DANH SÁCH TÁC GIẢ
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,929,935

Phan Xuân Sinh

30 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 26627)
Phan Xuân Sinh

Phan Xuân Sinh



sinh

Sinh ngày 02 tháng 01 năm 1948
Nơi sinh Nại Hiên Tây – Đà Nẵng
Định cư tại Hoa Kỳ 01-6-1990

Cộng tác:

Có bài đăng trên các tạp chí: Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21,Làng Văn, Phố Văn, Chủ Đề, các báo chí hải ngoại, và các website Talawas, Da Màu v.v..

Tác phẩm:

- Chén Rượu Mời Người (thơ) cùng với Dư Mỹ – 1996. Tác giả xuất bản.
- Đứng Dưới Trời Đổ Nát (thơ) – 2000.Tạp chí Văn xuất bản.
- Bơi Trên Dòng Nước Ngược (văn) – 2004.Sông Thu xuất bản.
- Khi Tình Đang Ru Đời (thơ) – 2008. Văn Nghệ xuất bản.
- Sống Với Thời Quá Vãng (văn) – 2009. Tạp chí Hợp Lưu xuất bản.



Thơ Phan Xuân Sinh

Dự đám giỗ Nhà thơ Vũ Hữu Định


nghe ông khi xưa chết vì say
ngày giỗ ông, ghé qua (bưng rượu tới)
ta cảm ông như người tri kỷ
mời ông một chung để tỏ lòng thành

thơ ông xưa nay, đã lừng danh
cơm áo, chẳng làm nên tích sự
sống bạt mạng coi đời nhỏ bé
cái văn chương mới đáng ngàn cân

ông chọn cho mình một chỗ dấn thân
như “người khách lạ đi lên đi xuống”
thơ và rượu nổi đình nổi đám
hai thứ nầy, nó quật ông quay

trên bàn rượu ngất ngưởng cơn say
đời khiến ông trầm trầy trầm trật
vẫn cố tật chiều say tối xỉn
đắm mình sâu qua mấy cuộc chơi

câu thơ ông trăn trở với đời
có chút gì như lời gửi gắm
ta cũng như ông nhìn quanh ngán ngẫm
ông chết vì say, ta lụy vì tình

mấy đứa làm thơ coi nhẹ hiển vinh
tình với rượu toàn đồ bá láp
vẫn cứ nhào vô đưa đầu chịu trận
mới hay mình làm con thiêu thân

hơn ba chục năm quê cũ dừng chân
ta thấy thấm một đời lưu lạc
trể mất không cùng ông đối ẩm
tìm đâu ra người trải chiếu cụng ly?

khấp đầu lạy ông từ tạ ra đi
ta kẻ vong thân nặng lòng cố xứ
như ngựa Hồ quay đầu ngoảnh lại
ôm lòng đau nỗi nhớ cố hương

ông yên vị một giấc nghê thường
giũ áo một đời thơ mãn hạn
chén rượu, cây hương, xin ông thưởng lảm
có hiển linh, nhận chút lòng nầy

Dự đám giỗ Nhà thơ Vũ Hữu Định Đà nẵng, 23-02-2008

Gặp lại người xưa

(tăng S…)


em đến thăm, như người khách lạ
e ngại rụt rè của thủa xưa xa
ta thì cứ ấp a ấp úng
hơn bốn chục năm, nhân ngãi như “tình già”

ta chẳng có cái đuôi khi liếc mắt
như cụ Phan Khôi trong đêm mưa
chỉ ngậm ngùi một thời trôi mất
tình nằm yên, tình lung linh sao khuya

hai đứa cứ bạt ngàn theo cơm áo
em tất bật hiu hắt chuyện chồng con
ta quần quật xứ người lận đận
những buồn vui theo vận mệnh sống còn

khi rời xa, tưởng chừng như chết mất
mà bốn chục năm sau cứ y nguyên
vẫn sống, vẫn ăn và vẫn ngủ
đời cứ trôi dù sóng vỗ mạng thuyền

nhìn nhau “hai mái đầu đã bạc”*
da nhăn nheo tàn phá dung nhan
chỉ còn nhau long lanh đôi mắt
nằm bên trong “đôi kính lão”, thời gian

còn lại cái gì cho ngày xưa ấy
vẫn giữ cho nhau bằng một tấm lòng
ta làm thân bọt bèo trôi dạt
về đây như nước gặp bến sông

cám ơn em, ân tình kia đã cũ
vẫn dậy lên một chút mùi hương
vẫn thấy lòng vui theo biến động
dù trong ta ngăn cách như “sông tương”

Ngày về lại Đà Nẵng, 11-2-2008

xin đừng hỏi


ngồi trên đồi cao, gió lồng lộng rít qua
ngọn cuồng phong xoáy tối mày tối mặt
ôi đời lính vờn quanh sống chết
chỉ mơ ngày về giũ áo phong sương

mơ một ngày thật sự bình thường
thong thả cùng em đi bát phố
cái mơ đơn thuần sao quá khó
còn hơn người xưa đội đá vá trời

ta chờ hòa bình cũng muốn hụt hơi
giống như em đang chờ ngày cưới
hình như chờ mong nằm ngoài tay với
của những người vò võ thâu đêm

ở đây mỗi ngày chẳng có bình yên
súng đạn hăm he, giết người hàng loạt
mạng sống của ta.Thôi đành phó thác
cái hên xui nằm giữa số phần

những thằng lính như kiếp thiêu thân
cứ cắm đầu nhào vô biển lửa
thì xin em đừng bao giờ hỏi
khi nào về dạo phố cùng em.

khúc ca lạc dương


khi xưa ta cũng hào hoa
khi xưa em cũng mặng mà tiểu thơ
xênh xang xiêm áo trông chờ
tóc che mắt ngọc bên bờ Lạc Dương
mà nay tráng sĩ cùng đường
chống gươm nghe khúc cung thương gảy hoài
đêm vò vỏ nhìn trăng soi
nửa em ôm ấp, nửa ngoài nhạn môn
trông chờ nhạt lớp phấn son
bóng ai qua ải bụi còn chân mây
dựa lưng vách, mái hiên tây
mắt mòn mỏi đợi những ngày xót xa

người chinh phu biệt quan hà
buồn trăng thiếu phụ mắt nhòa lệ tuông.

ly rượu đầu xuân


rót rượu vào ly ta ngồi nhấm
mừng ta thêm tuổi để mau già
xứ người ai cũng cày thấm mệt
bạn bè đâu dễ uống cùng ta

ta cũng khề khà ngồi độc ẩm
cũng bày trò chén chúc, chén đưa
ha hả cười ra tay hào sảng
dấu lòng, ra mặt đứa say sưa

nốc cạn ly bỗng nhiên buồn lạ
ngẫm mình thân phận buổi sa cơ
đẩy đưa với chút tình mờ nhạt
ta sợ ta thành kẻ bơ vơ

bạn ta đây chẳng còn mấy đứa
ở phương tây lại nhớ phương đông
ngậm ngùi đời trôi sông lạc chợ
bon chen cũng chỉ bàn tay không

ta uống cùng ta thêm cốc nữa
lừ đừ ta cất giọng say say
cố nhớ đọc vài câu đối tết
cố vui trong một cuộc đắng cay

ngoài kia mưa gió đang gầm thét
ta thấy trong ta bỗng dửng dưng
hay lòng ta mang nhiều biến động
vết xước cào sâu vạch những đường

ta cố làm một tay hào kiệt
mà sao ta thấy mắt cay sè
ly rượu đầu xuân sao thảm thiết
gật gù như nửa tỉnh, nửa mê

ta muốn quên đi đời hệ lụy
nhủ với lòng ta cố gượng cười
mừng xuân ly rượu còn đang ấm
nối lại giùm ta những cuộc vui.

lời tỏ bày cùng quê nhà


có một cái gì xôn xao rất lạ
để hồn ta bay theo lá vu vơ
chút buồn trong lòng. Chút hờn trong mắt
chút thương, chút nhớ. Chợt đến không ngờ

là muộn phiền theo tháng ngày trôi nổi
như dòng sông con nước cạn nguồn
bao khát khao mỏi mòn trông đợi
thành rêu phong trên chứng tích thật buồn

làm sao quên những ngày vừa mới lớn
mộng mị đan thành chiếc võng hương hoa
ta cũng biết ru những lời đường mật
cớ sao người cứ hay phụ lòng ta?

những đêm về ngồi đây nhớ tiếc
con đường xưa, phố cũ thân quen
bước chân ai đang đi vào ngõ vắng
xao xuyến lòng ta. Thao thức bao đêm

bến sông Hàn của những chiều lộng gió
tà áo tung bay vướng mắt ta nhìn
để lại trong lòng nhúm nhăn thương nhớ
mà với ta. Người rất đỗi vô tình

những tháng năm của thời binh lửa
phố cũng đắm chìm trong cảnh oan khiên
làm sao quên nhiều năm chinh chiến
dòng sông xưa chịu bao nỗi ưu phiền

giờ ở đây. Lòng se sắt lạnh
nhớ phố, nhớ người. Đôi mắt long lanh
bên trời xa, bên đời hiu quạnh
chim lạc bầy, chim mỏi cánh tìm quanh.

Gái Huế


Huế có em của một thời xe đạp
quanh đi quẩn lại những con đường
mà cũng chính em. Cho ta tuột dốc
Đàn Nam Giao. Đầu cắm xuống dòng Hương

biết thế nào một thứ lừa Thượng Tứ
dù cao tay ta cũng ngã dưới chân
đáng đời cho một tay bạt mạng
hợm mình muốn quất ngựa truy phong

em đâu thể cao bay xa chạy
ta rượt hoài như một thứ khùng điên
cũng có lúc em quay đầu ngó lại
là lòng ta bỗng chợt thấy bình yên

rồi cũng chính em bỏ trò chơi cũ
khép mình như một gái thâm cung
là cái lúc ngựa hí vang rong ruổi
phóng mình trong gió bụi mịt mùng

Huế không có em nên buồn rười rượi
mà ta đây thành một đứa thất tình.





Trần Yên Hòa

PHAN XUÂN SINH: “ĐỨNG DƯỚI TRỜI ĐỔ NÁT”


sinh_1



Tôi gặp Phan Xuân Sinh trong dịp anh về Nam California để ra mắt sách tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Lần này có ba tác giả được giới thiệu là Hoàng Lộc với tập thơ Qua Mấy Trời Sương Mưa, Lâm Chương với tập truyện Đi Giữa Bầy Thú Dữ , còn Phan Xuân Sinh với tập thơ Đứng Dưới Trời Đổ Nát. Buổi giới thiệu do Hội Văn Học Nghệ Thuật Quảng Nam Đà Nẵng đứng ra tổ chức.

Phan Xuân Sinh và Lâm Chương ở một tiểu bang rất xa, tiểu bang Massachuschetts thuộc miền đông Hoa Kỳ. Khi chương trình giới thiệu sách sắp bắt đầu thì Lâm Chương mới tới phi trường, anh em phải cho người đi đón, còn Phan Xuân Sinh và Hoàng Lộc thì đã đến ngày hôm qua Điều đó cũng nói lên sự cố gắng của các tác giả đã sống hết lòng với đứa con tinh thần của mình, vì ở rất xa mà cũng đến được theo lời mời của nhà thơ Thái Tú Hạp.


Phan Xuân Sinh là Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Công Hòa, tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức. mang cấp bậc Thiếu Úy, phục vụ tại Trung Đoàn 51 Bộ Binh, một trung đoàn biệt lập đóng tại Quảng Nam, trách nhiệm vùng Thường Đức, Quế Sơn… Năm 1972, Phan Xuân Sinh là sĩ quan chỉ huy tác chiến, trong một lần chạm địch, anh bị thương, mất một bàn chân phải ngay trên quê hương anh, Quảng Nam Đà Nẵng. Sau đó, anh được giải ngũ và trải qua nhiều nghề…như lời một bản nhạc …Người về nay đã cụt chân.
Đứng Dưới Trời Đổ Nát là tập thơ thứ hai của Phan Xuân Sinh, tập trước là Chén Rượu Mời Người (in chung với Cung Ngữ) và sau này anh có một tập truyện nữa là “Bơi Trên Dòng Nước Ngược”.

Đứng Dưới Trời Đổ Nát theo lời giới thiệu của nhà văn Trần Doãn Nho như sau:
“Hơi thơ của Phan Xuân Sinh lạ, ngang tàn mà u uất, cuồng ngạo mà xót xa, sâu mà chân chất. Trong cuộc rượu đọc lên nghe nghèn nghèn, tưng tức và cảm giác như muối xác vào lòng.”


UỐNG RƯỢU VỚI NGƯỜI LÍNH BẮC PHƯƠNG


Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi

Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm

Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
Ta cũng có người yêu nhỏ dại
Mỏi mắt trông chờ song cửa quê nhà

Chuyện sống chết căn bệnh trầm kha
Đâu dễ gì thoát vòng sinh mệnh
Những thằng lính thời nay không mang thù hận
Bạn hay thù chẳng có một lằn ranh

Thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
Nếu có thể ta gay thêm cuộc nhậu
Bày làm chi trò chơi xương máu
Để đôi bên mang mầm mống hận thù

Người yêu của bạn ở ngoài phương Bắc
Giờ này đang hối hả tránh bom
Hay thẫn thờ dõi mắt vào Nam
Để chờ người yêu mình trở thành liệt sĩ

Rồi cũng sẽ quên như bao điều suy nghĩ
Tình yêu như một điểm trang

Uống với bạn hôm nay ta phải thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(những ngày đầu xuân 1972)

Bài thơ này Phan Xuân Sinh làm năm 1972, lúc đó Phan Xuân Sinh chưa bị thương, tình cảm anh thật đôn hậu và nhân bản quá. Chính những người lính bắc phương này đã vào miền Nam, đem kinh hoàng cho người dân miền Nam đang yên lành, thanh bình. Nhưng Phan Xuân đã hiểu ra, kẻ thù chính không phải là những anh lính bị ép buộc đi B phải “sinh bắc tử nam“ này, mà kẻ thù chính là bọn cộng sản chóp bu trong Bộ Chính Trị, những người lính bắc phương chỉ là một con chốt thí trong bàn cờ chính trị mà thôi, thì làm sao không mở lòng ra với họ.

Đọc bài thơ của Phan Xuân Sinh, tôi lại nhớ đến tâm tình của những người lính bắc phương đã trông thấy gì ở miền nam, khi vào miền nam mang danh “giải phóng”:

“Vào nơi đây tuy đất trời xa lạ
Nhưng miền Nam cũng cùng một quê hương
Vẫn bóng dừa xanh, vẫn khói lam chiều
Con trâu về chuồng, tiếng tiêu gợi nhớ
Đã qua buổi ban đầu bở ngỡ
Còn nhìn ra nào giải phóng gì đâu?
Buổi chợ đông vui, đồng lúa xanh màu

Giọng thơ của Phan Xuân Sinh hào sãng, trong thơ anh có chút ngậm ngùi, cay đắng. Anh nhìn về chính anh với những người xưa trong cổ sử. Nhà thơ Quan Dương đã cho một nhận xét như sau:
Phan Xuân Sinh đã dùng ngôn ngữ thơ để nhìn ngắm chính bản thân mình, đang tận tuyệt trong sự bủa vây của cuộc sống nội tâm đầy trầm uất và hoài vọng.



HẦU CHUYỆN CÙNG NGŨ TỬ TƯ



Ta cũng bạc đầu sao chẳng ra chi

Ngài bạc đầu làm nên việc lớn
Thay dạng đổi hình như chuyện giỡn
Mà danh ngài lưu mãi ngàn năm

Ngài vượt qua cửa ải thoát thân
Ta cũng trồn chạy năm lần bảy lượt
Cái nguy của ta ngài đâu sánh được
Rừng thẳm bể sâu tan tác như chơi

Ta mạt kiếp kẻ bất phùng thời
Sống chết chỉ đường tơ kẻ tóc
Thân rời rã hồn xiêu phách lạc
Mê man mù mịt kẻ đi về

Chí lớn của ngài thiên cổ chi mê
Làm rạng danh một thời hoạn lộ
Đầu bạc đã trả xong món nợ
Còn ta thẹn mặt với cố hương

Nghĩ lại mình là đứa cùng đường
Làm sao đây với trí cùn lực mỏi
Tìm đâu, tìm đâu ra minh chúa
Giữa bến mê xã tắc loạn cuồng

Thời nhiểu nhương chim lạc chim hồng
Cũng đành phải bỏ trời xếp cánh
Người với ta cùng quê người đất lạ
Ta hư cả đời ngài đã thành danh

Phan Xuân Sinh là một người lính trận, chất lính trong thơ anh vẫn ngang tàng, vẫn ngạo mạn. Nhưng trong thơ anh cái lãng mạn vẫn tràn đầy, nằm trong hầm lô cốt canh giữ giặc, anh vẫn rung động với tiếng chim hót.


Nằm trong hầm lắng nghe chim hót

Mà tưởng mình đang sống thái bình
Tiếng súng. Tiếng chim. Nghe buồn lạ
Vây quanh ta giữa chốn đao binh

Chắc bây giờ em vừa bát phố
Đang ung dung trau chuốt sắc hương
Tìm phấn son thay đôi giày mới
Thong thả dạo quanh những đoạn đường

Ta vẫn nằm trên đồi gió thổi
Chim hót ban ngày, pháo dội ban đêm
Em cứ chạy theo từng mốùt mới
Còn ta, uống rượu đế tìm quên

Lục Bát Với Phan Xuân Sinh


Với lục bát, Phan Xuân Sinh có nhưng bài thơ rất lạ, cách dùng chữ của anh là một cách tân trong nghệ thuật ngôn ngữ, làm cho bài lục bát lạ hơn.

Lục bát 1.

Một Đoạn Cho Kiều:

Mười lăm năm cuộc bể dâu
Mười lăm năm ấy qua cầu mới hay
Giải oan cho cuộc tình nay
Mượn dòng bạc mệnh lưu đày kiếp hoa
Ban mình không nổi chuộc cha
Khóc người mà cũng khóc ta một đời

Một Đoạn Cho Người

Bỗng dưng tình gãy giữa đường
Em như con én trong sương lạc bầy
Một đời chìm khuất chân mây
Một con chim mỏi cánh bay về ngàn
Tiếng kêu lạc giọng đục khàn
Mưa sa gió tạc miên man phủ đầu
Biết bao giờ mới tìm nhau
Mắt đong đỏng đợi mái đầu điểm sương.


Đứng Dưới Trời Đổ Nát là tập thơ được trình bày rất công phu bởi chính tác giả, bìa cứng được vẽ bởi họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi. Phụ bản Đinh Cường , Vũ Đức Thanh. Tạp chí Văn xuất bản.
Tôi xin trích lời giới thiệu của Trần Hoài Thư dành về thơ Phan Xuân Sinh để kết luận bài này:
Thơ Phan Xuân sinh chuyên chở nỗi lòng của một thế hệ bị mất mát quá nhiều. Mất mát tuổi trẻ, mất mát tuổi già. Thơ anh ngậm ngùi như một giòng sông cũ mang theo những nỗi buồn của lịch sử và thân phận.”

TRẦN YÊN HÒA
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Ba 20197:25 SA(Xem: 44)
(h. NS) Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ.
12 Tháng Ba 20197:59 SA(Xem: 112)
Nhà văn Nguyễn Đình Toàn sanh năm 1936 tại Hà Nội, Bắc Việt. Ông khởi sự viết văn từ năm 1954. Tác phẩm đầu tay của ông là một truyện dài nhan đề Chị Em Hải
08 Tháng Ba 20192:25 CH(Xem: 125)
Hãy đọc thơ Hoàng Xuân Sơn. Tôi xin đơn cử một trong muôn vàn bài tôi yêu thích. Bài “Nách”. (Ăn phải món ngon liền ngôn: Ngon nhức nách! Và nách còn có nghĩa là ẵm, bồng, bế, tha:
03 Tháng Ba 201912:04 CH(Xem: 169)
Vâng, nhiều người nói Thái Thanh giống anh Hoài Bắc. Mà Thái Thanh cũng ảnh hưởng anh ấy nhiều lắm đó
26 Tháng Hai 201910:42 SA(Xem: 166)
Tháng Năm, 1969, tuần báo Khởi Hành, cơ quan ngôn luận của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội, số 1, ra mắt độc giả miền Nam Việt Nam, với chủ đề “Nhân Vật Người Lính...”