng mọi người bảo với mình là dạn này mình rất hay nói một mình. Có lẽ đó là lúc mình đang lên dây cót chăng.

Không được gặp cậu thật khổ, nhưng cuộc sống của mình ở Tokyo sẽ còn khổ sở hơn nhiều nếu không có cậu. Chính vì nghĩ đến cậu mỗi sáng trên giường mà mình mới có thể lên dây cót cho mình và tự nhủ hãy sống thêm một ngày tốt lành nữa. Mình biết rằng mình phải cố gắng hết sức ở đây, cũng như cậu đang cố gắng ở nơi ấy.

Hôm nay Chủ nhật, và là ngày mình không lên dây cót. Mình vừa giặt giũ xong, và bây giở thì đang ngồi trong phòng viết thư cho cậu. Viết xong mình sẽ dán tem và đi bỏ nó vào thùng thư, và sẽ chẳng có gì phải làm nữa cho đến lúc mặt trời lặn xuống. Mình không học bài vào Chủ nhật. Trong tuần mình đã học trong thư viện giữa những giờ lên lớp đủ rồi và đến Chủ nhật thì chẳng còn gì phải làm nữa. Chiều Chủ nhật thật im ắng, yên bình, và với mình thì cũng thật cô liêu. Mình đọc sách hoặc nghe nhạc. Đôi khi mình nhớ lại những con đường khác nhau mà bọn mình thường lang thang trong những ngày Chủ nhật ở khắp chốn Tokyo. Mình có thể nhớ lại tương đối ro cả những bộ quần áo cậu đã mặc trong những chuyến đi ấy. Chiều Chủ nhật là lúc mình nhớ lại đủ thứ chuyện.

Cho mình gửi lời thăm Reiko. Mình thực sự nhớ tiếng ghi-ta của chị ấy vào ban đêm.

Viết xong lá thư, tôi đi bộ mấy đoạn phố đến một thùng thư, rồi vào cửa hàng bánh gần đó mua một chiếc bánh kẹp trứng và một hộp coca ăn thay bữa trưa trong lúc ngồi trên một chiếc ghế băng nhìn mấy đứa trẻ chơi bóng chày ở sân chơi bên cạnh. Mùa thu đang chín đã khiến bầu trời xanh hơn và thăm thẳm hơn. Tôi ngẩng lên và thấy hai dải khói máy bay trắng phau đang song song vạch ngang trời về phía Tây như một cặp ray tàu hoả. Một trái bóng đi chệch lăn đến chỗ tôi, và khi tôi ném nó lại cho bọn trẻ, chúng đều nhấc mũ và lễ phép nói "Cám ơn ông." Như hầu hết những trận bóng chày thiếu niên, tôi thấy bọn trẻ chạy qua chạy lại và để lỡ cơ hội rất nhiều.

Qua giờ trưa thì tôi trở về phòng đọc sách nhưng không thể tập trung nổi. Và tôi thấy mình chỉ dán mắt lên trần nhà và nghĩ đến Midori. Không biết bố cô có thực sự xin tôi hãy chăm sóc cô sau khi ông mất hay không. Tôi không có cách nào đoán được những ý nghĩ của ông. Có thể ông đã tưởng tôi là ai đó khác. Dù sao thì ông cũng đã ra đi vào một sáng thứ Sáu khi trời đang mưa lạnh, và bây giờ thì không thể biết được nữa rồi. Tôi tưởng tượng khi chết ông còn teo tóp đi nhiều nữa, và rồi họ đã thiêu ông trong lò cho đến lúc chẳng còn gì nữa ngoài mấy nhúm tro. Ông đã để lại những gì? Một hiệu sách tầm tầm trong một khu phố tầm tầm với hai cô con gái mà ít nhất là tôi biết có một cô còn hơn cả hơi là lạ một chút. Một cuộc đời kiểu gì vậy? Tôi tự hỏi. Khi nằm trên giường bệnh với cái đầu đã bị mổ toang và bộ óc mờ mịt, ông đã nghĩ gì khi nhìn tôi?

Nghĩ mãi những ý nghĩ như thế về bố Midori khiến tôi lâm vào tâm trạng khổ sở đến nỗi chưa tối tôi đã lên nóc nhà cất hết quần áo còn chưa khô xuống rồi đến Shinjuku lang thang đi bộ giết thời giờ. Những đám đông ngày Chủ nhật khiến tôi thấy nhẹ nhõm được một chút. Hiệu sách Kinokuniya đông nghẹt như một đoàn tàu giờ cao điểm. Tôi mua một cuốn Ánh sáng tháng Tám của Faulkner và tìm đến một tiệm cà-phê ồn ào nhất mà tôi biết, vừa đọc cuốn sách mới mua vừa nghe nhạc Ornette Coleman và Bud Powell và uống cà-phê nóng đặc quánh với mùi vị chẳng ra gì. Đến năm rưỡi thì tôi gập sách lại, ra ngoài ăn một bữa tối nhẹ. Còn bao nhiêu Chủ nhật, bao nhiêu trăm Chủ nhật nữa như thế này ở trước mặt tôi? "Im ắng, yên bình, và cô liêu," tôi nói to lên với chính mình. Tôi không lên dây cót vào những ngày Chủ nhật.


Chương 8:

Giữa tuần lễ ấy thì tôi tự làm mình bị cứa đứt giữa lòng bàn tay vì một miếng kính vỡ. Tôi đã không để ý có một tấm kính vỡ trên giá đĩa hát. Tôi không thể tin sao mình lại có thể chảy nhiều máu đến thế, đỏ ối cả sàn nhà dưới chân. Ông chủ tiệm lấy mấy cái khăn bông buộc chặt quanh vết thương. Rồi ông gọi điện đến dịch vụ cứu thương. Bình thường thì ông ta là một gã vô tích sự, thế mà lúc ấy ông ta hành động rất hiệu quả. Cũng may là bệnh viện ở gần đó, nhưng khi tôi đến được nơi thì khăn buộc đã sũng hết cả và máu cứ thế rỏ cả xuống lối đi. Mọi người dạt ra nhường đường cho tôi. Có vẻ họ tưởng tôi bị thương vì đánh nhau. Tôi không thấy gì gọi là đau, nhưng máu thì không cầm lại được.

Ông bác sĩ vẫn tỉnh bơ khi tháo khăn buộc sũng máu ra, dùng garô thắt chặt cố tay tôi để cầm máu, khử trùng vết thương rồi khâu lại, và dặn tôi hôm sau lại đến.

Về đến tiệm thì ông chủ bảo tôi về nhà nghỉ, ông ấy sẽ vẫn chấm đủ ngày công. Tôi lấy xe buýt về học xá và đến thẳng phòng của Nagasawa. Vẫn còn căng thẳng vì vết thương, tôi rất muốn có ai để nói chuyện, và cũng lâu rồi tôi chưa gặp Nagasawa.

Tôi thấy hắn trong phòng, đang uống một hộp bia và xem chương trình dạy tiếng Tây Ban Nha trên TV.

"Chuyện quái gì xảy ra với cậu thế?" Hắn hỏi khi thấy chỗ băng bó của tôi. Tôi bảo bị đứt tay nhưng không có gì nghiêm trọng cả. Hắn mời tôi bia nhưng tôi bảo thôi cảm ơn.

"Đợi tớ tí! Một phút nữa là xong thôi," Nagasawa nói, và tiếp tục tập phát âm tiếng Tây Ban Nha. Tôi đun ít nước và pha cho mình một cốc trà gói. Một bà Tây Ban Nha đang đọc to những câu mẫu: "Tôi chưa bao giờ thấy mưa khung khiếp thế?" "Nhiều cây cầu đã bị cuốn trôi ở Barcelona." Nagasawa đọc to theo. "Câu với chả cú!" Hắn nói. "Họ chỉ biết nhồi cho mình những đồ cứt này."

Khi chương trình đã hết, hắn tắt TV và lấy một hộp bia nữa ở trong cái tủ lạnh nhỏ của hắn.

"Thật là tớ không làm phiền cậu chứ?" Tôi hỏi.

"Làm gì có chuyện ấy. Tớ đang buồn đến phát điên. Cậu nhất định không uống bia à?"

"Ừ, tớ không uống đâu," tôi nói.

"À này, hôm trước họ đã niêm yết kết quả thi rồi đấy. Tớ đỗ rồi!"

"Cuộc thi vào Bộ Ngoại giao ấy à?"

"Đúng thế. Chính thức nó gọi là "Thi tuyển Cán bộ Công vụ Hạng Nhất ngành Ngoại Giao". Thật nực cười!"

"Xin chúc mừng?" Tôi nói và đưa bàn tay trái ra bắt tay hắn.

"Cám ơn!"

"Tất nhiên tớ chẳng ngạc nhiên khi thấy cậu đỗ đâu"

"Ô tớ cũng vậy," Nagasawa cười. "Nhưng chính thức rồi vẫn thấy khoái."

"Cậu sẽ ra hải ngoại ngay khi vào chương trình chứ?"

"Chưa đâu, trước hết họ bắt qua một năm huấn luyện đã. Rồi mới cử ra nước ngoài một thời gian."

Tôi nhấp nháp nước trà, trong khi hắn uống bia với vẻ thoả mãn ra mặt.

"Tớ sẽ cho cậu cái tủ lạnh này nếu cậu thích lúc tớ đi khỏi đây," Nagasawa nói. "Cậu thích nó chứ, phải không nào" Để bia thì tuyệt vời đấy."

"Ờ, tớ thích đấy, nhưng cậu không cần đến nó à? Cậu cũng phải sống trong một căn hộ hay gì chứ?"

"Đừng có ngốc thế! Khi thoát khỏi nơi này, tớ sẽ mua cho mình một cái tủ lạnh bự. Tớ sẽ sống đời sang trọng đấy! Bốn năm ở cái chuồng chồ này là quá đủ rồi. Tớ sẽ không còn muốn nhìn thấy bất kì thứ gì tớ đã dùng ở đây nữa. Cậu thích gì tớ cũng cho cậu tất - TV, phích, đài…"

"Tớ sẽ lấy tất những gì cậu cho tớ," tôi nói. Tôi nhặt cuốn giáo khoa tiếng Tây Ban Nha trên bàn lên và nhìn nó chằm chằm. "Cậu bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha à?"

"Ờ. Biết càng nhiều ngoại ngữ càng tốt. Mà tớ có khiếu học tiếng lắm. Tớ tự học tiếng Phảp mà có thể nói là hoàn hảo ra phết. Ngôn ngữ cũng như trò chơi. Học được quy luật của một trò là biết chơi các trò khác ngay. Cũng như đàn bà."

"Á a…, biết suy tư đấy!" Tôi nói, hơi có giọng giễu nhại.
"Mà này, mình sẽ sớm đi ăn với nhau nhé."

"Cậu muốn nói là đi mò gái hả?"

"Không, đi ăn tối hẳn hoi. Cậu, tớ, và Hatsumi, ở một tiệm ăn hảo hạng. Để mừng nghề mới của tớ. Ông già tớ sẽ trả tiền, nên mình sẽ đến một chỗ nào đó thật đắt"

"Có lẽ chỉ nên có cậu với Hatsumi thôi."

"Không. Cả cậu nữa thì hay hơn. Tớ sẽ thấy thoải mái hơn, và cả Hatsumi cũng vậy."

Trời đất, lại như Kizuki, Naoko với tôi nữa đây!

"Sau đó tớ sẽ qua đêm ở chỗ Hatsumi, nên cậu chuẩn bị chỉ ăn tối với bọn tớ thôi nhá."

"Ôkê, nếu cả hai các cậu đều muốn thế," tôi nói.

"Nhưng này, cậu sẽ dự định thế nào về Hatsumi? Cậu sẽ được thuyên chuyển ra hai ngoại sau khi kết thúc huấn luyện, và có thể sẽ đi vắng hàng nhiều năm liền. Cô ấy sẽ ra sao?"

"Đấy là vấn đề của cô ấy."

"Tớ không hiểu," tôi nói.

Chân gác lên bàn, Nagasawa nốc một ngụm bia rồi ngáp dài.

"Nghe này, tớ không có dự định lấy vợ. Tớ đã nói rất rõ chuyện này với Hatsumi. Nếu cô ấy muốn lấy ai đó thì cứ việc. Tớ sẽ không can. Nếu cô ấy muốn đợi tớ, thì cứ để cô ấy đợi. Tớ muốn nói vậy đấy."

"Tớ phải tra thì cậu mới nói đấy chứ," tôi bảo.

"Cậu nghĩ tớ là đồ cứt, phải không?"

"Phải."

"Nghe đây, thế giới là một chốn bất công cố hữu. Tớ không bày ra luật lệ. Nó vẫn như thế từ lâu rồi. Tớ chưa hề lừa dối Hatsumi một lần nào. Cô ấy biết tớ là đồ cứt và biết cô ấy có thể bỏ tớ bất cứ lúc nào cô ấy thấy không thể chịu nổi nữa. Ngay từ đầu tớ đã nói thẳng với cô ấy như thế."

Nagasawa uống nốt chổ bia rồi châm một điếu thuốc lá.

"Trên đời này không có gì làm cậu sợ ư?" tôi hỏi.

"Ê, tớ không phải là một thằng hoàn toàn ngu ngốc," Nagasawa nói. "Tất nhiên là cuộc đời đôi khi có làm tớ sợ hãi. Nhưng tớ không tự nhiên coi sợ hãi là tiền đề của mọi chuyện. Tớ sẽ sống hết mình một trăm phần trăm và hết sức đi thật xa. Tớ sẽ lấy cái tớ muốn và bỏ cái tớ không muốn. Tớ định sống như vậy đấy, còn nếu mọi chuyện chẳng ra sao thì tớ sẽ dừng lại và xem xét sau. Nếu nghĩ cho kĩ, ta sẽ thấy là xã hội bất công là một xã hội có thể tạo điều kiện cho ta khai thác hết những năng lực của mình."

"Nghe có vẻ là một cách sống hơi vị kỉ," tôi nói.

"Có lẽ thế, nhưng tớ không muốn chỉ nhìn trời và đợi quả rụng. Bằng cách riêng của mình, tớ đang làm việc cật lực. Tớ làm việc còn gấp mười lần cậu."

"Cái đó có vẻ đúng thật," tôi nói.

"Đôi khi tớ nhìn quanh và thấy phát buồn nôn. Vì lí do quái gì mà lũ mất dạy này không chịu làm một việc gì đó đi nhỉ? Tớ tự hỏi thế. Chúng không làm một việc mẹ gì hết, và rồi chúng lại rên rỉ vì chuyện ấy."

Rất ngạc nhiên vì giọng điệu gay gắt của Nagasawa, tôi nhìn hắn và nói: "Theo cách nhìn của tớ thì mọi người đều làm việc cật lực cả đấy chứ. Họ làm đến nát xương lòi da còn gì. Hay là tớ nhìn nhầm?"

"Đấy không phải là làm việc cật lực. Đấy chỉ là lao lực chân tay," Nagasawa nói bằng một giọng khẳng định không thể tranh cãi được. "Cái làm việc cật lực mà tớ nói đến nó chủ động và có tính mục đích mạnh mẽ hơn."

"Cậu muốn nói là, như việc học tiếng Tây Ban Nha trong lúc mọi người khác đều tà tà ư?"

"Đúng thế? Tớ sẽ thành thạo tiếng Tây Ban Nha vào mùa xuân sang năm. Tớ đã học xong tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức, và sắp xong tiếng Ý. Cậu cho rằng những cái như thế có được mà không phải làm việc cật lực ư?"

Nagasawa rít thuốc lá trong lúc tôi nghĩ đến bố Midori. Có một người có lẽ đã chưa từng bao giờ nghĩ đến chuyện học tiếng Tây Ban Nha trên TV. Và có lẽ ông cũng chưa từng bao giờ nghĩ đến cái khác nhau giữa làm việc cật lực và lao lực chân tay. Có lẽ ông đã quá bận rộn không thể nghĩ đến những chuyện như thế - bận công việc, và bận đi tìm đứa con gái đã bỏ nhà chạy đến tận Fukushima.

"Này, về bữa ăn tối của chúng mình ấy mà," Nagasawa nói.

"Liệu thứ Bảy này có ôkê với cậu không?"

"Ôkê," tôi nói.

Nagasawa chọn một tiệm ăn Pháp sang trọng trong một phố nhỏ yên tĩnh trong khu Azabu. Hắn xưng tên ở cửa và hai chúng tôi được dẫn vào một phòng riêng kín đáo.

Có mười lăm bức tranh in treo trên tường trong gian phòng nhỏ ấy. Trong lúc đợi Hatsumi, Nagasawa với tôi nhấp nháp rượu vang hảo hạng và tán dóc về những tiểu thuyết của Joseph Conrad. Hắn vận một bộ com-lê xám trông rất đắt tiền. Tôi vẫn mặc cái áo tây bình thường màu xanh nước biển.

Mười lăm phút sau thì Hatsumi đến. Cô trang điểm cẩn thận và đeo hoa tai vàng, mặc một bộ váy áo xanh nước biển xẫm rất đẹp, với một đôi giày đỏ rất có duyên.

Khi tôi khen bộ đồ của cô, Hatsumi bảo tôi đó là màu xanh nửa đêm.

"Nhà hàng này lịch sự quá?" Cô nói.

"Mỗi khi về Tokyo ông già tớ đều đến ăn ở đây," Nagasawa nói. "Tớ đã đến đây với ông ấy một lần. Tớ cũng chẳng mấy say mê những chỗ điệu đà thế này đâu."

"Lâu lâu được ăn ở một chỗ như thế này cũng chẳng sao," Hatsumi nói. Quay sang tôi, cô hỏi, "Cậu có đồng ý không?"

"Chắc là có. Nếu tớ không phải trả tiền."

"Ông già tớ thường mang bà nhân tình của ông ấy đến đây," Nagasawa nói. "Ông ấy có một bà ở Tokyo, các cậu biết không."

"Thật à?" Hatsumi hỏi.

Tôi nhấp một ngụm vang và làm như không nghe thấy gì.

Cuối cùng một người hầu bàn đến để chúng tôi gọi món.

Sau khi chọn món khai vị và súp, Nagasawa kêu món vịt còn Hatsumi và tôi gọi cá vược biển. Các món được dọn ra rất đủng đỉnh để chúng tôi còn có thì giờ thưởng thức rượu vang và chuyện trò. Nagasawa nói trước hết về cuộc thi tuyển của Bộ Ngoại giao. Hắn nói hầu hết thí sinh đều là hạng cặn bã đáng ném xuống vực thẳm cả, mặc dù cũng có thể có vài đứa đàng hoàng trong số đó. Tôi hỏi hắn tỉ lệ xấu tốt trong đám đó so với ngoài xa hội thì thế nào.

"Cũng rứa cả thôi," hắn đáp. "Tất nhiên rồi". Chỗ nào và ở đâu cũng vậy hết, hắn nói thêm: đó là một qui luật không thay đổi được.

Nagasawa gọi thêm một chai vang nữa với một suất đúp whisky cho riêng hắn.

Sau đó Hatsumi bắt đầu nói đến một cô gái mà cô muốn gán ghép cho tôi. Đây là chủ đề muôn thuở mỗi khi ba chúng tôi gặp nhau. Lần nào cô cũng nói với tôi về một "cô gái xinh lắm ở cùng câu lạc bộ với tớ", và lần nào tôi cũng chạy mất dép.

"Nhưng cô này thì hay thật cơ, và cũng xinh thật là xinh. Lần sau tớ sẽ đem cô ta đi cùng. Tớ chắc thể nào cậu cũng phải thích cô ấy."

"Chỉ phí thời gian thôi, Hatsumi à," tôi bảo. "Tớ quá nghèo không thể đánh đu được với những cô ở trường đại học của cậu đâu. Tớ không thể chuyện trò gì được với họ."

"Đừng có ngốc thế," cô nói. "Cô này giản dị và tự nhiên lắm, chẳng điệu bộ tí nào."

"Thôi nào, Watanabe," Nagasawa nói. "Thì cứ gặp nó cái đã. Cậu có phải dùi nó ngay đâu mà lo."

"Này này, tớ nghĩ chuyện ấy thì không nên đâu nhé," Hatsumi nói, "Con bé vẫn đồng trinh mà."

"Cũng như em ngày xưa," Nagasawa nói.

"Chính xác," Hatsumi nói với một nụ cười rạng rỡ. "Như tớ ngày xưa vậy. Nhưng thật đấy" cô nói với tôi, "đừng có nói với tớ cái giọng "quá nghèo" nữa đi. Chuyện ấy chẳng có liên quan gì ở đây cả. Đúng là năm học nào cũng có một ít bọn siêu-kênh-kiệu, nhưng ngoài ra thì bọn tớ đều bình thường cả thôi. Tất cả chúng tớ đều ăn ở nhà ăn tập thể môi suất có hai trăm rưỡi Yên…"

"Gượm đã Hatsumi," tôi nói, cắt ngang lời cô. "Ở trường tớ nhà ăn có ba loại suất ăn trưa: A, B, và C. Suất A là một trăm hai mươi Yên, suất B một trăm Yên, và suất C có tám mươi Yên thôi. Mọi người đều hằn học nhìn tớ mỗi khi tớ ăn suất A, còn ai không đủ tiền ăn suất C thì chén mì ăn liền sáu mươi Yên một bát. Tớ học ở một nơi như vậy đấy. Cậu còn nghĩ tớ có thể nói chuyện với đám con gái ở trường cậu nữa hay thôi?"

Hatsumi cười phá ra và mãi mới nín lại được. "Rẻ đến thế cơ à!" Cô nói. "Có khi tớ phải đến đó ăn trưa mất thôi! Nhưng nói thật đấy, Toru à, cậu là một anh chàng hay thế nên tớ tin cậu sẽ hợp với cô này. Có thể cô ta còn thích bữa trưa một trăm hai mươi Yên nữa cũng nên."

"Không có chuyện đó đâu," tôi cười. "Không ai ăn cái của ấy vì thích cả; họ ăn nó vì không có khả năng ăn cái gì khác."

"Nhưng thôi," Hatsumi nói, "đừng nhìn bìa mà đánh giá sách. Đúng là chúng tớ học ở cái trường kênh kiệu điệu đà ấy, nhưng rất nhiều người chúng tớ vẫn là những người nghiêm chỉnh biết suy nghĩ nghiêm chỉnh về cuộc đời Không phải ai cũng tìm bồ trai có xe ôtô thể thao đâu."

"Hẵng cứ biết thế," tôi nói.

"Watanabe có một cô rồi. Hắn đang yêu," Nagasawa nói. "Nhưng hắn không nói một lời nào về cô ấy cả. Hắn im như thóc. Một câu đố gói trong bí hiểm."

"Thật thế ư?" Hatsumi hỏi tôi.

"Thật," tôi nói. "Nhưng chẳng liên quan đến câu đố nào cả. Chỉ vì nó rắc rối, và cũng khó nói, vậy thôi."

"Một mối tình vụng trộm à? Ối giời ơi? Cậu có thể kể với tớ!"

Tôi nhấp một ngụm rượu vang để khỏi phải trả lời.

"Thấy chưa?" Nagasawa nói, đang uống cốc whisky thứ ba của hắn. "Im như thóc. Khi thằng cha này đã định không nói gì thì không ai có thể cậy răng hắn."

"Xấu hổ chưa," Hatsumi nói trong khi cắt một miếng patê mỏng đưa lên miệng. "Giá cậu công khai được với cô ấy có phải là chúng mình đi chơi tay bốn được không."

"Ờ, và chúng mình sẽ uống say rồi đổi bồ với nhau một tí," Nagasawa nói.

"Thôi đừng nói kiểu ấy nữa đi," Hatsumi nói.

"Thế nào là "nói kiểu ấy"? Watanabe chẳng để mắt đến cô là gì?" Nagasawa nói.

"Chuyện ấy chẳng liên quan gì đến điều em đang nói," Hatsumi lí nhí. "Cậu ấy không phải loại người như thế. Cậu ấy trung thực và chân tình. Em biết chứ. Nên em mới cố tìm bạn cho cậu ấy."

"Vâng, cậu chàng trung thực. Như cái lần tụi mình đổi gái với nhau ngày trước ấy phải không Watanabe?"

Nagasawa nói với một vẻ mặt chán chường, rồi nốc cạn chỗ whisky còn lại và gọi một cốc khác.

Hatsumi đặt dao dĩa xuống và dùng khăn ăn chấm chấm lên miệng. Sau đó, cô vừa nhìn tôi vừa hỏi "Toru, cậu có làm thế thật à?"

Tôi không biết trả lời cô thế nào, đành không nói gì.

"Nói cho cô ấy biết đi," Nagasawa nói. "Có cái quái gì đâu."

Không khí trở nên khó chịu. Nagasawa có thể rất xấu tính lúc say rượu, nhưng đêm nay thì hắn đang chĩa tính xấu ấy vào Hatsumi chứ không phải vào tôi. Biết thế rồi, tôi thấy mình rất khó ngồi mãi ở đó.

"Tớ muốn nghe chuyện ấy," Hatsumi nói. "Có vẻ rất thú vị đây."

"Bọn tớ đều say cả," tôi nói.

"Không sao, Toru. Tớ không trách móc gì cậu đâu. Tớ chỉ muốn cậu kể cho tớ biết chuyện gì đã xảy ra."

"Hai đứa tớ đang uống rượu trong một quán bar ở Shinjuku, và bọn tớ làm quen với một cặp gái ở đó. Chúng cũng là sinh viên đại học, và cũng đang hứng tình như chúng tớ. Thế rồi thì là, chúng tớ, cả bọn rủ nhau đến một khách sạn và ngủ với nhau. Hai phòng liền vách. Đến nửa đêm thì Nagasawa gõ cửa phòng tớ và bảo hai thằng nên đổi gái cho nhau, thế là tớ sang phòng hắn và hắn sang phòng tớ."

"Mấy cô gái có phản đối không?"

"Không, họ cũng say cả."

"Nhưng mà tớ có lí do chính đáng để làm thế," Nagasawa nói.

"Lí do chính đáng ư?"

"Thế này nhé, hai đứa con gái ấy rất khác nhau. Một đứa thì thật đẹp, còn đứa kia thì xấu như ma lem. Tớ thấy thế không công bằng. Tớ đã cặp luôn với đứa đẹp còn Watanabe thì chết kẹt với đứa kia. Đấy là lí do tại sao hai thằng phải đổi lại cho nhau. Đúng chưa hả, Watanabe?"

"Ờ, chắc là thế," tôi nói. "Nhưng thực tế là tôi lại thích cái cô xấu xí hơn. Cô ta nói chuyện có duyên và là một người tốt. Sau khi làm tình, chúng tôi đang thích thú nằm nói chuyện trên giường thì Nagasawa xuất hiện và đề nghị đổi bạn tình. Tôi hỏi cô gái có chịu không, và cô ta nói nếu chúng tôi muốn thế thì cô ấy cũng ôkê. Có thể cô ấy đã tưởng tôi muốn làm một chầu với cô đẹp gái kia.

"Cậu có vui không?" Hatsumi hỏi tôi.

"Cậu hỏi chuyện đổi chác ấy à?"

"Tất cả."

"Cũng chẳng có gì vui lắm. Chỉ là cái gì đó mình phải làm vậy thôi. Ngủ nghê kiểu ấy thì cũng chẳng vui thú gì nhiều."

"Thế sao cậu vẫn làm thế?"

"Là vì anh đây," Nagasawa nói.

"Em đang nói chuyện với Toru," Hatsumi vặc lại Nagasawa. "Tại sao cậu lại làm một việc như thế?"

"Vì đôi khi tớ thèm được ngủ với một cô gái khủng khiếp"

"Nếu cậu đang yêu ai đó, chẳng nhẽ cậu không thể đến với cô ấy cách này hay cách khác ư?"

"Nó phức tạp lắm."

Hatsumi thở dài.

Đúng lúc đó cửa phòng mở ra và người ta đem thức ăn vào. Nagasawa có cả một con vịt quay, còn Hatsumi và tôi có món cá vược biển. Mấy người hầu bàn xếp rau vừa luộc chín tới lên đĩa chúng tôi, rưới nước xốt lên chúng rồi rút lui ra khỏi phòng. Nagasawa cắt một lát thịt vịt và ăn ngấu nghiến, rồi lại uống whisky. Tôi cho lên miệng cả một gắp đầy rau spinach. Hatsumi không động đến đồ ăn của cô.

"Cậu biết không, Toru," cô nói, "tớ không biết cái gì khiến cho chuyện của cậu lại rắc rối đến vậy, nhưng tớ vẫn nghĩ loại chuyện như cậu vừa kể là không đúng với cậu. Cậu không phải là loại người như thế. Cậu nghĩ sao?" Cô đặt cả hai tay lên bàn và nhìn vào mắt tôi.

"Nói thật," tôi nói, "Đôi khi tớ cũng tự cảm thấy như vậy."

"Thế tại sao cậu không dừng lại được?"

"Bởi vì nhiều lúc tớ rất thèm mùi người ấm áp," tôi chân thành đáp. "Có những lúc, nếu tớ không có được cái ấm áp như của da thịt đàn bà, tớ thấy cô đơn đến mức không thể chịu nổi."

"Đây này, để anh tóm tắt tất cả những chuyện ấy theo cách hiểu của anh nhé," Nagasawa chen vào.

"Watanabe hắn có cô gái mà hắn thích, nhưng vì một số lí do rắc rối nào đó, hai đứa không thể làm chuyện ấy được. Thế là hắn tự nhủ "Tình dục là tình dục", và liền thoả mãn nhu cầu của mình với người khác. Thế thì có gì sai nào? Hoàn toàn hợp lí là đằng khác. Hắn không thể chỉ ở trong phòng và thủ dâm suốt ngày được, phải không nào?"

"Nhưng nếu cậu thực sự yêu cô ấy, Toru, liệu cậu có thể tự kiềm chế được không?"

"Cũng có thể," tôi nói, đưa một miếng cá vược có xốt kem lên miệng.

"Cô chẳng hiểu gì về nhu cầu tình dục của đàn ông," Nagasawa nói với Hatsumi. "Cứ xem tôi đây này. Tôi đã cặp với cô ba năm nay rồi, và trong thời gian đó tôi cũng ngủ với khối đàn bà. Nhưng tôi chẳng nhớ mẹ gì về họ hết. Tôi không biết tên họ, tôi không nhớ mặt mũi họ ra sao. Tôi chỉ ngủ với mỗi người đúng một lần thôi. Gặp, rồi làm chuyện đó, rồi vĩnh biệt. Có thế thôi. Thế thì có gì là sai nào?"

"Cái mà tôi không thể chịu được là thái độ ngạo mạn của anh," Hatsumi nói bằng giọng nhẹ nhàng. "Anh có ngủ với đàn bà khác hay không chẳng có liên quan gì trong chuyện này. Tôi cũng chưa bao giờ thật sự giận anh vì chuyện anh ngủ lang như thế, phải không nào?"

"Cô không thể gọi việc tôi làm là ngủ lang được. Đó chỉ là một trò chơi. Chẳng ai bị tổn thương cả?" Nagasawa nói.

"Tôi bị tổn thương chứ," Hatsumi nói. "Tôi không đủ với anh sao?"

Nagasawa giữ im lặng một lúc và lắc tròn cốc whisky trong tay.

"Không phải chuyện cô không đủ với tôi. Đó là một giai đoạn khác, một vấn dề khác. Mà là cái thèm khát trong con người của tôi kia. Nếu tôi đã làm cô tổn thương thì tôi xin lỗi. Nhưng nó không phải chuyện cô có đủ cho tôi hay không. Tôi không thể sống với nỗi thèm khát ấy. Con người tôi nó vậy. Đó là cái làm cho tôi chính là tôi. Tôi không thể làm gì được, cô có thấy không?"

Cuối cùng Hatsumi cầm dao dĩa lên và bắt đầu ăn món cá vược của mình. "Ít ra thì anh cũng không nên lôi kéo Toru vào những trò chơi ấy của anh."

"Nhưng chúng tôi có nhiều cái giống nhau, Watanabe và tôi," Nagasawa nói. "Cả hai chúng tôi đều không quan tâm đến bất kì chuyện gì khác ngoài bản thân mình, nói tóm lại là vậy. Ôkê, thì tôi ngạo mạn còn hắn thì không, nhưng cả hai chúng tôi đều chỉ có khả năng cảm thấy thú vị về những cái mà chính mình suy nghĩ, cảm xúc và tạo tác. Chính vì thế mà chúng tôi có thể suy nghĩ về mọi chuyện một cách hoàn toàn khác biệt với mọi người. Đó là cái tôi thích ở hắn. Chỉ có một cái khác nhau là hắn còn chưa nhận thức được chính mình, và do vậy mà hắn còn lưỡng lự và vẫn còn bị tổn thương."

"Có con người nào mà không lưỡng lự và không bị tổn thương" Hatsumi chất vấn. "Có phải anh đang nói rằng bản thân anh chưa bao giờ cảm thấy những cái đó?"

"Tất nhiên là có, nhưng tôi đã rèn luyện mình đến mức có thể hạn chế chúng đến tối đa. Ngay cả chuột cũng sẽ chọn con đường ít đau đớn nhất nếu ta làm nó choáng váng đủ độ."

"Nhưng chuột không biết yêu?"

"Chuột không biết yêu," Nagasawa nhìn sang tôi. "Hay tuyệt! Chúng ta nên có nhạc nền cho câu nói này - một dàn nhạc đầy đủ với hai cây thụ cầm và…"

"Đừng có chế giễu tôi. Tôi nói nghiêm chỉnh đấy."

"Chúng ta đang ăn mà, Nagasawa nói. "Và Watanabe đang ở đây. Có lẽ sẽ lịch sự hơn nếu hai ta để dành câu chuyện nghiêm chỉnh ấy cho một dịp khác.

"Tớ có thể về," tôi bảo.

"Không được," Hatsumi nói. "Xin cậu hãy ở lại. Có cậu ở đây thì tốt hơn."

"Ít nhất cũng ăn tráng miệng đã," Nagasawa nói.

"Tớ thế nào cũng được mà, thật đấy."

Ba chúng tôi im lặng ăn một lúc lâu. Tôi ăn hết món cá của mình. Hatsumi bỏ mứa một nửa. Nagasawa đã chén sạch món vịt của hắn từ lâu và đang tập trung vào whisky.

"Món cá vược tuyệt lắm," tôi lên tiếng, nhưng không ai buồn tiếp lời. Giống như tôi vừa ném một viên sỏi xuống giếng sâu vậy.

Mấy người hầu bàn dọn đĩa đi và mang vào nước chanh ép ướp lạnh và cà-phê vào. Nagasawa hầu như không động đến món tráng miệng với cà-phê, mà lấy luôn thuốc lá ra hút. Hatsumi phớt lờ món nước chanh.

"Thế là chết rồi," tôi nghĩ thầm trong lúc uống hết phần nước chanh và cà-phê của mình. Hatsumi dán mắt vào hai bàn tay cô đặt trên bàn. Cũng như mọi thứ trên người cô, hai bàn tay ấy trông sành điệu, thanh lịch và đắt tiền. Tôi nghĩ đến Naoko và Reiko. Bây giờ họ đang làm gì? tôi tự hỏi. Naoko có lẽ đang nằm trên sô-pha đọc sách, còn Reiko có lẽ đang chơi bài "Rừng Na-uy" bằng ghi-ta. Tôi cảm thấy một thèm khát mãnh liệt được trở lại gian phòng nhỏ ấy của họ. Tôi đang làm cái quái gì ở đây thế này?

"Cái giống nhau giữa Watanabe và tôi là ở chỗ chúng tôi chẳng thèm bận tâm cái cứt gì nếu không có ai hiểu mình," Nagasawa nói. "Đó là cái khiến chúng tôi khác với mọi người. Tất cả bọn họ đều lo không biết mọi người xung quanh có hiểu họ hay không. Tôi thì không thế, và Watanabe cũng vậy. Chúng tôi coi chuyện đó như cứt. Bản ngã và tha nhân là cách biệt."

"Có thật thế không?" Hatsumi hỏi tôi.

"Không," tôi nói. "Tớ không mạnh mẽ thế đâu. Tớ không thấy ôkê nếu chẳng có ai hiểu mình. Tớ có những người mà tớ muốn hiểu và được họ hiểu mình. Nhưng ngoài vài người ấy ra, thì nói thật, tớ cảm thấy như tuyệt vọng hoàn toàn. Tớ không đồng ý với Nagasawa. Tớ có quan tâm đến việc được người khác hiểu mình."

"Điều đó thực ra cũng chính là điều tôi vừa nói," Nagasawa nói, tay nhặt cái thìa khuấy cà-phê lên. "Hệt như nhau! Chỉ là sự khác nhau giữa một bữa điểm tâm muộn và một bữa trưa sớm. Thời gian như nhau, thức ăn giống nhau, chỉ khác có cái tên."

Bây giờ thì Hatsumi nói với Nagasawa. "Anh có quan tâm đến việc tôi có hiểu anh hay là không?"

"Cô vẫn chưa hiểu, phải không nào?" Người A hiểu người B bởi vì đã đến đúng thời điểm để chuyện đó diễn ra, chứ không phải vì người B muốn được người A hiểu mình."

"Như vậy là tôi sai lầm khi cảm thấy tôi muốn ai đó hiểu mình - ví dụ là anh chẳng hạn"

"Không, đó không phải là sai lầm," Nagasawa đáp. "Hầu hết mọi người sẽ gọi đó là tình yêu, nếu cô nghĩ cô muốn hiểu tôi. Hệ thống sống của tôi khác hẳn với những hệ thống sống của mọi người."

"Như vậy điều anh đang nói có nghĩa là anh không yêu tôi, có phải thế không?"

"Thế này nhé, hệ thống của tôi và hệ thống của cô…"

"Vứt mẹ cái hệ thống mắc dịch của anh đi!"

Hatsumi quát lớn. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối cùng tôi nghe cô quát lớn như vậy.

Nagasawa bấm nút chuông cạnh bàn, và người hầu bàn trở lại với giấy tính tiền. Nagasawa đưa cho ông ta cái thẻ tín dụng.

"Xin lỗi vì chuyện này, Watanabe," Nagasawa nói.

"Tớ sẽ đưa Hatsumi về nhà. Cậu đi một mình về khu học xá nhé, được không?"

"Cậu không phải xin lỗi tớ làm gì. Bữa ăn ngon tuyệt," tôi nói, nhưng chẳng ai đáp lại câu nào.

Người hầu bàn đem cái thẻ tín dụng và hoá đơn tới, và Nagasawa dùng bút bi kí vào đó sau khi đã kiểm tra số tiền. Sau đó ba chúng tôi đứng dậy và ra khỏi quán.

Nagasawa định bước xuống phố vẫy taxi nhưng Hatsumi ngăn anh ta lại.

"Cám ơn, nhưng hôm nay tôi không muốn ở cạnh anh thêm một tí nào nữa. Anh không phải đưa tôi về nhà đâu. Cám ơn về bữa tối."

"Thế nào cũng xong," Nagasawa nói.

"Tôi muốn Toru đưa tôi về nhà."

"Thế nào cũng xong," Nagasawa nói. "Nhưng Watanabe thực tế chẳng khác gì tôi. Hắn có thể là một anh chàng hay đấy, nhưng tận đáy lòng hắn cũng không thể yêu ai được đâu. Lúc nào hắn cũng có một phần ở đâu đó rất tỉnh táo và hoàn hoàn xa lánh. Và hắn cũng bị cái thèm khát kia giày vò khôn nguôi. Cứ tin tôi đi, tôi biết mình đang nói gì mà."

Tôi vẫy một cái taxi và để Hatsumi lên xe trước.

"Thôi được rồi," tôi nói với Nagasawa, "Tớ cam đoan sẽ đưa cô ấy về tận nhà."

"Xin lỗi đã đưa cậu vào chuyện này," Nagasawa nói, nhưng tôi có thể thấy là hắn đã đang nghĩ sang chuyện khác rồi.
Khi đã ngồi trong xe, tôi hỏi Hatsumi, "Cậu muốn đi đâu? Về Ebisu nhé". Căn hộ của cô ở Ebisu.

Cô lắc đầu.

"Ôkê. Thế đi uống ở đâu đã nhé!"

"Ờ" cô gật đầu.

"Đến Shibuya," tôi bảo lái xe.

Khoanh tay và nhắm mắt, Hatsumi ngồi lọt thỏm vào góc ghế. Bộ hoa tai vàng của cô phản chiếu ánh đèn và lấp lánh khi chiếc xe lượn qua lượn lại. Bộ đồ màu xanh nửa đêm của cô có vẻ như đã được thửa riêng để hoà hợp với bóng tối ở trong xe. Thỉnh thoảng, cặp môi tuyệt đẹp được trang điểm nhẹ nhàng của cô lại hơi rung rung như thể cô sắp sửa nói điều gì đó với chính mình.

Ngắm nhìn cô, tôi có thể thấy tại sao Nagasawa đã chọn cô làm bạn đồng hành đặc biệt. Không thiếu những người đàn bà còn đẹp hơn Hatsumi, và Nagasawa có thể cặp với bất kì ai mà hắn muốn. Nhưng Hatsumi có một phẩm chất gì đó có thể làm rung động đến tận đáy lòng ta. Nó không khiên cưỡng tí nào. Cái sức mạnh của cô là một thứ tinh tế, nhưng nó gây nên những cộng hưởng sâu thẳm. Tôi ngắm nhìn cô suốt quãng đường đến Shibuya và tự hỏi mà vẫn không tìm được câu trả lời, rằng cái rung động tình cảm mà tôi đang trải nghiệm ấy có thể là cái gì?

Hàng chục năm sau tôi mới tìm thấy câu trả lời ấy. Lúc ấy tôi đến Santa Fe phỏng vấn một hoạ sĩ và đang ngồi trong một tiệm pizza địa phương, uống bia, ăn pizza và ngắm vẻ đẹp thần tiên của cảnh chiều tà ở đó. Mọi vật thấm đậm một màu đỏ rực - bàn tay tôi, cái đĩa, cái bàn, toàn thế giới như thể một thứ nước quả gì đặc biệt đã trút đầy xuống tất cả mọi thứ. Giữa cảnh hoàng hôn choáng ngợp ấy, hình ảnh Hatsumi bỗng loé lên trong tâm trí tôi, và ngay lúc ấy tôi chợt hiểu ra cơn rung động tận đáy lòng ấy là gì. Nó là một thứ khao khát ấu thơ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ thực hiện được. Trước đó tôi quên mất sự tồn tại của nỗi khát khao ngây thơ và gần như ghi xương khắc cốt ấy, đã quên mất trong bao nhiêu năm rằng mình đã từng có những tình cảm như thế. Cái mà Hatsumi đã khuấy động lên trong tôi là một phần của chính bản ngã tôi đã thiếp ngủ bấy lâu.

Và khi niềm phát ngộ ấy ập đến, nó đánh thức một nỗi buồn đau đớn đến mức tôi suýt khóc oà lên ngay lúc ấy. Cô đã là một người đàn bà đặc biệt như vậy đấy. Nhẽ ra đã phải có ai làm cái gì đó - bất kì cái gì - để cứu cô ấy.

Nhưng cả Nagasawa lẫn tôi đều không thể làm được điều đó. Giống như bao nhiêu người khác mà tôi đã biết, Hatsumi đã đạt đến một giai đoạn nào đó của cuộc sống và đã quyết định - hầu như hoàn toàn bất ngờ kết thúc nó. Hai năm sau khi Nagasawa đi sang Đức, cô lấy chồng, và hai năm sau đó cô đã dùng dao cạo cứa đứt cổ tay mình.

Chính Nagasawa, tất nhiên rồi, là người báo tin cho tôi biết. Bức thư của hắn gửi từ Bonn viết như sau: "Cái chết của Hatsumi đã làm tiêu tan một cái gì đó. Chuyện này thật đau buồn không thể chịu nổi, ngay cả đối với tớ". Tôi đã xé nát bức thư ấy và ném nó đi. Từ đó tôi không bao giờ thư từ với hắn nữa.

Hatsumi và tôi đến một quán bar nhỏ và nốc cạn nhiều tuần rượu. Cả hai chúng tôi chẳng nói gì nhiều. Như một cặp vợ chồng già buồn chán, chúng tôi ngồi đối diện nhau, im lặng uống và nhai lạc. Khi chỗ đó đã đông nghẹt, chúng tôi bỏ ra ngoài đi dạo phố. Hatsumi nói cô sẽ trả tiền, nhưng tôi cương quyết không cho vì chính tôi nghĩ ra chuyện đi uống rượu.

Không khí ban đêm giá buốt căm căm. Hatsumi khép chặt chiếc áo len mặc ngoài và im lặng bước bên tôi. Tôi không biết đi đâu khi chúng tôi lang thang qua các con phố trong đêm, hai tay tôi thọc sâu vào túi quần.

Rất giống những lần tôi đi bộ với Naoko, tôi chợt nhận ra thế.

"Cậu có biết chỗ nào mình có thể chơi bi-a gần đây không?" Hatsumi đột ngột hỏi.

"Bi-a ư?" Cậu biết chơi à?"

"Ô, khá là đằng khác. Cậu thì sao?"

"Tớ chơi được chút chút. Không giỏi."

"Ôkê, mình đi chơi nào."

Chúng tôi tìm ra được một phòng chơi bi-a gần đó.

Một quán nhỏ ở mãi cuối ngõ. Hai chúng tôi - Hatsumi trong bộ đồ sành điệu và tôi với cái áo tây xanh và cà-vạt cà tẩm - trông chẳng ăn nhập gì với quán bi-a nhộn nhạo ấy, nhưng có vẻ như Hatsumi chẳng hề bận tâm đến chuyện ấy khi cô chọn và thoa sáp vào mũi gậy. Cô rút một cái dải buộc đầu trong túi ra và buộc túm một bên tóc lên để khỏi vướng lúc chơi. chúng tôi chơi hai ván. Hatsumi chơi khá như lời cô nói, còn tôi thì lúng ta lúng túng vì một bàn tay còn băng bó dày cộp. Cô hạ tôi thảm hại.

"Cậu giỏi thật," tôi khâm phục nói.

"Cậu muốn nói nhìn bề ngoài không thể biết được người, đúng không?" Cô hỏi khi vừa ngắm một cú thọc vừa mỉm cười.

"Cậu học chơi như vậy ở đâu thế?"

"Ông tớ - bố của bố tớ - là một tay chơi già đời. Cụ có bàn bi-a ở nhà. Tớ thường chơi với anh tớ cho vui thôi, nhưng khi lớn hơn một tí thì ông tớ dạy tớ chơi với những nước đi có bài bản hẳn hoi. Ông cụ là một gã tuyệt vời rất đúng mốt, và đẹp trai. Nhưng cụ mất rồi. Cụ vẫn thưởng khoe đã từng gặp Deanna Durbin ở New York."

Cô đi trúng ba nước liền, rồi trượt nước thứ tư. Tôi loay hoay mãi mới ăn được một điểm, rồi lại hỏng mất một nước rất ngon.

"Tại cái băng tay đấy," Hatsumi nói để an ủi tôi.

"Không, tại tớ đã lâu rồi không chơi," tôi nói, "hai năm và năm tháng rồi."

"Sao cậu nhớ rõ thế?"

"Bạn tớ chết đúng cái đêm chúng tớ chơi ván cuối cùng với nhau," tôi nói.

"Thế là cậu không chơi nữa à?"

"Không, cũng không hẳn thế," tôi nói sau khi đã nghỉ một tí. "Chỉ là vì sau đó tớ chẳng có cơ hội nào để chơi nữa. Vậy thôi."

"Bạn cậu chết như thế nào?"

"Tai nạn xe cộ."

Cô đi nhiều nước nữa, ngắm rất nghiêm túc và điều chỉnh lực của từng nước rất chính xác. Ngắm nhìn cô chơi - mái tóc chải cẩn thận buộc lên để khỏi vướng mắt, bộ hoa tai vàng óng ánh, đôi giày đỏ vững vàng trên sàn nhà, những ngón tay mảnh dẻ đáng yêu ép chặt lên mặt nỉ xanh nâu khi cô động thủ nước đi - tôi có cảm giác như phần quán bi-a có cô đứng chơi đã biến thành một sự kiện xã hội tao nhã nào đó. Trước đó tôi chưa bao giờ được một mình với cô, và đó là một trải nghiệm tuyệt vời đối với tôi như thể tôi đã được kéo lên một tầng cao hơn của cuộc đời. Đến cuối ván thứ ba - mà tất nhiên là cô lại hạ tôi - thì vết thương của tôi bắt đầu đau phập phồng, và chúng tôi dừng chơi.

"Tớ xin lỗi," cô nói với vẻ quan tâm rất thực lòng, "nhẽ ra tớ không nên gợi ý chuyện này."

"Không sao mà," tôi nói. "Tớ đứt tay thường thôi mà, và tớ thích chơi. Thật đấy."

Khi chúng tôi rời quán bi-a, bà chủ gày gò nói với Hatsumi, "Cô có con mắt tinh đời đấy, em gái ạ."

Hatsumi nở một nụ cười ngọt ngào với bà ta và cám ơn bà khi trả tiền.

"Có đau không?" Cô hỏi khi chúng tôi đã ra bên ngoài.

"Không đau lắm," tôi nói.

"Cậu nghĩ nó có bị toác lại không?"

"Không, chắc không sao đâu."

"Tớ biết rồi? Cậu nên đến chỗ tớ. Tớ sẽ thay băng cho cậu. Tớ có thuốc sát trùng và đủ mọi thứ. Nào, tớ ở ngay đằng kia kìa."

Tôi nói không có gì đáng lo và rằng tôi không sao, nhưng cô khăng khăng phải kiểm tra xem vết cắt có bị toác lại hay không.

"Hay là cậu không muốn ở bên cạnh tớ nữa" Cậu muốn về phòng cậu càng sớm càng tốt phải không nào?" cô nói với một nụ cười ranh mãnh.

"Không có chuyện đó đâu," tôi nói.

"Được rồi, vậy thì đừng đứng nghiêm ra như vậy nữa. Đi mấy bước nữa thôi mà."

Chỗ Hatsumi ở cách khu Shibuya chừng mười lăm phút đi bộ về phía Ebisu. Không phải là một cao ốc sang trọng hào nhoáng, nhưng vẫn hơn mức đàng hoàng, với một sảnh chờ nho nhỏ rất hay và một cầu thang máy.

Hatsumi bảo tôi ngồi bên cái bàn trong bếp rồi vào phòng ngủ thay đồ. Cô trở lại với một cái áo chui đầu Princeton có mũ chùm, quần vải bông, và không đeo hoa tai nữa. Đặt một bộ đồ cấp cứu xuống bàn, cô tháo băng, kiểm tra xem vết cắt đã liền da chưa, bôi một ít thuốc sát trùng vào quanh đó và quấn một cái băng mớí lên vết thương. Cô làm mọi thứ như một chuyên gia vậy.

"Sao cậu giỏi nhiều thứ thế?" Tôi hỏi.

"Tớ thường làm tình nguyện ở một bệnh viện. Kiểu như chơi trò hộ lí. Vì thế tớ học được những việc này."

Khi đã xong việc băng bó, Hatsumi đi kiếm hai hộp bia trong tủ lạnh. Cô uống nửa hộp, còn tôi uống hết hộp của mình và cả chỗ còn lại của cô. Sau đó cô cho tôi xem ảnh các cô gái trong câu lạc bộ của mình. Cô nói đúng: một vài cô trong bọn thật xinh.

"Bất kì lúc nào cậu quyết định có một cô bạn gái, hãy đến tớ," cô nói. "Tớ sẽ giải quyết ngay cho cậu."

"Vâng, thưa quí cô."

"Thôi được rồi, Toru, nóí thật đi, cậu cho tớ là một mụ mối già phải không?"

"Ở một mức độ nào đó thôi," tôi nói thật, nhưng với một nụ cười. Hatsumi cười theo. Cô cười trông rất hay.

"Nói tớ nghe nữa nhé, Toru," cô nói. "Cậu nghĩ thế nào về tớ với Nagasawa"

"Tớ nghĩ thế nào nghĩa là sao?" Về cái gì?"

"Về chuyện tớ phải làm gì. Từ nay trở đi."

"Tớ có nghĩ gì thì cũng vậy thôi," tôi nói, tợp một ngụm bia lạnh.

"Thì có sao đâu. Cứ nói đúng ý nghĩ của cậu xem nào?"

"Thế này nhé, nếu tớ là cậu, tớ sẽ bỏ hắn. Tớ sẽ tìm một ai đó có cách nhìn sự vật bình thường hơn và sống với vui vẻ đến trọn đời. Có xuống đến địa ngục cậu cũng không thể hạnh phúc với hắn được đâu. Cái lối hắn sống, hắn không bao giờ nghĩ đến chuyện làm cho chính hắn hoặc người khác được hạnh phúc. Ở với hắn chỉ tổ làm thần kinh cậu phát loạn lên thôi. Tớ thấy cậu chơi với hắn được ba năm vừa rồi thì cũng thật là kì lạ. Tất nhiên, tớ rất mến hắn theo cách riêng của tớ. Hắn rất quấy, rất nhiều phẩm chất. Hắn có những sức mạnh và năng lực mà tớ không thể hy vọng có được. Nhưng cuối cùng thì quan niệm của hắn về mọi chuyện cũng như cách hắn sống là không bình thường. Đôi khi nói chuyện với hắn tớ cảm thấy như mình đang chạy vòng vo mãi xung quanh. Hắn leo lên cao cũng theo một quá trình vòng vo như thế. Tớ thấy rất trống rỗng! Phải nói là hệ thống của hai đứa hoàn toàn khác nhau. Cậu hiểu tớ nói gì không?"

"Có," Hatsumi nói khi lấy trong tủ lạnh ra cho tôi một hộp bia nữa.

"Hơn nữa, sau khi hắn vào Bộ Ngoại giao và xong một năm huấn luyện, hắn sẽ ra nước ngoài. Cậu sẽ làm gì lúc đó? Đợi hắn ư? Hắn không có ý định lấy ai cả."

"Tớ cũng biết điều đó."

"Vậy thì tớ chẳng có gì phải nói nữa."

"Tớ thấy rồi," Hatsumi nói.

Tôi rừ từ rót bia ra cốc.

"Cậu biết không, khi bọn mình chơi bi-a lúc nẫy, tớ bỗng nhận ra một điều," tôi nói. "Tớ là con một, nhưng tớ lớn lên mà không bao giờ thấy thiếu thốn hoặc ước ao được có anh có chị. Tớ sung sướng được một mình. Nhưng đột nhiên, khi chơi bi-a với cậu, tớ có cảm giác mình ước ao có một người chị gái giống như cậu - thật sành điệu và choáng ngợp trong một bộ đồ màu xanh nữa đêm với hoa tai vàng với cây gậy bi-a điệu nghệ"

Hatsumi tặng tôi một nụ cười rạng rỡ. "Đấy đúng là một điều tốt đẹp nhất tớ được nghe về mình trong suốt cả năm qua," cô nói. "Thật đấy."

"Tất cả những gì tớ mong muốn cho cậu," tôi đỏ bừng mặt, "là mong cậu được hạnh phúc. Nghe có vẻ điên. Vì hình như cậu là người có thể hạnh phúc với bất kì ai, mà tại sao cuối cùng lại vướng vào Nagasawa"

"Những chuyện như vậy vẫn xảy ra mà. Và có lẽ mình chẳng làm gì được. Trường hợp của tớ là thế đấy. Tất nhiên, Nagasawa sẽ bảo đó là trách nhiệm của tớ chứ không phải của anh ta."

"Tớ cũng nghĩ thế."

"Nhưng dù sao thì tớ cũng chẳng phải là đứa con gái thông minh nhất thế giới, Toru à. Mà thực ra, tớ còn thuộc loại ngu đần và cổ lỗ nữa. Tớ không thể để ý đến những trò "hệ thống" hay "trách nhiệm" này nọ. Tớ chỉ muốn lấy chồng và được người tớ yêu ôm ấp mỗi đêm và sinh con đẻ cái mà thôi. Với tớ thế là nhiều lắm rồi. Trên đời này tớ chỉ muốn có vậy."

"Còn cái mà Nagasawa muốn ở đời này lại chẳng liên quan gì đến chuyện ấy."

"Nhưng người ta còn thay đổi, phải không hả cậu?" Hatsumi hỏi.

"Cậu muốn nói là họ sẽ ra đời rồi ăn đòn và lớn lên hay sao?"

"Ơ, và nếu anh ấy xa tớ một thời gian, tình cảm của anh ấy với tớ có thể sẽ khác, có phải không?"

"Cũng có thể, nếu hắn là một anh chàng bình thường," tôi nói. "Nhưng hắn khác. Hắn cực kì sắt đá - hơn cậu với tớ tưởng nhiều. Và hắn sẽ chỉ sắt đá hơn theo thời gian mà thôi. Nếu có chuyện gì khiến hắn phải ăn đòn, hắn sẽ dùng ngay chuyện đó để rèn cho mình sắt đá hơn. Hắn đã nuốt cả ốc sên trước khi nhượng bộ. Cậu có thể mong đợi gì ở một con người như thế?"

"Nhưng tớ không thể làm được gì trừ việc chờ đợi anh ấy," Hatsumi nói, tay chống cằm.

"Cậu yêu hắn đến thế ư?"

"Đúng vậy," cô nói, không hề lưỡng lự chút nào.

"Chao ôi," tôi thở dài nói, rồi uống nốt chỗ bia của mình. "Tin chắc là mình yêu ai đến thế hẳn phải là một cảm giác tuyệt vời lắm."

"Tớ là một con bé ngu xuẩn và cổ lỗ," cô nói. "Uống thêm bia nữa nhé"

"Thôi, cám ơn, tớ phải đi thôi. Cám ơn cậu đã thay băng và cho tớ uống bia."

Trong lúc tôi đứng chỗ cửa vào để đi giày thì có tiếng điện thoại reo. Hatsumi nhìn tôi, rồi nhìn cái phôn, rồi lại nhìn tôi.
"Ngủ ngon nhé," tôi chào rồi bước ra ngoài. Lúc đóng cửa, tôi còn thoáng thấy Hatsumi nhấc điện thoại.

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cô. Về đến khu học xá thì đã là mười một rưỡi, tôi đi thẳng đến phòng Nagasawa và gõ cửa. Gõ đến lần thứ mười tôi mới nhớ ra bấy giờ đang là đêm thứ Bảy. Nagasawa bao giờ cũng lấy giấy phép qua đêm vào thứ Bảy với lí do về ở nhà họ hàng.

Tôi về phòng mình, tháo cà-vạt, treo áo tây và quần lên mắc, thay đồ mặc nhà, rồi đánh răng. Ôi chao, tôi nghĩ bụng, mai đã lại là Chủ nhật rồi! Hình như cứ bốn ngày đã lại đến Chủ nhật. Hai Chủ nhật nữa thôi là tôi sẽ tròn hai mươi tuổi. Tôi nằm dài trên giường và dán mắt vào tờ lịch trong lúc những cảm giác âm u cứ thế tràn tới như những đợt sóng.

Tôi ngồi bên bàn học để viết bức thư Chủ nhật cho Naoko, uống cà-phê bằng một cái cốc to và nghe nhạc Miles Davis. Trời đang mưa nhẹ ở bên ngoài, còn trong phòng thì lạnh cóng như một cái bể cá. Mùi băng phiến thoang thoảng ở chiếc áo len dày tôi vừa lấy từ trong một hộp chứa đồ ra. Tít trên cao tấm kính cửa sổ có một con nhặng to đùng đang bám chặt không động đậy. Không có gió, lá cờ Mặt Trời Mọc ủ rũ trên cột như dải áo của một nghị viên La Ma. Một con chó nâu gày nhom nhút nhát không biết từ đâu lạc vào sân học xá đang hít hít ngửi ngửi từng bông hoa một trong luống. Tôi không thể tưởng tượng tại sao lại có con chó đi loanh quanh ngửi hoa như thế dưới trời mưa.

Bức thư của tôi dài. Mỗi khi bàn tay phải bị cứa của tôi bắt đầu thấy đau vì cầm bút, tôi lại ngồi nhìn ra cửa sổ và đưa mắt xuống sân nhà ướt dưới mưa.

Mở đầu thư, tôi kể cho Naoko chuyện bị đứt tay ở tiệm đĩa hát, rồi đến chuyện Nagasawa, Hatsumi và tôi đã có một bữa ăn mừng đêm hôm nọ vì Nagasawa đã đỗ kì thi tuyển vào Bộ Ngoại giao. Tôi mô tả tiệm ăn và món ăn. Thức ăn thì tuyệt, tôi viết, nhưng nửa chừng bữa ăn thì không khí bắt đầu khó chịu.

Tôi tự hỏi không biết có nên nhắc đến Kizuki khi viết về lúc chơi bi-a với Hatsumi hay không, rồi quyết định cứ làm vậy. Tôi cảm thấy mình phải viết chuyện đó.

Mình vẫn nhớ nước đi cuối cùng của Kizuki ngày hôm ấy - ngày mà cậu ấy chết. Đó là một nước bật tường rất khó mà mình không nghĩ là cậu ấy có thể thực hiện được. Nhưng hình như vận may đang đến với cậu ấy: nước đi ấy thật hoàn hảo, và hai trái bóng trắng và đỏ hầu như không gây nên tiếng động nào khi chúng chỉ khẽ chạm vào nhau trên nền nỉ xanh nâu và ghi điểm cho tỉ số cuối cùng của ván ấy. Đó quả là một nước đi tuyệt đẹp, mình vẫn còn nhớ nó như in cho đến tận hôm nay. Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, mình không sờ đến cây gậy bi-a một lần nào.

Đêm mình chơi bi-a với Hatsumi, mãi đến cuối ván thứ nhất mình mới nhớ đến Kizuki, và hoàn toàn bị choáng. Mình vẫn đinh ninh là hễ đã chơi bi-a là mình sẽ nhớ đến Kizuki. Thế mà mãi đến hết ván thứ nhất rồi mình đã mua một hộp Pepsi ở máy tự động và bắt đầu uống thì mình mới chợt nhớ đến cậu ấy.

Chắc là nhờ có cái máy tự động ấy. Ở chỗ mình với Kizuki chơi với nhau cũng có một cái máy như thế, và chúng mình thường cuộc thắng thua bằng đồ uống mua ở đó.

Mình cảm thấy có lỗi đã không nhớ ngay đến Kizuki, như thể mình đã bỏ rơi cậu ấy. Nhưng khi về đến nhà rồi thì mình lại nghĩ thế này: chuyện xảy ra đã được hai năm rưỡi rồi, và Kizuki thì vẫn mười bảy tuổi. Không phải điều đó có nghĩa là kí ức về cậu ấy của mình đã phai mờ. Những thứ mà cái chết của cậu ấy đã gợi lên vẫn còn đó, sáng sủa rõ ràng, ngay bên trong mình, và một số còn rõ ràng hơn cả lúc đầu.

Điều mình muốn nói ở đây là: mình sắp tròn hai mươi tuổi. Một phần những gì Kizuki và mình đã chia sẻ với nhau lúc hai đứa còn mười sáu, mười bay tuổi đã biến mất rồi, và không thể cứ khóc lóc mai mà lấy lại được chúng. Mình không thể giải thích rõ hơn được nữa, nhưng mình nghĩ có thể cậu sẽ hiểu cảm giác của mình và điều mình đang nói đây. Và có lẽ cậu là người duy nhất trên đời có thể hiểu được những chuyện này.

Mình đang nghĩ đến cậu nhiều hơn bao giờ hết. Hôm nay mưa. Chủ nhật mưa là rất khổ cho mình. Khi trời mưa, mình không thể giặt giũ, tức là cũng không thể là quần là áo được. Mình không thể di dạo, mà cũng chẳng lên nằm trên mái nhà được. Mình chỉ có thể để máy quay đã ở chế độ tự động và nghe đi nghe lại chương trình Kind of Blue trong khi nhìn mưa rơi dưới sân ngoài kia. Như mình đã viết cho cậu trước đây, mình không lên dây cót cho bản thân vào Chủ nhật. Chính vì vậy mà thư này mới dài dòng như thế. Mình dừng bút đây. Mình đi ăn trưa dưới nhà ăn.

Tạm biệt.



Chương 9:

Giờ học ngày hôm sau tôi vẫn không thấy bóng dáng Midori đâu. Cô có chuyện gì vậy? Mười ngày đã trôi qua kể từ lần chúng tôi nói chuyện với nhau trên điện thoại. Tôi đã định gọi cô, nhưng lại thôi. Cô đã nói rằng cô sẽ gọi cho tôi.

Thứ Năm tuần ấy tôi gặp Nagasawa trong nhà ăn. Hắn ngồi xuống cạnh tôi với một khay đầy ụ thức ăn và xin lỗi đã làm cho buổi "liên hoan" hôm trước thành ra không vui như vậy.

"Không sao," tôi nói. "Tớ mới phải cám ơn cậu vì bữa ăn thịnh soạn đến thế. Nhưng cũng phải công nhận là kiểu ăn mừng nghề nghiệp mới của cậu như thế thật buồn cười."

"Cậu có thể nói lại câu ấy."

Vài phút trôi qua và chúng tôi vẫn lăng lặng ăn.

"Tớ làm lành với Hatsumi rồi," hắn nói.

"Tớ không ngạc nhiên đâu."

"Tớ cũng đã căng thẳng cả với cậu nữa, nếu tớ nhớ không nhầm."

"Xin lỗi xin lủng thế này là thế nào?" tôi hỏi. "Cậu ốm à?"

"Có lẽ," hắn nói, gật gật đầu máy cái nhè nhẹ.

"Hatsumi bảo tớ cậu khuyên cô ấy bỏ tớ."

"Có lí cả thôi," tôi nói.

"Ừ, tớ cũng nghĩ thế," Nagasawa nói.

"Cô ấy tuyệt như vậy," tôi nói, húp súp xoàn xoạt.

"Tớ biết," hắn nói và thở dài. "Hơi tuyệt quá đối với tớ"


***


Đang ngủ như chết thì có tiếng chuông báo tôi có điện thoại dưới nhà. Nó đem tôi từ cái lõi tận cùng của giấc ngủ ra và ném tôi vào tâm trạng ngơ ngác hoàn toàn. Tôi cảm thấy như mình đã ngủ cắm đầu xuống nước cho đến lúc cả bộ óc sưng vù lên. Đồng hồ chỉ sáu giờ mười lăm nhưng tôi không biết là đang sáng hay chiều, và cũng không biết hôm nay là thứ mấy nữa. Tôi nhìn ra cửa sổ và không thấy có cờ treo trên cột. Chắc là chiều rồi. Vậy là cuối cùng thì cái lê kéo cờ kia cũng có tác dụng của nó.

"Ê, Watanabe, cậu có rỗi bây giờ không?" Midori hỏi.

"Tớ không biết, hôm nay là thứ mấy?"

"Thứ Sáu."

"Đang là sáng hay chiều?"

"Chiều chứ còn gì nữa! Cậu lạ thế! Xem nào, bây giờ… là sáu giờ mười tám phút chiều."

Vậy là chiều rồi! Đúng thế, tôi đã nằm trên giường đọc sách rồi ngủ thiếp đi. Thứ Sáu. Đầu óc tôi bắt đầu làm việc. Tôi không phải đi làm ở tiệm đã hát vào các thứ Sáu.

"Ờ, tớ rỗi. Cậu đang ở đâu?"

"Ga Ueno. Cậu gặp tớ ở Shinjuku có được không?"

"Tớ đi luôn bây giờ đây."

Chúng tôi hẹn giờ và nơi gặp nhau, rồi gác máy.

Khi tôi đến quán DUG, Midori đang ngồi ở cuối quầy bar với một cốc rượu. Cô mặc một áo khoác ngoài đàn ông màu trắng nhàu nhĩ một áo len vàng, quần bò xanh, và một cổ tay có đeo hai cái vòng.

"Cậu đang uống gì thế?" tôi hỏi.

"Tom Collins."

Tôi gọi whisky pha soda, rồi mới nhìn thấy một chiếc vali to nằm dưới chân Midori.

"Tớ đi xa," cô nói. "Vừa về đến đây."

"Cậu đi đâu?" "Xuống phía nam đến Nara và lên phía bắc đến Aomori."

"Một mạch ư?"

"Ngốc ạ. Tớ có thể lạ, nhưng không thể lên bắc xuống nam cùng một lúc. Tớ xuống Nara với bồ, rồi bỏ lên Aomori một mình."

Tôi nhấm nháp whisky với soda, rồi đánh diêm châm điếu Marlboro Midori đang ngậm trên miệng.

"Thời gian qua chắc kinh khủng với cậu lắm, còn ma chay với đủ thứ khác nữa."

"Không đâu, đám ma thì dễ ợt. Bọn tớ làm nhiều quá rồi. Cứ việc khoác bộ kimono đen rồi ngồi đó như một phu nhân và mọi người sẽ lo tất mọi chuyện - một ông bác, một ông hàng xóm, kiểu thế. Họ đem rượu sakê đến, đặt làm sushi, nói những lời an ủi, khóc lóc, rồi lại tiếp tục công việc, chia nhau thứ này thứ nọ. Nhẹ nhàng ấy mà. Như đi pích-níc thôi. So với việc chăm sóc một người ngày này qua ngày khác thì đó đúng là một cuộc pích-níc. Bọn tớ thì mệt, tớ với chị tớ. Bọn tớ còn không khóc nổi. Chẳng còn nước mắt nữa. Thật đấy. Chỉ mỗi tội đã thế mọi người còn xầm xì rằng "Mấy cô này thật ghẻ lạnh như băng". Nhưng chúng tớ vẫn cứ không khóc, chúng tớ là vậy đấy. Tớ biết chúng tớ có thể vờ khóc, nhưng không đời nào chúng tớ làm như vậy. Bọn mất dạy. Chúng càng muốn chúng tớ khóc thì chúng tớ lại càng không khóc. Hai chị em tớ rất khác nhau, nhưng đến những chuyện như thế này thì chúng tớ lại tuyệt đối đồng điệu."

"Chưa?"

"Được rồi, không sao," Midori nói, nhấp một ngụm Tom Collins, rồi cậy vỏ một hạt hồ trăn, "suốt thời gian đi chơi một mình như thế, tớ toàn nghĩ đến cậu. Tớ nghĩ giá có cậu đi cùng thì hay biết mấy?"

"Sao lại thế?"

"Sao lại thế!" Midori nhìn tôi với đôi mắt chăm chú vào một nơi vô định. "Sao lại thế nghĩa là thế nào?"

"Thì là thế chứ sao nữa! Sao cậu lại nghĩ đến tớ?"

"Có thể vì tớ thích cậu, chứ còn làm sao nữa! Còn lí do gì nữa nào? Có ai mong người nào mà mình không thích đâu cơ chứ?"

"Nhưng cậu có bạn trai rồi mà," tôi nói. "Cậu không phải nghĩ đến tớ làm gì". Tôi chậm rãi nhấp một ngụm whisky pha soda.

"Nghĩa là tớ không được phép nghĩ đến cậu nếu tớ đã có bồ?"

"Không, không phải thế, tớ chỉ…"

"Này Watanabe, hãy nghe cho thủng đây," Midori nói, chỉ tay vào mặt tôi. "Tớ cảnh cáo cậu đây này, tớ đã bị đủ thứ khổ sở dồn nén cả tháng qua rồi và sẵn sàng tá hoả tam tinh đây. Cho nên cậu hay cẩn thận lời nói nghe không. Còn thêm một tí gì nữa nhưng lời kiểu ấy là tớ sẽ khóc lụt hết chỗ này cho mà xem. Cậu sẵn sàng chuyện ấy chưa? Hễ đã khóc là tớ thành con vật chính cống đấy, bất kể là tớ đang ở đâu! Tớ không đùa đâu."

Tôi gật đầu và im thin thít. Tôi gọi cốc whisky soda thứ hai và ăn mấy hạt hồ trăn. Đâu đó đằng sau âm thanh của một cái bình lắc rượu và tiếng li cốc lanh canh xen với tiếng lạo xạo của máy làm nước đá, Sarah Vaughan đang hát một ban tình cả theo kiểu ngày xưa.

"Mọi chuyện vẫn lung tung cả giữa tớ với bồ tớ kề từ sau sự kiện tăm-pông."

"Sự kiện tăm-pông"

"Ờ một tháng trước đây tớ đi uống rượu với hắn và mấy thằng bạn của hắn. Đang uống thì tớ kể chuyện một bà hàng xóm khi hắt xì đã làm bắn cả cái tăm-pông của mụ ra ngoài. Buồn cười chứ, phải không?"

"Quấy thật," tôi phì cười.

"Đấy, và tất cả lũ bạn ấy của hắn cũng nghĩ thế. Nhưng hắn phát điên và nói rằng tớ không được nói những chuyện nhơ bẩn như thế. Rõ dơ dáy quá!"

"Uao!"

"Hắn là một thằng cha rất hay, nhưng có thể rất hẹp hòi trong những chuyện như vậy," Midori nói. "Ví dụ như, hắn phát khùng ngay nếu tớ không mặc đồ lót màu trắng. Cậu có nghĩ thế là hẹp hòi không?"

"Có thể," tôi nói, "nhưng đó chỉ là vấn đề thị hiểu thôi." Tôi không thể tin một thằng cha như thế lại có thể thích một bạn gái như Midori, nhưng không dám nói ra.

"Rồi, còn cậu, vừa rồi cậu làm những gì?" cô hỏi.

"Chẳng có gì. Vẫn vậy thôi," tôi nói, nhưng rồi chợt nhớ lần tôi định thủ dâm với ý nghĩ về Midori như đã hứa. Tôi hết sức thấp giọng kể chuyện ấy với cô để mọi người xung quanh không thể nghe được.

Mắt Midori sáng lên và cô búng ngón tay đến tách một cái. "Thế nào? Tốt đẹp không?"

"Không, được nửa chừng thì tớ lúng túng quá nên đành phải thôi."

"Cậu muốn nói là cậu bị xỉu đi à?"

"Gần như thế?"

"Mẹ kiếp," cô nói, ném cho tôi một cái nhìn khó chịu. "Cậu không thể để mình lúng túng như thế được. Nghĩ đến cái gì đó thật sexy vào. Không sao đâu, tớ cho phép cậu mà. Ê, tớ biết rồi? Lần sau tớ sẽ ở trên phôn với cậu: "Ô, ô, sướng quá… ô, đấy, đấy… Thôi nào, tớ sắp ra… ô, đừng làm thế!" Tớ sẽ nói với cậu những thứ như thế trong lúc cậu loay hoay với nó."

"Điện thoại khu học xá ở dưới sanh chờ ngoài cửa, lúc nào cũng có người qua lại," tôi giải thích. "Lão trưởng khu sẽ vặn cổ tớ nếu thấy tớ loay hoay ở một nơi như thế?"

"Ồ, chán nhỉ."

"Không sao đâu," tôi nói. "Tớ sẽ thử lại một mình một ngày gần đây."

"Cố hết sức nhé," Midori nói.

"Tớ sẽ cố," tôi bảo.

"Tớ đang nghĩ không biết có phải tại tớ không," cô nói. "Có thể tớ không sexy từ trong bản chất."

"Không phải đâu," tôi khẳng định. "Có lẽ chỉ là vấn đề thái độ."

"Cậu biết không," cô nói, "tớ có cái lưng cực kì nhạy cảm này. Chỉ cần mơn man ngón tay lên nó là… mmmmm.

"Tớ sẽ ghi nhớ điều này."

"Ê, sao mình lại không đi xem một bộ phim nhơ nhớp bây giờ nhỉ? Midori nói. "Một thứ bạo tình thực bẩn thỉu vào."

Cô ta nói cũng có lí thật.

Chúng tôi tìm một quán bar khác và gọi rượu uống.

Tôi lấy whiskv, còn Midori uống ba bốn cái cốc-tay không biết pha phách những gì trong đó. Ra lại bên ngoài, Midori nói cô muốn trèo cây.

"Quanh đây chẳng có cái cây nào," tôi nói. "Mà nếu có thì cậu cũng choáng váng rồi không trèo leo gì được đâu!"

"Cậu lúc nào cũng tỉnh táo như quỉ, cậu làm hỏng mẹ nó mọi việc. Tớ say là vì tớ thích say. Có gì sai nào? Và ngay cả khi say tớ cũng vẫn có thể trèo cây được như thường. Cứt thật, tớ sẽ trèo mãi lên tít tận ngọn một cái cây cổ thụ rõ cao và tớ sẽ tè xuống dầu tất cả mọi người cho mà xem!"

"Này, cậu có cần đi toa-lét không thế?"

Tôi đưa Midori đến một nhà vệ sinh trả tiền ở Ga Shinjuku, nhét một đồng kẽm vào khe thu ngân và ấn cô vào trong đó, rồi mua một số buổi tối ở quầy báo bên cạnh và đọc nó trong khi chờ cô ra. Nhưng cô không ra.

Mười lăm phút sau thì tôi bắt đầu lo và sắp sửa vào xem ra sao thì thấy cô ló ra, mặt mũi tái mét.

"Xin lỗi," cô nói, "tớ ngủ thiếp đi mất."

"Cậu có sao không?" tôi hỏi, khoác cái áo ngoài của tôi lên vai cô.

"Không sao mà," cô nói.

"Để tớ đưa cậu về. Cậu phải về nhà, tắm một cái thật lâu, thật thích, rồi đi ngủ. Cậu kiệt sức rồi."

"Tớ không về nhà đâu. Đề làm cái gì chứ? Chẳng có ma nào cả. Tớ không muốn ngủ một mình ở một nơi như thế?"

"Tuyệt lắm," tôi nói. "Vậy cậu tính sẽ làm gì đây?"

"Đến một nhà nghỉ tình yêu ở đâu đây và ngủ trong vòng tay cậu cả đêm nay. Như một súc gỗ. Sáng mai mình sẽ cùng ăn sáng ở dâu đó rồi cùng đến lớp với nhau."

"Cậu đã dự định chuyện này ngay từ đầu rồi phải không? Thế mà cậu mới gọi tớ."

"Tất nhiên rồi."

"Nhẽ ra cậu phải gọi bồ cậu chứ không phải tớ. Như thế mới hợp lí. Bồ trai chỉ để làm những việc như vậy thôi mà."

"Nhưng tớ muốn ở với cậu."

"Cậu không thể ở với tớ," tôi nói. "Trước hết là tớ phải về học xá trước nửa đêm. Nếu không sẽ vi phạm lệnh giới nghiêm. Bị thế một lần thôi là tha hồ mà trả giá địa ngục. Thứ hai là nếu tớ lên giường với một cô gái, tớ sẽ phải làm chuyện ấy, tớ ghét nhất phải nằm đó mà cố nhịn. Tớ không đùa đâu, tớ có thể cùng đường phải ép uổng cậu đấy."

"Nghĩa là cậu sẽ đánh tớ và trói tớ và hiếp tớ từ đằng sau á?"

"Ê nghe đây, tớ nói nghiêm chỉnh đấy."

"Nhưng tớ cô đơn quá! Tớ muốn được ở với ai đó! Tớ biết mình đang làm những trò khủng khiếp với cậu, toàn những đòi hỏi mà chẳng đáp lại được gì, rồi nghĩ bậy nghĩ bạ gì cũng nói ra tuốt tuột, kéo cậu ra khỏi nhà rồi bắt cậu đưa đi khắp chốn cùng nơi, nhưng cậu là người duy nhất mà tớ có thể cùng làm những chuyện ấy! Tớ chưa bao giờ được làm theo ý mình với bất kì ai, chưa một lần nào trong suốt hai mươi năm mà tớ đã sống qua. Bố tớ, mẹ tớ, họ không bao giờ để ý một tí gì đến tớ, còn bạn trai của tớ ư, mẹ kiếp, hắn không phải loại trai tráng như vậy. Hắn nổi cáu nếu tớ định làm theo ý riêng của tớ. Nên chúng tớ mới cãi nhau. Cậu là người duy nhất tớ có thể nói những điều như thế này. Còn bây giờ thì tớ mệt, mệt, mệt mỏi lắm rồi và tớ chỉ muốn lên giường đi ngủ và nghe ai đó nói với tớ rằng họ thích tớ biết chừng nào và tớ xinh đẹp biết nhường nào và đại loại thế. Tớ chỉ thèm có vậy thôi. Và khi thức dậy, tớ sẽ lại tràn đầy sinh lực và sẽ không bao giờ dám vòi vĩnh ích kỉ thế này nữa. Tớ xin thể. Tớ sẽ là một bé gái ngoan mà."

"Tớ nghe cậu rồi, tin tớ đi, nhưng tớ không thể làm gì được."

"Ôi tớ xin cậu đấy! Nếu không, tớ sẽ ngồi xuống ngay dưới đất đây và khóc cả đêm cho đến lúc vỡ đầu vỡ mặt thì thôi. Và tớ sẽ ngủ với thằng cha đầu tiên nào nói gì đó với tớ."


"Tớ cũng vậy," tôi nói. "Lâu lâu tớ lại ngẫm nghĩ về mình một lần, và tớ lại tự nhủ "Phải rồi, mình sợ đếch gì cơ chứ?"

"Ê, tớ không muốn nói theo ý xấu đâu. Tớ không giỏi diễn đạt những cảm xúc của mình ra bằng lời. Chính thế mà mọi người hiểu lầm tớ. Tớ chỉ muốn nói là tớ thích cậu. Tớ bao cậu thế rồi, đúng không?"

"Rồi," tôi nói.

"Tớ định nói là, không phải chỉ có tớ mới là người gặp khó khăn khi muốn tìm hiểu xem đàn ông thực chất là thế nào. Nhưng tớ đã và sẽ làm được việc đó, dần dần từng tí một."

Midori mang ra một bao Marlboro và châm một điếu "Bắt đầu từ số không thì cứ tha hồ mà học."

"Cũng phải thôi."

"Ô tí nữa thì quên! Cậu có muốn thắp cho bố tớ một nén nhang không?"

Tôi theo Midori vào căn phòng có bàn thờ Phật, thắp một nén nhang trước bức ảnh chụp ông bố, và chắp tay.

"Biết hôm trước tớ đã làm gì không?" Midori hỏi. "Tớ cởi trần truồng hết trước bức ảnh bố tớ. Cởi đến mảnh vải cuối cùng và để ông ấy nhìn thật lâu, thật kĩ. Kiểu như một tư thế Yoga. Giống như bảo "Bố ơi, này là đứa con gái mà bố đã làm ra."

"Lí do quái quỉ gì mà cậu lại làm thế?" tôi hỏi.

"Tớ không biết, tớ chỉ muốn cho ông ấy xem. Nghĩ coi một nửa tớ là tinh khí của ông ấy, đúng không? Sao lại không cho ông ấy xem? Lúc ấy tớ cũng hơi say. Có lẽ cũng vì thế nữa."

"Tớ cũng nghĩ vậy."

"Chị tớ bước vào và tí nữa thì ngã bổ chửng. Tớ đang ở đó, trước bức ảnh thờ bố, trần như nhộng. Tớ đoán chắc cậu cũng phải ngạc nhiên."

"Tớ cũng nghĩ thế?"

"Tớ giải thích tại sao mình đang làm vậy và bảo, "Nào, Momo (tên chị ấy là Momo) chị cũng cởi quần áo ra đi, rồi ngồi cạnh em đây cho bố xem, nhưng chị ấy không dám. Chị ấy choáng váng bỏ đi. Rõ thật là bảo thủ."

"Nói cách khác thì nghĩa là chị ấy tương đối bình thường, phải không?"

"Nói tớ nghe, Watanabe, cậu nghĩ gì về bố tớ?"

"Tớ không thoải mái lắm với những ai mới gặp, nhưng không thấy khó chịu gì lúc có một mình với ông cụ. Tớ thấy khá thoải mái. Và nói với cụ đủ thứ chuyện."

"Những chuyện gì vậy?

"Euripides," tôi đáp.

Midori cười ầm lên. "Cậu thật lạ! Không ai nói chuyện Euripides với một người hấp hối vừa mới gặp cả!"

"Nào, cũng không có cô gái nào lại ngồi tênh hênh trước ảnh thờ của bố mình cả!"

"Chẳng sợ tí nào. Tớ chưa làm chuyện gì xấu cả," tôi mỉm cười nói.

"Nhưng cậu sẽ nằm cạnh và ôm tớ cho đến lúc tớ ngủ đã chứ, đúng không?"

"Đúng rồi," tôi nói.

Chỉ chực ngã lăn khỏi mép cái giường hẹp của Midori, tôi ôm cô trong lòng. Mũi chúi vào ngực tôi, cô đặt cả hai tay lên hai bên hông tôi. Cánh tay phải tôi vòng qua lưng cô trong khi bàn tay trái tôi cứ phải bám chặt lên khung đầu giường để cho mình khỏi ngã.

Không phải là một tư thế có thể dẫn đến hứng khởi tình dục. Mũi tôi sát ngay trên đầu cô và mái tóc ngắn của cô cứ cù vào nó suốt.

"Nào, nói gì với tớ đi chứ," Midori nói, vùi mặt vào ngực tôi.

"Cậu muốn tớ nói gì đây?"

"Gì cũng được. Cái gì làm tớ thích ấy?"

"Cậu thật xinh," tôi nói.

"Midori," cô nói. "Nói tên tớ ấy."

"Cậu thật xinh, Midori à," tôi chỉnh lại.

"Thật xinh nghĩa là sao?"

"Xinh đến nỗi núi non mềm sụm xuống và đại dương khô hết đi."

Midori ngẩng lên nhìn tôi. "Cậu thật đặc biệt với ngôn từ."

"Tớ có thể cảm thấy lòng mình dịu đi khi cậu nói thế," tôi nói và mỉm cười.

"Nói cái gì hay hơn nữa đi."

"Tớ thực sự thích cậu, Midori à. Thích lắm."

"Lắm là bao nhiêu"

"Là như một chú gấu mùa xuân," tôi nói.

"Một chú gấu mùa xuân ư?" Midori lại ngẩng lên.

"Thế nghĩa là sao? Một chú gấu mùa xuân."

"Cậu đang bước đi trên một cánh đồng, chỉ có một mình, vào một ngày xuân, và chú gấu con bé nhỏ đáng yêu ấy với bộ lông mượt như nhung và cặp mắt nhỏ sáng ngời chạy tới đi cùng với cậu. Và nó nói "Xin chào tiểu thư. Có muốn lộn nhào với tôi không?" Thế là cậu với chú gấu chơi với nhau cả ngày hôm đó, quấn quít trong tay nhau, lăn mình xuống triền đồi phủ đầy hoa cỏ ở đó. Hay chưa nào?"

"Ờ. Thật là hay."

"Tớ thích cậu đến như vậy đấy."

"Đó là điều tốt đẹp nhất mà tớ từng được nghe,"

Midori nói, nép mãi vào ngực tôi. "Nếu cậu thích tớ đến thế, cậu sẽ làm mọi thứ tớ bảo cậu chứ? Cậu sẽ không nổi cáu chứ?"

"Không đâu, tất nhiên là không rồi."

"Và cậu sẽ luôn luôn chăm sóc tớ chứ, luôn luôn chứ?"

"Ừ, tất nhiên rồi," tôi nói, vuốt ve mái tóc mềm mà ngắn như tóc con trai của cô. "Đừng lo, mọi chuyện rồi sẽ ổn cả mà."

"Nhưng mà tớ sợ," cô nói.

Tôi nhẹ nhàng ôm cô, và chẳng mấy chốc đôi vai cô đã nhô lên hạ xuống đều đặn theo nhịp thở có thể nghe thấy được của giấc ngủ. Tôi tuồn ra khỏi giường và vào bếp lấy một hộp bia. Tôi chẳng buồn ngủ chút nào, nên nghĩ đến chuyện đọc sách, nhưng chẳng tìm được cuốn nào đáng đọc ở quanh đổ. Tôi đã định vào phòng Midori để tìm, nhưng lại không muốn lục lọi nhớ làm cô thức giấc.

Tôi ngồi đó nhìn vào không trung một lúc lâu, nhấp nháp bia, rồi chợt nhớ là mình đang ở trong một hiệu sách. Tôi xuống nhà, bạt đèn và bắt đầu nhìn lướt các giá để sách bìa mềm. Chẳng có gì hấp dân, và nếu có thì phần lớn là tôi đã đọc cả rồi, nhưng thể nào tôi cũng phải tìm ra cái gì đó để đọc. Tôi nhặt được một cuốn Dưới Bánh xe của Hermann Hesse đã bạc màu, chắc đã không bán được từ lâu lắm rồi, và để tiền trả vào chỗ quầy thu ngân. Đó là đóng góp nhó nhoi của tôi để giảm nhẹ nợ nần của nhà sách Kobayashi.

Tôi ngồi chỗ cái bàn trong bếp, vừa uống bia vừa đọc Dưới Bánh xe. Tôi đã đọc cuốn này lần đầu lúc mới vào trung học. Và bây giờ, tám năm sau, tôi lại ngồi đây, đọc lại nó trong bếp ở nhà một cô gái, mặc bộ đồ ngủ chật ních của ông bố mới chết của cô ta. Lạ lùng thật.

Nếu không có những hoàn cảnh kì lạ thế này, có lẽ tôi chẳng bao giờ đọc lại Dưới Bánh xe.

Cuốn sách quả là có những đoạn đã lỗi thời, nhưng là tiểu thuyết thì nó cũng không tồi. Tôi đọc chầm chậm, thưởng thức từng dòng một, trong một hiệu sách im lìm giữa đêm khuya. Một chai rượu mùi bụi bặm đứng trên một cái giá trong bếp. Tôi rót một ít vào một cái cốc dùng để uống cà-phê rồi nhấm nháp tí một. Nó làm tôi ấm người nhưng chẳng giúp tôi buồn ngủ được tí nào.

Tôi vào xem Midori ra sao trước lúc ba giờ một tí, nhưng cô vẫn đang ngủ say. Chắc hẳn cô phải mệt mỏi lắm. Đèn từ dãy phố đầy những cửa hàng dưới cửa sổ hắt vào một thứ ánh sáng trắng nhè nhẹ, giống như ánh trăng, tràn ngập gian phòng. Midori ngủ quay lưng ra phía có ánh đèn. Cô nằm thật im, gần như đã đóng băng.

Cúi xuống gần, tôi nghe được tiếng thở của cô. Cô ngủ giống hệt như ông bố.

Chiếc vali vừa đi cùng với cô nay để cạnh giường. Chiếc áo choàng trắng vắt trên lưng một cái ghế. Mặt bàn học của cô gọn gàng ngăn nắp, và trên tường có treo một cuốn lịch có hình chú chó Snoopy trong phim hoạt hoạ.

Tôi hé rèm nhìn xuống dãy cửa hàng vắng ngắt. Hàng nào cũng đóng, hạ kín những tấm cửa cuốn mặt tiền. Chỉ có những cái máy bán hàng tự động là hình như đang phủ phục chờ một ngày mới nữa. Thỉnh thoảng không khí lại rung lên khi sóng âm thanh của những chiếc xe tải hạng nặng nghiến lốp xe xuống mặt đường từ rất xa ào đến. Tôi trở lại bếp, rót thêm rượu mùi và tiếp tục đọc Dưới Bánh xe.

Khi tôi đọc hết cuốn sách thì trời đã rạng sáng. Tôi pha một ít cà-phê tan rồi lấy giấy với bút bi tìm thấy trên bàn viết cho Midori mấy chữ: Tớ uống một ít rượu mùi của cậu. Tớ mua một cuốn Dưới Bánh xe. Ngoài trời sáng rồi, nên tớ phải về. Tạm biệt. Sau một chút lưỡng lự, tôi viết thêm: Trông cậu lúc ngủ thực xinh. Tôi rửa cốc cà-phê, tắt đèn bếp, xuống nhà, khe khẽ nhấc cái cửa cuốn rồi bước ra phố. Tôi đã lo hàng xóm có thể thấy tôi đáng ngờ, nhưng ngoài đường chưa có ai lúc mới năm giờ năm mươi gì đó vào buổi sáng. Chỉ có lũ quạ vẫn đậu ở chỗ quen thuộc của chúng trên mái nhà và nhìn chằm chằm xuống phố. Tôi liếc nhìn lên tấm màn cửa màu hồng nhạt ở phòng Midori rồi đi ra trạm tàu điện, lên tàu ngồi cho đến cuối đường, rồi đi bộ về học xá. Trên đường tôi thấy một tiệm cà-phê đã mở cửa liền ăn một bữa điểm tâm có cơm với súp đậu tương, rau muối và trứng rán. Đi vòng ra sau khu học xá, tôi gõ gõ vào cửa sổ tầng trệt của phòng Nagasawa. Hắn mở cho tôi trèo vào ngay lập tức.

"Cà phê không?" hắn hỏi.

Tôi cám ơn hắn, lên phòng mình, đánh răng, cởi quần dài, chui vào chăn và nhắm chặt mắt lại. Cuối cùng, một giấc ngủ không mộng mị gì khép lại trên tôi như một cánh cửa bằng chì nặng trịch.

Tuần nào tôi cũng viết thư cho Naoko, và nàng thường viết trả lời. Những bức thư của nàng không bao giờ quá dài. Chẳng mấy chốc đã thấy có những đoạn viết về những buổi sáng và buổi tối lạnh lẽo tháng Mười một.
Cậu về Tokyo đúng vào lúc mùa thu bắt đầu tàn, nên nhiều lúc mình không biết cái hố đang mở ra trong lòng mình là do nhớ cậu hay là vì chuyển mùa. Reiko và mình nói đến cậu suốt. Chị ấy nhắc không được quên bảo là chị ấy có lời hỏi thăm cậu. Chị ấy vẫn tốt với mình như thế. Mình nghĩ nếu không có chị ấy chắc mình không thể chịu được nơi này. Khi thấy cô đơn mình vẫn khóc. Reiko bảo mình khóc thế là tốt.

Nhưng cô đơn quả thật là một cảm giác đau đớn. Khi cô đơn trong đêm, mình thấy có người nói với mình từ trong bóng tối. Họ nói với mình như kiểu cây cối vẫn rền rĩ trong gió lúc ban đêm vậy. Kizuki; chị mình: họ vẫn nói chuyện như thế với mình suốt. Họ cũng cô đơn, và muốn tìm người trò chuyện.

Mình thường đọc lại những lá thư của cậu trong đêm khi thấy cô đơn và đau đớn. Mình thấy hoang mang về rất nhiều chuyện nghe được từ bên ngoài, nhưng những đoạn cậu mô tả mọi thứ xung quanh cậu giúp mình thấy nhẹ nhõm tuyệt vời. Lạ thế đấy!

Mình không hiểu tại sao lại thế. Thế là mình cứ phải đọc đi đọc lại chúng, và Reiko cũng thế. Rồi chúng mình nói chuyện về những điều cậu đã kể cho mình trong thư. Mình rất thích đoạn về ông bố của cô gái Midori ấy. Chúng mình mong thư cậu hàng tuần như một trong những niềm vui giải trí vậy - đúng thế, ở một nơi như thế này, thư từ là nguồn giải trí của chúng mình.

Mình cố hết sức dành thời gian mỗi tuần để viết cho cậu, nhưng khi đã ngồi trước trang giấy trắng thì mình lại bắt đầu thấy lo lắng buồn rầu. Cả thư này nữa mình cũng phải cố lắm mới viết được. Reiko đã hò hét nhắc mình phải trả lời cậu. Dù sao thì cũng đừng hiểu lầm mình. Mình có hàng tấn chuyện muốn nói với cậu, muốn kể cho cậu nghe. Chỉ tội mình thấy rất khó diễn đạt chúng ra bằng lời. Chính thế mà viết thư là một việc rất khó nhọc đối với mình.

Nói đến Midori, cô ấy có vẻ là một người thú vị. Đọc thư cậu, mình có cảm giác là có thể cô ấy đã phải lòng cậu rồi. Lúc mình nói điều đó với Reiko, chị ấy bảo "Tất nhiên là thế rồi? Đến tôi cũng còn phải lòng Watanabe nữa là!" Dạo này chúng mình đi hái nấm, nhặt hạt dẻ, và ăn chúng hàng ngày. Mà mình nói hàng ngày tức là hàng ngày thật ấy: cơm với hạt dẻ, cơm với nấm matsutake, nhưng ăn rất ngon, và không thấy chán tí nào. Nhưng Reiko không ăn nhiều thế đâu. Chị ấy thì vẫn cứ hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Bầy chim với lũ thỏ đều ổn cả.

Tạm biệt.

Ba ngày sau sinh nhật thứ hai mươi, tôi nhận được một bưu phẩm của Naoko. Mở ra, tôi thấy một cái áo len cổ lọ màu rượu vang và một lá thư.

Chúc mừng sinh nhật! Mình hy vọng cậu sẽ có một năm hạnh phúc của tuổi hai mươi. Năm hai mươi tuổi của mình có vẻ sẽ kết thúc với mình vẫn khổ sở như từ xưa đến nay, nhưng mình sẽ rất thích nếu cậu có thể gộp phần hạnh phúc của cậu vào với phần hạnh phúc của mình. Thật đấy. Reiko và mình mỗi người đan một nửa cái áo cho cậu đấy. Nếu đan một mình, có lẽ phải đến Valentine sang năm mình mới xong được. Nửa đẹp là của Reiko, nửa xấu là của mình. Reiko làm cái gì cũng giỏi, thỉnh thoảng nhìn chị ấy mà mình thấy chán mình quá. Mình muốn nói là mình chẳng làm được việc gì cho ra hồn cả!

Tạm biệt.
Khoẻ nhé.

Trong gói có cả một mẩu giấy của Reiko:

Cậu thế nào? Với cậu, Naoko có thể là đỉnh cao hạnh phúc, nhưng với tôi cô ấy chỉ là cô gái vụng về. Dù sao, chúng tôi cũng đã loay hoay đan xong được cái áo len này kịp sinh nhật cậu. Đẹp đấy chứ, phải không nào? Chúng tôi tự chọn màu và kiểu đấy.

Chúc mừng sinh nhật.


Chương 10:

Khi nghĩ lại năm 1969 tâm trí tôi chỉ thấy một vùng đầm lầy - một vùng bùn sâu dẻo quánh có vẻ muốn mút chặt và kéo tuột giày tôi ra mỗi lần tôi cất bước. Tôi đi trong vùng bùn ấy, sức lực kiệt dần. Đằng trước, đằng sau, tôi không nhìn thấy gì khác ngoài bóng tối vô tận của đầm lầy.

Ngay đến thời gian cũng gập ghềnh trôi theo những bước đi loạng choạng của tôi. Mọi người xung quanh đã đi trước tôi từ lâu rồi, chỉ có thời gian của tôi và tôi rớt lại sau và đang phải vật lộn với bùn lầy. Thế giới xung quanh tôi đang mấp mé những cuộc đổi thay vĩ đại. Cái chết đã lấy sinh mạng của John Coltrane và biết bao nhiêu người khác nữa. Người ta hò hét rằng những biến cải cách mạng lúc nào cũng có vẻ như sắp diễn ra đến nơi, đã ở ngay khúc đường quanh trước mặt. Nhưng những "biến cải" diễn ra được thì chỉ như trò thay đổi phông màn sân khấu, mà chỉ là những cái phông bẹt gí chẳng có thực chất và ý nghĩa gì. Ngày lại ngày, tôi bì bõm bước tới, chẳng mấy khi ngẩng mặt lên, mắt dính chặt xuống mặt đầm lầy trải dài vô tận, đặt chân phải xuống, nhấc chân trái lên, đặt chân trái xuống, nhấc chân phải lên, không bao giờ biết chắc mình đang ở đâu, không bao giờ chắc mình có đi đúng hướng không, chỉ biết mỗi một điều là mình cứ phải đi tiếp, từng bước, từng bước một.

Tôi đã hai mươi tuổi, thu tàn thì đông tới, nhưng chẳng có thay đổi nào có ý nghĩa trong cuộc sống của tôi. Không có chút hào hứng nào, nhưng tôi vẫn đến lớp nghe giảng, đi làm mỗi tuần ba tối ở tiệm đĩa hát, thỉnh thoảng đọc lại Gatsby vĩ đại, và đến Chủ nhật thì giặt giũ và viết một thư dài cho Naoko. Đôi khi tôi đi ra ngoài chơi với Midori, ăn với nhau một bữa, đến vườn bách thú, hoặc đi xem phim. Việc bán hiệu sách Kobayashi diễn ra như dự kiến. Chị em Midori dọn đến một căn hộ hai phòng ngủ gần Myogadani, một khu phố cao cấp hơn một tí. Midori nói khi nào người chị lấy chồng thì cô sẽ tìm thuê một căn hộ khác cho riêng mình. Cô đã mời tôi đến ăn trưa ở căn hộ mới của hai chị em một lần. Một căn hộ đẹp sáng sủa. Midori có vẻ thích chỗ đó hơn hẳn tầng gác cũ của cô ở hiệu sách Kobaybashi ngày trước.

Lâu lâu một lần, Nagasawa lại rủ tôi đi chinh chiến một chầu như ngày xưa chúng tôi vẫn làm, nhưng lần nào tôi cũng tìm ra lí do để từ chối. Tôi thấy ngại quá rồi. Không phải là ngại ngủ với gái, mà là chỉ nghĩ đến đường trường phải xuống phố uống rượu, rồi tìm cho đúng đối tượng gái, tán chuyện với họ, rồi đưa họ đến khách sạn, là tôi đã thấy mệt hết cả người. Tôi lại càng khâm phục Nagasawa hơn khi thấy hắn vẫn có thể tiếp tục những nghi thức ấy mà không thấy kinh tởm hoặc mệt mỏi. Có lẽ những điều Hatsumi từng khuyên tôi nay đã có tác dụng: tôi có thể làm cho mình thấy hạnh phúc hơn nhiều chỉ bằng cách nghĩ đến Naoko chứ không phải đi ngủ với mấy cô gái vô danh ngu xuẩn nào đó. Cảm xúc trên da thịt khi tôi nghĩ đến những ngón tay của Naoko có thể đem tôi lên cực lạc với hình ảnh cánh đồng cỏ vẫn sinh động mồn một ở trong tôi.

Đầu tháng Mười hai, tôi viết cho nàng để hỏi xem tôi đến thăm vào dịp nghĩ đông ấy có tiện cho nàng không. Tôi nhận được thư trả lời của Reiko nói họ sẽ rất mong được đón tôi. Chị giải thích rằng Naoko đang không thể viết thư được và rằng chị viết trả lời thế này là thay mặt cho cả nàng. Tôi không muốn hiểu theo hướng Naoko có thể đang trong tình trạng trầm trọng. Không cần phải lo lắng như thế. Nàng vẫn thường lúc này lúc kia, như từng đợt sóng một.

Đến kì nghỉ đông, tôi nhét mọi thứ vào ba-lô, vận ủng đi tuyết, và lên đường đi Kyoto. Ông bác sĩ già đã nói đúng: núi non mùa đông phủ đầy tuyết trắng đẹp không thể tưởng tượng được. Cũng như lần trước, tôi ngủ hai đêm trong cùng căn hộ của Naoko và Reiko, và có ba ngày cùng với họ làm những việc hệt như thế. Khi mặt trời đã lặn, Reiko lại chơi ghi-ta và cả ba chúng tôi quây quần ngồi nói chuyện. Đáng nhẽ đi pích-níc thì chúng tôi đi trượt tuyết đường dài với nhau. Một tiếng liền trượt tuyết xuyên rừng cũng đủ cho chúng tôi hết hơi và đẫm mồ hôi. Có lúc chúng tôi cũng tham gia xúc tuyết với bệnh nhân và cán bộ trong khu điều dưỡng. Bác sĩ Miyata chạy sang bàn chúng tôi trong bữa tối để giải thích tại sao ngón tay giữa của người ta dài hơn ngón trỏ trong khi tình hình lại trái ngược ở các ngón chân. Ông thường trực Omura lại nói với tôi về món thịt lợn ở Tokyo. Reiko rất thích những đĩa hát làm quà mà tôi mang theo từ thành phố. Chị ghi nốt nhạc của mấy giai điệu ưa thích và chuyển thể chúng cho đàn ghi-ta.

Naoko ít nói hơn hẳn so với dạo mùa thu. Khi ba chúng tôi quây quần, nàng thường ngồi trên sô-pha, miệng mỉm cười, và hầu như không nói câu nào. Reiko có vẻ cố tình liến láu chuyện trò để bù vào khoảng trống của nàng. "Nhưng cậu đừng lo," Naoko bảo tôi. "Đây chỉ là một đợt thế thôi. Mà mình thấy nghe hai người nói chuyện thế là vui lắm rồi, mình nói làm gì nữa."

Reiko viện cớ việc này việc nọ để ra khỏi nhà, cốt cho Naoko và tôi có thể lên giường với nhau. Tôi hôn cổ, hôn vai và hôn lên đôi vú nàng, và nàng dùng tay cho tôi đạt tới cực cảm như lần trước. Sau đó, khi ôm chặt nàng trong tay, tôi kể cho nàng nghe những động chạm của nàng đã sống trên da thịt tôi ra sao trong suốt hai tháng qua, và tôi đã nghĩ đến nàng khi thủ dâm như thế nào.

"Cậu chưa ngủ với ai khác ư?" Naoko hỏi.

"Chưa hề," tôi nói.

"Được rồi, vậy thì thêm cho cậu để nhớ nữa này."
Nàng trườn xuống và hôn tôi ở đó, rồi ôm ấp hết nó trong vòm miệng ấm nóng của nàng, vuốt ve nó bằng lưỡi đến khắp chốn, mái tóc dài và thẳng của nàng đung đưa lên xuống trên bụng dưới tôi theo với từng chuyển động của môi nàng cho đến lúc tôi bùng nổ lần thứ hai.

"Cậu có nhớ được không nào? Nàng hỏi.

"Có chứ," tôi hổn hển. "Nhớ suốt mất thôi."

Tôi ôm ghì nàng trong lòng và luồn tay vào trong quần lót của nàng, chạm đến cửa mình vẫn còn khô của nàng. Naoko lắc đầu và kéo tay tôi ra. Chúng tôi ôm nhau một lúc lâu, không ai nói gì.

"Mình đang tính ra khỏi khu học xá cuối học kì này và tìm một căn hộ để ở," tôi nói. "Đời học xá thế là đủ rồi. Nếu cứ đi làm thêm, mình có thể sống khá đầy đủ. Cậu về Tokyo sống với mình đi, như mình vẫn nói ấy."

"Ôi, cám ơn Toru. Mình thật hạnh phúc được cậu đề nghị một chuyện như vậy!"

"Không phải mình nghĩ là ở đây có vấn đề gì đâu," tôi nói. "Chỗ này thật yên tĩnh, cảnh vật xung quanh thật hoàn hảo, và Reiko là một người tuyệt vời. Nhưng đây không phải là chỗ có thể ở lâu dài. Nó quá chuyên biệt. Càng ở đây lâu, tớ chắc thế, sẽ càng khó lòng mà đi đâu được nữa."

Đáng nhẽ trả lời thì Naoko lại quay mặt nhìn ra cửa sổ. Bên ngoài chẳng thấy có gì ngoài tuyết trắng. Những đám mây tuyết nặng nề chìm xuống thấp và chen vai thích cánh nhau là là trên mặt đất tuyết phủ đầy.

"Cậu đừng phải vội, cứ nghĩ kĩ đi," tôi nói. "Có chuyện gì đi nữa thì mình cũng vẫn sẽ dọn nhà vào cuối tháng Ba. Cậu đến với mình bất kì lúc nào cũng được."

Naoko gật đầu. Tôi quàng tay ôm nàng cẩn thận như đang ôm một tác phẩm nghệ thuật rất tinh tế bằng thuỷ tinh. Nàng quàng hai tay lên cổ tôi. Tôi trần trụi, còn nàng chỉ mặc chiếc quần lót trắng bé tí tẹo. Tấm thân nàng thật đẹp. Tôi có thể ngắm nhìn nàng suốt ngày không chán.

"Sao mình không ướt thế nhỉ?" Naoko thì thầm. "Cái lần ấy là lần duy nhất từ xưa tới giờ. Hôm sinh nhật mình hai mươi tuổi ấy, trong tháng Tư ấy. Cái đêm mà cậu ôm mình trong lòng ấy. Mình có chuyện gì vậy?"

"Hoàn toàn là tâm lí thôi, mình chắc vậy," tôi nói. "Cứ từ từ! Đừng nóng vội."

"Tất cả những trục trặc của mình chỉ là tâm lí đơn thuần," Naoko nói. "Nhỡ mình không bao giờ khỏi thì sao? Nhỡ mình không bao giờ có thể làm tình nữa thì sao? Cậu có yêu mình như thế này mãi được không? Liệu tay với môi có đủ cho cậu mãi được không? Hay cậu sẽ phải giải quyết dục tình bằng cách ngủ với các cô gái khác?"

"Mình là một người lạc quan cố hữu," tôi nói.

Naoko ngồi dậy trên giường và mặc một cái áo phông lên người. Nàng khoác thêm một cái sơ-mi, rồi xỏ chân vào quần bò. Tôi cũng mặc lại quần áo.

"Để mình suy nghĩ nhé," Naoko nói. "Và cậu cũng suy nghĩ nữa đấy."

Nàng hơi đỏ mặt và mỉm cười bẽn lẽn. "Kizuki cũng thường hay nói thế?"

"Cậu ấy với mình có khá nhiều thị hiếu và ý kiến giống nhau," tôi mỉm cười.

Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn trong bếp, vừa uống cà-phê vừa nói chuyện ngày xưa. Nàng đang bắt đầu nói nhiều hơn về Kizuki, nhưng vẫn hay lưỡng lự, và lựa lời cẩn thận. Cứ lâu lâu tuyết lại xuống một trận rồi ngừng.

Trong suốt ba ngày tôi ở đó, trời không quang quẻ ra được tí nào. "Có lẽ tớ có thể trở lại vào tháng Ba," tôi nói lúc chia tay. Tôi ôm lấy nàng một lần cuối, cách ngỡ dày cộp với chiếc áo khoác mùa đông mặc trên người, và hôn lên miệng nàng.

"Tạm biệt," nàng nói.

o O o

Rồi sang năm 1970 - một năm có âm thanh mới mẻ hẳn khi ta nói to nó lên - chấm dứt quãng đầu xanh niên thiếu của tôi. Bây giờ thì tôi có thể bước sang một đầm lầy hoàn toàn mới. Rồi đến những kì thi, và tôi đều qua được khá dễ dàng. Nếu ta chẳng có gì khác để làm và chỉ biết đến lớp đều đặn thì chẳng cần phải có kĩ năng gì đặc biệt cũng có thế qua được những bài thi cuối năm ấy.

Nhưng trong khu học xá thì nảy sinh một số vấn đề. Một vài gã vẫn hoạt động trong một phe phái chính trị đã giấu mũ sắt và ống nước trong phòng ở của chúng. Chúng đã xô xát với bọn cầu thủ bóng chày con cưng của ông trưởng khu học xá, và kết quả là có hai đứa bị thương và sáu đứa bị đuổi. Dư chấn của sự kiện này kéo dài rất lâu, gây nên những trận ẩu đã nho nhỏ xảy ra hầu như hàng ngày. Một bầu không khí nặng nề bao trùm khắp khu học xá, và ai cũng bồn chồn căng thẳng. Chính tôi cũng suýt nữa bị một gã phe bóng chày đánh nhừ tử nếu không có Nagasawa can thiệp kịp thời và thu xếp ổn thoả sau đó. Gì thì gì, đã đến lúc tôi phải chuồn khỏi nơi này.

Khi đã xong gần hết các môn thi, tôi bắt đầu tích cực tìm kiếm một căn hộ. Sau một tuần mò mẫm, tôi tìm được một chỗ vừa ý ở mãi khu ngoại ô Kichijoji. Địa điểm thì không được tiện lợi lắm, nhưng đó là một cái nhà: một ngôi nhà độc lập hẳn hoi - một phát hiện đáng giá. Vốn là một chái nhà của người làm vườn hoặc một kiểu nhà gỗ gì đó dùng để nghỉ ngơi ngoài vườn, nó đứng một mình trong góc một khu đất rộng rãi, cách khu nhà chính cả một dãy vườn bỏ hoang. Chủ nhà sẽ ra vào bằng cổng trước, còn tôi dùng cổng sau, vậy là tôi được hoàn toàn riêng biệt. Nó có một phòng rộng, một gian bếp nhỏ và nhà tắm, với một khoảng chứa đồ rộng không thể tưởng tượng được. Thậm chí còn có cả một hàng hiên quay ra phía vườn. Chủ nhà là một cặp vợ chồng rất tốt, cho thuê cái nhà với giá thấp hơn giá thị trường rất nhiều, nhưng với một điều kiện là người thuê phải sẵn sàng dọn đi nếu người cháu trai của họ quyết định lên ở Tokyo trong năm tới. Họ cam đoan sẽ không có đòi hỏi gì và tôi có thể sống theo ý mình ở ngôi nhà đó.

Nagasawa giúp tôi dọn nhà. Hắn mượn được cả một cái xe thùng để chở đồ cho tôi, và như đã hứa, hắn cho tôi cái tủ lạnh, chiếc TV, và cái phích ngoại khổ. Hắn có thể chẳng cần đến những thứ đó nữa, nhưng chúng lại rất ích dụng cho tôi. Bản thân hắn cũng đã có kế hoạch dọn đi hai ngày sau đó, đến một căn hộ ở khu Mita.

"Có thể rất lâu nữa chúng ta mới gặp lại nhau," hắn nói lúc chia tay, "hãy bảo trọng. Tớ vẫn tin hai thằng mình sẽ còn đụng nhau ở một nơi xa lạ nào đó nhiều năm sau này."

"Tớ đã mong đến ngày đó đây," tôi nói.

"Còn cái lần bọn mình đổi gái ấy, hoá ra cái cô trông buồn cười kia lại hay hơn nhiều."

"Đúng như thế," tôi cười. "Nhưng mà, Nagasawa này, cậu hãy chăm sóc Hatsumi nhé. Người tốt như thế không dễ gì tìm được đâu. Mà trông thế thôi chứ cô ấy yếu đuối hơn nhiều."

"Ờ, tớ biết," hắn gật đầu. "Chính thế nên tớ mới hy vọng là cậu sẽ hứng cô ấy khi tớ đã xong chuyện. Hai đứa các cậu sẽ là một cặp lí tưởng đấy."

"Nghiêm chỉnh đi nào?" Tôi nói.

"Tớ chỉ đùa thôi mà," Nagasawa nói. "Thôi nào, hãy hạnh phúc nhé. Tớ có cảm giác cậu sẽ gặp khối chuyện cứt đái ở đời, nhưng cậu là một thằng đểu cứng đầu, tớ tin chắc cậu sẽ xử lí được hết. Có cho phép tớ khuyên cậu một điều không?"

"Nói đi."

"Đừng tự trách móc mình," hắn nói. "Chỉ những thằng vứt đi mới làm thế!"

"Tớ sẽ nhớ," tôi nói. Chúng tôi bắt tay nhau và đi mỗi người một ngả, hắn đến cái thế giới mới của hắn, tôi về vùng đầm lầy của mình.

o O o

Ba ngày sau khi dọn nhà, tôi viết cho Naoko. Tôi mô tả ngôi nhà mới và nói tôi thấy nhẹ nhõm biết bao khi thoát khỏi được bọn ngốc trong khu học xá với tất cả những trận nhồi sọ của chúng. Giờ đây tôi có thể bắt đầu cuộc sống mới của mình với một tâm trạng mới.

Cửa sổ của mình nhìn ra một khu vườn rộng vẫn là nơi gặp mặt của tất cả lũ mèo quanh khu phố này. Mình thích nằm dài ngoài hiên và ngắm nhìn chúng. Mình không biết chúng có bao nhiêu con ở đó, nhưng là một lũ đông lắm. Chúng sưởi nắng thành từng nhóm. Có lẽ chúng chẳng hài lòng gì khi thấy mình ở đây, nhưng một lần khi mình để ra đó một miếng pho-mát cũ thì đã có mấy con bò đến nhấm nháp nó. Chẳng chóng thì chầy rồi chúng cũng thành bạn với mình thôi. Trong bọn có một con mèo đực lông vằn tai rách đến một nửa. Thật kì lạ vì trông nó rất giống lão trưởng khu học xá của mình ngày trước. Mình cứ nghĩ thể nào cũng có hôm con mèo này bắt đầu làm lễ kéo cờ cho mà xem.

Mình ở đây có hơi xa trường một chút, nhưng vào năm thứ ba thì sẽ không có nhiều giờ học buổi sáng nên cũng không đến nỗi tệ lắm. Có khi còn hay hơn vì mình sẽ có nhiều thì giờ đọc sách trên tàu điện hơn.

Bây giờ chỉ còn phải tìm xem có việc gì dễ dễ ở quanh đây để mình có thể làm ba hoặc bốn ngày một tuần. sau đó là mình có thể trở lại với cuộc sống lên dây cót của mình.
Mình không muốn vội, nhưng tháng Tư là thời điểm tốt trong năm để bắt đầu những việc mới mẻ, và mình không thể không cảm thấy rằng tốt nhất là bọn mình nên bắt đầu chung sống với nhau vào lúc đó.

Cậu cũng có thể trở lại đại học, nếu mọi việc suôn sẻ. Nếu thực tế sống chung của bọn mình có vấn đề gì, mình có thể tìm cho cậu một căn hộ ở gần đây. Quan trọng nhất là chúng mình phải luôn ở gần nhau. Cũng không nhất thiết phải bắt đầu vào mùa xuân, tất nhiên rồi. Nếu cậu nghĩ mùa hè tốt hơn thì mình cũng sẽ thấy thế. Chỉ cần cậu cho mình biết cậu nghĩ thế nào được không?

Mình đang định sẽ đi làm thêm nhiều hơn trong một thời gian. Để trang trải các chi phí cho việc chuyển chỗ ở này. Mình sẽ cần tiền sắm sửa cái này cái nọ khi sống một mình - nồi niêu xoong chảo bát đĩa và những cái linh tinh khác. Nhưng đến tháng Ba là mình sẽ rỗi, và nhất định sẽ đến thăm cậu. Cứ ngày nào tốt nhất với cậu là mình sẽ đi Kyoto ngày ấy.

Mong gặp cậu và mong cậu trả lời mình.

o O o

Tôi bỏ ra mấy ngày đi mua những thứ cần thiết trong khu mua bán Kichijoji ở gần nhà và bắt đầu tự nấu các bữa ăn đơn giản. Tôi mua vài tấm ván ở một xưởng cửa địa phương và cho cắt theo kích cỡ để có thể mang về nhà tự đóng một cái bàn. Tôi nghĩ mình sẽ có thể ngồi học ở cái bàn ấy, còn bây giờ thì hãy cứ ăn luôn ở đó. Tôi làm mấy cái giá đỡ và mua về đủ loại gia vị. Một con mèo trắng có lẽ sáu tháng tuổi đã quyết định có cảm tình với tôi và bắt đầu ăn ở chỗ tôi. Tôi đặt tên cho nó là Hải âu.

Khi đã thu xếp tương đối ổn, tôi vào nội thành và kiếm được một chân phụ thợ sơn để làm tạm thời. Tôi đi làm luôn trong hai tuần lễ liền. Tiền thì tốt, nhưng việc thì mệt chết người, và mùi dầu sơn quay cuồng cả đầu óc. Ngày nào xong việc tôi cũng ăn tại một quán rẻ tiền, uống bia lùa cơm cho xong bữa, về nhà chơi với con mèo, rồi lăn ra ngủ như chết. Trong thời gian đó tôi cũng chẳng nhận được thư từ gì của Naoko.

Đang mải phụ thợ sơn thì tôi chợt nhớ đến Midori, giật mình vì đã không liên lạc gì với cô gần ba tuần rồi và cũng chưa báo cho cô biết việc dọn nhà. Tôi đã nói đang tính chuyện dọn nhà với cô, và cô bảo "Ô thế à?", nhưng chỉ có vậy thôi.

Tôi ra một trạm điện thoại và quay số của Midori. Người đàn bà nhấc máy có thể là chị cô. Khi tôi xưng tên, chị ta bảo "Chờ tí nhé", nhưng mãi cũng chẳng thấy Midori đâu.

Sau đó cô chị hoặc ai đó trở lại. "Midori nói nó tức lắm không thể nói chuyện với cậu được. Cậu vừa dọn nhà mà chẳng nói gì với nó, đúng không? Cứ thế biến mất mà không bảo nó là cậu đi đâu, đúng không? Thôi, bây giờ thì cậu làm nó điên sùng sục lên rồi. Mà khi nó đã điên thì không thể làm gì được đâu. Như là chó dại vậy."

"Chị có thể làm ơn đưa máy cho cô ấy được không? Tôi sẽ giải thích."

"Nó bảo không muốn nghe giải thích giải thiếc gì hết."

"Vậy tôi giải thích với chị có được không? Tôi chẳng muốn thế này chút nào, nhưng chị có thể cứ nghe tôi một chút rồi nói lại với cô ấy được không?"

"Đừng nói với tôi! Nói với chính cậu ấy! Cậu là loại người gì vậy? Trách nhiệm là ở cậu, thì cậu phải lo, mà phải lo cho đúng."

Hết cách rồi. Tôi cám ơn cô ta và gác máy. Thực tình tôi không thể trách Midori. Mãi dọn nhà với trăm thứ việc rồi lại mải đi kiếm tiền thêm, tôi đã không nhớ gì đến Midori. Cả đến Naoko cũng vậy, trong suốt thời gian ấy. Tính tôi là thế. Một khi đã dính vào việc gì là tôi quên khuấy mọi chuyện khác.

Nhưng rồi tôi bắt đầu nghĩ đến việc bản thân mình sẽ ra sao nếu Midori đã dọn đi đâu đó chẳng nói năng gì với tôi và cũng chẳng liên lạc gì suốt ba tuần lễ. Tôi sẽ bị tổn thương, tổn thương nặng nề, không nghi ngờ gì nữa.

Không, hai đứa không phải là nhân tình nhân ngãi gì, nhưng về mặt nào đó chúng tôi đã cởi mở cõi lòng với nhau còn sâu sắc hơn cả nhân tình nhân ngải nữa. Ý nghĩ ấy làm cho tôi buồn vô cùng. Thật khủng khiếp khi ta làm tổn thương một người ta hằng quí mển mà lại không biết là như vậy.

Ngay khi vừa đi làm về, tôi ngồi vào chiếc bàn mới của mình và viết cho Midori. Tôi cố kể hết với cô những cảm xúc chân thật của mình. Tôi xin lỗi, không giải thích mà cũng không phân bua, vì đã vô tâm vô tính như vậy. Tớ nhớ cậu, tôi viết. Tớ muốn gặp cậu càng sớm càng sớm càng tốt. Tớ muốn cậu thấy nhà mới của tớ. Làm ơn viết cho tớ nhé, tôi viết thế, và gửi lá thư qua đường phát chuyển đặc biệt.
Nhưng không hề có hồi âm.

Một mùa xuân lạ lùng đã bắt đầu như vậy đấy. Cả vụ nghỉ đó tôi chỉ ngong ngóng đợi thư. Tôi không dám đi đâu chơi, không dám về nhà thăm bố mẹ, không dám nhận cả một công việc ngoài giờ vì chưa biết lúc nào Naoko sẽ viết thư hẹn tôi đến thăm nàng vào một ngày nào đấy. Đến chiều tôi chỉ lang thang trong khu mua bán ở Kichijoji, xem phim suất đúp hoặc đọc sách trong một quán cà-phê. Tôi không gặp ai và hầu như không nói chuyện với ai. Và cứ mỗi tuần một lần tôi viết cho Naoko. Không bao giờ tôi bóng gió gì đến chuyện mong nàng trả lời. Tôi không muốn nàng cảm thấy bị áp lực trong bất kì chuyện gì. Tôi chỉ kể cho nàng nghe về công việc phụ thợ sơn của mình, về con mèo Hải âu, về hoa đào đang nở trong vườn, về bà lão bán đậu phụ tốt bụng, về mụ già bẩn tính ở một quán ăn trong khu phố, về những bữa ăn tôi tự nấu cho mình. Nhưng nàng không viết lại một lần nào.

Hễ đã chán đọc sách hoặc nghe nhạc, tôi sẽ loay hoay làm vườn chút đỉnh. Tôi mượn chủ nhà một cái cào, chổi, kéo xén cây, và tiêu thời gian vào việc nhỏ cỏ dại và xén tỉa bụi rậm. Không phải mất công lắm cũng đã khiến cho cái vườn đẹp mắt hẳn lên. Một lần, ông chủ nhà mời tôi uống trà với ông ta, và chúng tôi cùng ngồi dưới hiên ngôi nhà chính, uống trà xanh, ăn bích-qui gạo tẻ, và chuyện trò đôi chút. Sau khi về hưu, ông lại có việc làm với một công ty bảo hiểm, ông nói, nhưng ỏng cũng đã thôi việc đó rồi, sau một hai năm, và bây giờ thì chỉ nghỉ ngơi vậy thôi. Nhà đất là của gia đình từ lâu đời rồi, con cái ông cũng đã trưởng thành và độc lập cả, và ông có thể hưởng tuổi già thoải mái không cần phải làm gì. Chính thế mà hai vợ chồng ông lúc nào cũng đi du lịch cùng nhau.

"Hay quá," tôi nói.

"Chẳng hay đâu," ông đáp. "Du lịch chẳng thích thú gì. Tôi thà làm việc còn hơn."

Ông bảo ông đã để khu vườn hoang dại như thế là vì quanh đây chẳng có thợ làm vườn nào tử tế, và cũng vì ông bị dị ứng không thể tự làm vườn được. Cứ cắt cỏ là ông bị hắt hơi sổ mũi.

Uống xong bữa trà, ông chỉ cho tôi một cái chái chứa đồ và bảo tôi muốn dùng thứ gì ở trong đó cũng được cũng là một cách cảm ơn tôi đã chăm nom đến khu vườn. "Chúng tôi chẳng dùng gì đến những thứ này nữa," ông nói, "cậu cứ tự nhiên cho."

Thực ra ở đó chất đầy đủ thứ đồ - một thùng tắm bằng gỗ đã cũ, một cái bể bơi cho trẻ con, gậy bóng chày.
Tôi tìm thấy cả một cái xe đạp cũ, một cái bàn ăn cỡ nhỏ với hai cái ghế, một tấm gương, và một cây ghi-ta. "Cháu muốn mượn những thứ đó có được không ạ?" Tôi nói.

"Cậu cứ tự nhiên cho," ông nhắc lại.

Tôi để ra một ngày loay hoay với cái xe đạp: đánh sạch gỉ, tra dầu các ổ bi, bơm lốp xe, chỉnh bộ số, và đem nó ra một hiệu chữa xe đạp để lắp một bộ dây sang số mới. Xong xuôi trông nó như một cái xe khác hẳn. Tôi cạo sạch lớp bụi dày cộp trên cái bàn và quét cho nó một lớp véc ni mới. Tôi thay dây cho cái ghi-ta và dán lại chỗ bong tróc trên thân đàn. Tôi dùng búi thép đánh sạch gỉ ở các khoá lên dây và điều chỉnh chúng cẩn thận. Không ra một cây đàn oách, nhưng ít nhất cũng không lạc nốt sai dây nữa. Tôi chợt nhớ từ hồi hết trung học đến giờ mình chưa hề sờ đến một cây ghi-ta nào. Tôi ngồi ngoài hiên và mày mò đánh bài "Trên mái nhà" của nhóm The Drifters, và rất ngạc nhiên thấy mình vẫn còn nhớ hầu hết các hợp âm của bài đó.

Tiếp theo đó, tôi lấy mấy mẩu ván và đóng thành một hộp thư vuông vắn. Tôi sơn nó màu đỏ, viết tên mình vào, rồi dựng nó cạnh cổng. Mai đến mồng ba tháng Tư mới thấy bưu điện bồ vào thùng thư của tôi một cái gì đó từ khu học xá chuyển tới. Hoá ra là một thông báo họp lớp của trường trung học cũ. Tôi không muốn lôi thôi đến món họp lớp bao giờ. Mà đó lại là lớp tôi cùng học với Kizuki. Tôi liền quẳng cái thông báo ấy vào sọt rác.

Chiều ngày mồng bốn tháng Tư thì tôi thấy có một bức thư trong thùng. Mặt sau có đề tên Reiko Ishida. Tôi dùng kéo cắt một nhát ngọt qua mép dán rồi ra thềm để đọc nó. Tôi đã linh cảm sẽ không có tin lành, và quả là như vậy.

Đầu tiên Reiko xin lỗi đã để tôi phải chờ lâu đến thế. Chị nói
Naoko đã vật vã cố viết cho tôi, nhưng lần nào nàng cũng không thể viết xong được.

"Tôi đã bảo để tôi viết trả lời thay cho cô ấy, nhưng hễ tôi nhắc đến chuyện phải trả lời cậu là cô ấy lại khăng khăng rằng đây là chuyện quá riêng tư và cô ấy phải tự viết mới được. Vì vậy mà tôi không viết cho cậu sớm hơn được. Tôi thật tình xin lỗi cậu. Hy vọng cậu sẽ bỏ lỗi cho tôi.

Tôi biết chắc cậu đã khổ sở cả tháng ròng chờ thư hồi âm, nhưng hãy tin tôi, tháng vừa rồi Naoko cũng khổ sở không kém. Cậu phải cố hiểu những gì cô ấy đang trải qua. Tình trạng cô ấy không tốt đâu, tôi phải nói thật như vậy. Cô ấy đang cố hết sức để trụ vững, nhưng cho đến giờ kết quả chẳng khả quan chút nào.

Nghĩ lại, bây giờ tôi mới thấy rằng triệu chứng xấu đầu tiên của cô ấy là mất khả năng viết thư. Nó bắt đầu khoảng cuối tháng Mười một đầu tháng Mười hai. Sau đó cô ấy bắt đầu cứ nghe thấy cái gì đó trong đầu. Hễ định viết thư là cô ấy lại nghe thấy có tiếng người nói chuyện với mình và không thể viết được nữa. Những giọng nói ấy chen vào nỗ lực chọn từ ngữ của cô ấy. Nhưng tình trạng ấy cũng chưa đến nỗi nào cho đến lần cậu đến thăm thứ hai, nên tôi đã không để ý cẩn thận. Với tất cả chúng tôi ở đây, những loại triệu chứng này xảy ra theo chu kì, hơn kém nhau chút đỉnh thôi. Nhưng trong trường hợp của cô ấy thì chúng cứ nặng mãi lên sau khi cậu ra về. Bây giờ thì đối thoại bình thường thôi cũng là rất khó khăn với cô ấy. Cô ấy không thể tìm được đúng từ để nói, và điều đó đẩy cô ấy vào một tình trạng hoang mang khủng khiếp. Hoang mang và sợ hãi. Trong khi đó thì những "thứ" cô ấy nghe thấy trong đầu cứ ngày một tệ hơn.

Chúng tôi có một buổi điều trị hàng ngày với một nhà chuyên môn. Naoko với tôi và ông bác sĩ này ngồi chuyện trò với nhau để cố tìm xem khu vực nào của cô ấy đã bị đổ bể. Tôi đưa ra ý kiến là có lẽ sẽ tốt nếu có thêm cậu cùng dự những buổi này, và ông bác sĩ ủng hộ tôi, nhưng Naoko không chịu. Tôi có thể nhắc lại đúng lời cô ấy như sau: "Tôi muốn thân xác tôi phải sạch hết mọi thứ này khi tôi gặp cậu ấy." Tôi bảo cô ấy rằng đó không phải là vấn đề; vấn đề là cô ấy phải khỏe lại càng nhanh càng tốt, và tôi cố thuyết phục cô ấy, nhưng cô ấy nhất định không chịu đổi ý.

Hình như đã có lần tôi bảo cậu rằng đây không phải là một bệnh viện chuyên khoa. Tất nhiên là chúng tôi có các chuyên gia y khoa ở đây, và họ điều trị cũng rất có hiệu quả, nhưng điều trị tập trung lại là chuyện khác hẳn. Ý đồ của cơ sở này là tạo ra một môi trường hữu hiệu để bệnh nhân có thể tự điều trị, và như vậy, nói cho đúng ra, nó không bao gồm việc điều trị y khoa. Có nghĩa là nếu tình trạng của Naoko vẫn tiếp tục xấu đi, họ sẽ có thể phải chuyển cô ấy tới một bệnh viện khác hoặc một cơ sở y tế khác hoặc gì đó không biết. Nói thật, tôi thấy chuyện ấy rất đau lòng, nhưng chúng tôi sẽ bắt buộc phải làm vậy. Nói thế không có nghĩa là cô ấy không thể quay lại đây để điều trị theo kiểu "nghĩ vắng mặt" ở bên kia một thời gian. Hoặc biết đâu cô ấy lại có thể khỏi hẳn và không cần gì đến bệnh viện nữa. Gì thì gì, chúng tôi đang làm tất cả mọi thứ có thể được, và Naoko cũng vậy, còn bây giờ thì tốt nhất là cậu hãy hy vọng cho cô ấy bình phục được và tiếp tục gửi thư cho cô ấy."

Lá thư đề ngày ba mươi mốt tháng Ba. Đọc xong, tôi vẫn ngồi ngoài hiên và nhìn quanh quẩn ra khu vườn lúc bấy giờ đã đầy vẻ tươi tốt của mùa xuân. Một cây anh đào cổ thụ đang đứng đó, hoa sắp đến kì nớ rộ. Một làn gió nhẹ đang thổi tới, và ánh sáng ngày bao trùm mọi vật trong những màu sắc mờ ảo kì lạ. Hải âu từ đâu đó mới đảo về nhà, và sau khi cào cào những tấm ván thềm một lát, nó nằm dài xuống cạnh tôi và lăn ra ngủ.

Tôi biết mình nên để tâm suy nghĩ thật nghiêm chỉnh một vài chuyện, nhưng không biết bắt đầu thế nào.
Và nói thật là lúc ấy tôi không muốn phải suy nghĩ chút nào. Chẳng mấy chốc sẽ đến lúc tôi không thể tránh được việc ấy, và bấy giờ tôi sẽ để ra hẳn một thời gian dài tập trung suy nghĩ hết mọi việc. Còn bây giờ thì không. Bây giờ thì không.

Cả ngày hôm đó tôi dán mắt vào khu vườn, nằm dựa gối và vuốt ve Hải âu. Tôi thấy hoàn toàn kiệt sức. Chiều tàn dần, hoàng hôn đã tới, và những bóng tối màu xanh lơ bao bọc cả khu vườn. Hải âu đã biến đi đâu rồi, nhưng tôi vẫn tiếp tục nhìn hoa anh đào đang nở. Trong bóng tối mùa xuân, trông chúng giống như thịt vừa bục ra khỏi da trên những vết thương đang mưng mủ. Khu vườn tràn ngập mùi thịt thối ngòn ngọt rất nặng. Và chính lúc đó tôi nhớ đến da thịt Naoko. Da thịt đẹp đẽ của Naoko nằm trước mặt tôi trong bóng tối, vô vàn mầm nụ đang bung ra trên da nàng, xanh mét và run rẩy trong làn gió nhẹ hầu như không cảm thấy được. Tại sao một tấm thân đẹp đẽ như thế lại phải mang bệnh đến vậy? Tôi tự hỏi. Sao chúng không buông tha cho nàng?

Tôi vào nhà và kéo màn cửa lại, nhưng ngay cả ở trong nhà cũng vẫn không thoát được mùi vị mùa xuân. Nó tràn ngập mọi thứ từ dưới đất lên cao. Nhưng hương vị duy nhất của mùa xuân mà tôi đang cảm thấy lúc ấy lại là cái mùi thịt thối khăn ghê rợn kia. Giam mình sau màn cửa, tôi cảm thấy một nỗi kinh tởm dữ dội đối với mùa xuân. Tôi căm ghét những gì mùa xuân đang dành đợi tôi; tôi căm ghét cái nỗi đau rần rật đến tê dại mà nó gợi lên trong tôi. Tôi đã chưa khi nào căm ghét cái gì trên đời dữ dội đến thế.

Ba ngày liền sau đó tôi như đi dưới đáy biển. Tôi không thể nghe người ta nói gì với mình, và mọi người nghe tôi cũng khó khăn như vậy. Toàn thân tôi như bị bao bọc trong một thứ màng khiến cho tôi mất hẳn mọi tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tôi không thể chạm vào "họ", và "họ" cũng không thể chạm vào tôi. Tôi hoàn toàn bất lực, và chừng nào còn như vậy thì "họ" còn chưa thể với đến tôi.
Tôi ngồi dựa lưng vào tường, dán mắt lên trần nhà. Khi thấy đói, tôi sẽ gặm bất kì thứ gì vớ được ở xung quanh, uống tí nước, và khi nỗi cám cảnh đau buồn ập đến, tôi lấy rượu whisky để hạ gục chính mình. Tôi không tắm. Không cạo mặt. Ba ngày liền trong tình trạng như thế.

Mồng sáu tháng Tư thì có thư Midori. Cô hẹn gặp tôi ở trường và cùng ăn trưa vào ngày mồng mười khi chúng tôi phải đến đăng kí các lớp học. Tớ trì hoãn viết cho cậu thật lâu cho đến lúc hai đứa mình hoà nhau, nên hãy giảng hoà nhé. Tớ phải thú nhận, tớ nhớ cậu. Tôi đọc đi đọc lại lá thư tất cả là bốn lần, mà vẫn không thể hiểu cô đang định nói gì với tôi. Nó có thể có nghĩa gì mới được chứ? Đầu óc tôi mù mịt hết cả, tôi không thể tìm ra mối liên hệ từ câu này đến câu kia. Tại sao gặp cô ta ngày đăng kí môn học lại làm cho chúng tôi "hoà nhau" Tại sao cô ta lại muốn "ăn trưa" với tôi? Tôi thực sự lạc đường. Trí não tôi nhão ra rồi, như bộ rễ sũng nước của một loài cây mọc dưới biển. Nhưng không hiểu sao tôi vẫn biết là mình phải vùng ra khỏi tình trạng đó. Và rồi đột nhiên những lời của Nagasawa trở lại với tôi: "Đừng bao giờ tự trách mình. Chỉ có bọn vứt đi mới làm vậy."

"Ôkê, Nagasawa. Đúng thế," tôi nghe thấy mình nói trong đầu, thở dài đánh thượt rồi gượng dậy.

Tôi giặt quần áo lần đầu tiên sau nhiều tuần lễ, đến nhà tắm công cộng và cạo mặt, dọn dẹp nhà cửa, mua thức ăn và nấu một bữa tử tế để thay đổi cho con Hải âu gần chết đói ăn, chỉ uống bia, và tập thể dục ba mươi phút. Trong khi cạo mặt, tôi phát hiện trong gương là mình đã xọp hẳn đi. Hai mắt tôi lồi ra. Mãi tôi mới nhận ra mình.

Sáng hôm sau tôi đạp xe một chuyến dài dài, và sau khi ăn trưa ở nhà, tôi đọc lại lá thư của Reiko một lần nữa; rồi suy nghĩ nghiêm chỉnh xem tôi cần phải làm gì sau đó. Lý do chính khiến lá thư của Reiko làm tôi khổ sở đến vậy là vì nó đã phá vỡ niềm tin lạc quan của tôi rằng Naoko đang khá dần lên. Chính Naoko đã bảo tôi, "Bệnh tớ tệ hơn cậu tưởng nhiều: nó sâu rễ bền gốc lắm." Và Reiko cũng đã cảnh báo rằng không thể biết được chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng tôi đã gặp Naoko hai lần, và đã có ấn tượng là nàng đang trên đường lành bệnh. Tôi đã cho rằng chỉ còn có vấn đề là nàng có đủ can đảm quay lại thế giới thực tại hay không, và rằng nếu nàng làm được thế, cả hai chúng tôi sẽ chung lưng đấu cật trong chuyện đó.

Lá thư của Reiko đã đạp đổ toà lâu đài ảo mộng tôi đã xây trên cái giả định mong manh ấy, chỉ để lại một bề mặt bẹp gí không chút cảm giác nào. Tôi sẽ phải làm gì đổ để lấy lại chỗ đứng của mình. Có thể sẽ rất lâu Naoko mới có thể bình phục. Nhưng thậm chí sau đó có thể nàng sẽ còn thất thường và thiếu tự tin hơn. Tôi sẽ phải thích ứng với tình huống mới ấy. Và dù tôi có mạnh mẽ đến mấy thì chắc cũng không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề. Điều ấy thì tôi biết. Nhưng tôi lại chẳng làm gì khác được: chỉ biết giữ vững tinh thần và chờ cho nàng khỏi bệnh.

Này Kizuki ơi, tôi nghĩ bụng, khác với cậu, tớ đã chọn sự sống, và sẽ sống đẹp hết sức mình. Cậu thấy khó là đúng rồi. Nhưng nói thật nhé, tớ thì cũng thế thôi. Thật là khó. Mà tất cả chỉ là tại cậu đã tự vẫn và để Naoko ở lại. Còn tớ thì sẽ không bao giờ làm thế. Tớ sẽ không bao giờ, không bao giờ quay lưng lại với cô ấy. Trước hết là vì tớ yêu cô ấy, và là vì tớ mạnh mẽ hơn cô ấy. Tớ sẽ trưởng thành. Tớ sẽ thành người lớn. Vì tớ phải vậy. Tớ vẫn thường muốn cứ được là mười bảy hay mười tám tuổi mãi nếu có thể. Nhưng bây giờ thì thôi rồi. Tớ không còn là một thiếu niên. Bây giờ tớ đã biết thế nào là trách nhiệm. Tớ không còn là cái đứa như thời chúng mình còn chơi với nhau nữa. Tớ đã hai mươi rồi. Và tớ phải trả giá để tiếp tục sống.

"Cứt thật, Watanabe, cậu làm sao vậy?" Midori hỏi. "Da bọc xương hết rồi!"

"Tệ đến thế kia à?"

"Quá nhiều chuyện với bà bồ có chồng của cậu phải không, tớ đánh cuộc nào."

Tôi mỉm cười và lắc đầu. "Tớ chưa ngủ với cô nào từ đầu tháng Mười đến giờ."

"Úi! Không thể thế được. Những sáu tháng đấy ông ạ!"

"Cậu nghe tớ nói rồi mà."

"Thế làm sao mà cậu sụt cân gớm thế?"

"Tại lớn lên đấy," tôi nói.

Midori đặt tay lên cả hai vai tôi và nhìn vào mắt tôi với một vẻ mắng nhiếc chẳng mấy chốc đã biến thành một nụ cười ngọt lịm.

"Đúng thế thật," cô nói. "Có cái gì đó khác. Cậu đã thay đổi."

"Tớ bảo rồi, tớ đã lớn lên. Giờ tớ đã là người lớn."

"Cậu tuyệt vời thật, kiểu suy nghĩ của cậu ấy," cô nói như thể bị ấn tượng thực sự. "Mình đi ăn thôi. Tớ đói ngấu rồi."
Chúng tôi vào một tiện ăn nhỏ đằng sau khoa văn. Tôi lấy một suất ăn trưa đặc biệt và cô cũng vậy.

"Này, Watanabe, cậu giận tớ lắm phải không?"

"Vì chuyện gì chứ?"

"Vì không trả lời cậu, cốt để gỡ hoà mà. Cậu nghĩ tớ không nên thế à?" Sau khi cậu đã xin lỗi và mọi thứ khác"

"Ừ, nhưng đầu tiên là lỗi tại tớ. Nó như vậy mà."

"Chị tớ bảo nhẽ ra tớ không nên thế. Quá ác, quá trẻ con."

"Ờ, nhưng nó làm cậu thấy dễ chịu hơn, đúng không nào, gỡ hoà kiểu ấy?"

"Thôi được rồi, cho qua chuyện đó đi."

"Cậu đang tha thứ cho tớ phải không?" Midori nói.

"Nhưng nói thật đi Watanabe, cậu chưa làm tình trong sáu tháng liền cơ à?"

"Không một lần nào."

"Vậy cái lần cậu cho tớ đi ngủ, chắc cậu phải thèm lắm."

"Ờ, chắc thế!"

"Nhưng cậu không làm gì, đúng không?"

"Nghe này, cậu là bạn tốt nhất của tớ bây giờ," tôi nói. "Tớ không muốn mất cậu đâu."

"Cậu biết không, nếu cậu cưỡng tớ hôm đó, chắc tớ không chống lại được đâu, tớ kiệt lực đến thế cơ mà."

"Nhưng tớ quá to và quá cứng," tôi nói.

Midori mỉm cười rồi chạm vào cổ tay tôi. "Một lúc trước đó, tớ đã quyết định sẽ tin cậu. Một trăm phần trăm. Cho nên tớ mới yên trí ngủ ngon như vậy. Tớ biết tớ sẽ không sao, tớ sẽ an toàn với cậu ở đó. Và tớ đã ngủ say như chết, đúng không?"

"Đúng quá."

"Nhưng mặt khác, nếu cậu nói với tớ, "Ê, Midori, mình ấy nhau đi, rồi mọi thứ sẽ tốt đẹp mà" thì có lẽ tớ đã ấy với cậu rồi. Này, đừng có tưởng tớ đang định cám dỗ hay trêu ngươi gì cậu nhé. Tớ chỉ đang nghĩ sao nói vậy thôi, hoàn toàn chân thực."

"Biết rồi, biết rồi."

Trong lúc ăn trưa, chúng tôi cho nhau xem giấy đăng kí lớp học của mình và thấy sẽ có chung nhau hai lớp. Vậy là ít nhất tôi cũng sẽ gặp cô hai lần một tuần. Xong chuyện đó rồi, Midori kể cho tôi nghe về cách thu xếp cuộc sống của cô. Lúc đầu hai chị em cô không thể quen được với cuộc sống ở căn hộ. Bởi vì nó quá an nhàn, cô nói. Họ đã quá quen với việc hàng ngày phải chạy quanh như điên, hết chăm người ốm lại đến trông cửa hàng, hết việc này đến việc nọ.

"Nhưng cuối cùng thì bọn mình cũng thấy quen," cô nói. "Nhẽ ra chúng mình phải được sống thế này từ lâu rồi - không phải lo lắng đến nhu cầu của bất kì ai, chỉ việc nằm dài kiểu gì cũng được. Lúc đầu cả hai chị em mình đều thấy bồn chồn, như thể người mình nó cứ lơ lửng trên mặt sàn đến năm sáu phân. Nó không có vẻ thực tí nào, giống như cuộc sống thật không thể là như vậy. Cả hai chị em đều căng thẳng, chỉ sợ mọi thứ lại sắp lộn nhào hết cả."

"Một cặp cả lo," tôi mỉm cười nói.

"Chẳng qua là vì cuộc sống đã ác với chúng mình cho đến tận bây giờ," Midori nói. "Nhưng không sao. Bọn mình sẽ lấy lại những thứ nó còn nợ."

"Tớ cuộc là cậu sẽ được," tôi nói, "vì tớ biết cậu rồi. Nhưng cậu nói xem, hiện giờ chị cậu làm gì?"

"Một người bạn chị ấy vừa mở một tiệm bán các loại phụ tùng phù phiếm cách đây ít lâu. Chị tớ làm ở đó ba lần một tuần. Ngoài ra thì chị ấy học nấu ăn, đi chơi với chồng chưa cưới, đi xem xinê, oằn oài ra đó, và hưởng cuộc đời," Rồi Midori hỏi thăm tôi về cuộc sống mới. Tôi tả cho cô nghe cách bố trí của ngôi nhà, khu vườn rộng với con mèo Hải âu, và ông chủ nhà.

"Cậu thấy trong lòng vui vẻ chứ?" cô hỏi.

"Ừ, vui chứ," tôi nói.

"Cậu chẳng lỡm được tớ đâu" Midori nói.

"Tớ biết thế, nhưng cũng tại mùa xuân nữa," tôi nói.

"Và lại còn đang mặc cái áo chui đầu bồ đan cho đẹp thế kia nữa."

Tôi giật nay mình và liếc vội xuống cái áo màu rượu vang.

"Sao cậu biết"

"Cậu thật thà quá," Midori nói. "Tất nhiên là tớ chỉ đoán thế thôi! Nhưng mà này cậu có chuyên gì vậy?"

"Không biết nữa. Tớ đang cố khuấy lên ít nhiệt tình."

"Chỉ cần nhớ rằng cuộc đời là một hộp sô-cô-la."

Tôi lắc đầu mấy cái rồi nhìn cô.

"Có thể tớ không thông minh thế, nhưng nhiều khi tớ không biết cậu đang nói chuyện quái gì nữa."

"Cậu biết đấy, họ có nhiều loại sô-cô-la như thế này này, và cậu chỉ thích mấy loại này và không thích mấy loại kia chứ gì? Và cậu chén hết những loại cậu thích, những miếng còn lại toàn những loại cậu không thích bằng chứ gì? Tớ luôn nghĩ đến chuyện đó mỗi khi có chuyện đau buồn. "Bây giờ thì chỉ có việc chén nốt chỗ kia thôi chứ làm sao đây, và mọi chuyện sẽ ôkê cả." Đời là một hộp sô-cô la như vậy đấy."

"Có lẽ cậu có thể gọi đó là triết học."

"Đúng thế còn gì. Tớ đã học được nó bằng kinh nghiệm."


o O o


Đang uống cà-phê với nhau thì có hai cô gái bước vào. Midori có vẻ biết họ ở đại học. Ba người so các môn sắp học của nhau và nói hàng triệu thứ chuyện khác nhau: "Điểm tiếng Đức của cậu thế nào?" "Thằng ấy thằng nọ bị ăn đòn trong cuộc nổi loạn ở trường." "Đôi giày đẹp nhỉ, cậu mua ở đâu thế?"… Tôi chỉ nghe nửa tai, nhưng cảm thấy như những câu nói của họ đang vọng về từ phía bên kia của thế giới. Tôi nhấm nháp cà-phê và nhìn những cảnh tượng đang kéo qua bên ngoài cửa sổ. Đó là một quang cảnh điển hình ở đại học vào mùa xuân khi sắp vào năm học mới: một màn mù nhè nhẹ lơ lửng trên trời, anh đào đang nở hoa, đám sinh viên mới (nhìn là biết ngay) ôm theo người hàng đống sách. Tôi thấy mình bập bềnh đôi chút và nghĩ đến Naoko đang không thể quay về học năm nay. Trên bậu cửa sổ có một cái cốc thuỷ tinh nhỏ cắm đầy hoa gió.

Khi hai cô kia đã về bàn của họ, Midori và tôi ra ngoài đi dạo quanh đó. Chúng tôi vào một vài hiệu sách cũ, mua mấy cuốn, uống một cốc cà-phê nữa ở một quán khác chơi bắn bi trong một động game, rồi ngồi ở ghế công viên tán chuyện, hay nói đúng hơn là Midori nói còn tôi chỉ ậm ừ giữ nhịp. Khi cô nói khát nước, tôi chạy ra một quầy báo mua hai lon Coke. Lúc về thì thấy cô đang nghí ngoáy viết cái gì đó lên mấy trang giấy kẻ bằng bút bi.

"Cái gì thế?" tôi hỏi.

"Có gì đâu," cô nói.

"Tớ phải đi," cô tuyên bố lúc ba giờ rưỡi. "Tớ đã hẹn gặp chị tớ ở Ginza."

Chúng tôi đến ga tàu rồi mỗi người đi một ngả. Lúc chia tay, Midori nhét mẩu giấy đã gập làm tư vào túi quần tôi "Về nhà cậu hay đọc nhé," cô nói. Tôi đọc nó luôn lúc trên tàu.

"Tớ viết thư này trong lúc cậu đi mua nước uống. Đây là lần đầu tiên trong đời tớ viết thư cho một người ngồi ngay cạnh mình trên ghế công viên, nhưng có lẽ đó là cách duy nhất tớ có thể đến được với cậu. Tớ muốn nói là cậu đang chẳng để ý gì đến những những lời tớ nói, đúng không nào?
Cậu có biết hôm nay cậu đã làm điều gì khủng khiếp lắm với tớ không? Cậu không hề thấy tớ đã đổi kiểu tóc khác, đúng không? Tớ đã loay hoay với nó mãi rồi, cố để cho nó dài ra, và cuối cùng thì cuối tuần trước tớ đã làm được một kiểu mà cậu có thể gọi là tóc con gái, nhưng thậm chí cậu cũng chẳng để ý nữa. Trông nó cũng hay, nên tớ đã tưởng sẽ làm cho cậu choáng một tí sau khi bao nhiêu lâu cậu mới gặp lại tớ, nhưng cậu nào có thấy gì. Cậu bảo thế có chán không? Tớ cuộc là cậu còn chẳng biết tớ mặc gì hôm nay nữa kia. Ê, tớ vẫn là con gái mà! Ừ thì cậu đang bận chuyện gì đó trong đầu! Nhưng cứ nhìn người ta một cái tử tế thì đã làm sao! Cậu chỉ cần bảo "Tóc xinh đấy", thế là tớ sẽ có thể tha thứ cho cậu vì đã mải chìm đắm trong một triệu thứ ý nghĩ kia, nhưng mà không!

Chính thế mà tớ sắp tặng cậu một lời nói dối đây. Không phải tớ đi gặp chị tớ ở Ginza đâu. Tớ đã định đến ngủ lại ở chỗ cậu. Thậm chí đã mang cả quần áo ngủ đi theo. Thật thế. Tớ đã có áo ngủ và bàn chải đánh răng ở trong túi rồi. Thế có ngủ không! Đấy, cậu có hề mở mồm mời tớ đến thăm nhà mới của cậu đâu. Nhưng thôi, cần quái gì, rõ ràng là cậu muốn được một mình, nên tớ sẽ để cho cậu được một mình. Cứ việc nghĩ ngợi cho thoả đi!

Nhưng đừng có hiểu sai tớ. Tớ không hoàn toàn phát điên vì cậu đâu. Tớ chỉ buồn thôi. Cậu đã tốt như thế với tớ khi tớ gặp rắc rối, còn bây giờ thì cậu đang gặp rắc rối và có vẻ là tớ chẳng làm được gì cho cậu cả. Cậu đang bị nhốt chặt trong cái thế giới nhỏ bé ấy của cậu, và khi tớ gõ cửa thì cậu chỉ ngẩng lên độ một giây rồi lại bổ vào trong đó ngay.

Bây giờ thì tớ thấy cậu đang mang đồ uống về kia kìa - vừa đi vừa nghĩ. Tớ đang mong cậu vấp ngã đây, nhưng cậu không vấp. Bây giờ thì cậu ngồi ngay cạnh và đang uống lon Coke của cậu. Tớ đang bám lấy tia hy vọng cuối cùng là cậu sẽ nhận thấy và nói "Ê, cậu đổi kiểu tóc rồi à!" nhưng mà không. Nếu cậu nói thế thì tớ đã xé bức thư này đi và bảo "Về nhà cậu chơi đi. Tớ sẽ nấu một bữa tối ngon lành. Và sau đó bọn mình có thể lên giường ôm ấp nhau." Nhưng cậu vẫn nhạy cảm như gỗ đá vậy. Tạm biệt.

Tái bút: Lần sau gặp thì đừng có nói gì với tớ đấy.

Tôi gọi điện thoại đến căn hộ của Midori từ nhà ga lúc vừa xuống tàu ở Kichijoji nhưng không có ai nhấc máy.

Chẳng có việc gì hơn, tôi lững thững quanh khu phố mình ở, tìm xem có việc gì làm thêm khi đã vào năm học. Tôi sẽ rỗi cả thứ Bảy và Chủ nhật, và có thể đi làm thêm từ sau năm giờ chiều các ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Năm; nhưng chẳng dễ gì mà tìm được những việc vào đúng những ngày giờ đó. Tôi đầu hàng và trở về nhà. Lúc ra ngoài mua rau cỏ cho bữa tối, tôi lại thử gọi đến chỗ Midori lần nữa. Chị gái cô nói Midori vẫn chưa về và không biết lúc nào thì cô về nhà. Tôi cảm ơn và gác máy.

Ăn tối xong, tôi định viết cho Midori, nhưng phải bỏ cuộc sau nhiều lần mào đầu chẳng ra sao. Tôi bèn viết cho Naoko.

Xuân đã về rồi, tôi viết, và đại học cũng đã vào năm học mới. Tôi viết rằng tôi nhớ nàng, rằng tôi vẫn mong có thể gặp và chuyện trò với nàng bằng cách nào đó. Dù sao, tôi viết, mình đã quyết định phải mạnh mẽ lên. Theo chỗ mình biết thì mình chỉ có thể làm được vậy.

Còn một chuyện nữa. Có thể nó chỉ liên quan đến mình và cậu có thể chẳng quan tâm gì cách này cách khác, nhưng mình sẽ không còn ngủ với bất kì ai nữa. Là vì mình không muốn quên những động chạm của cậu lần vừa rồi. Nó có ý nghĩa với mình hơn cậu tưởng nhiều. Lúc nào mình cũng nghĩ đến nó.

Tôi cho lá thư vào phong bì, dán tem, rồi ngồi đó nhìn nó một lúc lâu. Một lá thư ngắn hơn lệ thường rất nhiều, nhưng tôi có cảm giác như thế Naoko mới hiểu được tôi hơn. Tôi rót cho mình nửa cốc whisky, tợp hai hớp là hết, và đi ngủ.

Ngày hôm sau tôi tìm được một việc gần ga Kichijoji mà tôi có thể làm vào các thứ Bảy và Chủ nhật: chạy bàn cho một tiệm ăn Ý nho nhỏ. Các điều kiện thì khá tồi, nhưng tôi được bao đi lại và ăn trưa. Và hễ có ai nghỉ cả tối trong những ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Năm (mà thường là có) thì tôi có thể thế chân họ. Thật hoàn hảo đối với tôi. Người quản lí nói họ sẽ tăng tiền cho tôi sau ba tháng, và muốn tôi bắt đầu ngay thứ Bảy đó. Ông ta đàng hoàng hơn nhiều so với tay chủ tiệm đĩa hát ở Shinjuku.

Tôi thấy Midori trong giờ học hôm thứ Tư. Cô mặc áo len chui đầu xanh lá cây sẫm và đeo kính râm đen mà cô vẫn đeo từ vụ hè. Cô ngồi hàng ghế dưới cùng, đang nói chuyện với cô gái gày đeo kính cận mà rồi đã gặp một lần trước đây. Tôi đến gần và nói tôi muốn sau giờ học được nói chuyện với cô. Cô kính cận nhìn tôi trước, rồi mới đến Midori. Kiểu tóc của cô quả thực nữ tính hơn nhiều so với trước, đứng đắn hơn.

"Tôi mắc đi gặp người khác rồi," cô nói, hơi vênh mặt lên.

"Tôi không dám làm cô mất thời giờ đâu," tôi nói. "Năm phút thôi."

Midori bỏ kính ra và nheo nheo mắt, có vẻ như đang nhìn một căn nhà tiều tuỵ hoang phế ở cách đó hàng trăm thước.

"Tôi không muốn nói chuyện với anh. Xin lỗi nhé," cô nói.
Cô kính cận nhìn tôi với đôi mắt như đang nói: Cô ấy bảo cô ấy không muốn nói chuyện với anh. Xin lỗi nhé.

Tôi ngồi ở đầu bên phải hàng ghế trên cùng để nghe giảng (một bài tổng quan các tác phẩm của Tennessee Williams và địa vị của chúng trong văn học Mỹ), và khi hết giờ, tôi đếm thật chậm cho đến ba rồi quay lại. Midori đã đi rồi.

Tháng Tư là một tháng quá cô liêu cho những kẻ chỉ có một mình. Tháng Tư, mọi người xung quanh tôi trông đều có vẻ hạnh phúc. Người ta quẳng áo khoác ngoài đi và sung sướng đi với nhau dưới nắng trời - chuyện trò, đuổi bắt, cầm tay nhau. Nhưng lúc nào tôi cũng chỉ có một mình. Naoko, Midori, Nagasawa: tất cả họ đều không còn ở chỗ tôi nữa rồi. Tôi không có ai để chào buổi sáng hoặc chúc một ngày tốt lành. Tôi nhớ đến cả Quốc-xã. Tôi sống qua tháng ấy với cảm giác cách biệt tuyệt vọng. Tôi cố nói với Midori mấy lần, nhưng lần nào cũng chỉ có câu trả lời ấy:

"Bây giờ tớ chưa muốn nói chuyện với cậu" - và nghe giọng cô tôi biết là cô nói thật. Lúc nào Midori cũng cặp kè với cô kính cận, hoặc không thì với một anh chàng cao to tóc ngắn. Hắn có đôi chân đặc biệt dài và luôn đi giày bóng rổ trắng.

Tháng Tư qua đi và tháng Năm lại tới, nhưng còn tệ hơn nữa. Khi mùa xuân phai dần trong tháng Năm, tôi không thể lẩn tránh con tim run rẩy của mình được nữa. Nó thường xảy đến khi mặt trời đang xuống. Trong bóng chiều tà nhợt nhạt, khi không gian tràn ngập hương thầm của hoa mộc lan, trái tim tôi bỗng nở to ra, run rẩy, và lẩn quất nhói đau như có những nhát dao đâm. Tôi sẽ cố nhắm nghiền mắt lại và nghiến răng đợi cho cơn đau ấy qua đi. Và nó sẽ qua - nhưng chậm chạp như không vội vã gì, rồi để lại sau một vệt đớn đau tê dại.

Những lần như thế tôi lại viết cho Naoko. Tôi chỉ mô tả những chuyện cảm động, thú vị hoặc đẹp đẽ: hương thơm của cỏ, làn gió xuân vẻ vuốt trên da, ánh trăng sáng, một bộ phim tôi vừa xem, một bài hát tôi thích, một cuốn sách đã khiến tôi xúc động. Bản thân tôi cũng thấy được an ủi khi đọc lại những gì mình đã viết. Và tôi cảm thấy như thế giới tôi đang sống đây là một cõi diệu kì. Tôi viết không biết bao nhiêu bức thư như thế, nhưng chẳng nhận được gì từ Naoko hoặc Reiko.

Ở tiệm ăn nơi tôi làm thêm, tôi làm quen với một sinh viên cùng lứa tên là Itoh. Phải mất một thời gian dài, cậu sinh viên dịu dàng ít nói đang học vẽ sơn dầu ở một đại học mỹ thuật ấy mới bắt chuyện với tôi, nhưng cuối cùng thì chúng tôi bắt đầu rủ nhau cùng đi uống rượu và nói với nhau đủ thứ chuyện sau giờ làm việc. Hắn cũng thích đọc sách và nghe nhạc, nên chúng tôi thường nói về những cuốn sách và đã hát mình ưa thích. Hắn thon thả và ưa nhìn, với một bộ tóc ngắn hơn nhiều và quần áo sạch sẽ hơn nhiều so với một sinh viên mỹ thuật điển hình. Hắn không bao giờ nói nhiều, nhưng có những thị hiểu và ý kiến rõ rệt của mình. Hắn thích tiểu thuyết Pháp, đặc biệt là của Georges Bataille và Boris Vian. Về âm nhạc thì hắn thích Mozart và Rayel. Và cũng như tôi, hắn đang tìm một người bạn để có thể chuyện trò về những thứ như thế.

Một lần Itoh mời tôi về căn hộ của hắn trong một toà nhà một tầng lạ kiểu đằng sau công viên Inokashira, đường đi không đến nỗi khó như đường đến chỗ tôi. Phòng hắn chất đầy đồ vẽ và các khung vải. Tôi hỏi xem tranh hắn vẽ, nhưng hắn nói còn ngượng chưa muốn cho tôi xem cái nào hết. Chúng tôi uống một ít Chivas Regal mà hắn đã lẳng lặng lấy xuống từ chỗ của bố hắn, nướng ít cá khô trên cái lò than hoa, và nghe Robert Casadesus chơi bản công-xéc-tô cho đàn dương cầm của Mozart.

Itoh là người Nagasaki. Hắn nói hắn có một bồ gái mà lần nào về nhà hắn cũng ngủ với cô, nhưng gần đây mọi chuyện giữa hai người cũng không được ổn lắm.

"Cậu biết bọn con gái thế nào rồi," hắn nói. "Đến tuổi hai mươi hoặc hai mốt là đùng một cái chúng bắt đầu nẩy sinh những ý tưởng rất cụ thể. Chúng trở thành siêu thực tế. Và khi chuyện ấy diễn ra thì bao nhiêu những thứ đáng yêu và thật mê li của chúng trước đây bỗng thành ra tầm thường và buồn nản. Bây giờ mỗi lần tớ gặp cô ta, mà nhất là sau khi vừa mới ngủ với nhau xong, cô ta lại hỏi "Thế anh tính sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp"

"Ừ, thế cậu tính sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp" Tôi hỏi hắn.

Mồm nhai cá khô nướng, hắn lắc đầu. "Tớ làm gì được? Tớ học vẽ sơn dầu! Cứ nghĩ những chuyện như vậy thì không ai còn muốn học vẽ sơn dầu nữa! Làm cái đó không nuôi được miệng mình. Thế là cô ấy sẽ bảo "Sao anh không về Nagasaki làm thày giáo dạy vẽ" Cô ấy tính sẽ làm cô giáo dạy tiếng Anh."

"Cậu không còn mê cô ấy như trước nữa, đúng không?"

"Có thể nói gọn là như thế," Itoh thú nhận. "Có ai dưới gầm trời này muốn làm thầy dạy vẽ cơ chứ? Tớ sẽ không phí cả cuộc đời khốn nạn này của tớ vào việc dạy lũ khỉ đột nhóc con học vẽ đâu!"

"Chuyện ấy là một nhẽ," tôi nói. "Nhưng cậu nghĩ bắt buộc phải cắt đứt với cô ta à? Vì cả cậu lẫn cô ấy mà cậu phải làm thế à?"

"Đúng thế. Nhưng tớ không biết phải nói với cô ta ra sao. Cô ấy tính ăn đời ở kiếp với tớ rồi. Nói cái mẹ gì được đây" Chẳng nhẽ bảo "Này, mình phải chia tay thôi, anh không còn thích em nữa rồi."

Chúng tôi uống Chivas chay, không pha nước đá, và khi ăn hết cá nướng thì chúng tôi thái ít dưa chuột với cần tây và ăn chấm tương xì-dầu. Khi rau ráu nhai dưa, tôi nghĩ đến ông bố Midori và chợt thấy đời thật buồn tẻ vô vị khi không có cô, và ý nghĩ ấy khiến tôi buồn khủng khiếp Midori đã thành một hiện diện khổng lồ trong lòng tôi mà tôi không biết.

"Có bồ gái chưa?" Itoh hỏi.

"Rồi," tôi nói, và một lúc sau lại thêm "nhưng tớ không thể ở bên cô ấy lúc này."

"Nhưng các cậu hiểu tình cảm của nhau chứ hả?"

"Tớ cũng muốn nghĩ thế. Nếu không thì còn nghĩa lí quái gì nữa" Tôi nói và chặc lưỡi.

Itoh thấp giọng nói về sự vĩ đại của Mozart. Hắn biết về Mozart từng li từng tí, như một cậu bé miền núi thuộc các lối mòn vậy. Ông bố hắn yêu âm nhạc và đã cho hắn tiếp xúc với âm nhạc từ hồi còn bé xíu. Tôi không biết nhiều về nhạc cổ điển, nhưng khi nghe bản công-xéc-tô này của Mozart và những lời bình phẩm say sưa và sắc sảo của Itoh: "Đấy - đoạn ấy", "Chỗ đấy mới gọi là khiếp chứ!", tôi cảm thấy như lần đầu tiên trong cả quãng tháng ngày triền miên tôi đã thấy mình được yên bình trở lại. Chúng tôi ngắm vành trăng khuyết lửng lơ trên công viên Inokashira và uống chai Chivas Regal cho đến giọt cuối cùng. Món whisky ấy mới gọi là tuyệt tác.

Itoh nói tôi có thể ngủ lại, nhưng tôi nói mắc mấy việc phải làm, cám ơn hắn đã cho uống whisky và ra về lúc sắp chín giờ. Trên đường về tôi vào một trạm điện thoại gọi cho Midori, và thật ngạc nhiên khi chính cô nhấc máy.

"Xin lỗi," cô nói, "nhưng bây giờ tớ không muốn nói chuyện với cậu."

"Tớ biết, tớ biết. Nhưng tớ không muốn chúng mình phải chấm dứt như thế này. Cậu là một trong số rất ít bạn mà tớ có, và không được gặp cậu tớ thực sự khổ sở. Lúc nào thì tớ mới có thể nói chuyện với cậu? Ít nhất thì cậu cũng cho tớ biết thế đã chứ?"

"Lúc mà tớ thấy thích," cô nói.

"Cậu khỏe không?" tôi hỏi.

"Khỏe," cô nói, rồi gác máy.


o O o


Giữa tháng Năm thì có thư của Reiko.

Cám ơn cậu đã viết thường xuyên như vậy. Naoko thích đọc thư cậu lắm. Cả tôi nữa. Cậu không phiền là tôi cũng đọc chứ, phải không nào?

Tôi xin lỗi đã rất lâu rồi mới trả lời cậu được. Nói thật với cậu, thời gian qua tôi cũng mệt mỏi Iắm, và cũng chẳng có tin gì vui để báo cho cậu. Tình hình Naoko không được tốt. Hôm trước mẹ cô ấy có từ Kobe đến đây.

Bốn chúng tôi - bà ấy, Naoko, ông bác sĩ và tôi đã có một cuộc nói chuyện rất dài và chúng tôi đi đến kết luận là Naoko nên được chuyển đến một bệnh viện chuyên khoa điều trị cấp tập một thời gian rồi sau đó lại có thể trở lại đây tuỳ theo kết quả điều trị. Naoko nói muốn ở lại đây và sẽ cố khỏe lại, mà tôi cũng sẽ rất nhớ và lo cho cô ấy, nhưng thực tế là càng ngày càng khó kiểm soát được cô ấy ở đây. Phần lớn thời gian cô ấy vẫn không sao, nhưng có những lúc cô ấy xúc động cực kì thất thường, và chúng tôi không thể rời mắt khỏi cô ấy một phút nào. Không thể biết được cô ấy sẽ làm gì. Khi cô ấy rơi vào tình trạng căng thẳng với những giọng nói vang lên trong đầu kia, cô ấy hoàn toàn khép mình lại và lún sâu trong đó.

Chính vì thế mà cả tôi nữa cũng phải đồng rằng tốt nhất là Naoko nên được điều trị một thời gian ở một cơ sở thích hợp. Tôi ghét phải nói thế, nhưng quá tình chúng tôi chỉ có thể làm vậy. Như tôi đã nói với cậu một lần trước đây, bệnh nhân là quan trọng nhất.

Chúng tôi phải tiếp tục lần mò những sợi chỉ rối, lần lượt từng sợi một, và không được mất hy vọng. Cho dù tình trạng của cô ấy có vẻ vô vọng đến mấy, chúng tôi vẫn nhất định, không sớm thì muộn, phải tìm thấy cái sợi chỉ tuột kia. Nếu cậu ở trong một nơi tối mịt, cậu chỉ có thể ngồi im cho đến lúc mắt cậu quen dần với bóng tối.

Khi cậu nhận thư này thì chắc Naoko đã được chuyển đến cái bệnh viện kia rồi. Tôi xin lỗi đã đợi đến lúc có quyết định chính thức rồi mới viết cho cậu, nhưng mọi việc diễn ra nhanh quá. Bệnh viện mới rất tốt, có bác sĩ giỏi. Tôi sẽ cho cậu địa chỉ ở dưới thư, cậu hãy viết cho Naoko về địa chỉ đó. Họ cũng sẽ thông báo cho tôi về tình hình của cô ấy, có gì tôi cũng sẽ cho cậu biết. Hy vọng ta sẽ có tin vui. Tôi biết chuyện này làm cậu khổ sở lắm, nhưng xin cậu đừng mất hy vọng. Và dù Naoko có không ở đây nữa, làm ơn thỉnh thoảng viết cho tôi vài dòng nhé.

Tạm biệt.

Mùa xuân ấy tôi viết không biết bao nhiêu là thư: mỗi tuần một lần cho Naoko, nhiều lần cho Reiko, và nhiều nữa cho Midori. Tôi viết thư trong giảng đường, tôi viết thư ở bàn học ở nhà với con Hải âu cuộn tròn trong lòng, tôi viết thư ở những bàn chưa có khách trong tiệm ăn Ý khi nghỉ giải lao. Dường như tôi viết thư để cố giữ lại nhưng mảnh vụn của cuộc đời đã tan vớ của mình.

Tôi viết cho Midori: Tháng Tư, tháng Năm là hai tháng cô đơn đâu khổ vì tớ không thể nói chuyện được với cậu. Tớ chưa bao giờ biết rằng mùa xuân lại có thể cô đơn và đau khổ đến thế. Thà có ba tháng Hai còn hơn một mùa xuân như thế này. Tớ biết nói bây giờ là quá muộn rồi, nhưng kiểu tóc mới của cậu hợp với cậu lắm. Thật là xinh. Hiện tớ đang làm ở một quán ăn Ý, và ông bếp dạy tớ tớ một cách làm món mì ống rất ngon. Tớ thích được làm món ấy cho cậu ăn.

Tôi đến trường hàng ngày, đi làm ở quán ăn ba lần một tuần, chuyện trò với Itoh về sách vở và âm nhạc, đọc vài cuốn tiểu thuyết của Boris Vian mà hắn cho tôi mượn, viết thư, chơi với Hải âu, làm món mì ống, chăm nom khu vườn, thủ dâm trong lúc nghĩ đến Naoko, và xem rất nhiều phim.
Gần giữa tháng Sáu, Midori mới bắt đầu nói chuyện với tôi. Hai đứa đã không nói gì với nhau trong hai tháng liền. Sau một buổi học, cô đến ngồi cạnh tôi, chống tay tựa cằm, và cứ ngồi không nói gì cả. Bên ngoài trời đang mưa - một trận mưa vào mùa như trút nước thẳng từ trời xuống và không có tí gió nào, làm ướt đẫm mọi thứ ở dưới đất. Rất lâu sau khi mọi người đã lục tục ra hết khỏi lớp Midori vẫn ngồi cạnh tôi không nói năng gì. Rồi cô lấy một bao Marlboro trong túi quần bò ra, đặt một điếu lên môi, và đưa cho tôi bao diêm. Tôi đánh một que châm điếu thuốc cho cô. Midori dẩu mỏ thổi một đám khói thuốc lá vào mặt tôi.

"Thích kiểu tóc tớ không?" Cô hỏi.

"Rất hay."

"Hay đến mức nào?"

"Đến mức làm đổ sạch cây cối của tất cả rừng rú trên thế gian này."

"Cậu nghĩ thế thật chứ?"

Cô nhìn tôi một hồi lâu, rồi đưa bàn tay phải ra cho tôi. Tôi nắm lấy nó. Tôi nghĩ cô đã làm lành với tôi thật rồi, nhưng trông cô còn nhẹ nhõm vui vẻ hơn thế. Cô búng tàn thuốc xuống sàn nhà rồi đứng lên.

"Mình đi ăn đi. Tớ đói ngấu rồi," cô nói.

"Cậu muốn đi đâu?" tôi hỏi.

"Đến tiệm ăn của nhà hàng bách hoá Takashimaya ở Nihonbashi."

"Sao lại chọn chỗ ấy?"

"Thỉnh thoảng tớ thích đến đó, vậy thôi."

Thế là chúng tôi lấy tàu điện ngầm đi đến Nihonbashi. Cửa hàng gần như không có khách, có thể vì trời đã mưa suốt sáng hôm đó. Toàn bộ không gian rộng như một hang động lớn của cửa hàng bách hoá thấm đẫm mùi mưa, và người làm thì ai cũng mang cái vẻ mặt kiểu ta-làm-gì-bây-giờ-đây. Midori với tôi xuống tiệm ăn dưới tầng hầm. Sau khi đã xem kĩ những món ăn mẫu làm bằng nhựa bày ở cửa sổ, cả hai chúng tôi đều quyết định sẽ nhặt mấy món ăn trưa nguội cổ truyền có cơm, dưa muối, cá nướng, tôm rán bột và gà nướng xì-dầu. Tiệm ăn vắng về mặc dù đang giờ ăn trưa.

"Trời đất, lâu lắm mới lại ăn trưa trong cửa hàng bách hoá như thế này," tôi nói to ý nghĩ trong đầu, nhấp trà xanh trong một cái cốc sứ trắng điệu đà chỉ có thể thấy ở một tiệm ăn trong cửa hàng bách hoá.

"Tớ thích làm những chuyện như thế này," Midori nói. "Tớ không biết, nhưng nó cho tớ một cảm giác là tớ đang làm cái gì đó đặc biệt. Có thể nó làm tớ nhớ lại hồi còn bé. Bố mẹ tớ hầu như không bao giờ cho tớ đến bách hoá cả."

"Còn tớ thì lại ngờ là bố mẹ tớ chỉ biết mỗi việc ấy. Mẹ tớ mê bách hoá lắm."

"May mắn thế còn gì!"

"Cậu nói gì vậy? Tớ chẳng thích đi bách hoá tí nào."

"Không, tớ muốn nói là họ đã chăm chút cậu, cho cậu đi chỗ này chỗ nọ."

"À, thì tớ là con độc mà," tôi nói.

"Hồi còn bé tớ thường mơ lúc lớn lên sẽ đi một mình vào một tiệm ăn bách hoá và thích gì ăn nấy. Mơ thế có chán không! Có gì vui trong việc tọng cơm đầy mồm một mình ở một chỗ như thế này cơ chứ! Đồ ăn thì có ngon gì lắm, chỉ được cái to tát đông đúc ngột ngạt ầm ĩ. Ấy thế mà lâu lâu tớ lại nghĩ đến chuyện đến đây đấy"

"Hai tháng vừa rồi tớ cô đơn quá," tôi nói.

"Ừ, tớ biết. Cậu kể trong thư rồi," Midori nói, giọng bàng quan. "Thôi, ăn đi. Bây giờ tớ chỉ nghĩ chuyện ăn thôi."

Chúng tôi chén sạch mọi món rán, nướng, và muối trong các ngăn nho nhỏ của hộp cơm hình bán nguyệt bằng sơn mài, húp hết súp trong bát cũng bằng sơn mài kiểu cách, và uống trà xanh trong cốc sứ trắng. Midori tiếp tục với món thuốc lá. Khi đã hút xong điếu thuốc, cô lẳng lặng đứng lên và cầm lấy cái ô. Tôi cũng đứng lên và cầm lấy cái ô của mình.

"Bây giờ thì cậu muốn đi đâu?" tôi hỏi.

"Tất nhiên là lên tầng thượng. Đã ăn ở bách hoá là phải thế?"

Không có ai trên tầng thượng dưới trời mưa, gian hàng chó mèo chim cá không có cả người phục vụ, và các kiốt cũng như quầy vé đủ quay trẻ em thì đều đóng kín cửa. Chúng tôi giương ô và lang thang giữa những ngựa gỗ, ghế ngồi và quầy hàng ngoài trời ướt sũng. Không thể tưởng tượng là ngay giữa Tokyo lại có một chỗ vắng ngắt đến như vậy. Midori nói muốn nhìn ống nhòm, nên tôi bỏ một đồng xu vào đó và giữ cái ô cho cô trong lúc cô nheo mắt nhìn vào ống kính.

Ở một góc sân thượng có khu vui chơi có mái che với một dãy con thú cho trẻ em cưới. Midori với tôi ngồi cạnh nhau trên một cái bục và nhìn trời mưa.

"Nào nói đi," Midori nói. "Tớ biết là cậu có điều gì muốn nói với tớ."

"Tớ không định phân bua đâu," tôi nói, "nhưng lúc đó tớ thật sự trầm cảm. Óc tớ mù mịt hết cả. Tớ chẳng nhận ra được chuyện gì. Nhưng khi đã không thể gặp cậu nữa thì tớ nhận ra được một điều thật rõ ràng rành mạch. Tớ nhận ra rằng tớ đã sống được đến lúc ấy là vì tớ có cậu trên đời. Khi mất cậu, tớ mới thực sự thấy cô đơn và khổ sở."

"Thế cậu có biết rằng không có cậu trong hai tháng qua tớ cũng đã cô đơn và khổ sở thế nào không?"

Câu nói ấy làm tôi hoàn toàn bất ngờ.

"Không," tôi nói. "Tớ không bao giờ nghĩ đến chuyện ấy. Tớ tưởng cậu chỉ giận tớ và không muốn thấy tớ nữa."

"Sao cậu lại có thể ngốc thế được? Tất nhiên là tớ muốn gặp cậu? Tớ đã bảo cậu là tớ thích cậu đến thế kia mà! Khi tớ đã thích ai thì tức là tớ thực sự thích người ấy. Với tớ, chuyện ấy không phải là chuyện lúc có lúc không. ít nhất thì cậu cũng phải hiểu được ngần ấy về tớ chứ?"

"Ờ chắc chắn rồi, nhưng."

"Chính thế mà tớ mới phát điên lên với cậu! Tớ chỉ muốn đá cho cậu một cú nên thân vào đít! Thế này nhé, chúng mình đã bao lâu không gặp nhau, thế mà lúc gặp thì cậu cứ mơ mơ màng màng đến cô gái kia đến mức chẳng thèm nhìn tớ lấy một cái! Làm sao mà không tức cho được! Nhưng ngoài chuyện ấy ra, tớ cũng đã cảm thấy từ lâu lâu rằng có lẽ tớ phải xa cậu một thời gian. Để mọi chuyện rõ ràng ra trong đầu tớ đã."

"Những chuyện gì thế?"

"Thì quan hệ của chúng mình chứ còn chuyện gì nữa! Tớ đã đến mức thích ở bên cậu hơn là bên anh ấy. Cậu không thấy có cái gì lạ lẫm trong chuyện ấy sao? Không khó hay sao? Tất nhiên là tớ vẫn thích anh ấy. Anh ấy hơi vị kỉ và hẹp hòi và hơi phát xít, nhưng anh ấy có rất nhiều ý kiến hay, và anh ấy là người đàn ông đầu tiên mà tớ có tình cảm nghiêm chỉnh. Còn cậu, trời ạ, cậu rất đặc biệt đối với tớ. Khi ở bên cậu tớ thấy có cái gì đó thật vừa vặn. Tớ tin tưởng cậu. Tớ thích cậu. Tớ không muốn mất cậu. Càng ngày tớ càng hoang mang, và tớ tìm anh ấy để hỏi xem tớ phải làm gì. Anh ấy bảo tớ không được gặp cậu nữa. Anh ấy nói nếu tớ cứ tiếp tục gặp cậu thì tớ phải cắt đứt với anh ấy."

"Thế cậu đã làm gì?"

"Tớ đã cắt đứt với anh ấy. Đơn giản vậy đấy."

Midori đặt một điếu Marlboro lên môi, lấy tay che khi châm lửa, và rít một hơi dài.

"Tại sao?"

"Tại sao?" Cô gào lên. "Cậu điên rồi phải không? Cậu biết giả định thức tiếng Anh, cậu hiểu môn lượng giác, cậu đọc được Các Mác, mà cậu không biết câu trả lời cho một việc đơn giản đến thế ư? Sao cậu lại còn phải hỏi nữa chứ? Sao cậu có thể bắt một cô gái phải nói ra như thế này? Tớ thích cậu hơn thích anh ấy, chỉ có thế thôi. Tớ ước mình yêu được ai đó đẹp trai hơn một tí, tất nhiên rồi. Nhưng mà không được. Tớ đã phải lòng và yêu cậu mất rồi!"

Tôi định nói, nhưng thấy ngôn từ nghẹn hết lại trong cổ.
Midori ném điếu thuốc xuống một vũng nước.

"Cậu làm ơn bỏ bộ mặt ấy đi được không? Cậu sẽ làm tớ khóc mất. Đừng lo, tớ biết cậu đang yêu ai đó. Tớ không mong đợi ở cậu điều gì. Nhưng ít nhất thì cậu cũng có thể ôm tớ một cái. Đã hai thảng ròng tớ khổ sở rồi đây."

Tôi giương ô lên, và hai đứa vào đằng sau khu trò chơi ôm riết lấy nhau. Thân thể chúng tôi quấn chặt lấy nhau, và mỗi chúng tôi tìm đến nhau. Mùi mưa bám trên tóc và chiếc áo ngoài bằng vai bò của cô. Thân thể con gái thật mềm mại và ấm áp! Tôi có thể cảm thấy cặp vú cô ép đầy vào ngực tôi qua cả hai lần quần áo. Đã bao nhiêu lâu rồi kể từ lần cuối cùng rồi được tiếp xúc bằng thân xác với một con người"

"Hôm tớ gặp cậu lần cuối, đêm ấy tớ đã nói chuyện với anh ấy, và chúng tớ đã cắt đứt với nhau," Midori nói.

"Tớ yêu cậu," tôi nói với cô. "Từ tận đáy lòng. Tớ sẽ không bao giờ để cậu đi mất nữa. Nhưng tớ không thể làm được gì. Tớ không thể động cựa gì được."

"Vì cô ấy ư?"

Tôi gật đầu.

"Nói đi, cậu đã ngủ với cô ấy chưa?

"Một lần. Một năm trước đây."

"Và từ đó cậu chưa gặp lại cô ấy ư?"

"Tớ đã gặp, hai lần. Nhưng chúng tớ không làm gì."

"Tại sao không? Cô ấy không yêu cậu ư?"

"Rất khó nói. Sự việc rất phức tạp. Và lẫn lộn. Và đã thế rất lâu rồi, tớ không còn biết gì vào với gì nữa. Và cô ấy cũng thế. Nhưng tớ chỉ biết rằng tớ có một thứ trách nhiệm trong tất cả những chuyện này với tư cách một con người, và tớ không thể cứ thế rũ bỏ nó được. Ít nhất thì đó là tình cảm của tớ hiện nay. Ngay cả nếu cô ấy không yêu tớ."

"Để tớ nói cậu nghe nhé, Watanabe," Midori nói, nép má vào cổ tôi. "Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người. Cậu đang ôm tớ trong tay và tớ đang nói với cậu rằng tớ yêu cậu. Tớ sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì cậu bảo tớ làm. Có thể tớ hơi điên, nhưng tớ là một cô gái ngoan, trung thực, và tớ chăm chỉ, tớ cũng xinh xắn, tớ có vú đẹp, tớ nấu bếp giỏi, và bố tớ để lại cho tớ cả một quỹ tiền tiết kiệm. Tớ muốn nói rằng tớ là cả một món hời đấy, cậu không thấy sao? Nếu cậu vẫn không chấp nhận thì tớ sẽ đi tìm chỗ khác."

"Tớ cần thêm thời gian," tôi nói. "Tớ cần thời gian suy nghĩ và thu xếp mọi chuyện, và quyết định mấy việc nữa. Tớ xin lỗi, nhưng hiện nay tớ chỉ có thể nói vậy được thôi."

"Thôi được rồi, nhưng cậu thực sự yêu tớ từ đáy lòng, đúng không? Và cậu không bao giờ muốn để tớ đi mất nữa, đúng không?"

"Tớ đã nói thế, và tớ nói thật lòng."

Midori rời tôi ra với một nụ cười trên mặt. "Ôkê, tớ sẽ đợi! Tớ tin cậu," cô nói. "Nhưng khi cậu chấp nhận tớ, thì là chỉ có tớ thôi đấy. Và khi cậu ôm tớ trong tay, cậu sẽ chỉ nghĩ đến tớ thôi đấy. Rõ chưa nào?"

"Tớ hiểu chính xác như vậy."

"Tớ không cần biết cậu sẽ làm gì tớ, nhưng tớ không muốn cậu làm tớ phải đau khổ. Tớ đã đủ đau khổ ở đời này rồi. Quá đủ rồi. Bây giờ tớ muốn hạnh phúc."

Tôi kéo cô lại và hôn lên miệng cô.

"Vứt cái ô khốn kiếp ấy đi và ôm tớ cả hai tay - chặt vào!" cô nói.

"Nhưng chúng mình sẽ ướt sũng mất!"

"Thì đã sao? Tớ muốn cậu đừng nghĩ ngợi gì nữa và ôm lấy tớ thật chặt! Tớ đã mong mỏi có thế thôi trong suốt hai tháng rồi!"

Tôi bỏ cái ô xuống và ôm riết lấy cô dưới mưa.

Tiếng xe chạy ầm ì ngoài xa lộ bao bọc lấy chúng tôi như một biển sương mù. Mưa rơi không ngớt, không một tiếng động, ướt sũng hết tóc cô và tóc tôi, chảy như nước mắt xuống má hai đứa, xuống cái áo bò của cô và cái áo vét nilông vàng của tôi, loang lổ sẫm xịt.

"Bây giờ thì chúng mình lại xuống dưới kia nhé?" tôi nói.

"Về nhà tớ đi. Ở nhà không có ai. Như thế này thì cả hai đứa cảm lạnh mất."

"Đúng thế?"

"Cứ như vừa bơi qua cả một con sông," Midori nói, miệng mỉm cười. "Sướng ơi là sướng"

Chúng tôi mua một cái khăn bông rõ to ở gian bán vải rồi thay nhau vào nhà tắm lau khô đầu tóc. Rồi chúng tôi lấy tàu điện ngầm, mua vé chạy suốt, đến nhà cô ở Myogadani. Midori để tôi tắm hương sen trước, cô tắm sau. Lúc đưa cho tôi mượn bộ áo ngủ để mặc chờ quần áo khô cô đã thay sang một cái sơ-mi polo và mặc váy rồi.

Chúng tôi ngồi ở bàn trong bếp uống cà-phê.

"Kể cho tớ nghe về cậu đi nào," Midori nói.

"Cái gì về tớ bây giờ"

"Hừmmm, tớ không biết, cậu ghét những gì?"

"Thịt gà, bệnh phong tình, và mấy ông cắt tóc nói nhiều."

"Còn gì nữa?

"Những đêm tháng Tư cô đơn và những miếng đăng ten phủ điện thoại."

"Gì nữa."

Tôi lắc đầu. "Tớ không thể nghĩ thêm được cái gì nữa."

"Bồ tớ, nghĩa là cựu-bồ tớ, thì có đủ thứ để ghét. Như lúc tớ mặc váy quá ngắn này, hay lúc tớ hút thuốc này, hoặc mới uống một tí đã say này, nói cái gì kinh tởm này, hay là dám chỉ trích bạn bè của anh ấy. Nên nếu tớ có cái gì cậu không thích thì cậu cứ việc bảo tớ, tớ sẽ sửa nếu có thể được."

"Tớ không thể tìm được gì," tôi nói sau khi đã nghĩ một lúc. "Chẳng có gì cả"

"Thật chứ?"

"Tớ thích tất cả những thứ cậu mặc, và tớ thích những cái cậu làm cậu nói và lối cậu đi và cả lối say rượu của cậu nữa. Mọi thứ."

"Cậu muốn nói là tớ cứ như thế này là thực sự ôkê phải không?"

"Tớ không biết cậu có thể thay đổi thế nào, còn thì tốt nhất là cậu thế nào thì cứ như vậy thôi."

"Cậu yêu tớ đến mức nào?" Midori hỏi.

"Đủ để toàn bộ hổ báo trên thế giới phải chảy ra thành bơ hết," tôi nói.

"Phét đến thế là cùng," cô nói, hơi có chút mãn nguyện.

"Cậu lại ôm tớ nhé!"

Chúng tôi lên giường cô và ôm nhau, hôn nhau trong tiếng mưa rơi. Rồi chúng tôi nói đủ mọi thứ chuyện, từ hình thức tổ chức đại học cho đến ý thích của chúng tôi trong chuyện trứng luộc rắn mềm thế nào.

"Không biết bọn kiến làm gì trong những ngày mưa nhỉ?" Midori nói.

"Tớ chịu chết," tôi nói. "Chúng chăm chỉ lắm, nên có thể cả ngày mưa sẽ dọn dẹp nhà cửa hoặc thu vén kho tàng gì đấy."

"Nếu chúng chăm chỉ làm việc như vậy, sao chúng không tiến hoá nhỉ? Chúng cứ như thế mãi mãi à?"

"Tớ không biết," tôi nói. "Có thể cấu trúc cơ thể của chúng không thích hợp để tiến hoá, như so với bọn khỉ chẳng hạn."

"Ê, Watanabe, có khối thứ cậu không biết đấy nhé. Tớ cứ tưởng cái gì cậu cũng biết."

"Thế giới ngoài kia mênh mông lắm mà," tôi nói.

"Núi cao, biển sâu," Midori nói. Cô thò tay vào trong lần áo ngủ trên người tôi và nắm lấy cái cương cứng của tôi. Rồi, với một tiếng nấc nghẹn ngào, cô nói "Watanabe, không đùa đâu nhé, thế này thì không được đâu. Tớ sẽ không thể cho cái củ to và cứng đến thế này vào trong người tớ được. Không thể được."

"Cậu chỉ nói đùa," tôi nói và thở dài.

"Ô" cô nói, cười khúc khích. "Đừng lo. Sẽ ổn thôi. Tớ chắc nó sẽ vừa khít đấy. Ê, cho tớ nhìn tí được không?"

"Cứ tự nhiên."

Midori rúc xuống dưới chăn và mò mẫm tôi khắp cả ở dưới ấy, kéo căng da, nâng nhấc trong lòng bàn tay như muốn xem cái bị nặng bao nhiêu. Rồi cô thò đầu ra và thở dài. "Tớ mê nó quá!" cô nói. "Không nịnh đâu! Tớ thực sự mê nó!"

"Cám ơn cậu," tôi nói với một lòng biết ơn giản dị.

"Nhưng Watanabe này, thực là cậu không muốn làm chuyện ấy với tớ phải không - cho đến khi nào chuyện kia ngã ngũ xong xuôi đã phải không?"

"Làm gì có chuyện tớ không muốn," tôi nói. "Tớ đang muốn đến phát điên lên đây. Chỉ tội là làm thế chẳng nên chẳng phải chút nào."

"Cậu ương bướng đến thế kia à! Nếu là cậu, tớ hãy cứ làm cái đã - rồi thì nghĩ sau."

"Cậu sẽ thế ư?"

"Chỉ đùa thôi," Midori nói bằng một giọng rất nhỏ. "Có thể tớ cũng sẽ không làm thế đâu, nếu tớ là cậu. Và đó là cái mà tớ mê ở cậu. Tớ yêu cậu, yêu cậu thực sự, cũng là vì cái đó."

"Cậu yêu tớ đến mức nào?" tôi hỏi, nhưng cô không đáp. Cô chỉ nép sát vào tôi, đặt môi lên ngực tôi và bắt đầu chuyền dịch bàn tay đang ôm chặt lấy tôi ở dưới kia.

Ý nghĩ đầu tiên đến với tôi là cách đưa tay của Naoko thật khác biết bao nhiêu. Cả hai đều nhẹ nhàng và tuyệt diệu, nhưng có cái gì đó thật khác giữa cách làm của hai người, nên tôi có cảm giác thật sự như đây là một trải nghiệm hoàn toàn mới lạ.

"Ê Watanabe, tớ cuộc là cậu lại đang nghĩ đến cô kia phải không?"

"Không phải," tôi nói dối.

"Thật chứ?"

"Bởi vì tớ sẽ rất ghét chuyện đó đấy."

"Tớ không thể nghĩ đến một ai khác nữa," tôi nói.

"Có muốn sờ vú tớ, hay dưới này không?" Midori hỏi.

"Ôi chao ơi, tớ muốn lắm chứ, nhưng có lẽ không nên. Nếu mình làm đủ thứ như thế một lúc thì tớ sẽ không chịu nổi đâu."

Midori gật đầu và lùng tùng dưới chăn, tụt quần lót ra và giữ nó ngay sát đầu dương vật tôi.

"Cậu có thể cho ra đây vậy," cô nói.

"Nhưng mà bẩn hết mất."

"Thôi ngay đi có được không? Cậu lại làm tớ khóc mất,"

Midori nói như chực oà lên thật. "Tớ chỉ việc giặt nó chứ có sao đâu. Đừng nhịn nữa, cứ cho ra hết đi. Nếu cậu ấy náy về cái quần lót này thì đi mua cho tớ cái mới. Hay là cậu không ra được chỉ vì nó là quần của tớ"

"Làm gì có chuyện ấy," tôi nói.

"Vậy thì alê, ra đi nào."

Khi tôi đã xong, Midori nhìn kĩ đám tinh dịch của tôi "Uao! Nhiều thật đấy!"

"Quá nhiều ư?"

"Không, ôkê mà, đồ ngốc. Ra cho hết đi nào," cô nói với một nụ cười. Rồi hôn tôi.

Chiều tối, Midori ra mua vài thứ ở quanh đấy và làm bữa tối. Chúng tôi ăn tôm rán bột với cơm trắng và đậu ván tươi ở bàn trong bếp, và lùa hết chúng xuống bằng bia.

"Ăn thật nhiều và có thật nhiều tinh dịch vào," Midori nói. "Rồi tớ sẽ ngoan và giúp cậu dọn sạch nó cho."

"Rất cảm ơn," tôi nói.

"Tớ biết đủ kiểu để làm việc ấy. Tớ học được từ các tạp chí phụ nữ hồi còn hiệu sách ở nhà. Một lần họ ra số đặc biệt chỉ nói về vấn đề phải chăm sóc chồng ra sao để ông ta không lừa dối mình khi mình có mang và không thể làm tình được. Có hàng tấn phương pháp. Có muốn thử không nào?"

"Sốt ruột lắm rồi đây," tôi nói.

Sau khi tạm biệt Midori, tôi mua một tờ báo ở ga tàu điện, nhưng khi mở nó ra trên tàu tôi mới thấy là mình không muốn đọc báo tí nào và thực sự là không thể hiểu được tờ báo ấy đang nói gì. Tôi vẫn dán mắt vào trang báo nhưng đầu óc chỉ quanh quẩn với câu hỏi từ nay đời tôi còn có chuyện gì nữa đây và mọi thứ xung quanh tôi sẽ còn thay đổi như thế nào. Hình như thỉnh thoảng tôi lại cảm thấy được mạch đập rộn ràng của thế giới xung quanh. Tôi thở dài thật sâu và nhắm mắt lại. Đối với những việc tôi đã làm ngày hôm đó, tôi không thấy một chút ân hận nào; tôi biết chắc rằng nếu tôi phải làm lại từ đầu, tôi vẫn sẽ sống lại ngày hôm đó hệt như thế. Tôi sẽ ôm chặt Midori trên tầng thượng dưới trời mưa; tôi sẽ để mình bị ướt sũng cùng với cô, và tôi sẽ để những ngón tay cô đem tôi lên cực cảm trên chiếc giường ấy. Tôi không nghi ngờ gì những chuyện đó. Tôi yêu Midori, và tôi thật hạnh phúc là cô đã trở lại. Như chính Midori đã nói, cô là một cô gái sống động có thực và tràn đầy máu nóng trong người, và cô đang đặt cả tấm thân ấm áp của cô vào tay tôi. Đã phải cố hết sức tôi mới kiềm chế được cơn thèm muốn bạo liệt được lột cô trần trụi, được mở toang tấm thân ấy và đắm chìm mình vào cõi miền ấm áp ấy. Tôi không có cách gì giữ cô lại được một khi cô đã cầm lấy tôi và đưa tay lên xuống như thế. Tôi đã muốn cô làm thế, cô cũng đã muốn làm thế, và chúng tôi đang yêu nhau. Ai có thể ngăn chặn một việc như vậy? Đúng rồi, tôi đã yêu Midori. Và có thể tôi đã biết thế từ lâu rồi. Tôi chỉ né tránh không dám kết luận như vậy bấy lâu nay mà thôi.

Vấn đề là tôi không thể giải thích những chuyển biến mới này cho Naoko. Việc này lúc nào cũng khó, nhưng đặc biệt hiện nay, khi Naoko còn đang trong tình trạng như vậy, thì không cách gì để tôi có thể nói với nàng rằng tôi đã phải lòng một cô gái khác. Và ngoài ra, tôi vẫn yêu Naoko. Tình yêu ấy có thể méo mó thật, nhưng tôi vẫn yêu nàng. Ở một nơi nào đó trong tôi vẫn còn có một khoảng không gian rộng lớn và khoáng đạt, chưa ai động đến, chỉ để dành riêng cho Naoko.

Một việc tôi có thể làm là viết cho Reiko và trung thực nói hết mọi chuyện. Về đến nhà, tôi ngồi ngoài hiên ngắm mưa rơi như trút xuống vườn ban đêm và chắp nối câu chứ trong đầu. Rồi tôi vào bàn viết lá thư ấy. Tôi tưởng như mình không thể chịu đựng nổi khi phải viết một bức thư như thế này cho chị, tôi mở đầu. Tôi tóm tắt quan hệ của mình với Midori và giải thích chuyện đã xảy ra ngày hôm đó.

Tôi đã luôn yêu Naoko, và tôi vẫn yêu cô ấy. Nhưng giữa Midori và tôi lại tồn tại một cái gì đó như định mệnh. Nó có sức mạnh không thể cưỡng lại được và nhất định sẽ cuốn tôi đến tương lai. Cái mà tôi cảm thấy với Naoko là một tình yêu trong vắt, dịu dàng, và yên tĩnh vô cùng. Nhưng cái mà tôi có với Midori lại là một tình cảm khác hẳn. Nó đi theo ý riêng của nó, sống động và hít thở và phập phồng và lay động tôi cho đến tận cội rễ của bản thể. Tôi không biết phải làm gì. Tôi hoang mang rồi. Tôi sẽ không phân bua gì cho mình đâu, nhưng tôi tin chắc là mình đã sống chân thực như mình vẫn biết. Tôi chưa bao giờ nói dối ai, và bao năm nay vẫn luôn cẩn trọng không làm cho ai phải đau khổ. Vậy mà tôi thấy mình bị ném vào cái mê cung này đây. Sao lại cỏ thể thế được? Tôi không lí giải nổi. Tôi không biết mình phải làm gì. Reiko, chị có thể nói cho tôi biết được không? Chị là người duy nhất tôi có thể trông cậy để được khuyên bảo.

Ngay đêm đó tôi gửi bức thư đi theo đường phát chuyển đặc biệt.

Năm ngày sau đó tôi nhận được thư trả lời của Reiko, đề ngày mười bay tháng Sáu.

Cho tôi được bắt đầu bằng tin vui nhé. Naoko đã tiến bộ nhanh hơn mọi người tưởng rất nhiều. Tôi đã nói chuyện với cô ấy một lần qua điện thoại, và cô ấy nói năng rất rõ ràng rành mạch. Có thể chẳng mấy chốc mà cô ấy sẽ lại trở về đây.

Còn bây giờ đến chuyện cậu.

Tôi nghĩ cậu quá nghiêm trọng với mọi chuyện đấy. Yêu một người khác là một chuyện tuyệt vời, và nếu tình yêu ấy là chân thành, không ai cuối cùng lại bị ném vào mê cung cả. Cậu phải có thêm lòng tin vào bản thân mới được.

Lời khuyên của tôi với cậu rất đơn giản. Trước hết, nếu cậu bị con người Midori thu hút mạnh đến thế, thì chuyện cậu yêu cô ấy chỉ là điều rất tự nhiên. Nó có thể tiến triển tốt, cũng có thể không. Nhưng tình yêu là thế. Khi ta yêu, tự nhiên nhất là hãy thả hết mình cho nó. Tôi nghĩ thế đấy. Cũng là một dạng chân thực thôi mà.

Thứ hai, về chuyện cậu có nên làm tình với Midori hay không, thì cậu phải tự quyết định thôi. Tôi không thể nói gì được. Hãy bàn với Midori và tự tìm lấy kết luận, cái nào có lí nhất đối với cậu.

Thứ ba, đừng cho Naoko biết một tí gì về những chuyện này. Nếu mọi thứ tiến triển đến mức cậu bắt buộc phải nói với cô ấy, thì cậu và tôi sẽ cùng bàn cách làm sao cho tốt. Còn bây giờ thì đừng nói gì cả. Cứ để tôi lo.

Điều thứ tư tôi phải nói là cậu đã là một nguồn sức mạnh lớn lao cho Naoko, lớn đến mức ngay cả nếu cậu không còn những cảm xúc của một bạn tình đối với cô ấy nữa, cậu vẫn có thể làm được rất nhiều điều cho cô ấy. Cho nên đừng có ấp ủ mọi chuyện theo kiểu siêu-nghiêm-trọng như thế nữa. Tất cả chúng ta (tôi muốn nói là tất cả chúng ta ấy, cả bình thường lẫn không bình thường) đều là những con người bất toàn sống trong một thế giới bất toàn. Chúng ta không sống với sự chính xác cơ khí của một chương mục ngân hàng hoặc bằng cách đo đắn mọi đường nét và góc cạnh của chúng ta với thước dây và máy ngắm. Tôi nói thế có đúng không nào?"

Cảm giác riêng của tôi là Midori nghe chừng là một cô gái tuyệt vời đấy. Chỉ đọc thư cậu thôi tôi cũng có thể hiểu tại sao cậu bị cô ấy hấp dẫn đến thế. Và tôi cũng hiểu cả chuyện tại sao Naoko cũng hấp dẫn cậu nữa. Chẳng có tí gì là tội lỗi trong chuyện đó cả. Những chuyện như thế lúc nào chả diễn ra trong cái thế giới mênh mông này của chúng ta. Cũng giống như ta lấy thuyền chèo ra một cái hồ đẹp trong một ngày đẹp trời và cả trời cả nước đều đẹp tuyệt vời vậy. Cho nên cậu đừng có tự ăn thịt mình như thế nữa đi. Mọi chuyện sẽ đến nơi chúng phải đến nếu ta để cho chúng tự đi theo đường của mình. Dù cậu có cố mấy thì người ta vẫn cứ bị đau khổ khi đã đến lúc họ phải đau khổ. Đời là vậy. Tôi biết có vẻ như mình đang lên giọng giảng đạo trên nhà thờ, nhưng cũng đã đến lúc cậu phải học sống như vậy rồi. Cậu đã cố quá sức để bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của cậu.

Nếu không muốn phải vào nhà thương điên, cậu hãy cởi mở rộng rãi hơn một tí đi và hãy để cho mình trôi theo dòng chảy tự nhiên của cuộc đời. Tôi chỉ là một người đàn bà bất toàn bất lực, thế mà nhiều lúc tôi vẫn có thể tự nhủ rằng cuộc đời thật tuyệt diệu biết bao! Tin tôi đi, điều đó là thực đấy! Cho nên ngay giây phút này, cậu hay dừng hết những việc đang làm và hãy hạnh phúc ngay đi. Có làm thì làm cho mình được hạnh phúc ấy!

Không cần nói cậu cũng biết là tôi buồn thế nào khi thấy cậu và Naoko không thể cùng nhau đến được một bến bờ hạnh phúc. Nhưng có ai dám bảo chỉ thế mới là tốt đẹp nhất đâu! Cho nên cậu cần phải chộp lấy bất kì cơ hội hạnh phúc nào mà cậu có, và đừng áy náy vì người khác nhiều quá. Kinh nghiệm của tôi là chúng ta chỉ có độ hai hoặc ba cơ hội như thế trong đời, và nếu để lỡ thì sẽ phải ân hận cho đến chết vậy.

Ngày nào tôi cũng chơi ghi-ta mà chẳng có ai nghe. Có vẻ vô bổ quá. Tôi cũng chẳng thích những đêm mưa tối trời đâu. Hy vọng sẽ lại có cơ hội chơi ghi-ta và ăn nho với cậu và Naoko trong gian phòng này nữa.

A… thế đấy, hẹn thư sau.

Reiko Ishida.



Chương cuối:

Reiko viết cho tôi nhiều lần sau cái chết của Naoko. Chị nói đó không phải là lỗi tại tôi. Không phải lỗi của ai cả, cũng như không thể đổ lỗi cho ai vì trời đã mưa. Nhưng tôi không trả lời chị lần nào. Tôi có thể nói gì đây? Mà có được gì nữa đâu! Naoko không còn tồn tại trên đời này nữa; nàng đã chỉ còn là một nhúm tro tàn.

Người ta làm một tang lễ lặng lẽ cho Naoko ở Kobe vào cuối tháng Tám, và khi đã xong, tôi trở lại Tokyo. Tôi nói với ông chủ nhà là sẽ đi vắng một thời gian, và với ông chủ tiệm ăn Ý rằng tôi sẽ không đi làm nữa. Tôi viết cho Midori mấy chữ rằng tôi chưa thể nói gì được trong lúc này, nhưng hy vọng rằng cô sẽ chờ tôi thêm một chút nữa thôi. Ba ngày liền sau đó tôi chỉ ngồi trong các rạp chiếu phim, và sau khi đã xem hết các phim mới ở Tokyo, tôi xếp ba-lô, rút hết tiền tiết kiệm ở ngân hàng, đến ga Shinjuku và lên chuyến tàu tốc hành đầu tiên ra khỏi thành phố.

Không thể nhớ là tôi đã đi những đâu. Tôi chỉ còn nhớ được những cảnh trí, âm thanh và mùi vị, nhưng tên những nơi tôi đã đi qua thì chẳng còn dấu vết gì trong kí ức, kể cả cảm thức về thời gian trong chuyện đã đến chỗ nào trước chỗ nào sau. Tôi đã đi từ chỗ này sang chỗ kia bằng tàu hoả, xe buýt, hoặc xin ngồi nhờ trên thùng xe tải trải túi ngủ qua đêm trong những bãi đỗ xe, nhà ga, công viên, bên bờ sông hoặc bờ biển. Một lần tôi thuyết phục họ cho tôi ngủ trong góc một sở cảnh sát, lần khác thì ngủ ngay cạnh nghĩa địa. Tôi chẳng cần biết mình ngủ ở đâu, chỉ cốt sao chỗ đó thật vắng vẻ và tôi có thể nằm trong túi ngủ bao lâu tuỳ thích. Đi bộ kiệt sức rồi, tôi chỉ việc chui vào túi chăn, nốc vài ngụm whisky rẻ tiền rồi ngủ say bí tỉ. Ở những nơi tử tế thì người ta mang cho tôi đồ ăn và mùng màn, còn những nơi không được tử tế lắm thì người ta gọi cảnh sát đuổi tôi ra khỏi công viên. Với tôi thì cũng chẳng khác gì. Tôi chỉ muốn được ngủ ở những nơi hoàn toàn xa lạ.

Khi đã sắp cạn tiền, tôi xin làm lao công gì đó vài ngày. Lúc nào cũng có những việc như vậy cho tôi làm. Tôi cứ thế đi từ nơi này qua nơi khác, không có chủ đích gì. Thế giới rộng lớn và đầy rẫy những sự vật và con người quái lạ. Có một lần tôi gọi cho Midori chỉ cốt để nghe giọng nói của cô.
"Vào học đã lâu rồi, cậu biết không," cô nói. "Có những lớp đã bắt đầu phải làm kiểm tra rồi. Cậu sẽ làm thế nào? Cậu có biết là cậu biệt vô âm tín đã ba tuần rồi không? Cậu đang ở đâu? Đang làm gì?"

"Tớ xin lỗi, nhưng tớ chưa thể quay về Tokyo được. Chưa thể được."

"Cậu chỉ biết nói có thế với tớ thôi ư?"

"Hiện giờ tớ thật sự chẳng biết nói gì hơn. Có thể đến tháng Mười…"

Midori gác máy luôn, không một lời nào nữa.

Tôi tiếp tục đi. Lâu lâu một lần tôi vào một nhà trọ công cộng để tắm táp cạo râu. Cái mặt tôi nhìn thấy trong gương thật gớm guốc. Nắng gió đã làm da tôi khô nẻ, hai mắt trũng sâu, hai má đầy những vết bẩn vết xước lạ lâm. Trông tôi như vừa mới ở trong một cái hang nào đó bò ra, nhưng vẫn có thể nhận ra được. Đó vẫn là tôi.

Lúc bấy giờ tôi đang xuống đến bờ biển rồi, có vẻ đã rất xa Tokyo, có lẽ ở mạn Tottori hoặc ở một nơi hẻo lánh gần Hyogo. Đi dọc bờ biển là dễ nhất. Lúc nào cũng có thể tìm được một chỗ ngủ thoải mái ở trên cát. Tôi sẽ đốt một đống lửa củi rều và nướng mấy con cá khô mua của dân chài quanh đó. Rồi tôi sẽ trợn trừng trợn trạc nuốt cho xuôi chút rượu whisky trong khi lắng nghe sóng vỗ và nghĩ đến Naoko. Thật quá lạ lùng là nàng đã chết và không còn là một phần của thế giới này nữa. Tôi không thể chấp nhận được sự thật ấy. Tôi không thể tin được. Tôi đã nghe tiếng đóng đinh vào ván thiên quan tài nàng, nhưng vẫn không thể quen với sự thật rằng nàng đã trở về cõi hư vô.

Không, hình ảnh nàng vẫn còn quá sinh động trong kí ức tôi. Tôi vẫn thấy nàng ấp ngậm tôi trong miệng, mái tóc rủ xuống bụng ở dưới kia. Tôi vẫn cảm thấy cái nóng ấm của nàng, hơi thở của nàng, và cái giây phút khi tôi không thể cưỡng lại được cơn cực cảm đang bùng lên ấy.

Tôi có thể sống lại tất cả những giây phút ấy như thể chúng vừa mới diễn ra chỉ năm phút trước đây, và chắc rằng Naoko vẫn ở bên cạnh mình. Nhưng không, nàng không có ở đó; da thịt nàng không còn tồn tại trên thế gian này nữa.

Những đêm không ngủ được, hình ảnh Naoko lại hiện về với tôi. Không có cách gì ngăn lại được. Kí ức về nàng đây ứ trong tôi, và khi một trong số chúng đã tìm được kẽ hở để lọt ra, tất cả những cái khác cũng chen nhau ùa ra như nước lũ không thể ngăn lại được: Naoko trong bộ áo mưa vàng đang cọ rửa nhà nuôi chim và mang bao tải thức ăn sáng hôm trời mưa đó; chiếc bánh sinh nhật sứt sẹo và nước mắt nàng ướt súng sơ-mi tôi (đúng vậy, hôm ấy trời cũng mưa); Naoko sánh bước bên tôi trong bộ áo khoác lông lạc đà mùa đông; Naoko đưa tay len nghịch cái dải buộc tóc; Naoko nhìn xoáy vào tôi với cặp mắt trong veo không thể tưởng được của nàng; Naoko đang ngồi trên sô-pha, hai chân thu dưới bộ áo ngủ màu xanh da trời, tựa cằm lên đầu gối.

Nhưng kí ức ấy ào đến tôi như những đợt sóng triều cường, cuốn tôi đi đến một nơi xa lạ - nơi rồi sống với những người đã chết. Naoko sống ở đó, và tôi có thể nói với nàng và ôm nàng trong tay. Ở nơi ấy sự chết không phải là yếu tố quyết định làm chấm dứt sự sống. Ở đó, sự chết chỉ là một trong nhiều yếu tố cấu thành nên sự sống. Ở đó Naoko sống với cái chết trong con người nàng. Và nàng nói với tôi, "Đừng lo, nó chỉ là cái chết thôi mà. Đừng để nó làm phiền cậu."

Tôi không cảm thấy buồn ở nơi ấy. Chết là chết, và Naoko là Naoko. "Có chuyện gì thế?" nàng hỏi tôi vởi một nụ cười trách móc, "Mình ở đây mà, phải không nào?" Những cử chỉ nho nhỏ quen thuộc của nàng làm dịu cõi lòng tôi như một liều thuốc diệu kì. "Nếu đây là cái chết," tôi tự nhủ, "thì chết cũng chẳng đến nỗi nào."

"Đúng thế," Naoko nói, "chết thì có gì lắm đâu. Chỉ là chết thôi mà. Ở đây mọi chuyện với mình đều nhẹ nhàng cả."

Naoko nói với tôi giữa những đợt sóng triều như vậy.

Nhưng cuối cùng thì thuỷ triều cũng rút đi, và chỉ còn lại một mình tôi trên bãi biển. Bất lực, tôi không đi đâu được nữa; buồn đau sẽ vây bọc tôi trong bóng tối sâu thẳm cho đến lúc nước mắt tuôn trào. Tôi thấy như không phải mình đang khóc, mà đơn giản chỉ là nước mắt tôi cứ ứa ra như toát mồ hôi vậy

Tôi đã học được một điều từ cái chết của Kizuki, và tôi tin rằng mình đã biến nó thành một phần của con người mình dưới dạng một triết thuyết: "Sự chết tồn tại, không phải như một đối nghịch mà là một phần của sự sống."

Bằng cách sống cuộc đời của mình, chúng ta đang nuôi dưỡng sự chết. Hiển nhiên như vậy, nhưng đó lại là một chân lí duy nhất mà chúng ta phải học mới biết được. Còn cái mà tôi học được từ cái chết của Naoko lại là thế này: không có chân lí nào có thể làm dịu được nỗi đau buồn khi chúng ta mất một người yêu dấu. Không một chân lí nào, một tấm lòng trung thực nào, một sức mạnh nào, một tấm lòng từ ái nào, có thể làm dịu được nỗi đau buồn ấy. Chúng ta chỉ có thể chịu đựng nỗi đau ấy cho đến tận cùng và cố học được một điều gì đó, nhưng bài học ấy cũng lại chẳng có ích gì nữa khi chúng ta phải đối mặt với một nỗi đau buồn mới sẽ ập đến không biết lúc nào. Nghe sóng biển ban đêm và lắng nghe tiếng gió thổi ngày này qua ngày khác, tôi chỉ chăm chú đến những ý nghĩ ấy của mình. Ba-lô trên lưng, cát vương trên tóc, tôi cứ đi mãi về phía tây, chỉ sống bằng whisky, bánh mì và nước lã.

Một chiều lộng gió, khi tôi nằm khóc cuộn tròn trong túi ngủ cạnh một vỏ tàu hoang phế, một ngư phu còn trẻ tuổi đi ngang và mời tôi một điếu thuốc lá. Tôi nhận lấy và hút điếu thuốc đầu tiên sau hơn một năm trời nhịn khỏi. Ông ta hỏi làm sao tôi khóc, và tôi đáp gần như một phản xạ tự nhiên rằng mẹ tôi vừa mới mất. Tôi nói tôi không thể chịu đựng nổi đau buồn và chỉ biết bỏ ra đi. Anh ngỏ lời chia buồn sâu sắc với tôi và về nhà đem ra một chai sakê thật lớn với hai cái cốc.

Gió thổi mạnh đọc theo bờ cát khi chúng tôi ngồi uống với nhau ở đó. Anh ta bảo tôi rằng anh đã mất mẹ lúc mười sáu tuổi. Không khỏe mạnh gì, bà mẹ đã kiệt quệ vì phải lao lực từ sáng đến đêm. Tôi lơ mơ nghe anh kể, nhấm nháp sakê và thỉnh thoảng lại ậm ừ theo câu chuyện. Tôi thấy như mình đang nghe một câu chuyện từ một thế giới nào xa lắm. Anh ta đang kể chuyện quái quỉ gì thế không biết? Tôi tự hỏi, và bỗng nổi giận đến điên cuồng. Tôi chỉ muốn bóp chết anh ta lúc đó. Ai thèm để ý cứt gì đến mẹ ông nào? Tôi vừa mất Naoko đây này! Da thịt đẹp đẽ của nàng đã biến khỏi thế giới này rồi! Việc quái gì mà ông lại kể cho tôi nghe về bà già chết tiệt của ông thế hả?

Nhưng cơn giận của tôi lụi đi ngay như một đám lửa rơm. Tôi nhắm mắt và tiếp tục lơ mơ nghe câu chuyện lê thê của tay chài. Cuối cùng anh ta hỏi tôi đã ăn gì chưa. Chưa, tôi đáp, nhưng trong ba-lô tôi có bánh mì và pho-mát, một quả cà chua và một miếng sô-cô-la. Bữa trưa anh ăn gì? Anh ta hỏi. Bánh mì và pho-mát, cà chua với sô cô la, tôi đáp. "Đợi ở đây nhé," anh nói rồi chạy đi. Tôi định ngăn anh lại, nhưng anh đã biến vào bóng tối mà không hề ngoảnh lại.
Không biết làm gì hơn, tôi tiếp tục uống sakê. Bãi biển đầy những vụn giấy xác pháo từ những trận pháo bông đốt bên bờ biển, và những con sóng gầm rú xô lên bờ như điên dại. Một con chó hốc hác vẫy đuôi chạy đến hít ngửi quanh đống lửa trại của tôi tìm thức ăn, nhưng cuối cùng bỏ cuộc và chạy đi chỗ khác.

Nửa tiếng sau, tay chài trở lại với hai hộp sushi và một chai sakê nữa. Anh ta nói tôi nên ăn ngay cái hộp ở trên vì nó có cá trong đó, còn hộp dưới thì chỉ có toàn xôi quấn rong với đậu phụ rán giòn nên có thể để đến mai ăn cũng được. Anh ta rót đầy sakê ra hai cốc. Tôi cám ơn anh và ăn hết nhẵn hộp sushi trên, mặc dù nó đủ cho cả hai người. Đến khi chúng tôi không thể uống sakê tiếp tục được nữa, anh mời tôi về ngủ ở nhà anh, nhưng tôi nói muốn ngủ một mình ngoài bãi biển, và anh cũng không nài nữa. Khi đứng lên ra về, anh lấy một tờ 5000 Yên đã gập lại từ túi quần ra và nhét nó vào túi áo tôi. "Đây," anh nói, "hãy ăn tử tế lấy vài bữa đi. Trông anh khiếp quá."

Tôi nói anh đã giúp tôi quá nhiều và tôi không thể còn nhận tiền của anh như vậy được, nhưng anh không chịu cầm lại tiền. "Không phải tiền đâu," anh bảo, "đó là tình cảm của tôi. Đừng phải nghĩ nhiều, cứ nhận đi." Tôi chỉ còn biết cảm ơn anh.

Khi anh đi rồi, tôi bỗng nhớ đến cô bạn gái cũ của mình, người con gái đầu tiên đã ngủ với tôi vào năm cuối trung học. Tôi lạnh người khi nhận ra mình đã xử tệ với cô như thế nào. Tôi đã không để ý gì đến những ý nghĩ và tình cảm của cô, hoặc nỗi đau khổ mà tôi đã gây ra cho cô. Cô thật dịu dàng ngoan ngoãn, nhưng khi đã có cô thì tôi lại quên hết những gì mình đang có và không hề nghĩ đến cô nữa. Hiện giờ cô làm gì? Và cô có tha thứ cho tôi không?

Một cơn buồn nôn dâng lên khôn cưỡng và tôi nôn oẹ dữ dội cạnh chiếc vỏ tàu. Đầu nhức như búa bổ vì uống quá nhiều sakê, tôi giận mình đã nói dối anh thuyền chài và lấy tiền của anh ta. Đã đến lúc phải về Tokyo rồi; tôi không thể sống như thế này mãi. Tôi nhét túi ngủ vào ba-lô, luồn tay khoác nó lên vai rồi đi bộ ra ga tàu hoả địa phương. Tôi bảo người bán vé tôi muốn đến Tokyo càng nhanh càng tốt.

Ông ta kiểm tra lại bảng giờ tàu rồi nói tôi có thể đến tận Osaka vào sáng mai nếu chịu khó đi tàu đêm và đổi tàu một lần ở nửa đường, rồi từ Osaka lấy tàu siêu tốc về Tokyo. Tôi cám ơn và dùng tờ 5000 Yên của anh thuyền chài để mua vé. Ngồi đợi tàu, tôi mua một tờ nhật bảo và xem ngày tháng: mồng hai tháng Mười, 1970. Vậy là tôi đã đi lang thang cả một tháng ròng. Tôi biết đã đến lúc phải trở lại với thế giới thực tại.

Một tháng lang thang ấy chẳng nâng đỡ gì cho tôi về mặt tinh thần mà cũng chẳng làm dịu được cơn choáng vì cái chết của Naoko. Tôi về đến Tokyo cũng vẫn tâm trạng gần như lúc bỏ đi. Thậm chí tôi không dám gọi cho Midori. Tôi biết nói gì với cô? Và bắt đầu thế nào đây? "Mọi chuyện đã xong rồi, bây giờ cậu và mình có thể hạnh phúc bên nhau" Không được, không thể nói vậy được. Mà dù tôi có nói thế nào đi nữa thì sự thật cũng khác gì đâu: Naoko đã chết, còn Midori thì vẫn ở đây. Naoko là một nhúm tro trăng trắng, còn Midori là một con người đang thở và đang sống.
Tôi bị đè bẹp bởi cảm thức về chính tình trạng bi đát của mình. Về đến Tokyo rồi, nhưng tôi không làm gì, chỉ đóng cửa ở tịt trong phòng nhiều ngày liền. Kí ức tôi vẫn còn gắn liền với người chết chứ không phải người sống. Những căn phòng tôi đã dành riêng cho Naoko trong kí ức đều đã cửa đóng then cài, đồ đạc phủ vải trắng, bạu cửa sổ phủ đầy bụi. Phần lớn thời gian trong ngày tôi ở tịt trong những căn phòng ấy. Và tôi nghĩ đến Kizuki. "Thế là cuối cùng cậu đã làm cho Naoko thành của cậu được rồi," tôi thấy mình nói với Kizuki. "Dù sao, ngay từ đầu cô ấy cũng là của cậu. Bây giờ, có lẽ cô ấy đã về đúng chỗ của mình. Nhưng trong cái thế giới này, cái thế giới bất toàn này của người sống, mình đã làm hết sức mình cho Naoko. Mình đã cố thiết lập một cuộc sống mới cho hai đứa bọn mình. Nhưng thôi quên chuyện đó đi, Kizuki à. Mình trả lại cô ấy cho cậu. Gì thì gì, cậu mới là người cô ấy chọn. Cô ấy đã tự treo cổ mình trong những khu rừng tăm tối như những tầng sâu thẳm của chính cõi lòng cô ấy. Ngày xưa, cậu đã lôi tuột một phần con người mình vào thế giới của người chết, và bây giờ thì Naoko vừa lôi một phần nữa của mình vào đó. Đôi khi mình cảm thấy như mình là người phải trông nom một nhà bảo tàng - một nhà bảo tàng rộng lớn và trống rỗng không bao giờ có ai vào xem, và mình phải trông nom nó để cho chính mình xem mà thôi."

Bốn ngày sau khi về lại Tokyo, tôi nhận được thư của Reiko. Phát chuyển đặc biệt. Chỉ là một thông báo ngắn:

"Đã nhiều tuần lễ tôi không thể liên lạc được với cậu, và tôi đang lo lắng đây. Làm ơn gọi cho tôi. Lúc chín giờ sáng hoặc chín giờ tối. Tôi sẽ đợi máy."

Tôi gọi chị lúc chín giờ tối hôm đó. Reiko nhấc máy ngay lập tức.

"Cậu có sao không thế?" Chị hỏi.

"Cũng không có gì," tôi nói.

"Tôi đến thăm cậu vào ngày kia có được không?"

"Thăm tôi? Ở Tokyo này ư?"

"Đúng thế đấy. Tôi muốn được nói chuyện thật thoả thích với cậu."

"Chị sẽ ra khỏi khu an dưỡng chứ?"

"Chỉ như thế tôi mới có thể đến thăm cậu, đúng không nào? Dù sao, cũng đã đến lúc tôi phải rời khỏi nơi này. Ở đây cũng đã tám năm rồi còn gì. Nếu họ giữ tôi nữa, tôi sẽ bắt đầu thối rữa mất."

Tôi thấy rất khó nói. Sau một lúc im lặng, Reiko tiếp tục:

"Tôi sẽ đi tàu siêu tốc chuyến ba giờ hai mươi ngày kia. Cậu đón tôi ở ga được không? Cậu còn nhớ mặt mũi tôi không đấy? Hay Naoko chết rồi thì cậu chẳng còn nghĩ gì đến tôi nữa?"

"Làm gì có chuyện ấy," tôi nói. "Hẹn gặp chị ở ga Tokyo ngày kia lúc ba giờ hai mươi."

"Cậu sẽ nhận ra tôi dễ thôi. Một bà già có hộp đàn ghi-ta. Chẳng có mấy người như vậy đâu."

Và quả thực là tôi nhận ngay ra Reiko trong đám đông.
Chị mặc áo tây đàn ông vải tuýt, quần dài trắng, và giày thể thao màu đỏ. Tóc chị vẫn ngắn như thế, vẫn từng chỏm nhọn lởm chởm như thế. Chị nở một nụ cười sảng khoái đầy nếp nhăn lúc nhìn thấy tôi, và tôi thấy mình mỉm cười đáp lại. Tôi đỡ chiếc vali cho chị và đi bên cạnh chị ra của đi tàu về vùng ngoại ô phía Tây.

"Này Watanabe, cậu đeo cái vẻ mặt kinh khủng này từ hao giờ thế hả? Hay bây giờ ở Tokyo đang có mốt như vậy?"

"Tôi vừa đi đây đi kia một thời gian, ăn uống linh tinh quá," tôi nói. "Chị thấy tàu siêu tốc thế nào?"

"Chán chết được? Chị nói. "Không mở được cửa sổ. Tôi chỉ muốn mua một suất ăn trưa trong hộp ở một nhà ga nào đó mà không được."

"Họ có bán thức ăn trên tàu mà."

"Có, nhưng toàn bánh kẹp trong gói nilông đắt chết người. Đến ngựa đói cũng không muốn đụng đến cái thứ đó. Tôi thường thích ăn cơm suất trong hộp ở nhà ga Gotenba."

"Ngày xửa ngày xưa, trước khi có tàu siêu tốc."

"Thì tôi chính là một kẻ từ ngày xửa ngày xưa trước khi có tàu siêu tốc mà!"

Ngồi trên tàu đi Kichioji, Reiko ngắm phong cảnh vùng Musashino trôi qua ngoài cửa sổ với tất cả vẻ tò mò của một khách du lịch.

"Tám năm có thay đổi nhiều không chị?" Tôi hỏi.

"Cậu không biết tôi đang cảm thấy những gì bây giờ, đúng không, Watanabe"

"Đúng, tôi không biết."

"Tôi đang sợ," chị nói. "Sợ đến mức tôi có thể cứ thế phát điên lên. Tôi không biết mình sẽ phải làm gì, tự nhiên lại ném mình ra ngoài như thế này." Chị ngừng một chút. "Nhưng cái câu "Cứ thế phát điên lên nghe cũng hay đấy chứ cậu?"

Tôi mỉm cười và cầm lấy tay chị. "Đừng lo," tôi nói. "Chị sẽ ổn mà. Chị đã đến được tận đây nhờ sức mạnh của chính mình."

"Chẳng phải vì sức mạnh của chính mình mà tôi ra khỏi được đó đâu" Reiko nói. "Chính là vì Naoko và cậu đấy. Thiếu Naoko tôi không thể chịu đựng nổi ở đó nữa, và tôi phải đến Tokyo để nói chuyện với cậu. Có thế thôi. Nếu không có chuyện gì, có lẽ tôi sẽ ở lại đó suốt đời mất."

Tôi gật đầu.

"Từ giờ thì chị tính sẽ làm gì?" tôi hỏi Reiko.

"Tôi sẽ đi Asahikawa," chị nói. "Mãi tận trên Hokkaido hoang đã! Một người bạn hồi đại học có một cái trường nhạc ở đó. Cô ấy đã đề nghị tôi đến giúp một tay hai ba năm nay rồi. Tôi bảo cô ấy ở đó quá lạnh đối với tôi Mà thật thế, chẳng nhẽ mãi mới lấy lại được tự do thì tôi lại phải lên tận Asahikawa sao? Rất khó phấn chấn vì một nơi khỉ ho cò gáy như thế?"

"Không đến nỗi chán thế đâu," tôi nói và bật cười. "Tôi đã đến đấy rồi. Thị trấn ấy làm gì đến nỗi nào. Nó có một không khí riêng rất đặc biệt."

"Cậu chắc không?"

"Tuyệt đối chắc mà. Còn hay hơn Tokyo nhiều."

"Ôi chao," chị nói. "Tôi cũng chẳng biết đi đâu nữa, và cũng đã gửi hết đồ đoàn lên đấy rồi. Này Watanabe, cậu phải hứa sẽ đến thăm tôi ở Asahikawa đấy nhé."

"Tất nhiên rồi. Nhưng chị có phải đi lên đó ngay không? Chị có ở lại Tokyo được ít ngày không?"

"Tôi cũng thích quanh quẩn ở đây vài ngày nếu có thể được. Cậu cho tôi tá túc được không? Tôi sẽ không làm phiền cậu chứ?"

"Không có vấn đề gì," tôi nói. "Tôi có một cái khoang để đồ rộng lắm, tôi sẽ ngủ bằng chăn túi ở trong đó."

"Tôi không thể làm thế với cậu được."

"Có gì đâu mà, thật đấy. Cái khoang để đồ ấy rộng lắm.

Reiko gõ gõ ngón tay theo nhịp lên mặt cái hộp đàn kẹp giữa hai đầu gối. "Có lẽ tôi phải làm quen một tí trước khi lên Asahikawa. Tôi quên hết nếp sống bên ngoài rồi. Tôi thiếu thốn nhiều thứ lắm, và tôi lại lo sợ nữa. Cậu nghĩ có giúp được tôi một tí không? Tôi chỉ có mỗi cậu để hỏi thế thôi đấy."

"Làm được gì là tôi sẽ làm hết để giúp chị," tôi nói.

"Hy vọng là tôi không làm vướng đường cậu."

"Tôi chẳng có đường nào để cho chị làm vướng cả."

Chị nhìn tôi và nhếch cả hai mép lên trong một nụ cười, nhưng không nói gì cả.

Chúng tôi hầu như không nói gì nữa trong suốt quãng đường đến ga Kichijoji và từ đó về chỗ tôi bằng xe buýt. Chúng tôi chỉ trao đổi bâng quơ vài câu về những thay đổi ở Tokyo, về thời gian Reiko còn ở đại học âm nhạc, và chuyến đi của tôi đến Asahikawa, nhưng không ai đả động đến Naoko. Mười tháng đã trôi qua kể từ lần trước tôi gặp Reiko, nhưng tôi thấy bình tĩnh và thoải mái lạ lùng khi sánh bước bên chị. Đây là một cảm giác quen thuộc, tôi nghĩ thầm, và chợt nhận ra đó chính là cảm giác tôi vẫn thường có khi đi bộ khắp phố phường Tokyo cùng với Naoko. Và cũng như Naoko với tôi đã chia nhau cái chết của Kizuki, Reiko và tôi nay lại đang chia nhau cái chết của Naoko. Ý nghĩ đó khiến tôi không thể nói năng gì được nữa. Reiko tiếp tục nói một lúc, nhưng khi thấy tôi cứ nín thinh, chị cũng im lặng luôn. Chúng tôi chẳng ai mở mồm trên xe buýt.

Đó là một trong những chiều đầu thu khi mọi vật đều sáng sủa rõ ràng, hệt như một năm trước khi tôi đến Kyoto thăm Naoko. Những đám mây trắng và dài như những lóng xương, bầu trời cao thăm thẳm. Hương thơm trong gió, sắc độ của ánh sáng, những bông hoa li ti trong cỏ, âm vang tinh tế của mọi thứ tiếng động: tất cả những cái đó nhắc nhở tôi rằng một mùa thu nữa lại đã về, và mỗi kì luân chuyển của trời đất lại khiến khoảng cách giữa tôi và những người đã chết xa thêm nữa. Kizuki thì vẫn mười bảy và Naoko hai mốt. Mãi mãi như vậy.

"Ôi chao, đến được một chỗ như thế này thật nhẹ nhõm biết bao!" Reiko nói trong lúc nhìn khắp xung quanh khi vừa từ xe buýt bước xuống.

"Bởi vì ở đây chẳng có gì hết," tôi nói.

Tôi đưa Reiko vàn qua cổng sau, đi xuyên qua vườn để vào căn nhà nhỏ của mình. Cái gì cũng làm cho chị thích thú.
"Thật tuyệt vời!" Chị nói. "Chính cậu làm những cái giá đỡ kia với cả cái bàn này đấy à?"

"Vâng," tôi vừa nói vừa rót trà ra cốc.

"Cậu rõ khéo tay thật đấy" Mà cậu còn giữ nhà cửa rất sạch sẽ nữa chứ!"

"Ảnh hưởng của Quốc-xã đấy," tôi nói. "Hắn đã biến tôi thành một kẻ sạch sẽ bệnh hoạn. Chứ không phải vì chủ nhà phàn nàn gì đâu."

"Ô còn ông chủ nhà của cậu nữa! Tôi phải tự giới thiệu mình với ông ấy. Nhà ông ấy ở phía bên kia vườn đúng không?"

"Tự giới thiệu chị với ông ấy? Để làm gì?"

"Để làm gì nghĩa là sao? Một bà già lạ lẫm tự nhiên xuất hiện ở chỗ cậu rồi bắt đầu chơi ghi-ta, ông ấy sẽ thắc mắc cho mà xem. Đi trước một bước là hơn. Tôi đã mua cả một hộp kẹo uống trà cho ông ấy đây."

"Chị khéo thật đấy," tôi nói.

"Già quá hoá khôn thôi. Tôi sẽ bảo ông ấy rằng tôi là bà cô về đằng mẹ của cậu, từ Kyoto đến chơi, cậu đừng có nói khác đấy nhé. Những lúc như thế này thì chênh lệch tuổi tác lại hoá hay. Sẽ không ai nghi ngờ đâu."

Reiko lấy hộp kẹo trong túi ra rồi đi làm bổn phận chào hỏi. Tôi ngồi lại dưới hiên nhà, uống thêm một cốc trà nữa và chơi với con mèo. Hai mươi phút trôi qua, và khi Reiko trở về, chị lấy một hộp bánh qui gạo ra và bảo đấy là quà cho tôi.

"Chị nói chuyện gì với họ mà lâu thế?" tôi hỏi, miệng gặm bánh qui.

"Chuyện cậu chứ còn chuyện gì nữa," Reiko nói, ôm nựng con mèo và cọ má vào nó. "Ông ấy nói cậu là một thanh niên rất đứng đắn, một sinh viên nghiêm túc."

"Chị có chắc là ông ấy nói về tôi không đấy?"

"Chắc chắn rồi, và tôi không nghi ngờ một li một leo nào hết," chị nói rồi phì cười. Sau đó, thấy cái ghi-ta của tôi, chị nhặt nó lên, chỉnh dây, và chơi bài "Desafinado" của Antonio Carlos Jobim. Bao nhiêu tháng rồi tôi mới được nghe lại tiếng ghi-ta của Reiko, và nó khiến tôi nhớ lại cảm giác ấm áp của lần trước.

"Cậu tập ghi-ta đấy à?" Chị hỏi.

"Nó lăn lóc trong kho của ông chủ nhà nên tôi mượn và bập bùng thi thoảng thôi, tập tành gì đâu chị."

"Rồi tôi sẽ dạy cậu một buổi. Hoàn toàn không lấy tiền." Reiko để cái đàn xuống và cởi chiếc áo tây ra. Ngồi dựa lưng vào cột hiên nhà, chị hút một điếu thuốc lá. Chị mặc một cái sơ-mi cộc tay carô vải madras.

"Sơ mi đẹp đấy chứ, phải không cậu" Chị hỏi.

"Đẹp," tôi nói. Mà quả thực nó đẹp thật, kiểu carô rất hay.

"Của Naoko đấy," Reiko nói. "Tôi cuộc là cậu không biết hai đứa chúng tôi cùng một cỡ. Nhất là hồi cô ấy mới vào khu an dưỡng. Sau này cô ấy có hơi đẫy ra một chút, nhưng chúng tôi vẫn mặc chung được: áo, quần, giày, mũ. Chỉ có xu-chiêng là không chung được thôi. Tôi thì chẳng có tí ngực nào. Vậy là chúng tôi luôn mặc đổi quần áo nhau. Thật ra là gần như chung nhau vậy."

Nghe chị nói xong tự nhiên tôi mới để ý thấy người Reiko gần giống hệt Naoko. Vì gương mặt khác, và chân tay mảnh dẻ, nên chị đã luôn gây cho tôi có cảm giác là chị nhỏ hơn và mảnh dẻ hơn Naoko, nhưng thực tế là chị rất rắn chắc.

"Cái áo tây và cái quần củng là của cô ấy," Reiko nói. "Tất cả là của cô ấy. Cậu có phiền khi thấy tôi mặc đồ của cô ấy không?"

"Hoàn toàn không," tôi nói. "Nhất định Naoko sẽ vui khi thấy có ai đó đang mặc quần áo của mình, nhất là chị."

"Cũng lạ," Reiko nói và búng nhẹ ngón tay một cái.
"Naoko không để lại di chúc hay gì cả mà chỉ nhắc đến quần áo của cô ấy thôi. Cô ấy viết vội một dòng vào tập giấy vở để trên bàn rằng "Xin hãy để hết quần áo của tôi cho Reiko." Cô ấy lạ thế đấy, phải không cậu" Tại sao lại chỉ quan tâm đến quần áo khi mình sắp chết? Ai còn thèm để ý gì đến quần áo cơ chứ? Chắc cô ấy phải có hàng tấn những chuyện khác muốn nói chứ?"

"Chưa chắc," tôi nói.

Ngồi rít thuốc, Reiko có vẻ chìm đắm trong dòng suy nghĩ của riêng mình. Rồi chị nói, "Cậu muốn nghe toàn bộ câu chuyện, từ đầu đến cuối, đúng không nào?"

"Vâng," tôi nói. "Xin chị kể lại hết cho."

"Những xét nghiệm của bệnh viện Osaka cho thấy tình trạng của Naoko có tiến triển tốt lúc ấy, nhưng cô ấy nên ở lại đó để có thể tiếp tục được điều trị thì mới có tác dụng lâu dài. Tôi đã nói với cậu chuyện này trong thư -cái thư tôi gửi cậu vào ngày mười tháng Tám gì đó."

"Đúng thế. Tôi đọc thư ấy rồi."

"Vậy là, ngày hai mươi tư tháng Tám tôi nhận được một cú điện thoại của mẹ Naoko, hỏi liệu Naoko có về thăm tôi ở khu an dưỡng được không. Naoko muốn thu xếp những đồ vẫn còn để ở chỗ tôi, và vì có thể cô ấy sẽ phải xa tôi một thời gian lâu nên muốn được trò chuyện cho thoả thích và có thể sẽ ngủ lại với tôi một đêm. Tôi nói việc ấy hoàn toàn không có vấn đề gì. Tôi cũng rất muốn được gặp và chuyện trò với cô ấy.

Thế là hôm sau, ngày hai mươi nhăm, hai mẹ con Naoko đi taxi tới. Ba chúng tôi cùng nhau thu xếp đồ đoàn của Naoko và trò chuyện suốt ngày. Đến chiều muộn thì Naoko nói mẹ cô có thể về nhà, cô sẽ ổn cả thôi, và họ gọi một cái taxi cho bà ấy về. Không ai lo lắng gì hết vì Naoko có vẻ rất phấn chấn. Mà quả thực trước đó tôi đã rất lo lắng. Tôi đã tưởng cô ấy sẽ rất buồn chán, hốc hác và mệt mỏi. Tôi đã biết những xét nghiệm và kiểu điều trị cấp tập ở nhưng bệnh viện kia sẽ làm người ta mệt nhọc tàn hại thế nào rồi, nên đã rất ngờ vực về chuyến viếng thăm này. Nhưng chỉ vừa nhìn thấy cô ấy một cái là tôi đã bị thuyết phục rằng cô ấy sẽ ôkê. Cô ấy trông khỏe mạnh hơn tôi tưởng nhiều, và cô ấy cười nói và đùa bỡn bình thường hơn trước rất nhiều. Cô ấy đã đến tiệm làm đầu và khoe kiểu tóc mới với tôi rất vui vẻ. Cho nên tôi nghĩ chẳng có gì đáng phải lo ngay cả khi mẹ cô ấy ra về. Naoko bảo tôi rằng lần này thì cô ấy sẽ để cho mấy ông bác sĩ bệnh viện kia chữa dứt bệnh cho cô ấy một lần cho xong, và tôi nói có lẽ như thế là hay nhất. Rồi hai chúng tôi ra ngoài đi dạo, chuyện trò suốt đọc đường, chủ yếu là về tương lai. Naoko bảo tôi rằng cô ấy thích nhất là hai đứa chúng tôi cùng ra khỏi khu an dưởng và sống với nhau ở đâu đó."

"Cùng sống với nhau? Chị với Naoko?"

"Đúng thế," Reiko nhún vai. "Và tôi bảo chuyện ấy nghe được đấy nhưng còn Watanabe thì sao? Cô ấy bảo "Chị đừng lo, em sẽ giải quyết mọi chuyện với cậu ấy." Chỉ vậy thôi. Rồi chúng tôi lại bàn nhau sẽ sống ở đâu và sẽ làm gì, kiểu thế. Sau đó chúng tôi về chỗ nhà nuôi chim chơi với bọn chim một lúc."

Tôi lấy một hộp bia trong tủ lạnh ra và bật nắp. Reiko châm một điếu thuốc nữa, con mèo ngủ li bì trên lòng chị.

"Cô gái ấy đã thu xếp xong hết mọi chuyện của mình rồi. Chắc thế nên cô ấy mới phấn chấn tươi cười và trông khỏe khoắn như vậy. Chắc chắn là cô ấy phải thấy như cất hẳn đi được một gánh nặng khi đã biết rõ mình sẽ phải làm gì. Chúng tôi dọn dẹp hết những thứ của cô ấy và ném những cái không cần nữa vào cái thùng sắt ngoài vườn để đốt, kể cả cuốn vở nhật kí của cô ấy và tất cả thư từ. Kể cả thư của cậu. Tôi thấy chuyện ấy hơi lạ nên mới hỏi tại sao cô ấy lại đốt cả những thứ như thế. Nghĩa là, tôi vẫn thấy cô ấy cất thư của cậu rất cẩn thận vào một chỗ và hay đọc đi đọc lại chúng. Cô ấy nói, "Em đang dọn sạch mọi thứ của quá khứ để có thể tái sinh vào tương lai." Có lẽ tôi đã tin lời cô ấy lúc bấy giờ. Nó có lôgic riêng của nó, đại loại thế. Tôi nhớ ra là mình đã từng mong cho cô ấy được khỏe mạnh và hạnh phúc biết bao nhiêu. Và hôm đó cô ấy thực sự đáng yêu và ngọt ngào đến thế. Giá mà cậu được thấy cô ấy lúc ấy!"

"Xong việc ấy, chúng tôi đến nhà ăn dùng bữa tối như vẫn thường làm với nhau. Sau đó chúng tôi cùng tắm rồi mở một chai vang ngon mà tôi vẫn để dành cho những dịp đặc biệt như thế. Chúng tôi uống và tôi chơi ghi-ta. Vẫn như mọi lần, lại nhạc Beatles, "Rừng Na-uy", "Michelle", hai bài ưa thích nhất của cô ấy. Cả hai chúng tôi đều thấy vui. Chúng tôi tắt hết đèn, cởi hết quần áo và lên giường nằm. Đó là một đêm nóng nhễ nhại. Chúng tôi mở toang hết các cửa sổ mà vẫn không thấy có tí gió nào. Bên ngoài tối đen như mực, tiếng châu chấu râm ran, và mùi cỏ mùa hè nồng nàn cả vào phòng đến mức khó thở. Rồi đột nhiên cô ấy nói đến cậu - về cái đêm cô ấy làm tình với cậu. Chi tiết không thể tưởng được. Cậu cởi quần áo cô ấy thế nào, động chạm đến cô ấy ra làm sao, cô ấy thấy mình ướt thế nào, cậu luồn vào cô ấy ra sao, cảm giác tuyệt vời thế nào, cô ấy kể với tôi tất cả những chuyện ấy với những chi tiết sống động. Và tôi hỏi: tại sao tự nhiên bây giờ em lại kể cho chị nghe chuyện này? Nghĩa là, cho đến lúc ấy, cô ấy chưa bao giờ nói chuyện cởi mở với tôi về tình dục. Tất nhiên, chúng tôi có nói đến tình dục trong các buổi điều trị nhóm, nhưng cô ấy lúc nào cũng ngượng không đi vào chi tiết. Còn bấy giờ thì tôi lại không ngăn cô ấy lại được. Tôi thấy choáng thật sự."

"Thế là cô ấy bảo "Em không biết, tự nhiên em thích nói thế thôi. Nếu chị không muốn nghe thì em sẽ thôi vậy." "Đừng," tôi bảo không sao đâu. "Nếu có chuyện gì em muốn nói ra thì tốt nhất là em cứ nói hết ra. Chị sẽ nghe em, bất kì là chuyện gì."

"Thế là cô ấy kể tiếp: "Khi cậu ấy luồn vào trong em, em không thể tin được là lại đau đến thế. Nhưng mà đó cũng là lần đầu tiên của em. Em ướt đẫm cả, cậu ấy vào được ngay, thế mà đầu óc em mù mịt hết cả. Đau ghê lắm. Em tưởng cậu ấy đã vào đến hết cỡ rồi, nhưng sau đó cậu ấy lại nhấc cả hai chân em lên và dấn vào sâu hơn nữa. Cả người em bỗng lạnh cóng lên từng đợt, như thể em đang chìm ngập trong nước đá vậy. Tay chân em tê dại, và một cơn lạnh nữa rần rật xuyên qua khắp người em. Em không biết chuyện gì đang diễn ra nữa. Em tưởng mình sẽ chết ngay lúc ấy, và em cũng chẳng cần. Nhưng cậu ấy nhận ra là em đang đau, và liền ngưng lại, vẫn ở rất sâu trong em, và bắt đầu hôn em khắp nơi - tóc em, cổ em, vú em - trong một lúc lâu, thật lâu. Dần dần, từng tí một, thân thể em ấm áp trở lại, và thế là cậu ấy bắt đầu, rất chậm, cậu ấy lại bắt đầu chuyền động. Ôi, chị Reiko, thật tuyệt vời làm sao! Bấy giờ em tưởng như đầu óc mình sắp tan thành nước đến nơi. Em đã muốn cứ như thế mãi mãi, nằm trong vòng tay của cậu ấy cho đến hết đời. Nó tuyệt đến thế đấy chị ạ."
"Rồi thì tôi hỏi, "Nếu nó tuyệt đến thế, sao em không ở với Watanabe và ngày nào cũng làm chuyện ấy?"
Nhưng cô ấy nói "Không được chị ơi, em biết nó sẽ không bao giờ được như vậy nữa. Em biết chuyện đó chỉ đến với em một lần thôi và sẽ ra đi không bao giờ trở lại. Đó phải là cái gì đó chỉ có được một lần trong đời. Trước đó em đã chưa bao giờ cảm thấy cái gì như vậy, và từ đó đến nay cũng thế. Em đã không bao giờ cảm thấy muốn làm chuyện đó nữa, và cũng không bao giờ ướt được như thế nữa."
"Tất nhiên, tôi giải thích cho cô ấy rằng chuyện như vậy thường xảy ra với những thiếu nữ và trong hầu hết mọi trường hợp nó sẽ tự qua đi với tuổi tác. Mà dù sao thì ta cũng đã có được một lần tuyệt diệu như vậy, sao lại lo là nó sẽ không lặp lại nữa. Bản thân tôi cũng đã có đủ mọi rắc rối lúc mới lấy chồng."

"Nhưng cô ấy nói, "Không, không phải thế, chị Reiko. Em không lo chuyện ấy tí nào. Em chỉ không muốn ai vào trong em như vậy nữa. Em chỉ không muốn bị xâm phạm như vậy nữa - với bất kì ai."

Tôi uống chỗ bia của mình, và Reiko hút nốt điếu thuốc. Con mèo duỗi người trên lòng Reiko, tìm một tư thế mới rồi lại ngủ. Reiko có vẻ không biết tiếp tục câu chuyện ra sao cho đến khi chị châm điếu thuốc thứ ba.

"Sau đó, Naoko bắt đầu khóc thút thít. Tôi ngồi bên mép gíường và vuốt tóc cô ấy. "Đừng lo lắng nữa em," tôi nói, "mọi chuyện rồi sẽ ổn cả mà. Một cô gái trẻ đẹp như em rồi sẽ phải có một người đàn ông ôm ấp và làm cho em được hạnh phúc." Naoko đầm đìa cả mồ hôi và nước mắt. Tôi lấy một cái khăn tắm và lau mặt lau người cho cô ấy. Ngay cả quần lót cô ấy cũng sũng sĩnh cả, nên tôi giúp cô ấy cởi nó ra - nào nào, cậu chớ có nghĩ bậy bạ gì ở đây nhé, không có chuyện vớ vẩn ấy đâu. Chúng tôi vẫn thường tắm chung với nhau. Cô ấy như em gái của tôi mà."

"Tôi biết, tôi biết," tôi nói.

"Thế rồi cô ấy bảo muốn tôi ôm cô ấy. Tôi nói nóng bức thế này ôm ấp làm sao, nhưng cô ấy nói đây là lần gặp nhau cuối cùng của chúng tôi, và thế là tôi ôm lấy cô ấy. Chỉ một lúc thôi. Với cái khăn tắm ngăn cho hai tấm thân nhễ nhại khỏi dính nhớp nháp vào nhau. Và khi cô ấy đã bình tĩnh lại, tôi lau khô người cho cô ấy lần nữa, mặc bộ áo ngủ vào cho cô ấy và đặt cô ấy lên giường. Cô ấy thiếp đi và ngủ say ngay. Hoặc có thể chỉ giả vờ như vậy. Gì thì gì, đêm hôm đó trông cô ấy thật dễ thương. Cô ấy có vẻ mặt của một cô gái mười ba hoặc mười bốn tuổi chưa từng bị ai làm hại bao giờ. Tôi thấy vẻ mặt ấy của cô, và tôi biết tôi có thể yên lòng đi ngủ."

"Khi tôi thức giấc lúc sáu giờ sáng hôm sau thì cô ấy đã đi rồi. Bộ áo ngủ còn ở đó, chỗ cô ấy tụt nó ra dưới đất, nhưng quần áo và đôi giày với cái đèn pin tôi luôn để bên cạnh giường thì không còn nữa. Tôi biết ngay là có chuyện rồi. Nguyên chuyện cô ấy lấy cái đèn pin chứng tỏ là cô ấy đã bỏ đi từ trong đêm. Tôi cứ hú hoạ kiểm tra chỗ bàn viết của cô ấy, và thấy mấy chữ: Xin hãy để tất cả quần áo của tôi cho Reiko. Tôi lập tức đánh thức mọi người và tất cả chia nhau đi tìm cô ấy. Chúng tôi không bỏ sót một phân vuông nào ở đó, từ bên trong các khu nhà ở cho đến những cánh rừng xung quanh. Năm tiếng sau chúng tôi mới tìm thấy cô ấy. Thậm chí cô ấy đã đem theo cả sợi dây thừng riêng của mình."

Reiko thở dài và vỗ về con mèo.

"Chị uống tí trà không?" tôi hỏi.

"Có cám ơn cậu," Reiko nói.

Tôi đun nước và mang bình trà ra ngoài hiên. Mặt trời sắp lặn. Ánh sáng ban ngày đã yếu đi, và bóng cây cối đổ dài đến tận chân chúng tôi. Tôi nhấm nháp nước trà và nhìn khu vườn ngâu hứng lạ lẫm với sự pha trộn buồn cười của những bụi hoa cầu vàng, những đám đô quyên hồng và những khóm trúc cao màu xanh.

"Rồi xe cứu thương đến đem Naoko đi và cảnh sát bắt đầu hỏi chuyện tôi. Họ cũng chẳng nghi ngờ gì nhiều. Đã có một thứ như bức thư tuyệt mệnh, và rõ ràng đó là một vụ tự tử, và họ vẫn cho rằng tự tử chỉ là một trong những việc mà các bệnh nhân tâm thần vẫn thường làm. Nên mọi việc chỉ là thủ tục mà thôi. Họ đi một cái là tôi đánh điện cho cậu ngay."

"Buổi tang lễ mới gọi là buồn," tôi nói. "Gia đình cô ấy rõ ràng khó chịu vì thấy tôi biết Naoko chết. Chắc họ không muốn ai biết là Naoko đã tự vẫn. Nhẽ ra tôi đã không nên đến đó. Dự rồi lại càng buồn hơn. Về đến nhà một cái là tôi lên đường ngay."

"Này Watanabe, mình đi dạo một tí đi. Ta có thể mua cái gì đó làm cơm tối, biết đâu đấy. Tôi đói lắm rồi."

"Nhất định rồi. Chị có muốn ăn món gì đặc biệt không?"

"Sukiyaki," chị nói. "Tôi đã không ăn món nào như vậy hàng bao nhiêu năm rồi. Tôi thường nằm mơ thấy món sukiyaki - cứ việc tọng thật kễnh bụng thịt bò với hành hoa và mì sợi với đậu phụ nướng và đỗ xanh."

"Rồi, mình có thể làm món đó, nhưng tôi không có loại chảo làm sukiyaki."

"Cứ để tôi. Tôi sẽ lên mượn ông chủ nhà."

Chị chạy ù lên nhà trên và trở về với một cái chảo lớn vừa vặn cùng với bếp ga và ống nối.

"Không tệ lắm, hả?"

"Không tệ tí nào!"

Chúng tôi mua đủ thứ nguyên liệu cần thiết ở mấy cửa hàng nhỏ trong khu phố: thịt bò, trứng gà, rau cỏ, đậu phụ. Tôi chọn được một chai vang trắng khá xịn. Tôi định trả tiền, nhưng Reiko khăng khăng đòi để chị trả hết.

"Thử nghĩ xem cả nhà sẽ cười tôi thế nào nếu họ biết tôi để cho cậu cháu phải trả tiền đi chợ!" Reiko nói. "Hơn nữa, tôi đang có khá nhiều tiền mặt. Cho nên đừng có lo. Tôi không chịu rời khu an dưỡng mà không có đồng nào đâu."

Reiko vo gạo và đặt nồi nấu cơm trong khi tôi thu xếp các thứ để làm món ăn ở ngoài hiên. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, Reiko lấy cây ghi-ta của chị ra và có vẻ thử thách nó bằng một bài phức điệu chậm rãi của Bach. Vào những chỗ khó, chị cố tình đánh chậm lại hoặc nhanh lên hoặc làm nó lạnh lùng hay tình cảm hơn, trong khi lắng nghe với vẻ hoan hỉ rõ rệt những biến tấu âm thanh mà chị đã tạo nên được như vậy ở cây đàn. Khi chơi ghi-ta, Reiko giống như một cô gái mười bảy tuổi đang sung sướng nhìn một bộ áo mới. Mắt chị long lanh, và miệng chị hơi dẩu ra gần như một nụ cười. Khi đã chơi xong bản nhạc, chị ngả người dựa vào cột nhà và ngước nhìn lên trời như đang suy nghĩ điều gì.

"Tôi hỏi chuyện chị một tí có được không?" Tôi lên tiếng.

"Sao lại không? chị nói. "Tôi chỉ đang nghĩ xem mình đói đến mức nào thôi mà."

"Chị có định gặp chồng chị hoặc con gái chị trong lúc ở đây không? Chắc họ cũng ở đâu đây tại Tokyo chứ?"

"Cũng gần thôi. Ở Yokohama. Nhưng không, tôi không định gặp họ đâu. Chắc là tôi đã nói với cậu trước đây rồi: tốt nhất là họ không phải dính dáng gì đến tôi nữa. Họ đã bắt đầu một cuộc sống mới. Mà gặp họ tôi sẽ thấy kinh khủng lắm. Thôi, tốt nhất là cứ kính nhi viễn chi cậu ạ?"

Chị bóp bẹp bao thuốc Seven Stars đã hết và lấy từ vali ra một bao mới. Chị xé niêm phong, lấy một điếu đưa lên môi nhưng không châm lửa.

"Con người tôi chấm hết rồi," chị nói. "Tất cả những gì cậu đang thấy đây chỉ là lưu dấu của tôi ngày xưa. Cái phần quan trọng nhất của tôi, thường vẫn ở trong tôi, chết đã nhiều năm rồi, và tôi chỉ còn hoạt động theo chỉ đạo tự động của kí ức mà thôi."

"Nhưng tôi thích chị bây giờ, Reiko à, cứ như bây giờ ấy, dù là lưu dấu hay cái gì cũng được. Và mặc dù tôi có nói gì thì cũng thế thôi, nhưng tôi vẫn muốn nói rằng tôi rất vui thấy chị mặc quần áo của Naoko."

Reiko mỉm cười và lấy bật lửa châm thuốc. "Còn trẻ như cậu mà đã biết cách làm cho một người đàn bà thấy hạnh phúc rồi đấy"

Tôi cảm thấy mình đó bừng mặt. "Tôi chỉ nói những gì mình nghĩ thôi."

"Rồi, tôi biết chứ," Reiko mỉm cười.

Khi cơm đã chín ngay sau đó một lúc, tôi láng dầu vào chảo và xếp các nguyên liệu để làm món sukiyaki.

"Hãy nói cho tôi biết đây không phải là nằm mơ đi nào"

Reiko nói, hít hít không khí.

"Không, đây là món sukiyaki hiện thực một trăm phần trăm," tôi nói. "Nói một cách thực chứng, tất nhiên rồi."

Đáng nhẽ nói chuyện thì chúng tôi vớ lấy đũa và tấn công món sukiyaki, uống rất nhiều bia, và kết thúc bằng cơm trắng. Con Hải âu thò mặt ra vì ngửi thấy mùi thức ăn, và chúng tôi cho nó ăn cùng. Khi đã no kễnh, chúng tôi ngồi dựa cột hàng hiên ngửa mặt nhìn trăng.

"No say chưa chị" Tôi hỏi.

"Hoàn toàn rồi," chị rên rẩm. "Cả đời tôi chưa ăn no thế này bao giờ."

"Bây giờ thì chị muốn làm gì nào?"

"Làm điếu thuốc rồi ra nhà tắm công cộng. Tóc tôi be bét cả rồi. Tôi cần gội đầu."

"Không có vấn đề gì. Nhà tắm ở ngay dưới phố."

"Nói xem, Watanabe, nếu cậu không phiền. Cậu đã ngủ với cô gái Midori đó chưa?"

"Chị muốn nói đã làm tình chưa chứ gì? Thì chưa. Hai đứa đã quyết định không làm chuyện ấy cho đến khi mọi việc ngã ngũ đã."

"Vậy bây giờ mọi việc ngã ngũ rồi thì cậu sẽ nói sao?"

Tôi lắc đầu. "Chị muốn nói là bây giờ khi Naoko đã chết rồi ư?"

"Không, không phải thế. Cậu đã có quyết định ấy trước khi Naoko chết từ lâu - rằng cậu sẽ không thể bỏ được Midori. Dù Naoko có sống hay là chết cũng chẳng liên quan gì đến quyết định của cậu. Cậu chọn Midori. Naoko chọn cái chết. Các cậu đã trưởng thành cả rồi, nên phải có trách nhiệm với những lựa chọn của mình. Nếu không, các cậu sẽ làm hỏng hết mọi chuyện."

"Nhưng tôi không thể quên được cô ấy," tôi nói. "Tôi đã bảo Naoko là tôi sẽ đợi cô ấy, nhưng tôi đã không làm được việc đó. Cuối cùng tôi đã quay lưng lại với cô ấy. Tôi không nói là ai có lỗi trong chuyện này: đó chỉ là vấn đề của riêng tôi mà thôi. Tôi cũng nghĩ mọi việc sẽ vẫn diễn ra như thế nếu tôi không quay lưng lại với cô ấy. Ngay từ đầu Naoko đã chọn cái chết. Nhưng chuyện đó ngoài lề. Tôi không thể tha thứ cho mình được. Chị bảo rằng tôi không thể làm gì được khi tình cảm tự nhiên thay đổi, nhưng quan hệ của tôi với Naoko không đơn giản như vậy. Chị thử nghĩ mà xem, cô ấy với tôi đã bị ràng buộc với nhau ở lằn ranh giữa sự sống và cái chết. Ngay từ đầu đã như vậy rồi."

"Nếu cậu cảm thấy đau đớn về cái chết của Naoko," Reiko nói, "tôi khuyên cậu hay giữ nỗi đau ấy cho đến trọn đời. Và nếu có thể học được điều gì từ đó, cậu cũng nên học. Nhưng bên cạnh đó, cậu nên hạnh phúc với Midori. Nỗi đau kia của cậu chẳng dính dáng gì đến quan hệ của cậu với cô ấy. Nếu cậu còn làm cho cô ấy bị tổn thương hơn nữa, vết thương ấy sẽ quá sâu không thể chữa lành được đâu. Cho nên dù có khó đến mấy, cậu cũng phải mạnh mẽ lên. Cậu phải lớn thêm tí nữa đi, phải thành người lớn hẳn hoi đi. Tôi đã bỏ khu điều dưỡng và lặn lội đến tận Tokyo này chỉ để nói với cậu điều đó thôi suốt cả quãng đường trên con tàu siêu tốc như cái áo quan ấy."

"Tôi hiểu điều chị nói," tôi nói với Reiko, "nhưng tôi vẫn chưa sẵn sàng theo nó đến tận cùng. Nghĩ mà xem, cái đám tang ấy thật nhỏ nhoi buồn thảm! Không ai nên phải chết như vậy cả."

Reiko với tay ra vỗ vỗ lên đầu tôi. "Tất cả chúng ta đều sẽ đến lúc phải chết như vậy cả. Cả tôi, và cả cậu nữa."

Chúng tôi đi bộ năm phút đồng hồ đọc bờ sông đến nhà tắm công cộng và trở về với tâm trạng sảng khoái hơn.

Tôi mở một chai vang và chúng tôi cùng ngồi uống ngoài hiên.

"Watanabe này, cậu lấy thêm cái cốc nữa được không?"

"Được chứ," tôi nói. "Nhưng để làm gì?"

"Ta sẽ làm một tang lễ nhỏ cho Naoko, chỉ tôi với cậu thôi. Một tang lễ không đến nỗi buồn, nhé."

Khi tôi đưa cho chị cái cốc, Reiko rót rượu vang đầy đến tận mép cốc rồi để nó lên cái đèn bằng đá ở ngoài vườn. Sau đó, chị ngồi dựa cột ngoài hiên, tay ôm ghi-tay và hút một điếu thuốc lá.

"Còn giờ thì cậu mang ra đây một hộp diêm được không? Lấy cái hộp nào to nhất ấy."

Tôi đem ra một hộp diêm nhóm bếp loại to nhất và ngồi xuống cạnh chị.

"Bây giờ thì cử mỗi lần tôi chơi một bài cậu lại xếp ra đây một que diêm nhé, cứ xếp thành một hàng ấy. Tôi sẽ chơi tất cả những cả khúc mà tôi nhớ."

Đầu tiên, chị chơi một chuyển thể nhẹ nhàng rất đáng yêu của bài "Trái tim yêu dấu" của Henry Mancini.

"Cậu có cho Naoko một cái đĩa có bài này, đúng không?" chị hỏi.

"Vâng. Nhân dịp Giáng Sinh năm kia. Cô ấy rất thích bài ấy."

"Tôi cũng thế," Reiko nói. "Thật êm dịu và đẹp…"

Rồi chị lướt lại vài khuông nhạc của giai điệu bài hát một lần nữa trước khi nhấp một ngụm vang. "Không biết tôi sẽ chơi được bao nhiêu bài trước khi say. Tang lễ kiểu này của mình hay đấy chứ, phải không cậu - không đến nỗi buồn chứ?"

Reiko chuyển sang chơi những cả khúc của nhóm Beatles: "Rừng Na-uy", "Hôm qua", "Michelle", và "Một điều gì đó". Chị cất tiếng hát theo khi chơi bài "Mặt trời đã lên đây rồi", rồi chơi tiếp bài "Chú ngốc ở trên đồi."

Tôi xếp bay que diêm thành một hàng.

"Bảy ca khúc", Reiko nói, uống thêm vang và hút một điếu thuốc nữa. "Quả thật tụi nó cũng hiểu thế nào là nỗi buồn của cuộc đời, và cả sự êm dịu của nó nữa."

"Tụi nó" đây có nghĩa là John Lennon, Paul McCartney và George Harrison. Sau một hồi giải lao ngắn, Reiko dụi tắt thuốc và lại cầm lấy ghi-ta. Chị chơi "Xóm nghèo" "Chim sáo", "Julia", "Khi tôi sáu mươi tư tuổi, "Con người vô định", "Và tôi yêu nàng", rồi đến bài "Này Jude."

"Bao nhiêu rồi!"

"Mười bốn," tôi nói.

"Chị thở dài và hỏi tôi, "Còn cậu thì sao? Cậu chơi cái gì đi nhé - một cả khúc chẳng hạn?"

"Không được đâu chị ơi. Tôi chơi dở lắm."

"Thì chơi dở chứ sao?"

Tôi lấy cây đàn của mình và loay hoay đánh bài "Trên mái nhà". Reiko ngồi nghỉ, hút thuốc và uống vang. Khi tôi chơi hết bài, chị vỗ tay hoan hô.

Sau đó chị chơi một chuyển thể cho ghi-ta bài "Điệu múa dâng Nữ hoàng hấp hối" của Rayel, và một chuyển thể khúc triết đẹp đẽ của bài "Ánh trăng" của Debussy.

"Naoko chết rồi tôi mới tập được hai bài này," Reiko nói. "Cho đến lúc lâm chung, thị hiếu âm nhạc của cô ấy cũng vẫn không thoát ra khỏi dòng bi luỵ."

Chị tiếp tục chơi mấy cả khúc vùng Bacharach: "Gần bên em", "Mưa vẫn rơi trên đầu tôi", "Hãy sánh bước", và "Nỗi buồn hồi chuông đám cưới."

"Hai mươi," tôi nói.

"Tôi thành cái máy nhạc bỏ xu rồi!" Reiko kêu lên.

"Các thày tôi ngày xưa mà thấy tôi thế này thì các cụ ngất xỉu mất."

Chị tiếp tục uống vang, hút thuốc và chơi đàn: nhiều điệu nhảy, rồi đến Rogers và Hart, Gershwin, Bob Dylan, Ray Charles, Carole King, The Beach Boys, Stevie Wonder, và ba cả khúc của Kyu Sakamoto: "Bài ca Sukiyaki", "Nhung Xanh", "Đồng Xanh. Đôi khi chị nhắm mắt, gật gật đầu, hoặc hát theo giai điệu của bản nhạc.

Khi đã hết vang, chúng tôi chuyển sang uống whisky. Tôi đổ cốc vang ngoài vườn xuống cây đèn đá rồi rót thay vào đó rượu whisky.

"Cậu đếm được bao nhiêu rồi?" Reiko hỏi.

"Bốn mươi tám," tôi đáp.

Sang bài bốn mươi chín, Reiko chơi bản "Eleanor Rigby", và đến bài thứ năm mươi thì chị chơi lại "Rừng Na-uy". Sau đó chị nghỉ tay và uống thêm chút whisky nữa. "Có lẽ thế là đủ rồi," chị nói.

"Vâng," tôi nói. "Tuyệt vời thật."

Reiko nhìn vào mắt tôi và nói, "Bây giờ cậu nghe đây, Watanabe. Tôi muốn cậu hãy quên hết cái đám ma buồn thảm kia đi, và chỉ nhớ đến đêm tang lễ kì diệu này của chúng ta thôi."

Tôi gật đầu.

"Còn đây là thêm để thưởng cậu đã đếm đúng hôm nay," chị nói, và cái bài thứ năm mươi mốt ấy là bản phức điệu của Bach mà chị ưa thích nhất. Khi đã xong, chị nói bằng một giọng chỉ hơn tiếng thầm thì một chút xíu, "Cậu làm chuyện ấy với tôi được không, Watanabe?"

"Lạ thật," tôi nói. "Tôi cũng đang nghĩ thế?"

Chúng tôi vào nhà và kéo kín màn cửa. Rồi trong gian phòng tối om ấy, Reiko và tôi tìm đến thân xác nhau như thể đó là một việc tự nhiên nhất trên đời. Tôi cởi áo quần chị, rồi đến đồ lót.

"Tôi đã sống một cuộc đời kì lạ," Reiko nói, "nhưng cũng chưa bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ được một người đàn ông trẻ hơn mình những mười chín tuổi cởi đồ lót cho mình."

"Chị có muốn tự cởi không?"

"Không, cậu cởi cho tôi đi. Nhưng đừng có choáng quá vì những nếp nhăn của tôi nhé."

"Tôi thích những nếp nhăn của chị."

"Cậu làm tôi phát khóc lên đấy," chị thì thầm.

Tôi hôn lên khắp người chị, cẩn thận lần theo những nếp nhăn cảm thấy ở đầu lưỡi. Chị có đôi vú như của một bé gái. Tôi vuốt ve chúng và ngậm chặt hai đầu vú, rồi luồn một ngón tay vào cửa mình chị và bắt đầu đưa đẩy.

"Nhầm chỗ rồi, Watanabe," Reiko thì thầm vào tai tôi "Đó là một nếp nhăn thôi."

"Lúc này mà chị còn nói đùa được ư?"

"Xin lỗi," chị nói. "Tôi thấy sợ. Tôi không làm chuyện này bao nhiêu năm nay rồi. Tôi cảm thấy như mình mới mười bảy tuổi: tôi đến thăm một anh chàng và vào phòng anh ta, thế rồi đùng một cái đã trần truồng hết ra rồi."

"Nói thật với chị, tôi thấy như mình đang xâm phạm một cô bé mười bẩy tuổi thật."

Vẫn để ngón tay kia trong cái "nếp nhăn" ấy, tôi lướt môi lên cổ và tai chị và bóp chặt một đầu vú trong mấy ngón tay. Khi hơi thở chị dồn dập mãi lên và cổ họng chị bắt đầu run rẩy, tôi mở đôi chân thon dài của chị ra và nhẹ nhàng luồn vào chị.

"Cậu không làm tôi có mang đấy chứ? Cậu lo chuyện ấy đấy nhé, đúng không?" Reiko thì thầm vào tai tôi "Tuổi này mà có mang thì tôi xấu hố lắm đấy."

"Chị đừng lo," tôi nói. "Cứ yên trí mà."

Khi tôi đã vào sâu hết cỡ, chị run người lên và thở ra một tiếng thật dài. Vừa vuốt ve lưng chị tôi vừa dịch chuyển qua lại sâu trong chị rồi bỗng nhiên tới đích với một chuỗi liên tiếp những đợt phóng dữ dội không thể kìm lại được. Tôi ghì chặt lấy chị khi tinh khí mình từng đợt trào sang miền nồng ấm của chị như không bao giờ dứt.

"Xin lỗi chị," tôi nói. "Tôi không thể ghìm mình được"

"Đừng ngốc thế," Reiko nói và vỗ một cái lên mông tôi "Cậu không phải lo chuyện ấy. Cậu chỉ nghĩ mỗi chuyện ấy khi chơi với bọn con gái à?"

"Vâng, cũng gần như vậy."

"Này, cậu không phải thế với tôi đâu nhé. Quên nó đi. Cứ thả lỏng và ra càng nhiều càng tốt. Cậu có thấy thích không?"

"Tuyệt diệu. Chính thế mà tôi không thể ghìm lại được"

"Đây không phải là lúc cậu phải ghìm mình lại. Phải thế mới thích. Và tôi cũng thích nữa."

"Reiko này," tôi nói.

"Gì cơ?"

"Chị phải có bạn tình mới được. Chị tuyệt lắm. Phí quá."

"Ái chà, tôi sẽ tính chuyện đó?" chị nói. "Nhưng không biết người ta có bạn tình bạn tiếc gì được không ở cái xó Asahikawa kia."

Cứng lên sau ít phút, tôi lại luồn vào chị. Reiko nhịn thở và oằn oại bên dưới tôi. Tôi ôm chị bằng cả hai tay, chuyển dịch thật chậm, thật im, và chúng tôi nói chuyện. Nói chuyện kiểu ấy thật tuyệt vời. Nếu tôi nói cái gì buồn cười và làm chị cười phá lên, những rung động của chị truyền hết sang tôi qua ngả ấy. Chúng tôi ôm ấp nhau như thế thật lâu.

"Ôi chao, thế này mới thật là kì diệu!" Reiko nói.

"Mà động đậy cũng hay chẳng kém," tôi nói.

"Nào, thế thì cậu làm đi."

Tôi nhấc hẳn hông chị lên và dấn vào sâu hết mức, rồi chậm rãi thưởng thức cảm giác của động tác xoay tròn như cối xay cho đến lúc, khi đã lên đến cực lạc, tôi lại thả cho mình phun trào một lần nữa.

Đêm ấy chúng tôi hoà quyện thân xác nhau như vậy tất cả là bốn lần. Sau mỗi lần như thế, Reiko lại nằm run rẩy nhẹ nhàng trong tay tôi, mắt nhắm nghiền, và thở ra một tiếng thật dài.

"Tôi không còn bao giờ phải làm chuyện này nữa," Reiko nói, "cho đến tận cuối đời. Ôi chao, Watanabe, cậu hãy nói rằng đó là sự thật đi. Hãy nói rằng từ nay tôi có thể yên trí vì tôi đã làm đủ hết cho cả đời rồi."

"Không ai có thể nói với chị như vậy," tôi nói. "Mình không thể biết được chuyện ấy."

Tôi cố thuyết phục Reiko đi máy bay cho nhanh và tiện lợi hơn, nhưng chị vẫn nhất định đi Asahikawa bằng tàu hoả.
"Tôi thích đi phà sang Hokkaido. Và tôi chẳng muốn bay lên không trung bao giờ," chị nói.

Tôi đưa chị đến ga Ueno. Chị cầm hộp đàn còn tôi xách vali. Chúng tôi ngồi trên ghế băng trong ke đợi tàu. Reiko vẫn mặc cái áo tây vai tuýt và quần trắng như lúc mới đến Tokyo.

"Có thực cậu nghĩ Asahikawa là một nơi không đến nỗi nào không? Chị hỏi.

"Thị trấn ấy hay lắm. Tôi sẽ sớm đến thăm chị ở đó."

"Thật chứ?"

Tôi gật đầu. "Và tôi sẽ viết thư cho chị."

"Tôi rất thích những bức thư của cậu. Naoko đã đốt hết cả. Những bức thư hay đến thế!"

"Thư chỉ là giấy thôi mà chị," tôi nói. "Cử đốt chúng đi, và những gì còn lại trong lòng mình thì vẫn còn mãi; mà có giữ chúng thì những gì sẽ phai nhạt rồi cũng sẽ cứ nhạt phai."

"Cậu biết không, Watanabe, sự thật là tôi thấy sợ phải đi Asahikawa một mình như thế này. Nên cậu nhớ viết cho tôi nhé. Hễ được đọc thư cậu, tôi sẽ thấy như cậu đang ở ngay cạnh mình."

"Nếu chị muốn thế, tôi sẽ viết cho chị suốt. Nhưng chị đừng lo. Tôi biết chứ, đi đâu thì chị cũng ổn thôi mà."

"Còn một việc nữa. Tôi cứ cảm thấy có cái gì vẫn còn mắc kẹt ở trong mình. Có phải đó chỉ là tưởng tượng không?"

"Là ký ức còn lại thôi mà," tôi nói và mỉm cười.

Reiko cũng mỉm cười theo.

"Đừng quên tôi," chị nói.

"Tôi sẽ không quên chị," tôi nói. "Không bao giờ."

"Chúng ta có thể sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng dù có đi đâu về đâu, tôi cũng sẽ không bao giờ quên cậu và Naoko."

Tôi thấy chị đang khóc. Và chưa kịp nghĩ gì thì tôi đã đang hôn chị rồi. Mọi người trên ke nhìn chúng tôi chằm chằm, nhưng tôi không còn bận tâm gì đến những chuyện như vậy nữa. Chúng tôi còn sống, chị và tôi. Và chúng tôi chỉ muốn nghĩ đến chuyện tiếp tục sống.

"Hạnh phúc nhé," Reiko nói với tôi khi bước lên tàu "Tôi biết gì thì đã khuyên cậu rồi. Chẳng còn gì để nói nữa đâu. Hãy hạnh phúc nhé. Cứ lấy phần của tôi và của Naoko mà gộp vào cho cậu."

Chúng tôi cầm tay nhau một lúc, rồi giã biệt

Tôi gọi cho Midori.

"Tớ phải nói chuyện với cậu," tôi nói. "Tớ có hàng ti tỉ thứ phải nói với cậu. Trên đời này tớ chỉ muốn có cậu. Tớ muốn gặp cậu và nói chuyện. Tớ muốn hai chúng mình bắt đầu mọi chuyện từ đầu."

Midori đáp lại bằng một hồi im lặng dài, thật dài - cái im lặng của tất cả những làn mưa bụi trên khắp thế gian đang rơi xuống tất cả những sân cỏ mới xén trên khắp thế gian. Trán tựa vào vách kính, tôi nhắm nghiền mắt và chờ đợi.

Cuối cùng, giọng nói âm thầm của Midori phá vỡ cái im lặng ấy: "Cậu đang ở đâu?"

Tôi đang ở đâu ư?

Nắm chặt ống nghe trong tay, tôi ngẩng lên và nhìn quanh xem có những gì bên ngoài trạm điện thoại. Tôi đang ở đâu? Tôi không biết. Không biết một tí gì hết. Đây là nơi nào? Tất cả những gì đang lướt nhanh qua mắt tôi chỉ là vô số những hình nhân đang bước đi về nơi vô định nào chẳng biết. Tôi gọi Midori, gọi mãi, từ giữa ổ lòng lặng ngắt của chốn vô định ấy.

Dịch giả: Trịnh Lữ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn